Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.47.0-wmf.1 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Event Event talk Đề tài Tam quốc diễn nghĩa (Phan Kế Bính dịch, Bùi Kỷ hiệu đính)/Hồi 15 0 4193 205131 148634 2026-05-06T00:07:11Z ~2026-27317-20 20152 205131 wikitext text/x-wiki {{chất lượng vk|75%}}{{đầu đề | tựa đề = [[../|Tam quốc diễn nghĩa]] | tác giả = La Quán Trung | dịch giả = Phan Kế Bính | người hiệu đính = Bùi Kỷ | phần = Hồi 15 | trước = [[../Hồi 14|Hồi 14]] | sau = [[../Hồi 16|Hồi 16]] | ghi chú = }} {{giữa| HỒI THỨ MƯỜI LĂM '''<poem> Thái Sử-từ ham đánh Tiểu Bá-vương; Tôn Bá-phù tợn giọt Nghiêm Bạch-hổ. </poem>''' }} Cuối hồi trước, đang nói chuyện [[w:Trương Phi|Trương Phi]] rút gươm ra sắp tự vẫn, {{w|Lưu Bị}} trông thấy vội vàng bước lên giật lấy gươm, vứt xuống đất rồi nói rằng: - Xưa có câu rằng: “Anh em như chân tay; vợ con như áo mặc”. Áo mặc rách còn dễ may; chân tay gãy chắp sao được? Ba anh em ta kết nghĩa với nhau ở vườn đào, đã thề cùng sống chết với nhau<ref>Xem [[../Hồi 1|Hồi thứ nhắt]].</ref>. Nay dù mất thành trì vợ con nữa, sao nỡ để anh em nửa đường chết đi cho đành. {{wikt|Phương chi}} thành trì không phải của ta; vợ con ta bị hãm ở trong thành, nhưng ta chắc Lã Bố không nỡ giết, cũng còn nghĩ kế cứu được. Hiền đệ nhầm một lúc, việc gì đã đến nỗi {{wikt|quyên sinh}}? Lưu Bị nói xong rỏ nước mắt khóc. [[w:Quan Vũ|Quan]], [[w:Trương Phi|Trương]] cũng khóc cả. {{w|Viên Thuật}} biết rằng {{w|Lã Bố}} đã cướp Từ-châu, sai người đến nói với Bố rằng: hễ Bố cùng giúp đánh Lưu Bị sẽ đưa cho năm vạn {{wikt|hộc}}<ref name="ReferenceA">Đơn vị đo cũ, một ''hộc'' tương đương với thể tích khoảng 20 {{w|lít}}.</ref> lương, năm trăm ngựa, một vạn {{wikt|lạng}}<ref>Đơn vị đo cũ, một ''lạng'' tương đương với khối lượng khoảng 37,8 {{w|gram}}.</ref> vừa vàng vừa bạc, một nghìn tấm vóc nhiễu. Bố ưng ý lắm, sai ngay {{w|Cao Thuận}} lĩnh năm vạn quân đến đánh mé sau Lưu Bị. Lưu nghe tin ấy, nhân khi mưa dầm rút quân bỏ Vu-thai chạy, muốn về lấy Quảng-lăng. Khi Cao Thuận đến nơi, Lưu Bị đã đi rồi. Thuận vào ra mắt Kỷ Linh, đòi những đồ Viên Thuật đã hứa cho. Linh nói: - Ông cứ về. Để tôi vào nói với {{wikt|chúa công}} tôi. Thuận từ giã Kỷ Linh, về thuật lại với Lã Bố. Bố còn đang hồ nghi, chợt có thư của Viên Thuật đưa đến, trong thư nói rằng: “Cao Thuận tuy có đến giúp, nhưng Lưu Bị chưa trừ được. Đợi khi nào bắt được Lưu Bị, bấy giờ tôi sẽ đưa các đồ đã hứa đến cho ngài”. Bố giận lắm, cho Viên Thuật là đồ {{wikt|thất tín}}, muốn khởi binh sang đánh, {{w|Trần Cung}} can rằng: - Không nên! Viên Thuật giữ Thọ-xuân, binh nhiều lương rộng. Chớ nên khinh địch. Không bằng mời Lưu Bị về đóng ở Tiểu-bái để làm vây cánh cho ta. Về sau sai Lưu Bị làm {{wikt|tiên phong}}, trước đánh Viên Thuật sau đánh {{w|Viên Thiệu}} rồi có thể tung hoành thiên hạ được. Bố nghe lời, sai người đem thư đi mời Lưu Bị. Bấy giờ Lưu Bị đã kéo quân về đông, lấy đất Quảng-lăng, bị Viên Thuật vào cướp trại, quân lính hao hụt quá nửa, gặp sứ của Lã Bố đến, đưa thư mời về Tiểu-bái. Lưu mừng lắm. Quan, Trương nói: - Lã Bố là đứa {{wikt|vô nghĩa}}, không nên tin. Lưu Bị nói: - Nó lấy bụng tử tế đãi ta, việc gì phải nghi? [[Tập tin:Lady Gan Qing portrait.jpg|nhỏ|phải|Cam phu nhân]] Ba anh em lại kéo quân về Từ-châu. Lã Bố sợ Lưu Bị còn nghi hoặc, trước hết sai người đưa trả lại {{wikt|gia quyến}}. {{w|Cam phu nhân}} và {{w|My phu nhân}} về gặp Lưu Bị, kể hết sự tình, nói rằng Lã Bố sai người giữ cửa nhà, cấm không cho ai được vào, lại thường thường sai {{wikt|thị thiếp}} đưa đồ ăn, thức dùng đến, không bao giờ phải thiếu thốn. Lưu Bị mới bảo Quan, Trương rằng: - Ta đã biết Lã Bố tất không hại {{wikt|gia quyến}} ta! Lưu Bị vào thành để tạ Lã Bố. Trương Phi không chịu theo vào, đem hai chị về Tiểu-bái trước. Lưu Bị vào ra mắt lạy tạ Lã Bố. Bố nói: - Tôi không phải muốn cướp thành. Bởi vì Trương Phi ở đây, hay say rượu giết người, tôi e rằng {{wikt|ngộ sự}}, nên tôi lại giữ hộ đấy thôi! Lưu nói: - Tôi vẫn muốn nhường anh đã lâu. Bố giả dạng nhường lại cho Lưu Bị. Lưu nhất quyết không chịu, về đóng ở Tiểu-bái. Quan, Trương trong bụng không bằng lòng. Lưu Bị nói: - Nhún mình yên phận, để đợi thời; không thể cưỡng nhau với mệnh được<ref>Ý nói ý trời đã sắp đặt thì không nên chống lại, tốt nhất là nhún nhường chờ thời cơ.</ref>! Lã Bố thường thường sai người đưa lương ăn và vải lụa đến. Từ bây giờ hai bên lại {{wikt|hòa thuận}} với nhau. Trong khi ấy thì Viên Thuật ở Thọ-xuân mở tiệc yến to, hội tướng sĩ lại ăn uống. Chợt có người báo rằng: - {{w|Tôn Sách}} đi đánh [[wikt:thái thú|thái-thú]] Lư-giang là Lục Khang, đánh được đã về. Thuật gọi Sách đến. Sách lạy ở dưới thềm. Thuật hỏi han chuyện trò xong rồi cho Sách ngồi hầu yến. [[Tập tin:Sun_Ce_Portrait.jpg|phải|nhỏ|Tôn Sách. Tranh minh họa đời nhà Thanh.]] Nguyên Tôn Sách từ khi [[w:Tôn Kiên|bố]] mất<ref>Xem cuối [[../Hồi 7|Hồi thứ bảy]].</ref>, về ở Giang-nam kính {{wikt|người hiền}}, tôn {{wikt|kẻ sĩ}}, sau, nhân {{w|Đào Khiêm}} cùng với cậu Sách, là {{wikt|thái thú}} Đang-dương tên là Ngô Cảnh không hòa với nhau, Sách mới đem mẹ và {{wikt|gia thuộc}} về Khúc-a, mình thì sang ở với Viên Thuật. Thuật yêu Sách lắm, thường vẫn than rằng: - Giá ta có được đứa con như [[w:Tôn Sách|Tôn lang]], chết cũng không ân hận gì nữa. Thuật cho Sách làm hoài-nghĩa [[wikt:hiệu úy|hiệu-úy]], sai đem binh sang đánh Tổ Lang ở Kinh-huyện. Sách đánh được. Thuật thấy Sách giỏi, lại sai sang đánh Lục Khang cũng đánh được. Bấy giờ trở về. Sách vào ăn yến. Khi cuộc yến đã tan, Sách về trại, nghĩ trong việc Thuật đãi mình khí ngạo bỉ một chút<ref>Ý là có ý khách khí, lịch sự.</ref>, trong bụng buồn bực, bèn lẩn đi bách bộ dưới bóng trăng ở ngoài sân. Nhớ đến sự ngày xưa, cha là {{w|Tôn Kiên}} thì anh hùng như thế mà minh thì lưu lạc thế này, bất giác hu hu cất tiếng khóc. Chợt có người ở ngoài đến cười to lên hỏi rằng: - [[w:Tôn Sách|Bá-phù]] sao thế? Khi [[w:Tôn Kiên|Tôn công]] còn, việc gì cũng dùng đến ta, nay anh có việc gì không quyết, sao chẳng hỏi ta mà lại khóc thế? Sách trông xem ai, thì là {{w|Chu Trị}}, người ở Đan-dương; nguyên là [[wikt:tùng sự|tùng-sự]] của Tôn Kiên ngày xưa. Sách gạt nước mắt mời lên ngồi nói rằng: - Tôi khóc là vì tôi giận tôi không nối được chí cha tôi ngày xưa. Trị nói: - Sao không tới với [[w:Viên Thuật|Viên Công-lộ]], mượn binh kéo sang Giang-đông, mượn tiếng là đi cứu Ngô Cảnh, nhưng sự thực là để mưu đồ nghiệp lớn, sao lại cứ chịu mãi ở dưới người ta? Hai người đang bàn nhau, chợt lại có một người nữa ở đâu chạy vào nói rằng: - Các ông bàn nhau việc gì tôi đã biết rồi, nay tôi có trăm quân {{wikt|tinh tráng}}, xin giúp Bá-phù một tay. Sách nhìn xem ai thì là {{wikt|mưu sĩ}} Viên Thuật tên là {{w|Lã Phạm}}, người ở Nhữ-dương. Sách mừng lắm, mời cùng ngồi nói chuyện. Lã Phạm nói: - Tôi chỉ lo Viên Thuật không cho mượn quân. Sách nói: - Tôi có một vật báu để làm tin. Vật ấy là [[w:ngọc tỷ truyền quốc|truyền quốc ngọc-tỉ]] của cha tôi để lại cho. Phạm nói: - Công-lộ thèm được ngọc ấy đã lâu. Hôm sau Sách vào ra mắt Viên Thuật, khóc nói rằng: - Thù cha tôi chưa báo được, ngày nay cậu tôi là Ngô Cảnh lại bị [[wikt:thứ sử|thứ-sử]] Dương-châu là Lưu Do bức bách. Mẹ già và vợ con ở cả Khúc-a, e rằng sẽ bị hại. Vậy tôi xin mượn tướng quân vài nghìn {{wikt|hùng binh}} để sang sông cứu nạn, và để thăm nhà. Sợ {{wikt|minh công}} không tin, tôi xin đem ngọc-tỉ của cha tôi để lại, để làm tin. Thuật thấy ngọc-tỉ vồ ngay lấy xem, mừng lắm nói rằng: - Ta không phải cầu chi ngọc tỉ của ngươi, nhưng hãy tạm để đây, ta cho mượn ba nghìn binh, năm trăm ngựa; khi nào bình định rồi phải về ngay. Vả ngươi nay chức nhỏ ngôi thấp khó giữ được quyền lớn, ta cất cho ngươi lên làm triết-sung [[wikt:hiệu úy|hiệu-úy]], điển-khấu [[wikt:tướng quân|tướng-quân]]. Ngay ngày hôm ấy cho lĩnh quân đi. Sách lạy tạ rồi dẫn quân mã, đem cả Chu Trị, Lã Phạm và tướng cũ của cha là {{w|Trình Phổ}}, {{w|Hoàng Cái}}, {{w|Hàn Đương}}, chọn ngày khởi binh. Đi đến Lịch-dương, gặp một toán quân, có một người đi trước, dáng điệu {{wikt|phong lưu}}, {{wikt|nghi dung}} đẹp đẽ, trông thấy Tôn Sách, nhảy xuống ngựa vái một cái. Sách nhìn xem ai, thì là {{w|Chu Du}}, {{w|biểu tự}} là Công-cẩn, người ở Thư-thành, quận Lư-giang. [[Tập tin:ZhouYu.jpg|phải|nhỏ|Chu Du. Tranh minh họa đời nhà Thanh.]] Vốn khi Tôn Kiên đánh {{w|Đổng Trác}}, Du đem gia quyến về ở Thư-thành. Du với Sách hai người cùng một tuổi, chơi với nhau rất thân, kết làm anh em. Sách hơn Du có vài tháng. Du thờ làm anh. Chú Chu Du là Chu Thượng làm [[wikt:thái thú|thái-thú]] ở Đan-dương. Bữa ấy Du sang thăm chú, đi đến đấy gặp Tôn Sách. Sách mừng lắm, đem sự tình kể với Du. Du nói: - Tôn xin hết sức {{wikt|khuyển mã}}, để cùng anh mưu toan nghiệp lớn. Sách nói: - Ta nay được Du, việc lớn tất phải xong. Rồi bảo Chu Trị, Lã Phạm cùng đến gặp Chu Du. Du bảo Sách rằng: - Anh nay muốn làm việc to, có biết Giang-đông có hai họ [[w:Trương (họ)|Trương]] không? Sách hỏi: - Ai vậy? Du nói: - Một người ở Bình-thành, tên là {{w|Trương Chiêu}}, tự là Tử-bố; một người ở Quảng-lăng, tên là [[w:Trương Hoành (Đông Ngô)|Trương Hoành]], tự là Tử-cương. Hai người ấy đều có tài ngang trời dọc đất; nhân tránh loạn đến ở đấy, sao anh không đón mời hai người ấy. [[Tập tin:ZhangZhao.jpg|nhỏ|phải|Trương Chiêu. Tranh minh họa đời nhà Thanh.]] Sách sai người đem đồ lễ đến mời Trương Chiêu, Trương Hoành. Hai người đều từ chối không đến. Sách phải {{wikt|thân}} đến tận nơi, cùng hai người nói chuyện. Sách rất lấy làm bằng lòng cố mời đi mời lại mãi, hai người mới chịu vâng lời. Sách cho Trương Chiêu làm [[wikt:trưởng sử|trưởng-sử]], kiêm chức [[wikt:phủ quân|phủ-quân]] [[wikt:trung lang tướng|trung-lang-tướng]]; Trương Hoành làm [[wikt:tham mưu|tham-mưu]], chánh-nghị [[wikt:hiệu úy|hiệu-úy]]. Cùng nhau bàn mưu sang đánh Lưu Do. Lưu Do, tự là Chính-lý, cũng là {{wikt|tôn thân}} nhà Hán, cháu quan [[wikt:thái úy|thái-úy]] Lưu Sủng, em quan [[wikt:thứ sử|thứ-sử]] Duyện-châu Lưu Đại. Trước làm thứ-sử Dương-châu, đóng ở Thọ-xuân, sau bị Viên Thuật đuổi sang Giang-đông, cho nên đến Khúc-a ở. Bấy giờ Lưu Do nghe thấy binh Tôn Sách đến, vội vàng họp các tướng để bàn. {{wikt|Bộ tướng}} là Trương Anh nói: - Tôi xin lĩnh một cánh quân, đóng đồn Ngưu-chử, quân giặc dẫu có trăm vạn cũng không dám đến gần. Nói chưa dứt lời, dưới trướng lại có một người kêu to lên rằng: - Tôi xin làm {{wikt|tiền bộ}} {{wikt|tiên phong}}! Chúng tướng nhìn xem ai, thì là người ở Đông-lai, tên [[w:Thái Sử Từ|Thái Sử-từ]]. Từ, tự khi giải được vây Bắc-hải cho {{w|Khổng Dung}}, sang với Lưu Do. Do giữ lại ở dưới trướng. Do bảo: - Ngươi còn ít tuổi, chưa nên làm [[wikt:đại tướng|đại-tướng]], hãy nên ở {{wikt|tả hữu}} ta để nghe mệnh lệnh. Từ không bằng lòng lùi ra. Trương Anh lĩnh quân đến Ngưu-chử, chứa mười vạn hộc<ref name="ReferenceA"/> lương ở Để-các. Tôn Sách dẫn quân đến. Trương Anh ra địch. Hai bên hội quân ở trên bãi sông Ngưu-chử. Trương Anh chửi mắng, Hoàng Cái ra đánh nhau với Trương Anh, chưa được vài hợp, bỗng thấy trong quân Trương Anh bối rối, rồi thấy nói: “Trong trại có người phóng hỏa!”. Anh vội rút quân về. Tôn Sách thừa thế đánh {{wikt|dấn}}. Trương Anh thế cùng phải bỏ Ngưu-chử chạy trốn vào trong núi sâu. [[Tập tin:Zhou Tai Qing illustration.jpg|nhỏ|phải|Chu Thái]] Người phóng hỏa ở trong trại nguyên là hai viên {{wikt|kiện tướng}}. Một là {{w|Tưởng Khâm}}, tự là Công-địch, người ở Thọ-xuân, một là {{w|Chu Thái}} tự là Ấu-bình, người ở Cửu-giang. Hai người gặp phải thời loạn, tụ quân trong [[w:Trường Giang|sông Dương-tử]], cướp bóc kiếm ăn; vốn nghe tiếng Tôn Sách là người {{wikt|hào kiệt}} ở Giang-đông, hay cầu {{wikt|người hiền}}, {{wikt|vời}} {{wikt|kẻ sĩ}}, cho nên dẫn {{wikt|đồ đảng}} hơn ba trăm người đến theo. Sách mừng lắm, dùng làm trướng-tiền [[wikt:hiệu úy|hiệu-úy]], thu được cả tiền lương khí giới ở Ngưu-chử và ở Để-các, lại thêm được hơn bốn nghìn quân hàng, liền tiến binh lên đóng ở Thần-đình. Trương Anh thua trở về vào ra mắt Lưu Do. Do giận muốn đem chém, lại có các mưu sĩ là Trích Dung và Tiết Lễ can mãi mới tha, sai Trương Anh đem quân đóng ở thành Linh-lăng để chống giặc, Do tự lĩnh quân ra mé nam núi Thần-đình cắm trại. Tôn Sách đóng ở phía bắc núi ấy. Hôm sau Sách gọi người ở đấy hỏi rằng: - Ở gần đây có miếu nào thờ vua [[w:Hán Quang Vũ|Quang Vũ]] chăng? Người ấy thưa: - Có miếu ở trên đỉnh núi. Sách nói: - Đêm ta {{wikt|chiêm bao}} thấy vua Quang Vũ gọi ta vào {{wikt|tương kiến}}. Ta định lên miếu ấy cầu. [[wikt:trưởng sử|Trưởng-sử]] là {{w|Trương Chiêu}} can rằng: - Không nên đi! Mé nam núi này có trại Lưu Do. Ngộ nó có {{wikt|phục binh}} làm thế nào? Sách nói: - Ta đã có thần thánh phù hộ, việc chi còn phải sợ? Nói xong liền mặc áo giáp, cầm giáo, lên ngựa, rồi đem bọn Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Đương, Tưởng Khâm và Chu Thái cả thảy 13 người cùng cưỡi ngựa lên núi. Đến miếu, xuống ngựa, vào thắp hương lễ bái, Sách quỳ xuống khấn rằng: - Tôi là Tôn Sách. Xin nguyện rằng nếu lập được nghiệp lớn ở đất Giang-đông, khôi phục lại được {{wikt|cơ đồ}} của cha tôi ngày xưa, tôi xin sửa sang đình miếu bốn mùa lễ bái. Sách khấn vái xong đi ra miếu, lên ngựa ngoảnh lại bảo chúng tướng: - Ta muốn qua bên kia núi, dòm xem dinh trại Lưu Do đóng ra làm sao? Các tướng ai cũng ngăn: - Không nên! Sách không nghe, cứ việc đi. Các tướng cũng phải đi theo. Đến phía nam núi, đứng trên trông xuống rừng rú và trại Lưu Do đóng. Có quân canh đường, chạy về báo với Lưu Do. Do nói: - Đây hẳn là mẹo Tôn Sách đến {{wikt|dử}} mình đây, không nên ra đánh. Thái Sử-từ nhảy lên nói rằng: - Lúc này không bắt Tôn Sách thì còn đợi đến lúc nào? Nói xong không đợi lệnh Lưu Do, tự mặc ngay áo giáp, lên ngựa, ra ngoài trại, hô lên: - Ai có gan thì theo ta! Các tướng không ai nhúc nhích. Chỉ có một {{wikt|tiểu tướng}} bước ra nói: - Thái Sử-từ thế mới gọi là tướng giỏi. Ta nên đi giúp một tay. Nói rồi lên ngựa đi theo Thái Sử-từ. Các tướng đều tủm tỉm cười. Tôn Sách ngắm xem độ nửa giờ mới quay ngựa trở về. Vừa đi qua được đỉnh núi nghe thấy đằng sau có người thét: - Tôn Sách đừng chạy nữa! Sách ngoảnh lại thấy hai tướng cưỡi ngựa chạy đến. Sách đem 12 tướng sắp một hàng, còn mình cầm ngang ngọn giáo, cưỡi ngựa đứng đợi ở dưới núi. Thái Sử-từ hỏi to: - Người nào là Tôn Sách? Sách hỏi: - Mày là thằng nào? Từ đáp: - Tao là Thái Sử-từ ở Đông-lai, tao lại đây chỉ cốt để bắt Tôn Sách. Sách cười nói: - Đây! Tôn Sách đây! Cho cả hai thằng chúng bay lại đánh một mình tao, tao không sợ. Nếu tao sợ, sao gọi là Tôn Bá-phù? Từ nói: - Tất cả chúng mày đều đến, tao cũng không sợ. Nói xong thúc ngựa múa thương vào đánh Tôn Sách. Sách vác giáo lại địch. Hai ngựa giao nhau, đánh được hơn năm mươi hợp, được thua chưa phân, lũ Trình Phổ đứng ngoài khen thầm rằng giỏi. Từ thấy Sách đánh giáo không hở miếng nào, giả cách thua chạy để dử cho Tôn Sách đuổi ra xa. Từ không đi đường cũ lên núi, lại rẽ về sau núi mà chạy, Sách vừa đuổi vừa thét to: - Chạy không phải là {{wikt|hảo hán}}! Từ trong bụng nghĩ thầm: - Nó có 12 người đi theo ta chỉ {{wikt|trọi}} một mình. {{wikt|Ví dù}} bắt được nó, cũng bị chúng cướp mất. Phải dử cho nó đi một đường nữa, để cho chúng không biết đường nào mà tìm, bấy giờ ta sẽ ra tay. Bởi thế vừa đánh vừa lùi. Sách cũng cứ đuổi, đuổi nhau mãi đến Bình-xuyên. Bấy giờ Từ mới quay lại đánh. Đánh nhau được 50 hợp nữa, Sách phóng một ngọn giáo lại. Từ tránh ngay được, lại trở tay bắt được giáo. Từ lại phóng giáo lại, Sách cũng tránh được và giơ tay bắt lấy giáo, rồi nắm chặt lấy. Từ chạy lại giằng về, hai người kéo co nhau rồi cùng nhảy cả xuống ngựa. Để ngựa chạy đi đâu không biết nữa. Lôi kéo nhau chán rồi hai người cùng buông cả vũ khí ra, túm lấy nhau mà đánh. Hai bên, bên nào áo chiến cũng rách tan nát. Sách nhanh tay vớ được cái kích ngắn gài ở lưng Từ; Từ giật ngay được mũ [[wikt:đâu mâu|đâu-mâu]] của Sách. Sách cầm kích đâm Từ; Từ lấy mũ che đỡ. Giữa lúc ấy có tiếng reo ầm ầm kéo đến, quân tiếp ứng của Lưu Do, ước hơn nghìn người. Sách đã lấy làm nguy, may đâu bọn Trình Phổ 12 tướng cưỡi ngựa cũng vừa tìm được đến. Hai người bấy giờ mới buông nhau ra. Từ lên một con ngựa khác lại cầm lấy kích. Ngựa của Tôn Sách Trình Phổ bắt được, Sách cũng nhặt lấy kích rồi lên ngựa. Một nghìn quân Lưu Do cùng 12 tướng Tôn Sách hai bên đánh nhau. Đánh lần quanh mãi đến tận dưới núi Thần-đình. Bấy giờ lại thấy tiếng reo, Chu Du kéo quân đến. Lưu Do lại dẫn đại quân xuống núi. Khi ấy trời đã vàng vàng tối, tự dưng nổi cơn mưa gió, hai bên cùng thu quân về. Hôm sau, Tôn Sách dẫn quân đến trước trại Lưu Do. Do cũng đem quân ra đón. Khi hai bên bầy trận rồi, Tôn Sách lấy cái kích nhỏ rút được của Từ hôm trước, đem buộc ở đầu giáo, cầm ra giễu ở trước trận, rồi sai quân hô to lên rằng: - Giá Thái Sử-từ không chạy mau chân thì đã bị kích này đâm chết. Từ cũng đem mũ đâu-mâu của Sách ra trước trận, sai quân hô lên rằng: - Đầu Tôn Sách đã ở đây rồi! Hai bên nhạo báng lẫn nhau, reo ầm cả lên. Bên cậy khỏe, bên khoe tài. Thái Sử-từ phóng ngựa ra định cùng Tôn Sách quyết {{wikt|thắng phụ}}. Sách sắp sửa ra, Trình Phổ nói: - Chúa công {{wikt|lọ}} là phải khó nhọc. Tôi xin ra bắt nó. Trình Phổ ra trận. Từ nói: - Mày không đáng địch với tao. Về gọi Tôn Sách ra đây! Trình Phổ tức lắm, vác kích xông vào đánh Từ. Hai ngựa giao đấu được hơn 30 hợp, bỗng thấy Lưu Do khua chiêng thu quân. Từ hỏi Lưu Do: - Tôi đã sắp bắt được tướng giặc sao lại thu quân về? Do nói: - Có người báo rằng: Chu Du đã đem quân đánh úp lấy Khúc-a, vì có người ở Lư-giang, tên là [[w:Trần Vũ (Đông Ngô)|Trần Vũ]] tiếp ứng cho nó vào thành. Cơ nghiệp nhà ta đã mất, không nên ở mãi đây; phải kíp sang Mạt-lăng, hội cả quân mã của Tiết Lễ, Trích Dung lại để tiếp ứng. Thái Sử-từ theo Lưu Do lui quân. Tôn Sách không đuổi cũng thu quân về. Trương Chiêu nói: - Bên nó bị Chu Du lừa lấy Khúc-a, không dám ham đánh, đêm nay ta nhân thế nên đến cướp trại. Sách ưng ý, đang đêm chia quân làm năm đường, kéo đến lấy trại Lưu Do. Quân Do thua to, chạy tán loạn cả, Thái Sử-từ một mình không chống nổi, dẫn hơn mười quân kỵ ngay đêm hôm ấy chạy sang Kinh-huyện. Tôn Sách lại vừa được thêm một tay phụ-tá nữa là [[w:Trần Vũ (Đông Ngô)|Trần Vũ]], biểu tự Tử-liệt. Vũ mình cao bảy thước<ref>Một ''thước'' vào thời nhà Hán dài khoảng 23,1 cm. Bảy thước là khoảng 1,61 m.</ref>, mặt vàng, con ngươi đỏ, hình dung cổ quái. Sách yêu lắm cho làm [[wikt:hiệu úy|hiệu-úy]]; sai đi tiên phong đánh Tiết Lễ. Vũ dẫn hơn mười kỵ mã, xông vào trong trận chém hơn năm mươi đầu giặc. Tiết Lễ thấy vậy đóng chặt cửa thành không dám ra nữa. Sách đang đánh phá thành, có người báo rằng: - Lưu Do hội với Trích Dung sang lấy Ngưu-chử. Sách giận lắm, tự để đại-quân kéo về Ngưu-chử. Lưu Do, Trích Dung hai người cùng cưỡi ngựa ra đón đánh. Tôn Sách nói: - Tao nay đã đến đây sao chúng bay không hàng ngay đi? Ở sau Lưu Do bỗng có một người vác giáo cưỡi ngựa ra, là bộ tướng tên là Vu Mi, cùng Sách đánh nhau, chưa được ba hợp, bị Sách bắt sống rồi quay ngựa trở về trận. Tướng Lưu Do là Phàn Năng, thấy Vu Mi bị bắt liền vác giáo đuổi theo, ngọn giáo gần đâm đến sau lưng Tôn Sách, quân Sách thấy vậy mới kêu to lên rằng: - Sau lưng có người đâm trộm! Sách quay đầu lại, thấy Phàn Năng đã đến gần, quát to một tiếng, như tiếng sét. Phàn Năng khiếp đảm, ngã quay xuống vỡ đầu ra chết. Sách về đến cửa cờ, đem Vu Mi bỏ xuống đất, thì ra Vu Mi bị cắp ở nách đã chết kẹp từ bao giờ. Trong một lúc, cắp chết một tướng, quát chết một tướng, từ đấy ai cũng gọi là Tiểu bá Vương ({{w|Hạng Võ}} ngày xưa gọi là Bá Vương). Lưu Do thua to. Quân sĩ hàng Sách quá nửa. Sách lại chém được hơn một vạn cấp. Do và Trích Dung chạy sang Dự-chương, đi theo {{w|Lưu Biểu}}. Tôn Sách đem quân về lại đánh Mạt-lăng. Đến cạnh bờ hào, Sách đứng chiêu dụ Tiết Lễ hàng, chợt có một mũi tên ở trên thành bắn xuống trúng ngay vào đùi trái Tôn Sách. Tôn Sách ngã ngựa. Các tướng vội vàng đến cứu, nhắc Sách dậy đem về trại nhổ tên ra, lấy thuốc dấu dịt vào khỏi. Sách nhân thể cho quân đi nói phao lên rằng bị tên bắn chết. Cả cánh quân làm lễ {{wikt|cử ai}}, nhổ trại kéo về. Tiết Lễ tưởng Tôn Sách chết thật, đêm hôm ấy liền khởi cả quân trong thành cùng với [[wikt:kiêu tướng|kiêu-tướng]] là Trương Anh, Trần Hoành, kéo ra thành đuổi đánh. Bỗng đâu quân phục bốn mặt trổ ra, Tôn Sách đứng đầu đi trước gọi to lên rằng: - Tôn-lang ở đây mà! Quân giặc trông thấy mất vía vứt cả gươm giáo, phục xuống đất lạy. Sách truyền lệnh không được giết một người nào. Trương Anh quay ngựa chạy về bị Trần Vũ đâm chết, Trần Hoành bị Tưởng Khâm bắn chết; Tiết Lễ chết ở trong đám loạn quân. Sách vào Mạt-lăng, {{wikt|phủ dụ}} cho dân yên {{wikt|nghiệp}} rồi đem binh sang Kinh-huyện để bắt Thái Sử-từ. Thái Sử-từ chiêu được hai nghìn quân [[wikt:tinh tráng|tinh-tráng]] và quân cũ của mình, toan lại báo thù cho Lưu Do. Tôn Sách với Chu Du bàn nhau kế bắt sống Thái Sử-từ. Chu Du nói: - Ba mặt đánh huyện, để chừa một mặt cửa đông cho Từ chạy. Cách huyện 25 dặm<ref>Một ''dặm'' vào thời nhà Hán dài khoảng 415,8 m. 25 dặm là khoảng 10 km.</ref>, phục binh ba nơi. Từ ra khỏi thành chạy được đến đấy, người mệt, ngựa mỏi, tất nhiên bị bắt. Nguyên những quân của Thái Sử-từ dụ được quá nửa là người ở rừng núi, chưa biết kỷ luật nhà binh. Vả thành Kinh-huyện lại không được cao. Đêm hôm ấy Tôn Sách sai Trần Vũ, mặc áo ngắn cầm đao, trèo trước lên mặt thành đốt lửa. Từ thấy trên thành lửa cháy, lên ngựa chạy ra cửa đông. Tôn Sách đem quân lại đuổi, đuổi đến ba mươi dặm<ref>30 dặm là khoảng 12,5 km.</ref> thì thôi. Từ chạy được năm mươi dặm<ref>50 dặm là khoảng 20 km.</ref>, người ngựa đều đã mỏi mệt, giữa lúc ấy trong đám cỏ lau bên đường có tiếng reo nổi lên. Từ vội chạy, hai bên đường chằng chịt những dây, ngựa vướng cẳng ngã gục xuống. Thái Sử-từ bị bắt sống, giải về trại Tôn Sách. [[Tập tin:Phragmites_australis_Schilfrohr.jpg|nhỏ|phải|Cây lau sậy.]] Lúc quân lính sắp giải Từ đến nơi, Sách biết trước ra tận cửa dinh, quát đuổi quân lính, tự ra cởi trói, rồi đem áo [[wikt:cẩm bào|cẩm-bào]] mặc cho Từ, mời vào trong trại nói rằng: [[Tập tin:Taishi_Ci_Qing_illustration.jpg|nhỏ|phải|Thái Sử-từ. Tranh minh họa đời nhà Thanh.]] - Ta biết [[w:Thái Sử Từ|Tử-nghĩa]] là một đấng [[wikt:trượng phu|trượng-phu]]. Bởi Lưu Do đứa ngu xuẩn, không biết dùng Tử-nghĩa làm đại-tướng cho nên đến nỗi có trận thua này. Từ thấy Sách đối đãi mình tử tế, xin xuống hàng. Sách cầm lấy tay Từ cười nói rằng: - Khi đánh nhau ở Thần-đình, giá thử ông bắt được tôi, thì có hại nhau không? Từ cũng cười đáp rằng: - Cũng chưa biết chừng! Sách cười ầm lên, mời vào trướng, mời lên ngồi trên, sai mở tiệc yến khoản đãi. Từ đứng dậy nói rằng: - [[w:Lưu Do|Lưu-quân]] mới thua, lòng quân tan rã, tôi xin về để thu nhặt dư chúng, để giúp minh công. Không biết minh công có tin không? Sách đứng dậy tạ mà nói rằng: - Bụng tôi vẫn ước như thế, nay xin hẹn với ông bây giờ ông về bên ấy, trưa mai tôi xin đợi ông ở đây. Từ vâng lời rồi đi. Các tướng ngạc nhiên nói rằng: - Thái Sử-từ đi chuyến này tất không trở lại đâu! Sách nói: - Từ là người {{wikt|tín nghĩa}} không trái ước với ta. Các tướng chẳng ai tin. Hôm sau cắm một {{w|cây nêu}} để đo bóng mặt trời ở trước cửa trại, rồi các tướng cùng xúm cả chung quanh để đợi giờ ngọ<ref>Trung Quốc xưa chia một ngày thành 12 giờ với mỗi giờ bằng gần 2 tiếng ngày nay, đặt theo tên 12 con giáp. Giờ ngọ là từ 12 đến 14 giờ, tức là lúc giữa trưa.</ref>. Cây nêu vừa đứng bóng thì thấy Thái Sử-từ dẫn hơn một nghìn quân đến. {{wikt|Chúng}} đều chịu Tôn Sách là biết người. Tôn Sách tụ được vài vạn quân, bình trị được Giang-đông, vỗ yên dân chúng, người kéo về theo vô số. Dân Giang-đông ai cũng gọi Sách là Tôn-lang. Quân Tôn-lang đi đến đâu, người sợ đến đấy, thế mà khi Sách đến nơi, tịnh không cho một người nào cướp bóc của dân, cho đến gà chó cũng không kinh động. Nhân dân thấy thế ai cũng mừng, đem trâu ngựa đến trại để mừng. Sách lại đem vàng, đem lụa ra trả lại. Tiếng vui mừng đầy khắp ngoài đường. Phàm những quân cũ của Lưu Do, ai muốn theo thì cho theo, ai không muốn theo thì cấp thưởng cho về làm ruộng. Dân Giang-nam ai cũng khen Tôn Sách là người nhân đức. Bởi vậy quân thế mỗi ngày một thịnh. Bấy giờ Sách mới rước mẹ, chú và các em cùng về Khúc-a; sai em là {{w|Tôn Quyền}} cùng với {{w|Chu Thái}} giữ Tuyên-thành. Sách thì lĩnh binh sang Nam để lấy Ngô-quận. Bấy giờ [[w:Nghiêm Bạch Hổ|Nghiêm Bạch-hổ]], tự xưng là Đông Ngô Đức-vương, giữ ở Ngô-quận. Bạch-hổ sai bộ tướng giữ Ô-trình và Gia-hưng. Bấy giờ nghe tin quân Tôn Sách đến, Bạch-hổ sai em là Nghiêm Dư đem quân ra. Hai bên gặp nhau ở Phong-kiều. Dư vác đao cưỡi ngựa đứng trên cầu. Sách muốn ra địch, Trương Hoành can rằng: - Chủ tướng là vận mệnh của {{wikt|ba quân}}, ai cũng trông cậy cả vào, không nên khinh địch với quân {{wikt|tiểu}}-{{wikt|khấu}}. Xin tướng quân tự cẩn trọng. Sách tạ nói rằng: - Lời tiên sinh nói như vàng đá<ref>Ý nói cứng và mạnh, cứng rắn.</ref>. Nhưng nếu tôi không chịu xông vào mũi tên hòn đạn thì tướng sĩ ai chịu dùng sức! Bèn sai Hàn Đương cưỡi ngựa ra. Khi Hàn Đương đi lên đến cầu, đã thấy Tưởng Khâm, Trần Vũ bơi thuyền nhỏ theo bờ sông, lượn sang được bên kia cầu, bắn tên tua tủa lên quân đứng trên bờ, hai người nhảy lên đánh giết, quân Nghiêm Dư phải lùi chạy. Hàn Đương kéo quân thẳng đến cửa thành. Giặc chạy cả vào trong thành. Sách chia quân đường thủy đường {{wikt|lục}} cùng tiến, vây bọc cả lấy Ngô-thành. Vây luôn ba ngày không ai dám ra đánh. Sách dẫn quân đến dưới cửa thành để chiêu dụ. Trên thành, một viên [[wikt:tì tướng|tỳ tướng]], tay trái cầm chắc thanh ván đỡ tên, tay phải trỏ xuống chửi mắng. Thái Sử-từ ngồi trên ngựa giương cung đặt tên xong rồi ngoảnh lại bảo chư tướng rằng: - Xem ta bắn trúng vào tay trái thằng kia nhé! Nói chưa dứt lời, dây cung tách một tiếng, quả nhiên trúng giữa bàn tay trái tên tướng trên thành, lại {{wikt|suốt}} qua tay cắm vững vào tấm ván. Người trên thành dưới thành ai cũng reo ồ lên. {{wikt|Chúng}} vội vàng cứu tướng ấy đem xuống thành. Bạch-hổ trông thấy thất kinh nói rằng: - Quân nó có người tài như thế, ta địch sao được? Bàn nhau muốn cầu hòa. Hôm sau Bạch-hổ sai Nghiêm Dư ra thành vào ra mắt Tôn Sách. Sách mời Dư vào trướng uống rượu. Rượu đã say, Sách hỏi Dư: - Ý {{wikt|lệnh huynh}} muốn thế nào? Dư nói: - Muốn cùng tướng quân chia đôi Giang-đông. Sách nổi giận mắng rằng: - Đàn chuột nhắt lại đòi ngang vai với ta à! Mắng rồi thét đem Nghiêm Dư ra chém. Dư rút gươm đứng dậy, Sách cầm thanh gươm ném ra, trúng ngay cổ Nghiêm Dư ngã xuống, cắt ngay lấy đầu, sai người đưa vào thành. Bạch-hổ biết chừng không địch nổi, bỏ thành chạy. Sách kéo quân đuổi theo. Hoàng Cái đánh lấy được Gia-hưng; Thái Sử-từ đánh lấy được Ô-trình, mấy châu đều {{wikt|bình định}} cả. Bạch-hổ chạy về Dư-hàng, cướp bóc ở dọc đường, lại bị người {{wikt|thổ dân}} ở đấy tên là {{w|Lăng Tháo}} đem người làng ra đánh, Bạch-hổ phải thu quân về Cối-kê. Hai bố con Lăng Tháo lại đi đón Tôn Sách. Sách cho làm [[wikt:tòng chinh|tông-trinh]] [[wikt:hiệu úy|hiệu-úy]], cũng dẫn binh sang qua sông. Bạch-hổ tụ quân, dàn khắp ở bến Tây-tân. Trình Phổ đánh một trận, đuổi mãi đến thành Cối-kê. {{wikt|Thái thú}} Cối-kê tên là {{w|Vương Lãng}}, muốn đem binh ra cứu Bạch-hổ, có người can rằng: - Không nên cứu, Tôn Sách dùng quân nhân nghĩa; Bạch-hổ là một tướng bạo ngược. Nên bắt Bạch-hổ đem dâng Tôn Sách. Lãng nhìn xem ai bàn kế ấy; thì là {{w|Ngu Phiên}}, tự là Trọng-tường, người ở Cối-kê, hiện đương làm [[wikt:quận lại|quận-lại]]. Lãng giận mắng Phiên. Phiên thở dài trở ra. Lãng đem binh hội với Bạch-hổ, dàn quân ở cánh đồng Sơn-âm; hai bên đối trận. Tôn Sách cưỡi ngựa ra bảo Vương Lãng rằng: - Ta cất quân {{wikt|nhân nghĩa}} đi dẹp Tích-giang, sao mày dám tùng đảng với giặc? Lãng mắng rằng: - Bụng mày tham không có chừng, đã được Ngô-quận rồi lại còn muốn chiếm nốt bờ cõi ta. Nay ta báo thù cho họ Nghiêm cho mày biết tay! Tôn Sách giận lắm, sắp ra đánh nhau thì Thái Sử-từ ra lúc nào rồi. Vương Lãng múa đao tế ngựa, đánh nhau với Từ chưa được vài hợp, tướng Lãng là Chu Hân nhảy ra đánh đỡ. Bên này {{w|Hoàng Cái}} cũng tế ngựa ra tiếp ứng, đánh với Chu Hân. Hai bên trống đánh vang lừng, đánh nhau lộn bậy. Tự nhiên thấy đằng sau trận Vương Lãng bối rối. Một toán quân đâu từ sau lưng đánh lại. Lãng thất kinh kíp quay ngựa trở về. Quân đánh tập hậu ấy là Chu Du và Trình Phổ, trong khi hai bên đánh nhau, đi tắt lẻn mặt sau. Đằng trước đằng sau đánh dập lại. Lãng quân ít không chống xuể, cùng với Bạch-hổ, Chu Hân cố đánh để mở lấy một đường máu chạy vào thành, buông cầu xuống, đóng vững cửa thành lại. Đại quân Tôn Sách thừa kế, xấn đến mãi dưới thành, chia quân ra bốn cửa. Vương Lãng ở trong thành thấy Sách đánh kíp lắm, lại muốn kéo quân ra quyết đánh một trận sống chết cũng đành. Bạch-hổ can rằng: - Binh thế Tôn Sách to lắm, {{wikt|túc hạ}} chỉ nên thành cao hào sâu cho vững. Không đầy một tháng, quân kia hết lương tất phải chạy. Bấy giờ ta thừa thế ra đuổi, có thể chẳng phải đánh cũng phá tan được. Lãng nghe kế ấy, cứ vững thành không ra. Tôn Sách đánh luôn mấy hôm không phá được thành bèn cùng chư tướng bàn mưu kế. Tôn Tĩnh nói: - Vương Lãng cậy hiểm giữ thành, khó phá ngay được. Tiền lương đất Cối-kê quá nửa chứa ở Tra-độc, đem binh giữ lấy Tra-độc trước. Trong binh pháp có nói rằng: “đánh chỗ {{wikt|vô bị}}, ra nơi không ngờ<ref>Đây là câu thứ 24, Chương 1 - Thiên Kế trong [[Binh pháp Tôn Tử]], nguyên văn: ''Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý'' (攻其無備出其不意).</ref>” là thế đó. Sách mừng nói: - Mẹo hay của chú đủ phá được giặc. Liền hạ lệnh sai các cửa thành đốt lửa giả cắm cờ hiệu để làm nghi binh, rồi đêm hôm ấy rút vây, kéo quân sang mặt nam. Chu Du hiến một kế rằng: - Chúa công kéo cả quân, Vương Lãng tất ra thành đuổi theo. Nếu nó ra ta nên dụng {{wikt|kỳ binh}} mà đánh. Sách nói: - Ta đã sắp sẵn cả rồi. Lấy thành chỉ nội đêm nay. Bèn hạ lệnh cho quân mã đi. Vương Lãng nghe tin báo Tôn Sách rút quân mã đi, liền dẫn quân lên Địch-lâu trông xem, thấy dưới thành khói lửa vẫn ngùn ngụt, {{wikt|tinh kỳ}} đâu vẫn đấy, trong bụng còn nghi hoặc, Chu Hân nói: - Tôn Sách chạy rồi, bày ra mẹo này để đánh lừa ta đấy thôi, nên đem binh ra đuổi đánh. Nghiêm Bạch-hổ nói: - Tôn Sách chuyến này đi, dễ thường định đến Tra-độc. Tôi xin đem bộ binh đuổi theo. Lãng nói: - Tra-độc là chỗ ta chứa lương, cần phải đề phòng cẩn thận. Người đi trước, ta theo sau để tiếp ứng. Bạch-hổ lĩnh năm nghìn quân ra thành đuổi theo. Bấy giờ mới canh một<ref>Ngày xưa một đêm được chia làm 5 canh gác, cứ qua mỗi canh lại có người đánh trống hoặc kẻng để báo hiệu, từ đó có đơn vị thời gian [[wikt:canh|canh]] vào ban đêm. Canh một là khoảng từ 7 đến 9 giờ tối.</ref>. Đi khỏi thành được hơn hai mươi dặm<ref>Hai mươi dặm là khoảng 8.300 km.</ref>, bỗng đâu trong rừng rậm, có một tiếng trống nổi, rồi lửa đuốc sáng rực cả lên. Bạch-hổ thất kinh, liền quay ngựa trở lại, thì có một tướng chắn ngang đường. Chính là Tôn Sách. Chu Hân múa đao lại đánh, bị Sách đâm một mũi giáo chết. Quân thấy thế xuống hàng cả. Bạch-hổ cố chết mở một đường, rồi chạy về Dư-hàng. Vương Lãng nghe tiền quân đã thua, không dám vào thành, dẫn bộ binh chạy ra góc bể đi trốn. Tôn Sách thu quân trở lại, thừa thế lấy ngay thành trì, vỗ yên nhân dân. Được mấy hôm có người mang đầu Bạch-hổ đến dâng. Tôn Sách nhìn người ấy, mình cao tám thước<ref>Tám thước là khoảng 1,85 m.</ref>, mặt vuông, mồm rộng; hỏi tên họ là gì, thì người ấy xưng tên là {{w|Đổng Tập}}, biểu tự Nguyên-đại, người ở Cối-kê. Sách mừng lắm cho làm biệt-bộ [[wikt:tư mã|tư-mã]]. Từ đó xứ đông bình định được cả. Sách sai chú là Tôn Tĩnh giữ ở đấy; còn mình thì thu quân về Giang-đông. Em Sách là {{w|Tôn Quyền}} cùng với {{w|Chu Thái}} giữ ở Tuyên-thành. Chợt có giặc núi bốn mặt kéo đến. Bấy giờ đêm đã khuya, không kịp chống cự. Thái ôm Quyền lên ngựa để chạy. Giặc vác dao xông vào chém. Thái cởi trần ra, xuống ngựa đi bộ, cầm dao đánh nhau với giặc, một lúc giết luôn được hơn mười đứa. Sau có một tên giặc, tế ngựa vác giáo nhảy xổ vào để giết Chu Thái, Thái nắm ngay được giáo, rẩy giặc ngã xuống, cướp được ngựa giặc, đánh riết mở được đường ra, cứu được Tôn Quyền. Giặc thấy vậy chạy cả. Thái bị cả thảy mười hai vết thương nặng, sưng lên, gần chết. Sách nghe tin lo lắm. Đổng Tập nói: - Tôi đã nhiều phen đánh nhau với giặc bể, bị thương, may có một người {{wikt|quận lại}} ở Cối-kê, tên là {{w|Ngu Phiên}} tiến cử một thầy thuốc, chữa cho chỉ nửa tháng là khỏi. Sách hỏi: - Ngu Phiên có phải là Ngu Trọng không? Tập thưa: - Phải. Sách nói: - Người ấy là {{wikt|hiền sĩ}}, ta nên dùng. Liền sai Trương Chiêu, Đổng Tập đến mời Ngu Phiên. Phiên đến. Sách thết đãi cực hậu, cho làm [[wikt:công tào|công-tào]]. Nhân nói chuyện thày thuốc, Phiên nói rằng: - Người ấy là người ở Tiêu-quận, nước Bái, tên là {{w|Hoa Đà}}, tự là Nguyên-hóa; thực là {{wikt|thần y}} bây giờ, tôi xin đưa đến để yết kiến. [[Tập tin:汉名医华佗.jpg|phải|nhỏ|Hoa Đà. Tranh vẽ thời nhà Thanh.]] Được mấy bữa Phiên đem Hoa đà đến. Sách thấy người mặt còn trẻ, mà tóc bạc phơ phơ, tựa như một ông tiên, tiếp đãi làm một {{wikt|thượng khách}}, rồi mời xem bệnh cho Chu Thái. Hoa Đà xem rồi nói: “Bệnh này chữa thực dễ”. Cho thuốc rịt một tháng Chu Thái khỏi hẳn. Sách mừng lắm, hậu tạ Hoa Đà rồi tiến binh tiễu trừ giặc núi. Giang-nam bình định cả. Sách chia cho các tướng giữ các cửa ải, một mặt tả biểu tâu về triều đình, một mặt kết giao với {{w|Tào Tháo}}, một mặt đưa thư cho Viên Thuật để đòi lại ngọc-tỉ. Viên Thuật từ khi nắm được tỷ-phù, có ý muốn giữ lấy để xưng hoàng đế, khi tiếp được thư Tôn Sách, liền đưa thư đáp lại tìm cớ thoái thác không trả, rồi kíp hội [[wikt:trưởng sử|trưởng-sử]] là Dương Đại-tướng; [[wikt:đô đốc|đô-đốc]] là Trương Huân, Kỷ Linh, Kiều Di; [[wikt:thượng tướng|thượng-tướng]] là Lôi Bạc, Trần Lan, cả thảy hơn ba mươi người, bàn với nhau rằng: - Tôn Sách mượn quân mã của ta để khởi sự, nay đã lấy hết được đất Giang-đông, đã quên ơn ta, lại dám đòi lại ngọc-tỉ, thực là xấc láo, có phương kế gì trị nó đi chăng? Dương Đại-tướng nói: - Tôn Sách giữ hiểm sông Tràng-giang, binh giỏi, lương nhiều, cũng chưa dễ trị được. Nay ta nên hãy đánh {{w|Lưu Bị}} trước để báo thù xưa không dưng sang đánh ta đã. Rồi sau ta hãy sửa Tôn Sách, cũng không muộn. Nay tôi xin dâng một kế làm cho Lưu Bị phải bị bắt ngay bây giờ. Thế là: ''<poem> Chẳng tới Giang-đông tìm hổ báo; Lại sang Từ-quận bắt giao long! </poem>'' Chưa biết kế của Dương Đại-tướng hiến ra làm sao, xem tới [[../Hồi 16|hồi sau]] sẽ hiểu. {{chú thích cuối trang}} am8hgpq9dk59dejbojf08or1aigrqs3 Truyện Kiều 0 7350 205130 203370 2026-05-05T12:39:55Z ~2026-27292-09 20151 205130 wikitext text/x-wiki {{Chất lượng vk|75%}}{{đầu đề | tựa đề = Truyện Kiều | tác giả = Nguyễn Du | năm = | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ghi chú = '''Truyện Kiều''' (tên gốc là '''Đoạn Trường Tân Thanh''' 斷腸新聲) là tác phẩm nổi tiếng nhất của đại thi hào [[w:Nguyễn Du|Nguyễn Du]], kiệt tác của văn học Việt Nam thời trung đại. Với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã được tôn vinh là Danh nhân văn hóa thế giới. :Xem thêm các bản Nôm:[[Truyện Kiều (bản Liễu Văn Ðường 1866)|bản Liễu Văn Đường 1866]], [[Truyện Kiều (bản Kinh Tự Đức 1870)|bản Kinh Tự Đức 1870]], [[Truyện Kiều (bản Liễu Văn Ðường 1871)|bản Liễu Văn Đường 1871]], [[Truyện Kiều (bản Duy Minh Thị 1872)|bản Duy Minh Thị 1872]], [[Truyện Kiều (bản Kiều Oánh Mậu 1902)|bản Kiều Oánh Mậu 1902]] :Bản truyện tiếng Hán: [[:zh:金雲翹傳|金雲翹傳]] | wikipedia = Truyện Kiều }} [[Tập tin:ThuykieuTruyen.jpg|nhỏ|phải|Áng văn Nôm Truyện Kiều bản Chiêm Vân Thị dưới tựa ''Thúy Kiều Truyện tường chú'']] <poem> Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. {{số|5}} Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh. Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, {{số|10}} Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng. Có nhà viên ngoại họ Vương, Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung. Một trai con thứ rốt lòng, Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia. {{số|15}} Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân. Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Một người một vẻ, mười phân vẹn mười. Vân xem trang trọng khác vời, {{số|20}} Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Kiều càng sắc sảo, mặn mà, So bề tài, sắc, lại là phần hơn. {{số|25}} Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Một, hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một, tài đành họa hai. Thông minh vốn sẵn tư trời, {{số|30}} Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm. Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân. {{số|35}} Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Ngày xuân con én đưa thoi, {{số|40}} Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh. {{số|45}} Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử, giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Ngổn ngang gò đống kéo lên, {{số|50}} Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay. Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. {{số|55}} Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Sè sè nấm đất bên đàng, Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Rằng: Sao trong tiết thanh minh, {{số|60}} Mà đây hương khói vắng tanh thế mà? Vương Quan mới dẫn gần xa: Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi. Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh. {{số|65}} Kiếp hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương. Có người khách ở viễn phương, Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi. Thuyền tình vừa ghé tới nơi, {{số|70}} Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ. Buồng không lạnh ngắt như tờ, Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh. Khóc than khôn xiết sự tình, Khéo vô duyên ấy là mình với ta. {{số|75}} Đã không duyên trước chăng mà, Thì chi chút ước gọi là duyên sau. Sắm xanh nếp tử xe trâu Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa. Trải bao thỏ lặn ác tà, {{số|80}} Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm! Lòng đâu sẵn mối thương tâm, Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa. Đau đớn thay phận đàn bà! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. {{số|85}} Phũ phàng chi bấy hóa công, Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha. Sống làm vợ khắp người ta, Khéo thay thác xuống làm ma không chồng. Nào người phượng chạ loan chung, {{số|90}} Nào người tích lục tham hồng là ai? Đã không kẻ đoái người hoài, Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương. Gọi là gặp gỡ giữa đường, Họa là người dưới suối vàng biết cho. {{số|95}} Lầm rầm khấn khứa nhỏ to, Sụp ngồi vài gật trước mồ bước ra. Một vùng cỏ áy bóng tà, Gió hiu hiu thổi một vài bông lau. Rút trâm sẵn giắt mái đầu, {{số|100}} Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần. Lại càng mê mẩn tâm thần Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra. Lại càng ủ dột nét hoa, Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài. {{số|105}} Vân rằng: Chị cũng nực cười, Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu? Nỗi niềm tưởng đến mà đau, {{số|110}} Thấy người nằm đó biết sau thế nào? Quan rằng: Chị nói hay sao, Một lời là một vận vào khó nghe. Ở đây âm khí nặng nề, Bóng chiều đã ngả dậm về còn xa. {{số|115}} Kiều rằng: Những đấng tài hoa, Thác là thể phách, còn là tinh anh, Dễ hay tình lại gặp tình, Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ. Một lời nói chửa kịp thưa, {{số|120}} Thoắt đâu trận gió cuốn cờ đến ngay. Ào ào đổ lộc rung cây, Ở trong dường có hương bay ít nhiều. Đè chừng ngọn gió lần theo, Dấu giày từng bước in rêu rành rành. {{số|125}} Mắt nhìn ai nấy đều kinh, Nàng rằng: Này thực tinh thành chẳng xa. Hữu tình ta lại gặp ta, Chớ nề u hiển mới là chị em. Đã lòng hiển hiện cho xem, {{số|130}} Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời. Lòng thơ lai láng bồi hồi, Gốc cây lại vạch một bài cổ thi. Dùng dằng nửa ở nửa về, Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần. {{số|135}} Trông chừng thấy một văn nhân, Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng. Đề huề lưng túi gió trăng, Sau chân theo một vài thằng con con. Tuyết in sắc ngựa câu giòn, {{số|140}} Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời. Nẻo xa mới tỏ mặt người, Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình. Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cành dao. {{số|145}} Chàng Vương quen mặt ra chào, Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa. Nguyên người quanh quất đâu xa, Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh. Nền phú hậu, bậc tài danh, {{số|150}} Văn chương nết đất, thông minh tính trời. Phong tư tài mạo tót vời, Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa. Chung quanh vẫn đất nước nhà, Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân. {{số|155}} Vẫn nghe thơm nức hương lân, Một nền đồng Tước khóa xuân hai Kiều. Nước non cách mấy buồng thêu, Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng. May thay giải cấu tương phùng, {{số|160}} Gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa. Bóng hồng nhác thấy nẻo xa, Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai. Người quốc sắc, kẻ thiên tài, Tình trong như đã, mặt ngoài còn e. {{số|165}} Chập chờn cơn tỉnh cơn mê. Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn. Bóng tà như giục cơn buồn, Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo. Dưới cầu nước chảy trong veo, {{số|170}} Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha. Kiều từ trở gót trướng hoa, Mặt trời gác núi chiêng đà thu không. Gương nga chênh chếch dòm song, Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân. {{số|175}} Hải đường lả ngọn đông lân, Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà. Một mình lặng ngắm bóng nga, Rộn đường gần với nỗi xa bời bời: Người mà đến thế thì thôi, {{số|180}} Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi! Người đâu gặp gỡ làm chi, Trăm năm biết có duyên gì hay không? Ngổn ngang trăm mối bên lòng, Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình. {{số|185}} Chênh chênh bóng nguyệt xế mành, Tựa nương bên triện một mình thiu thiu. Thoắt đâu thấy một tiểu kiều, Có chiều thanh vận, có chiều thanh tân. Sương in mặt, tuyết pha thân, {{số|190}} Sen vàng lãng đãng như gần như xa. Chào mừng đón hỏi dò la: Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây? Thưa rằng: Thanh khí xưa nay, Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên. {{số|195}} Hàn gia ở mé tây thiên, Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu. Mấy lòng hạ cố đến nhau, Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng. Vâng trình hội chủ xem tường, {{số|200}} Mà sao trong sổ đoạn trường có tên. Âu đành quả kiếp nhân duyên, Cùng người một hội, một thuyền đâu xa! Này mười bài mới mới ra, Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời. {{số|205}} Kiều vâng lĩnh ý đề bài, Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm. Xem thơ nức nở khen thầm: Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường Ví đem vào tập đoạn Trường {{số|210}} Thì treo giải nhất chi nhường cho ai. Thềm hoa khách đã trở hài, Nàng còn cầm lại một hai tự tình. Gió đâu xịch bức mành mành, Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao. {{số|215}} Trông theo nào thấy đâu nào Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây. Một mình lưỡng lự canh chầy, Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh. Hoa trôi bèo dạt đã đành, {{số|220}} Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi! Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi, Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn. Giọng Kiều rền rĩ trướng loan, Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ gì? {{số|225}} Cớ sao trằn trọc canh khuya, Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa? Thưa rằng: Chút phận ngây thơ, Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền. Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên, {{số|230}} Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao. Đoạn trường là số thế nào, Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia. Cứ trong mộng triệu mà suy, Phận con thôi có ra gì mai sau! {{số|235}} Dạy rằng: Mộng triệu cớ đâu, Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao. Vâng lời khuyên giải thấp cao, Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương. Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng, {{số|240}} Nách tường bông liễu bay ngang trước mành. Hiên tà gác bóng chênh chênh, Nỗi riêng, riêng trạnh tấc riêng một mình. Cho hay là thói hữu tình, Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong. {{số|245}} Chàng Kim từ lại thư song, Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây. Sầu đong càng lắc càng đầy, Ba thu dồn lại một ngày dài ghê. Mây Tần khóa kín song the, {{số|250}} Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao. Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao, Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng. Buồng văn hơi giá như đồng, Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan. {{số|255}} Mành Tương phất phất gió đàn, Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình. Vì chăng duyên nợ ba sinh, Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi. Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người, {{số|260}} Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi. Một vùng cỏ mọc xanh rì, Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu! Gió chiều như gợi cơn sầu, Vi lô hiu hắt như màu khảy trêu. {{số|265}} Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều, Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang. Thâm nghiêm kín cổng cao tường, Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh. Lơ thơ tơ liễu buông mành, {{số|270}} Con oanh học nói trên cành mỉa mai. Mấy lần cửa đóng then cài, Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu? Tần ngần đứng suốt giờ lâu, Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà. {{số|275}} Là nhà Ngô Việt thương gia, Buồng không để đó người xa chưa về. Lấy điều du học hỏi thuê, Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang. Có cây, có đá sẵn sàng, {{số|280}} Có hiên Lãm thúy, nét vàng chưa phai. Mừng thầm chốn ấy chữ bài, Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây. Song hồ nửa khép cánh mây, Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông. {{số|285}} Tấc gang động khóa nguồn phong, Tịt mù nào thấy bóng hồng vào ra. Nhẫn từ quán khách lân la, Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai. Cách tường phải buổi êm trời, {{số|290}} Dưới đào dường có bóng người thướt tha. Buông cầm xốc áo vội ra, Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh. Lần theo tường gấm dạo quanh, Trên đào nhác thấy một cành kim thoa. {{số|295}} Giơ tay với lấy về nhà: Này trong khuê các đâu mà đến đây? Ngẫm âu người ấy báu này, Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm! Liền tay ngắm nghía biếng nằm, {{số|300}} Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai. Tan sương đã thấy bóng người, Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ. Sinh đà có ý đợi chờ, Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng: {{số|305}} Thoa này bắt được hư không, Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về? Tiếng Kiều nghe lọt bên kia: Ơn lòng quân tử sá gì của rơi, Chiếc thoa nào của mấy mươi {{số|310}} Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!" Sinh rằng: "Lân lý ra vào, Gần đây nào phải người nào xa xôi, Rày nhờ được chút thơm rơi Kể đà thiểu não lòng người bấy nay! {{số|315}} Bấy lâu mới được một ngày, Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là" Vội về thêm lấy của nhà, Khuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông Thang mây qua bước ngọn tường, {{số|320}} Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng như. Sượng sùng giữ ý rụt rè, Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu Rằng: "Từ ngẫu nhỉ gặp nhau Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn, {{số|325}} Xương mai tính đã rũ mòn Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay! Vuông tròn nhờ cậy cung mây Trần trần một phận ấp cây đã liều! Tiện đây xin một đôi điều {{số|330}} Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?" Ngần ngừ nàng mới thưa rằng: Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong Dù khi lá thắm chỉ hồng Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha {{số|335}} Nặng lòng xót liễu vì hoa Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!" Sinh rằng: Rày gió mai mưa, Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi! Dù chăng xét tấm tình si, {{số|340}} Thiệt đây mà có ích gì cho ai? Chút chi gắn bó một hai, Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh, Khuôn thiên dù phụ tấc thành, Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời, {{số|345}} Lượng xuân dù quyết hẹp hòi Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru?" Lặng nghe lời nói như ru, Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng Rằng: "Trong buổi mới lạ lùng, {{số|350}} Nể lòng có lẽ, cầm lòng cho đang? Đã lòng quân tử đa mang Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung!" Được lời như cởi tấm lòng, Giở kim thoa với khăn hồng trao tay, {{số|355}} Rằng: "Trăm năm cũng từ đây, Của tin gọi một chút này làm ghi". Sẵn tay bả quạt hoa quỳ, Với cành thoa ấy tức thì đổi trao. Một lời gắn bó tất giao {{số|360}} Mé sau nhường có xôn xao tiếng người, Vội vàng lá rụng hoa rơi Chàng về viện sách, nàng dời lầu trang. Từ phen đá biết tuổi vàng, Tình càng thấm thía lòng càng ngẩn ngơ. {{số|365}} Sông Tương một dải nông sờ, Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia Một tuồng tuyết chở sương che Tin xuân đâu dễ đi về cho năng Lần lần ngày gió đêm trăng {{số|370}} Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua. Ngày vừa sinh nhật ngoại gia, Trên hai đường, dưới nữa là hai em, Tưng bừng sắm sửa áo xiêm, Biện dâng một lễ, xa đem tấc thành. {{số|375}} Nhà hương thanh vắng một mình Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay. Thời trân thức thức sẵn bày, Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường. Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng, {{số|380}} Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông: Trách lòng hờ hững với lòng, Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu, Những là đắp nhớ đổi sầu, Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm". {{số|385}} Nàng rằng: "Gió bắt mưa cầm, Đã cam tệ với tri âm bấy chầy, Vắng nhà được buổi hôm nay, Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng Lần theo núi giả đi vòng, {{số|390}} Cuối tường nhường có nẻo thông mới rào, Xắn tay mở khóa động đào, Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai. Mặt nhìn mặt, càng thêm tươi, Bên lời vạn phúc, bên lời hàn huyên {{số|395}} Sánh vai về chốn tư hiên, Góp lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông. Trên yên bút giá thi đồng, Đạm thanh một bức trang tùng treo trên. Phong sương được vẻ thiên nhiên, {{số|400}} Mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi, Sinh rằng: "Phác họa vừa rồi, Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa!" Tay tiên gió táp mưa sa Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu. {{số|405}} Khen: "Tài nhả ngọc, phun châu, Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này! Kiếp tu xưa ví chưa dày, Phúc nào nhắc được giá này cho ngang! Nàng rằng: Trộm liếc dung quang, {{số|410}} Chẳng sân bội ngọc cũng phường kim môn. Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn, Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay? Nhớ từ năm hãy thơ ngây, Có người tướng sĩ đoán ngay một lời: {{số|415}} Anh hoa phát tiết ra ngoài, Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa. Trông người lại ngẫm đến ta, Một dầy một mỏng biết là có nên?' Sinh rằng: Giải cấu là duyên, {{số|420}} Xưa nay nhân định thắng nhiên cũng nhiều. Ví dù giải kết đến điều, Thì đem vàng đá mà liều với thân! Đủ điều trung khúc ân cần, Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng. {{số|425}} Ngày vui ngắn chẳng đầy gang, Trông ra ác đã ngậm gương non đoài. Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai, Giã chàng nàng mới kíp dời song sa. Đến nhà vừa thấy tin nhà, {{số|430}} Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về. Cửa ngoài vội rủ rèm the, Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình. Nhặt thưa gương giọi đầu cành, Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu. {{số|435}} Sinh vừa tựa án thiu thiu, Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê. Tiếng sen sẽ động giấc hòe, Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần. Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần, {{số|440}} Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng. Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường, Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa. Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao? {{số|445}} Vội mừng làm lễ rước vào, Đài sen nối sáp song đào thêm hương. Tiên thề cùng thảo một chương, Tóc mây một món dao vàng chia đôi. Vầng trăng vằng vặc giữa trời, {{số|450}} Đinh ninh hai mặt một lời song song. Tóc tơ căn vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương. Chén hà sánh giọng quỳnh tương, Dải là hương lộn bình gương bóng lồng. {{số|455}} Sinh rằng: Gió mát trăng trong, Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam. Chày sương chưa nện cầu Lam, Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng? Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng, {{số|460}} Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri. Đừng điều nguyệt nọ hoa kia. Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai. Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài, Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ. {{số|465}} Thưa rằng: Tiện kỹ sá chi, Đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng. Hiên sau treo sẵn cầm trăng, Vội vàng Sinh đã tay nâng ngang mày. Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay, {{số|470}} Làm chi cho bận lòng này lắm thân! So dần dây vũ dây văn, Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương. Khúc đâu Hán Sở chiến trường, Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. {{số|475}} Khúc đâu Tư mã Phượng cầu, Nghe ra như oán như sầu phải chăng! Kê Khang này khúc Quảng lăng, Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân. Qua quan này khúc Chiêu Quân, {{số|480}} Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia. Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. {{số|485}} Ngọn đèn khi tỏ khi mờ, Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu. Khi tựa gối khi cúi đầu, Khi vò chín khúc khi chau đôi mày. Rằng: Hay thì thật là hay, {{số|490}} Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào! Lựa chi những bậc tiêu tao, Dột lòng mình cũng nao nao lòng người? Rằng: Quen mất nết đi rồi, Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao! {{số|495}} Lời vàng âm lĩnh ý cao, Họa dần dần bớt chút nào được không. Hoa hương càng tỏ thức hồng, Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu. Sóng tình dường đã xiêu xiêu, {{số|500}} Xem trong âu yếm có chiều lả lơi. Thưa rằng: đừng lấy làm chơi, Dẽ cho thưa hết một lời đã nao! Vẻ chi một đóa yêu đào, Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh. {{số|505}} Đã cho vào bậc bố kinh, Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầụ Ra tuồng trên Bộc trong dâu, Thì con người ấy ai cầu làm chi! Phải điều ăn xổi ở thì, {{số|510}} Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày! Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay, Lứa đôi ai đẹp lại tày Thôi Trương. Mây mưa đánh đổ đá vàng, Quá chiều nên đã chán chường yến anh. {{số|515}} Trong khi chắp cánh liền cành, Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên. Mái tây để lạnh hương nguyền, Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng. Gieo thoi trước chẳng giữ giàng, {{số|520}} Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai? Vội chi liễu ép hoa nài, Còn thân ắt lại đền bồi có khi! Thấy lời đoan chính dễ nghe, Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân. {{số|525}} Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân, Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào. Nàng thì vội trở buồng thêu, Sinh thì dạo gót sân đào bước ra. Cửa sài vừa ngỏ then hoa, {{số|530}} Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang. Đem tin thúc phụ từ đường, Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề. Liêu dương cách trở sơn khê, Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang. {{số|535}} Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng, Băng mình lẻn trước đài trang tự tình. Gót đầu mọi nỗi đinh ninh, Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xôi: Sự đâu chưa kịp đôi hồi, {{số|540}} Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ, Trăng thề còn đó trơ trơ, Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng. Ngoài nghìn dặm chốc ba đông, Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy! {{số|545}} Gìn vàng giữ ngọc cho hay, Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời. Tai nghe ruột rối bời bời, Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau: Ông tơ ghét bỏ chi nhau, {{số|550}} Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi! Cùng nhau trót đã nặng lời, Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ! Quản bao tháng đợi năm chờ, Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm. {{số|555}} Đã nguyền hai chữ đồng tâm, Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai. Còn non còn nước còn dài, Còn về còn nhớ đến người hôm nay! Dùng dằng chưa nỡ rời tay, {{số|560}} Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà. Ngại ngùng một bước một xa, Một lời trân trọng châu sa mấy hàng. Buộc yên quảy gánh vội vàng, Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai. {{số|565}} Buồn trông phong cảnh quê người, Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa. Não người cữ gió tuần mưa, Một ngày nặng gánh tương tư một ngày. Nàng còn đứng tựa hiên tây, {{số|570}} Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ. Trông chừng khói ngất song thưa, Hoa trôi trác thắm, liễu xơ xác vàng. Tần ngần dạo gót lầu trang, Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về, {{số|575}} Hàn huyên chưa kịp giãi dề, Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao. Người nách thước, kẻ tay đao; Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi. Già giang một lão một trai, {{số|580}} Một dây vô lại buộc hai thâm tình. Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh, Rụng rời khung dệt, tan tành gói may. Đồ tế nhuyễn, của riêng tây, Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham. {{số|585}} Điều đâu bay buộc ai làm? Này ai đan dậm, giật giàm bỗng dưng? Hỏi ra sau mới biết rằng: Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ. Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ, {{số|590}} Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây. Hạ từ van lạy suốt ngày, Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn. Rường cao rút ngược dây oan, Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người. {{số|595}} Mặt trông đau đớn rụng rời, Oan này còn một kêu trời, nhưng xa. Một ngày lạ thói sai nha, Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền. Sao cho cốt nhục vẹn tuyền, {{số|600}} Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao? Duyên hội ngộ, đức cù lao, Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn? Để lời thệ hải minh sơn, Làm con trước phải đền ơn sinh thành. {{số|605}} Quyết tình nàng mới hạ tình: Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha! Họ Chung có kẻ lại già, Cũng trong nha dịch lại là từ tâm. Thấy nàng hiếu trọng tình thâm, {{số|610}} Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay. Tính bài lót đó luồn đây, Có ba trăm lạng việc này mới xuôi. Hãy về tạm phó giam ngoài, Dặn nàng quy liệu trong đôi ba ngày. {{số|615}} Thương tình con trẻ thơ ngây, Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ! Đau lòng tử biệt sinh ly, Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên! Hạt mưa sá nghĩ phận hèn, {{số|620}} Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân. Sự lòng ngỏ với băng nhân, Tin sương đồn đại xa gần xôn xao. Gần miền có một mụ nào, Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh. {{số|625}} Hỏi tên rằng: Mã Giám Sinh. Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần. Quá niên trạc ngoại tứ tuần, Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. Trước thầy sau tớ lao xao {{số|630}} Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang. Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra. Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng! {{số|635}} Ngại ngùng giợn gió e sương, Nhìn hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày. Mối càng vén tóc bắt tay, Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai. Đắn đo cân sắc cân tài, {{số|640}} Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ. Mặn nồng một vẻ một ưa, Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu. Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều, Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường? {{số|645}} Mối rằng: đáng giá nghìn vàng, Gấp nhà nhờ lượng người thương dám nài. Cò kè bớt một thêm hai, Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm. Một lời thuyền đã êm dằm {{số|650}} Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi. Định ngày nạp thái vu quy, Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong! Một lời cậy với Chung công, Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà. {{số|655}} Thương tình con trẻ cha già, Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu: Nuôi con những ước về sau, Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi. Trời làm chi cực bấy trời, {{số|660}} Này ai vu thác cho người hợp tan! Búa rìu bao quản thân tàn, Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già. Một lần sau trước cũng là, Thôi thì mặt khuất chẳng thà lòng đau! {{số|665}} Theo lời càng chảy dòng châu, Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi. Vội vàng kẻ giữ người coi, Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can: Vẻ chi một mảnh hồng nhan, {{số|670}} Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành. Dâng thư đã thẹn nàng Oanh, Lại thua ả Lý bán mình hay sao? Cỗi xuân tuổi hạc càng cao, Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành. {{số|675}} Lòng tơ dù chẳng dứt tình, Gió mưa âu hẳn tan tành nưóc non. Thà rằng liều một thân con, Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây. Phận sao đành vậy cũng vầy, {{số|680}} Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh. Cũng đừng tính quẩn lo quanh, Tan nhà là một thiệt mình là hai. Phải lời ông cũng êm tai, Nhìn nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang. {{số|685}} Mái ngoài họ Mã vừa sang, Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao. Trăng già độc địa làm sao? Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên. Trong tay đã sẵn đồng tiền, {{số|690}} Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì! Họ Chung ra sức giúp vì, Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong. Việc nhà đã tạm thong dong, Tinh kỳ giục giã đã mong độ về. {{số|695}} Một mình nàng ngọn đèn khuya, Áo dầm giọt lệ, tóc xe mối sầu. Phận dầu, dầu vậy cũng dầu, Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời! Công trình kể biết mấy mươi. {{số|700}} Vì ta khăng khít, cho người dở dang. Thề hoa chưa ráo chén vàng, Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa. Trời Liêu non nước bao xa. Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi. {{số|705}} Biết bao duyên nợ thề bồi. Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì. Tái sinh chưa dứt hương thề. Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai. Nợ tình chưa trả cho ai, {{số|710}} Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan. Nỗi riêng riêng những bàng hoàng, Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn. Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân, Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han: {{số|715}} Cơ trời dâu bể đa đoan, Một nhà để chị riêng oan một mình, Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh? Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây? Rằng: Lòng đương thổn thức đầy, {{số|720}} Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong. Hở môi ra cũng thẹn thùng, Để lòng thì phụ tấm lòng với ai. Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. {{số|725}} Giữa đường đứt gánh tương tư, Loan giao chắp mối tơ thừa mặc em. Kể từ khi gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề. Sự đâu sóng gió bất kỳ, {{số|730}} Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai! Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ, thay lời nước non. Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây. {{số|735}} Chiếc thoa với bức tờ mây, Duyên này thì giữ vật này của chung. Dù em nên vợ nên chồng, Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên. Mất người còn chút của tin, {{số|740}} Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa. Mai sao dầu có bao giờ. Đốt lò hương ấy, so tơ phím này. Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. {{số|745}} Hồn còn mang nặng lời thề, Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai; Dạ đài cách mặt khuất lời, Rẩy xin chén nước cho người thác oan. Bây giờ trâm gẫy bình tan, {{số|750}} Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân. Trăm nghìn gửi lại tình quân, Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi. Phận sao phận bạc như vôi, Đã đành nước chẩy hoa trôi lỡ làng. {{số|755}} Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Cạn lời hồn ngất máu say, Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng. Xuân Huyên chợt tỉnh giất nồng, {{số|760}} Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài. Kẻ thang người thuốc bời bời, Mới dằn cơn vựng, chưa phai giọt hồng. Hỏi: Sao ra sự lạ lùng? Kiều càng nức nở mở không ra lời. {{số|765}} Nỗi nàng Vân mới rỉ tai, Chiếc thoa này với tờ bồi ở đây.. Này cha làm lỗi duyên mày, Thôi thì nỗi ấy sau này đã em. Vì ai rụng cải rơi kim, {{số|770}} Để con bèo nổi mây chìm vì ai. Lời con dặn lại một hai, Dẫu mòn bia đá, dám sai tấc vàng. Lậy thôi, nàng lại thưa chiềng, Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi. {{số|775}} Sá chi thân phận tôi đòi, Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu. Xiết bao kể nỗi thảm sầu! Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi. Kiệu hoa đâu đã đến ngoài, {{số|780}} Quản huyền đâu đã giục người sinh ly. Đau lòng kẻ ở người đi, Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm. Trời hôm mây kéo tối rầm, Rầu rầu ngọn cỏ đầm đầm cành sương. {{số|785}} Rước nàng về đến trú phường, Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong. Ngập ngừng thẹn lục e hồng, Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen. Phẩm tiên rơi đến tay hèn, {{số|790}} Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai: Biết thân đến bước lạc loài, Nhị đào thà bẻ cho người tình chung. Vì ai ngăn đón gió đông, Thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi. {{số|795}} Trùng phùng dầu họa có khi, Thân này thôi có còn gì mà mong. Đã sinh ra số long đong, Còn mang lấy kiếp má hồng được sao? Trên yên sẵn có con dao, {{số|800}} Giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn: Phòng khi nước đã đến chân, Dao này thì liệu với thân sau này. Đêm thu một khắc một chầy, Bâng khuâng như tỉnh như say một mình. {{số|805}} Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh, Vẫn là một đứa phong tình đã quen. Quá chơi lại gặp hồi đen, Quen mùi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa. Lầu xanh có mụ Tú Bà, {{số|810}} Làng chơi đã trở về già hết duyên. Tình cờ chẳng hẹn mà nên, Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường. Chung lưng mở một ngôi hàng, Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề. {{số|815}} Dạo tìm khắp chợ thì quê, Giả danh hầu hạ dạy nghề ăn chơi. Rủi may âu cũng tại trời, Đoạn trường lại chọn mặt người vô duyên. Xót nàng chút phận thuyền quyên, {{số|820}} Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn. Mẹo lừa đã mắc vào khuôn, Sính nghi rẻ giá nghênh hôn sẵn ngày. Mừng thầm: Cờ đã đến tay! Càng nhìn vẻ ngọc càng say khúc vàng. {{số|825}} Đã nên quốc sắc thiên hương, Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa. Về đây nước trước bẻ hoa, Vương tôn quý khách ắt là đua nhau. Hẳn ba trăm lạng kém đâu, {{số|830}} Cũng đà vừa vốn còn sau thì lời, Miếng ngon kề dến tận nơi, Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham. Đào tiên đã bén tay phàm, Thì vin cành quýt cho cam sự đời! {{số|835}} Dưới trần mấy mặt làng chơi, Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa. Nước vỏ lựu máu mào gà, Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên. Mập mờ đánh lận con đen, {{số|840}} Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi? Mụ già hoặc có điều gì, Liều công mất một buổi quỳ mà thôi. Vả đây đường xá xa xôi, Mà ta bất động nữa người sinh nghi. {{số|845}} Tiếc thay một đóa trà mi, Con ong đã tỏ đường đi lối về. Một cơn mưa gió nặng nề, Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương. Đêm xuân một giấc mơ màng, {{số|850}} Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ. Giọt riêng tầm tã tuôn mưa, Phần căm nỗi khách phần dơ nỗi mình: Tuồng chi là giống hôi tanh, Thân nghìn vàng để ô danh má hồng. {{số|855}} Thôi còn chi nữa mà mong? Đời người thôi thế là xong một đời. Giận duyên tủi phận bời bời, Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh. Nghĩ đi nghĩ lại một mình: {{số|860}} Một mình thì chớ hai tình thì sao? Sao dầu sinh sự thế nào, Truy nguyên chẳng kẻo lụy vào song thân. Nỗi mình âu cũng giãn dần, Kíp chầy thôi cũng một lần mà thôi. {{số|865}} Những là đo đắn ngược xuôi, Tiếng gà nghe đã gáy sôi mái tường. Lầu mai vừa rúc còi sương, Mã Sinh giục giã vội vàng ra đi. Đoạn trường thay lúc phân kỳ! {{số|870}} Vó câu khấp khểnh bóng xe gập ghềnh. Bề ngoài mười dặm trường đình, Vương ông mở tiệc tiễn hành đưa theo. Ngoài thì chủ khách dập dìu, Một nhà huyên với một Kiều ở trong. {{số|875}} Nhìn càng lã chã giọt hồng, Rỉ tai nàng mới giãi lòng thấp cao: Hổ sinh ra phận thơ đào, Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong? Lỡ làng nước đục bụi trong, {{số|880}} Trăm năm để một tấm lòng từ đây. Xem gương trong bấy nhiêu ngày, Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già! Khi về bỏ vắng trong nhà, Khi vào dùng dắng khi ra vội vàng. {{số|885}} Khi ăn khi nói lỡ làng, Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh. Khác màu kẻ quý người thanh, Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn. Thôi con còn nói chi con? {{số|890}} Sống nhờ đất khách thác chôn quê người! Vương bà nghe bấy nhiêu lời, Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên. Vài tuần chưa cạn chén khuyên. Mái ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe. {{số|895}} Xót con lòng nặng trì trì, Trước yên ông đã nằn nì thấp cao: Chút thân yếu liễu tơ đào, Rớp nhà đến nỗi giấn vào tôi ngươi. Từ đây góc bể bên trời, {{số|900}} Nắng mưa thui thủi quê người một thân. Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân, Tuyết sương che chở cho thân cát đằng. Cạn lời khách mới thưa rằng: Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao. {{số|905}} Mai sau dầu dến thế nào, Kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỷ thần! Đùng dùng gió giục mây vần, Một xe trong cõi hồng trần như bay. Trông vời gạt lệ chia tay, {{số|910}} Góc trời thăm thẳm đêm ngày đăm đăm. Nàng thì dặm khách xa xăm, Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây. Vi lô san sát hơi may, Một trời thu để riêng ai một người. {{số|915}} Dặm khuya ngất tạnh mù khơi, Thấy trăng mà thẹn những lời non sông. Rừng thu từng biếc xen hồng, Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn. Những là lạ nước lạ non, {{số|920}} Lâm Truy vừa một tháng tròn tới nơi. Xe châu dừng bánh cửa ngoài, Rèm trong đã thấy một người bước ra. Thoắt trông nhờn nhợt màu da, Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao! {{số|925}} Trước xe lơi lả han chào, Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi. Bên thì mấy ả mày ngài, Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi. Giữa thì hương án hẳn hoi, {{số|930}} Trên treo một tượng trắng đôi lông mày. Lầu xanh quen lối xưa nay, Nghề này thì lấy ông này tiên sư, Hương hôm hoa sớm phụng thờ. Cô nào xấu vía có thưa mối hàng, {{số|935}} Cởi xiêm lột áo sỗ sàng, Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm. Đổi hoa lót xuống chiếu nằm, Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi! Kiều còn ngơ ngẩn biết gì, {{số|940}} Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay: Cửa hàng buôn bán cho may, Đêm đêm Hàn thực ngày ngày Nguyên tiêu. Muôn nghìn người thấy cũng yêu, Xôn xao oanh yến rập rìu trúc mai. {{số|945}} Tin nhạn vẩn lá thư bài, Đưa người cửa trước rước người cửa sau. Lạ tai nghe chửa biết đâu, Xem tình ra cũng những màu dở dang. Lễ xong hương hỏa gia đường, {{số|950}} Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay. Dạy rằng: Con lạy mẹ đây, Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia. Nàng rằng: Phải bước lưu ly, Phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh. {{số|955}} Điều đâu lấy yến làm oanh, Ngây thơ chẳng biết là danh phận gì? Đủ điều nạp thái vu quy, Đã khi chung chạ lại khi đứng ngồi. Giờ ra thay mặt đổi ngôi, {{số|960}} Dám xin gửi lại một lời cho minh. Mụ nghe nàng nói hay tình, Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên: Này này sự đã quả nhiên, Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi. {{số|965}} Bảo rằng đi dạo lấy người, Đem về rước khách kiếm lời mà ăn. Tuồng vô nghĩa ở bất nhân, Buồn mình trước đã tần mần thử chơi. Màu hồ đã mất đi rồi, {{số|970}} Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma! Con kia đã bán cho ta, Nhập ra phải cứ phép nhà tao đây. Lão kia có giở bài bây, Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe. {{số|975}} Cớ sao chịu tốt một bề, Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao? Phải làm cho biết phép tao! Chập bì tiên rắp sấn vào ra tay. Nàng rằng: Trời thẳm đất dày! {{số|980}} Thân này đã bỏ những ngày ra đi. Thôi thì thôi có tiếc gì! Sẵn dao tay áo tức thì giở ra. Sợ gan nát ngọc liều hoa! Mụ còn trông mặt nàng đà quá tay. {{số|985}} Thương ôi tài sắc bậc này, Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần. Nỗi oan vỡ lở xa gần, Trong nhà người chật một lần như nêm. Nàng thì bằn bặt giấc tiên, {{số|990}} Mụ thì cầm cập mặt nhìn hồn bay. Vực nàng vào chốn hiên tây, Cắt người coi sóc chạy thầy thuốc thang. Nào hay chưa hết trần duyên, Trong mê dường đã đứng bên một nàng. {{số|995}} Rỉ rằng: Nhân quả dở dang, Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao? Số còn nặng nợ má đào, Người dầu muốn quyết trời nào đã cho. Hãy xin hết kiếp liễu bồ, {{số|1000}} Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau. Thuốc thang suốt một ngày thâu, Giấc mê nghe đã dàu dàu vừa tan. Tú Bà chực sẵn bên màn, Lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần: {{số|1005}} Một người dễ có mấy thân! Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài. Cũng là lỡ một lầm hai, Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây! Lỡ chưn trót đã vào đây, {{số|1010}} Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non. Người còn thì của hãy còn, Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà. Làm chi tội báo oán gia, Thiệt mình mà hại đến ta hay gì? {{số|1015}} Kề tai mấy mỗi nằn nì, Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi. Vả suy thần mộng mấy lời, Túc nhân âu cũng có trời ở trong. Kiếp này nợ trả chưa xong, {{số|1020}} Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau! Lặng nghe, thấm thía gót đầu, Thưa rằng: Ai có muốn đâu thế này? Được như lời, thế là may, Hẳn rằng mai có như rày cho chăng! {{số|1025}} Sợ khi ong bướm đãi đằng, Đến điều sống đục, sao bằng thác trong! Mụ rằng: Con hãy thong dong, Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi! Mai sau ở chẳng như lời, {{số|1030}} Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi. Thấy lời quyết đoán hẳn hoi, Đành lòng, nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần. Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân, Vẻ non xa, tấm trăng gần, ở chung. {{số|1035}} Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia. Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng. Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, {{số|1040}} Tin sương luống những rày trông mai chờ. Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ? {{số|1045}} Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm? Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, {{số|1050}} Hoa trôi man mác, biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ dàu dàu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồị {{số|1055}} Chung quanh những nước non người, Đau lòng lưu lạc, nên vài bốn câu. Ngậm ngùi rủ bước rèm châu, Cách tường, nghe có tiếng đâu họa vần. Một chàng vừa trạc thanh xuân, {{số|1060}} Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng. Nghĩ rằng cũng mạch thư hương, Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh. Bóng Nga thấp thoáng dưới mành, Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai. {{số|1065}} Than ôi! sắc nước hương trời, Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây? Giá đành trong nguyệt trên mây, Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa? Tức gan riêng giận trời già, {{số|1070}} Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lòng? Thuyền quyên ví biết anh hùng, Ra tay tháo cũi, sổ lồng như chơi! Song thu đã khép cánh ngoài, Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh. {{số|1075}} Nghĩ người thôi lại nghĩ mình, Cám lòng chua xót, nhạt tình chơ vơ. Những là lần lữa nắng mưa, Kiếp phong trần biết bao giờ mới thôi? Đánh liều nhắn một hai lời, {{số|1080}} Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân. Mảnh tiên kể hết xa gần, Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài. Tan sương vừa rạng ngày mai, Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang. {{số|1085}} Trời tây lãng đãng bóng vàng, Phúc thư đã thấy tin chàng đến nơi. Mở xem một bức tiên mai, Rành rành tích việt có hai chữ đề. Lấy trong ý tứ mà suy: {{số|1090}} Ngày hai mươi mốt, tuất thì phải chăng? Chim hôm thoi thót về rừng, Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành. Tường đông lay động bóng cành, Rẽ song, đã thấy Sở Khanh lẻn vào. {{số|1095}} Sượng sùng đánh dạn ra chào, Lạy thôi, nàng mới rỉ tai ân cần. Rằng: Tôi bèo bọt chút thân, Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh. Dám nhờ cốt nhục tử sinh, {{số|1100}} Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau! Lặng nghe, lẩm nhẩm gật đầu: Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng! Nàng đà biết đến ta chăng, Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi! {{số|1105}} Nàng rằng: Muôn sự ơn người, Thế nào xin quyết một bài cho xong. Rằng: Ta có ngựa truy phong, Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi. Thừa cơ lẻn bước ra đi, {{số|1110}} Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn. Dù khi gió kép, mưa đơn, Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì! Nghe lời nàng đã sinh nghi, Song đà quá đỗi, quản gì được thân. {{số|1115}} Cũng liều nhắm mắt đưa chân, Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu! Cùng nhau lẻn bước xuống lầu, Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn. Đêm thâu khắc lậu canh tàn, {{số|1120}} Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương. Lối mòn cỏ nhợt mù sương, Lòng quê đi một bước đường, một đau. Tiếng gà xao xác gáy mau, Tiếng người đâu đã mái sau dậy dàng. {{số|1125}} Nàng càng thổn thức gan vàng, Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào! Một mình khôn biết làm sao, Dặm rừng bước thấp, bước cao hãi hùng. Hóa nhi thật có nỡ lòng, {{số|1130}} Làm chi dày tía, vò hồng, lắm nau! Một đoàn đổ đến trước sau, Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời. Tú Bà tốc thẳng đến nơi, Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà. {{số|1135}} Hung hăng chẳng nói chẳng tra, Đang tay vùi liễu, giập hoa tơi bời. Thịt da ai cũng là người, Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau. Hết lời thú phục, khẩn cầu, {{số|1140}} Uốn lưng thịt đổ, cất đầu máu sa. Rằng: Tôi chút phận đàn bà, Nước non lìa cửa, lìa nhà, đến đây. Bây giờ sống chết ở tay, Thân này đã đến thế này thì thôi! {{số|1145}} Nhưng tôi có sá chi tôi, Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu? Thân lươn bao quản lấm đầu, Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa! Được lời mụ mới tùy cơ, {{số|1150}} Bắt người bảo lĩnh làm tờ cung chiêu. Bày vai có ả Mã Kiều, Xót nàng, ra mới đánh liều chịu đoan. Mụ càng kể nhặt, kể khoan, Gạn gùng đến mực, nồng nàn mới tha. {{số|1155}} Vực nàng vào nghỉ trong nhà, Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời: Thôi đà mắc lận thì thôi! Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh? Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh, {{số|1160}} Một tay chôn biết mấy cành phù dung! Đà đào lập sẵn chước dùng, Lạ gì một cốt một đồng xưa nay! Có ba mươi lạng trao tay, Không dưng chi có chuyện này, trò kia! {{số|1165}} Rồi ra trở mặt tức thì, Bớt lời, liệu chớ sân si, thiệt đời! Nàng rằng: Thề thốt nặng lời, Có đâu mà lại ra người hiểm sâu! Còn đương suy trước, nghĩ sau, {{số|1170}} Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào. Sở Khanh lên tiếng rêu rao: Rằng nghe mới có con nào ở đây. Phao cho quyến gió rủ mây, Hãy xem có biết mặt này là aỉ {{số|1175}} Nàng rằng: Thôi thế thì thôi! Rằng không, thì cũng vâng lời là không! Sở Khanh quắt mắng đùng đùng, Sấn vào, vừa rắp thị hùng ra tay, Nàng rằng: Trời nhé có hay! {{số|1180}} Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai? Đem người giẩy xuống giếng khơi, Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay! Còn tiên tích việt ở tay, Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai? {{số|1185}} Lời ngay, đông mặt trong ngoài, Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương! Phụ tình án đã rõ ràng, Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui. Buồng riêng, riêng những sụt sùi: {{số|1190}} Nghĩ thân, mà lại ngậm ngùi cho thân. Tiếc thay trong giá trắng ngần, Đến phong trần, cũng phong trần như ai! Tẻ vui cũng một kiếp người, Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru! {{số|1195}} Kiếp xưa đã vụng đường tu, Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi! Dù sao bình đã vỡ rồi, Lấy thân mà trả nợ đời cho xong! Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong, {{số|1200}} Tú Bà ghé lại thong dong dặn dò: Nghề chơi cũng lắm công phu, Làng chơi ta phải biết cho đủ điều. Nàng rằng: Mưa gió dập dìu, Liều thân, thì cũng phải liều thế thôi! {{số|1205}} Mụ rằng: Ai cũng như ai, Người ta ai mất tiền hoài đến đây? Ở trong còn lắm điều hay, Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung. Này con thuộc lấy nằm lòng, {{số|1210}} Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề. Chơi cho liễu chán, hoa chê, Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời. Khi khóe hạnh, khi nét ngài, Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa. {{số|1215}} Điều là nghề nghiệp trong nhà, Đủ ngần ấy nết, mới là người soi. Gót đầu vâng dạy mấy lời, Dường chau nét nguyệt, dường phai vẻ hồng. Những nghe nói, đã thẹn thùng, {{số|1220}} Nước đời lắm nỗi lạ lùng, khắt khe! Xót mình cửa các, buồng khuê, Vỡ lòng, học lấy những nghề nghiệp hay! Khéo là mặt dạn, mày dày, Kiếp người đã đến thế này thì thôi! {{số|1225}} Thương thay thân phận lạc loài, Dẫu sao cũng ở tay người biết sao? Lầu xanh, mới rủ trướng đào, Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người. Biết bao bướm lả, ong lơi, {{số|1230}} Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm. Dập dìu lá gió, cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh. Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa. {{số|1235}} Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường? Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân? Mặt người mưa Sở, mây Tần, {{số|1240}} Những mình nào biết có xuân là gì! Đôi phen gió tựa, hoa kề, Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu. Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ! {{số|1245}} Đòi phen nét vẽ, câu thơ, Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa, Vui là vui gượng kẻo mà, Ai tri âm đó, mặn mà với ai? Thờ ơ gió trúc, mưa mai, {{số|1250}} Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân. Ôm lòng đòi đoạn xa gần, Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau! Nhớ ơn chín chữ cao sâu, Một ngày một ngả bóng dâu tà tà. {{số|1255}} Dặm ngàn, nước thẳm, non xa, Nghĩ đâu thân phận con ra thế này! Sân hòe đôi chút thơ ngây Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình? Nhớ lời nguyện ước ba sinh, {{số|1260}} Xa xôi ai có thấu tình chăng ai? Khi về hỏi liễu Chương đài, Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay. Tình sâu mong trả nghĩa dày, Hoa kia đã chắp cành này cho chưa? {{số|1265}} Mối tình đòi đoạn vò tơ, Giấc hương quan luống lần mơ canh dài. Song sa vò võ phương trời, Nay hoàng hôn, đã lại mai hôn hoàng. Lần lần thỏ bạc ác vàng, {{số|1270}} Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn! Đã cho lấy chữ hồng nhan, Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân! Đã đày vào kiếp phong trần, Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi! {{số|1275}} Khách du bỗng có một người, Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương. Vốn người huyện Tích châu Thường, Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm tri. Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi, {{số|1280}} Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào. Trướng tô giáp mặt hoa đào, Vẻ nào chẳng mặn nét nào chăng ưa? Hải đường mơn mởn cành tơ, Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng. {{số|1285}} Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng, Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng? Lạ gì thanh khí lẽ hằng, Một dây một buộc ai giằng cho ra. Sớm đào tối mận lân la, {{số|1290}} Trước còn trăng gió sau ra đá vàng. Dịp đâu may mắn lạ dường, Lại vừa gặp khoảng xuân đường lại quê. Sinh càng một tỉnh mười mê, Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân. {{số|1295}} Khi gió gác khi trăng sân, Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ. Khi hương sớm khi trà trưa, Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn. Miệt mài trong cuộc truy hoan, {{số|1300}} Càng quen thuộc nết càng dan díu tình. Lạ cho cái sóng khuynh thành, Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi. Thúc Sinh quen thói bốc rời, Trăm nghìn đổ một trận cười như không. {{số|1305}} Mụ càng tô lục chuốt hồng, Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê. Dưới trăng quyên đã gọi hè, Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông. Buồng the phải buổi thong dong, {{số|1310}} Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa. Rõ màu trong ngọc trắng ngà! Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên. Sinh càng tỏ nét càng khen, Ngụ tình tay thảo một thiên luật đường. {{số|1315}} Nàng rằng: Vâng biết ý chàng. Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu. Hay hèn lẽ cũng nối điêu, Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang. Lòng còn gửi áng mây Vàng. {{số|1320}} Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay. Rằng: Sao nói lạ lùng thay! Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra? Nàng càng ủ đột thu ba, Đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh: {{số|1325}} Thiếp như hoa đã lìa cành, Chàng như con bướm lượn vành mà chơi. Chúa xuân đành đã có nơi, Vắn ngày thôi chớ dài lời làm chi. Sinh răng: Từ thuở tương tri, {{số|1330}} Tấm riêng riêng những nặng vì nước non. Trăm năm tính cuộc vuông tròn, Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông. Nàng rằng: Muôn đội ơn lòng. Chút e bên thú bên tòng dễ đâu. {{số|1335}} Bình Khang nấn ná bấy lâu, Yêu hoa yêu được một màu điểm trang. Rồi ra lạt phấn phai hương, Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng? Vả trong thềm quế cung trăng, {{số|1340}} Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong. Bấy lâu khăng khít dải đồng, Thêm người người cũng chia lòng riêng tây. Vẻ chi chút phận bèo mây, Làm cho bể ái khi đầy khi vơi. {{số|1345}} Trăm điều ngang ngửa vì tôi, Thân sau ai chịu tội trời ấy cho? Như chàng có vững tay co, Mười phần cũng đắp điếm cho một vài. Thế trong dầu lớn hơn ngoài, {{số|1350}} Trươc hàm sư tử gửi người đằng la. Cúi đầu luồn xuống mái nhà, Giấm chua lại tội băng ba lửa nồng. Ở trên còn có nhà thông, Lượng trên trong xuống biết lòng có thương? {{số|1355}} Sá chi liễu ngõ hoa tường? Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh. Lại càng dơ dáng dại hình, Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng. Thương sao cho vẹn thì thương. {{số|1360}} Tính sao cho vẹn mọi đường xin vâng. Sinh rằng: Hay nói đè chừng! Lòng đây lòng đấy chưa từng hay sao Đường xa chớ ngại Ngô Lào, Trăm điều hãy cứ trông vào một ta. {{số|1365}} Đã gần chi có điều xa? Đá vàng đã quyết phong ba cũng liều. Cùng nhau căn vặn đến điều, Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời. Nỉ non đêm ngắn tình dài, {{số|1370}} Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương. Mượn điều trúc viện thừa lương, Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi. Chiến hòa sắp sẵn hai bài, Cậy tay thầy thợ mượn người dò la. {{số|1375}} Bắn tin đến mặt Tú Bà, Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao. Rõ ràng của dẫn tay trao, Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công. Công tư đôi lẽ đều xong, {{số|1380}} Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai. Một nhà sum họp trúc mai, Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông. Hương càng đượm lửa càng nồng, Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen. {{số|1385}} Nửa năm hơi tiếng vừa quen, Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng. Giậu thu vừa nảy giò sương, Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi. Phong lôi nổi trận bời bời, {{số|1390}} Nặng lòng e ấp tính bài phân chia. Quyết ngay biện bạch một bề, Dạy cho má phấn lại về lầu xanh. Thấy lời nghiêm huấn rành rành, Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu. {{số|1395}} Rằng: Con biết tội đã nhiều, Đẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam. Trót vì tay đã nhúng chàm, Dại rồi còn biết khôn làm sao đây. Cùng nhau vả tiếng một ngày, {{số|1400}} Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành. Lượng trên quyết chẳng thương tình, Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi. Thấy lời sắt đá tri tri, Sốt gan ông mới cáo quỳ cửa công. {{số|1405}} Đất bằng nổi sóng đùng đùng, Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra. Cùng nhau theo gót sai nha, Song song vào trước sân hoa lạy quỳ. Trông lên mặt sắt đen sì, {{số|1410}} Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời: Gã kia dại nết chơi bời, Mà con người thế là người đong đưa. Tuồng chi hoa thải hương thừa, Mượn màu son phấn đánh lừa con đen. {{số|1415}} Suy trong tình trạng nguyên đơn, Bề nào thì cũng chưa yên bề nào. Phép công chiếu án luận vào. Có hai đường ấy muốn sao mặc mình. Một là cứ phép gia hình, {{số|1420}} Một là lại cứ lầu xanh phó về. Nàng rằng: đã quyết một bề! Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần. Đục trong thân cũng là thân. Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đình! {{số|1425}} Dạy rằng: Cứ phép gia hình! Ba cây chập lại một cành mẫu đơn. Phận đành chi dám kêu oan, Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày. Một sân lầm cát đã đầy, {{số|1430}} Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương. Nghĩ tình chàng Thúc mà thương, Nẻo xa trông thấy lòng càng xót xa. Khóc rằng: Oan khốc vì ta! Có nghe lời trước chẳng đà lụy sau. {{số|1435}} Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu. Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai. Phủ đường nghe thoảng vào tai, Động lòng lại gạn đến lời riêng tây. Sụt sùi chàng mới thưa ngay, {{số|1440}} Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu thân: Nàng đà tính hết xa gần, Từ xưa nàng đã biết thân có rày. Tại tôi hứng lấy một tay, Để nàng cho đến nỗi này vì tôi. {{số|1445}} Nghe lời nói cũng thương lời, Dẹp uy mới dạy cho bài giải vi. Rằng: Như hẳn có thế thì Trăng hoa song cũng thị phi biết điều. Sinh rằng: Chút phận bọt bèo, {{số|1450}} Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên. Cười rằng: đã thế thì nên! Mộc già hãy thử một thiên trình nghề. Nàng vâng cất bút tay đề, Tiên hoa trình trước án phê xem tường. {{số|1455}} Khen rằng: Giá đáng Thịnh đường! Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân! Thật là tài tử giai nhân, Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn? Thôi đừng rước dữ cưu hờn, {{số|1460}} Làm chi lỡ nhịp cho đòn ngang cung. Đã đưa đến trước cửa công, Ngoài thì là lý song trong là tình. Dâu con trong đạo gia đình, Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong. {{số|1465}} Kíp truyền sắm sửa lễ công, Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao. Bày hàng cổ xúy xôn xao, Song song đưa tới trướng đào sánh đôi. Thương vì hạnh trọng vì tài, {{số|1470}} Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba. Huệ lan sực nức một nhà, Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa. Mảng vui rượu sớm cờ trưa, Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh. {{số|1475}} Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh, E tình nàng mới bày tình riêng chung: Phận bồ từ vẹn chữ tòng, Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên. Tin nhà ngày một vắng tin, {{số|1480}} Mặn tình cát lũy lạt tình tào khang. Nghĩ ra thật cũng nên đường, Tăm hơi ai dễ giữ giàng cho ta? Trộm nghe kẻ lớn trong nhà, Ở vào khuôn phép nói ra mối đường. {{số|1485}} E thay những dạ phi thường, Dễ dò rốn bể khôn lường đáy sông! Mà ta suốt một năm ròng, Thế nào cũng chẳng giấu xong được nàọ Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao, {{số|1490}} Hoặc là trong có làm sao chăng là? Xin chàng kíp liệu lại nhà, Trước người đẹp ý sau ta biết tình. Đêm ngày giữ mức giấu quanh, Rày lần mai lữa như hình chưa thông. {{số|1495}} Nghe lời khuyên nhủ thong dong, Đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang. Rạng ra gửi đến xuân đường, Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia. Tiễn đưa một chén quan hà, {{số|1500}} Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình. Sông Tần một dải xanh xanh, Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan. Cầm tay dài ngắn thở than, Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời. {{số|1505}} Nàng rằng: Non nước xa khơi, Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm. Dễ lòa yếm thắm trôn kim, Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng! Đôi ta chút nghĩa đèo bòng, {{số|1510}} Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh. Dù khi sóng gió bất tình, Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi. Hơn điều giấu ngược giấu xuôi. Lại mang những việc tày trời đến sau. {{số|1515}} Thương nhau xin nhớ lời nhau, Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy. Chén đưa nhớ bữa hôm nay, Chén mừng xin đợi ngày này năm sau! Người lên ngựa kẻ chia bào, {{số|1520}} Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Dặm hồng bụi cuốn chinh an, Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh. Người về chiếc bóng năm canh, Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi. {{số|1525}} Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. Kể chi những nỗi dọc đường, Buồn trong này nỗi chủ trương ở nhà: Vốn dòng họ Hoạn danh gia, {{số|1530}} Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư. Duyên đằng thuận nẻo gió đưa, Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày. Ở ăn thì nết cũng hay, Nói điều ràng buộc thì tay cũng già. {{số|1535}} Từ nghe vườn mới thêm hoa, Miệng người đã lắm tin nhà thì không. Lửa tâm càng dập càng nồng, Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa: Ví bằng thú thật cùng ta, {{số|1540}} Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên. Dại chi chẳng giữ lấy nền, Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình? Lại còn bưng bít giấu quanh, Làm chi những thói trẻ ranh nực cười! {{số|1545}} Tính rằng cách mặt khuất lời, Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho! Lo gì việc ấy mà lo, Kiến trong miệng chén có bò đi đâu? Làm cho nhìn chẳng được nhau, {{số|1550}} Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên! Làm cho trông thấy nhãn tiền, Cho người thăm ván bán thuyền biết tay. Nỗi lòng kín chẳng ai hay, Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài. {{số|1555}} Tuần sau bỗng thấy hai người, Mách tin ý cũng liệu bài tâng công. Tiểu thư nổi giận đùng đùng: Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi! Chồng tao nào phải như ai, {{số|1560}} Điều này hẳn miệng những người thị phi! Vội vàng xuống lệnh ra uy, Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng. Trong ngoài kín mít như bưng. Nào ai còn dám nói năng một lời! {{số|1565}} Buồng đào khuya sớm thảnh thơi, Ra vào một mực nói cười như không. Đêm ngày lòng những dặn lòng, Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên. Lời tan hợp nỗi hàn huyên, {{số|1570}} Chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng. Tẩy trần vui chén thong dong, Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra. Chàng về xem ý tứ nhà, Sự mình cũng rắp lân la giãi bày. {{số|1575}} Mấy phen cười nói tỉnh say, Tóc tơ bất động mảy may sự tình. Nghĩ đà bưng kín miệng bình, Nào ai có khảo mà mình đã xưng? Những là e ấp dùng dằng, {{số|1580}} Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi. Có khi vui chuyện mua cười, Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu. Rằng: Trong ngọc đá vàng thau, Mười phần ta đã tin nhau cả mười. {{số|1585}} Khen cho những chuyện dông dài, Bướm ong lại đặt những lời nọ kia. Thiếp dù bụng chẳng hay suy, Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười! Thấy lời thủng thỉnh như chơi, {{số|1590}} Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn. Những là cười phấn cợt son, Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai. Thú quê thuần hức bén mùi, Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô. {{số|1595}} Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ, Một màu quan tái mấy mùa gió trăng. Tình riêng chưa dám rỉ răng, Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua: Cách năm mây bạc xa xa, {{số|1600}} Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn. Được lời như cởi tấc son, Vó câu chẳng ruổi nước non quê người. Long lanh đáy nước in trời, Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng. {{số|1605}} Roi câu vừa gióng dặm trường, Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh. Thưa nhà huyên hết mọi tình, Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen. Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen, {{số|1610}} Xấu chàng mà có ai khen chi mình! Vậy nên ngảnh mặt làm thinh, Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày. Lâm Tri đường bộ tháng chầy, Mà đường hải đạo sang ngay thì gần. {{số|1615}} Dọn thuyền lựa mặt gia nhân, Hãy đem dây xích buộc chân nàng về. Làm cho cho mệt cho mê, Làm cho đau đớn ê chề cho coi! Trước cho bõ ghét những người, {{số|1620}} Sau cho để một trò cười về sau. Phu nhân khen chước rất mầu, Chiều con mới dạy mặc dầu ra tay. Sửa sang buồm gió lèo mây, Khuyển ưng lại chọn một bầy côn quang. {{số|1625}} Dặn dò hết các mọi đường, Thuận phong một lá vượt sang bến Tề. Nàng từ chiếc bóng song the, Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu. Bóng đâu đã xế ngang đầu, {{số|1630}} Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi. Tóc thề đã chấm ngang vai, Nào lời non nước nào lời sắt son. Sắn bìm chút phận cỏn con, Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng? {{số|1635}} Thân sao nhiều nỗi bất bằng, Liều như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao! Đêm thu gió lọt song đào, Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời. Nén hương đến trước Phật đài, {{số|1640}} Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân. Dưới hoa dậy lũ ác nhân, Ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra. Đầy sân gươm tuốt sáng lòa, Thất kinh nàng chửa biết là làm sao. {{số|1645}} Thuốc mê đâu đã rưới vào, Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì. Vực ngay lên ngựa tức thì, Phòng đào viện sách bốn bề lửa dong. Sẵn thây vô chủ bên sông, {{số|1650}} Đem vào để đó lộn sòng ai hay? Tôi đòi phách lạc hồn bay, Pha càn bụi cỏ gốc cây ẩn mình. Thúc ông nhà cũng gần quanh, Chợt trông ngọn lửa thất kinh rụng rời. {{số|1655}} Tớ thầy chạy thẳng đến nơi, Tơi bời tưới lửa tìm người lao xao. Gió cao ngọn lửa càng cao, Tôi đòi tìm đủ nàng nào thấy đâu! Hớt hơ hớt hải nhìn nhau, {{số|1660}} Giếng sâu bụi rậm trước sau tìm quàng. Chạy vào chốn cũ phòng hương, Trong tro thấy một đống xương cháy tàn. Tình ngay ai biết mưu gian, Hẳn nàng thôi lại còn bàn rằng ai! {{số|1665}} Thúc ông sùi sụt ngắn dài, Nghĩ con vắng vẻ thương người nết na. Di hài nhặt gói về nhà, Nào là khâm liệm nào là tang trai. Lễ thường đã đủ một hai, {{số|1670}} Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ. Bước vào chốn cũ lầu thơ, Tro than một đống nắng mưa bốn tường. Sang nhà cha tới trung đường, Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên. {{số|1675}} Hỡi ôi nói hết sự duyên, Tơ tình đứt ruột lửa phiền cháy gan! Gieo mình vật vã khóc than: Con người thế ấy thác oan thế này. Chắc rằng mai trúc lại vầy, {{số|1680}} Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau! Thương càng nghĩ nghĩ càng đau, Dễ ai lấp thảm quạt sầu cho khuây. Gần miền nghe có một thầy, Phi phù trí quỷ cao tay thông huyền. {{số|1685}} Trên tam đảo dưới cửu tuyền, Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng. Sắm sanh lễ vật rước sang, Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han. Đạo nhân phục trước tĩnh đàn, {{số|1690}} Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương. Trở về minh bạch nói tường: Mặt nàng chẳng thấy việc nàng đã tra. Người này nặng kiếp oan gia, Còn nhiều nợ lắm sao đà thoát cho! {{số|1695}} Mệnh cung đang mắc nạn to, Một năm nữa mới thăm dò được tin. Hai bên giáp mặt chiền chiền, Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay! Điều đâu nói lạ dường này, {{số|1700}} Sự nàng đã thế lời thầy dám tin! Chẳng qua đồng cốt quàng xiên, Người đâu mà lại thấy trên cõi trần? Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân, Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên. {{số|1705}} Nước trôi hoa rụng đã yên, Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian. Khuyển ưng đã đắt mưu gian, Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền. Buồm cao lèo thẳng cánh suyền, {{số|1710}} Đè chừng huyện Tích băng miền vượt sang. Dỡ đò lên trước sảnh đường, Khuyển ưng hai đứa nộp nàng dâng công. Vực nàng tạm xuống môn phòng, Hãy còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai. {{số|1715}} Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai, Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây? Bàng hoàng giở tỉnh giở say, Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu. A hoàn trên dưới giục mau, {{số|1720}} Hãi hùng nàng mới theo sau một người. Ngước trông tòa rộng dãy dài, Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên. Ban ngày sáp thắp hai bên, Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà. {{số|1725}} Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra, Sự mình nàng phải cứ mà gửi thưa. Bất tình nổi trận mây mưa, Mắng rằng: Những giống bơ thờ quên thân! Con này chẳng phải thiện nhân, {{số|1730}} Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng. Ra tuồng mèo mả gà đồng, Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào. Đã đem mình bán cửa tao, Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này. {{số|1735}} Nào là gia pháp nọ bay! Hãy cho ba chục biết tay một lần. A hoàn trên dưới dạ ran, Dẫu rằng trăm miệng không phân lẽ nào. Trúc côn ra sức đập vào, {{số|1740}} Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh. Xót thay đào lý một cành, Một phen mưa gió tan tành một phen. Hoa nô truyền dạy đổi tên, Buồng the dạy ép vào phiên thị tì. {{số|1745}} Ra vào theo lũ thanh y, Dãi dầu tóc rối da chì quản bao. Quản gia có một mụ nào, Thấy người thấy nết ra vào mà thương. Khi chè chén khi thuốc thang, {{số|1750}} Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh. Dạy rằng: May rủi đã đành, Liểu bồ mình giữ lấy mình cho hay. Cũng là oan nghiệp chi đây, Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng. {{số|1755}} Ở đây tai vách mạch rừng, Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi. Kẻo khi sấm sét bất kỳ, Con ong cái kiến kêu gì được oan? Nàng càng giọt ngọc như chan, {{số|1760}} Nỗi lòng luống những bàng hoàng niềm tây: Phong trần kiếp chịu đã đầy, Lầm than lại có thứ này bằng hai. Phận sao bạc chẳng vừa thôi, Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan. {{số|1765}} Đã đành túc trái tiền oan, Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi. Những là nương náu qua thì, Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia. Mẹ con trò chuyện lân la, {{số|1770}} Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời: Tiểu thư dưới trướng thiếu người, Cho về bên ấy theo đòi lầu trang. Lãnh lời nàng mới theo sang, Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu. {{số|1775}} Sớm khuya khăn mắt lược đầu, Phận con hầu giữ con hầu dám sai. Phải đêm êm ả chiều trời, Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày. Lĩnh lời nàng mới lựa dây, {{số|1780}} Nỉ non thánh thót dễ say lòng người. Tiểu thư xem cũng thương tài, Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân. Cửa người đày đọa chút thân, Sớm ngơ ngẩn bóng đêm năn nỉ lòng. {{số|1785}} Lâm Tri chút nghĩa đèo bồng, Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau. Bốn phương mây trắng một màu, Trông vời cố quốc biết đâu là nhà. Lần lần tháng trọn ngày qua, {{số|1790}} Nỗi gần nào biết đường xa thế này. Lâm Tri từ thuở uyên bay, Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân. Mày ai trăng mới in ngần, Phần thừa hương cũ bội phần xót xa. {{số|1795}} Sen tàn cúc lại nở hoa, Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân. Tìm đâu cho thấy cố nhân? Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương. Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương, {{số|1800}} Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê. Tiểu thư đón cửa giãi giề, Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa. Nhà hương cao cuốn bức là, Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng. {{số|1805}} Bước ra một bước một dừng, Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa: Phải chăng nắng quáng đèn lòa, Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh? Bây giờ tình mới rõ tình, {{số|1810}} Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai. Chước đâu có chước lạ đời? Người đâu mà lại có người tinh ma? Rõ ràng thật lứa đôi ta, Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi. {{số|1815}} Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm giết người không dao. Bây giờ đất thấp trời cao, Ăn làm sao nói làm sao bây giờ? Càng trông mặt càng ngẩn ngơ, {{số|1820}} Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời. Sợ uy dám chẳng vâng lời, Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều. Sinh đà phách lạc hồn siêu: Thương ơi chẳng phải nàng Kiều ở đây? {{số|1825}} Nhân làm sao đến thế này? Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi! Sợ quen dám hở ra lời, Không ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa. Tiểu thư trông mặt hỏi tra: {{số|1830}} Mới về có việc chi mà động dong? Sinh rằng hiếu phục vừa xong, Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên. Khen rằng: Hiếu tử đã nên! Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu. {{số|1835}} Vợ chồng chén tạc chén thù, Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi. Bắt khoan bắt nhặt đến lời, Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay. Sinh càng như dại như ngây, {{số|1840}} Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi. Ngảnh đi chợt nói chợt cười, Cáo say chàng đã giạm bài lảng ra. Tiểu thư vội thét: Con Hoa! Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn. {{số|1845}} Sinh càng nát ruột tan hồn, Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay. Tiểu thư cười nói tỉnh say, Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi. Rằng: Hoa nô đủ mọi tài, {{số|1850}} Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe. Nàng đà tán hoán tê mê, Vâng lời ra trước bình the vặn đàn. Bốn dây như khóc như than, Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng. {{số|1855}} Cùng chung một tiếng tơ đồng, Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm. Giọt châu lã chã khôn cầm, Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương. Tiểu thư lại thét lấy nàng: {{số|1860}} Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi? Sao chẳng biết ý tứ gì? Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi. Sinh càng thảm thiết bồi hồi, Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua. {{số|1865}} Giọt rồng canh đã điểm ba, Tiểu thư nhìn mặt dường đà can tâm. Lòng riêng khấp khởi mừng thầm: Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay. Sinh thì gan héo ruột đầy, {{số|1870}} Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng. Người vào chung gối loan phòng, Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài: Bây giờ mới rõ tăm hơi, Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen! {{số|1875}} Chước đâu rẽ thúy chia uyên, Ai ra đường nấy ai nhìn được ai. Bây giờ một vực một trời, Hết điều khinh trọng hết lời thị phi. Nhẹ như bấc nặng như chì, {{số|1880}} Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên? Lỡ làng chút phận thuyền quyên, Bể sâu sóng cả có tuyền được vay? Một mình âm ỉ đêm chày, Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh. {{số|1885}} Sớm trưa hầu hạ đài doanh, Tiểu thư chạm mặt đè tình hỏi tra. Lựa lời nàng mới thưa qua: Phải khi mình lại xót xa nỗi mình. Tiểu thư hỏi lại Thúc Sinh: {{số|1890}} Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao! Sinh đà rát ruột như bào, Nói ra chẳng tiện trông vào chẳng đang! Những e lại lụy đến nàng, Đánh liều mới sẽ lựa đường hỏi tra. {{số|1895}} Cúi đầu quỳ trước sân hoa, Thân cung nàng mới dâng qua một tờ. Diện tiền trình với Tiểu thư, Thoạt xem dường có ngẩn ngơ chút tình. Liền tay trao lại Thúc Sinh, {{số|1900}} Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương! Ví chăng có số giàu sang, Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên! Bể trần chìm nổi thuyền quyên, Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời! {{số|1905}} Sinh rằng: Thật có như lời, Hồng nhan bạc mệnh một người nào vay! Nghìn xưa âu cũng thế này, Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa. Tiểu thư rằng: ý trong tờ, {{số|1910}} Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa Không. Thôi thì thôi cũng chiều lòng, Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra. Sẵn Quan âm các vườn ta, Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa. {{số|1915}} Có cổ thụ, có sơn hồ, Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh. Tàng tàng trời mới bình minh, Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường. Đưa nàng đến trước Phật đường, {{số|1920}} Tam quy, ngũ giới, cho nàng xuất gia. Áo xanh đổi lấy cà sa, Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền. Sớm khuya sắm đủ dầu đèn, Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà. {{số|1925}} Nàng từ lánh gót vườn hoa, Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng. Nhân duyên đâu lại còn mong, Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi. Phật tiền thảm lấp sầu vùi, {{số|1930}} Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương. Cho hay giọt nước cành dương, Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên. Nâu sồng từ trở màu thiền, Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu, {{số|1935}} Cửa thiền, then nhặt, lưới mau, Nói lời trước mặt, rời châu vắng người. Gác kinh viện sách đôi nơi, Trong gang tấc lại gấp mười quan san. Những là ngậm thở nuốt than, {{số|1940}} Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà. Thừa cơ, sinh mới lẻn ra, Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng. Sụt sùi giở nỗi đoạn tràng, Giọt châu tầm tã đẫm tràng áo xanh: {{số|1945}} Đã cam chịu bạc với tình, Chúa xuân để tội một mình cho hoa! Thấp cơ thua trí đàn bà, Trông vào đau ruột nói ra ngại lời. Vì ta cho lụy đến người, {{số|1950}} Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh! Quản chi lên thác xuống ghềnh, Cũng toan sống thác với tình cho xong. Tông đường chút chửa cam lòng, Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai. {{số|1955}} Thẹn mình đá nát vàng phai, Trăm thân dễ chuộc một lời được sao? Nàng rằng: Chiếc bách sóng đào, Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may! Chút thân quằn quại vũng lầy, {{số|1960}} Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao? Cũng liều một giọt mưa rào, Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay! Xót vì cầm đã bén dây, Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta. {{số|1965}} Liệu bài mở cửa cho ra, Ấy là tình nặng ấy là ân sâu! Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu, Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường. Nữa khi giông tố phũ phàng, {{số|1970}} Thiệt riêng đó cũng lại càng cực đây. Liệu mà xa chạy cao bay, Ái ân ta có ngần này mà thôi! Bâu giờ kẻ ngược người xuôi, Biết bao giờ lại nối lời nước non? {{số|1975}} Dẫu rằng sông cạn đá mòn, Con tằm đến thác cũng còn vướng tơ! Cùng nhau kể lể sau xưa, Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời. Mặt trông tay chẳng nỡ rời, {{số|1980}} Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa. Nhận ngừng, nuốt tủi, lảng ra, Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào. Cười cười, nói nói ngọt ngào, Hỏi: Chàng mới ở chốn nào lại chơi? {{số|1985}} Dối quanh Sinh mới liệu lời: Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh. Khen rằng: Bút pháp đã tinh, So vào với thiếp Lan đình nào thua! Tiếc thay lưu lạc giang hồ, {{số|1990}} Nghìn vàng, thật cũng nên mua lấy tài! Thiền trà cạn chén hồng mai, Thong dong nối gót thư trai cùng về. Nàng càng e lệ ủ ê, Rỉ tai, hỏi lại hoa tì trước sau. {{số|1995}} Hoa rằng: Bà đã đến lâu, Rón chân đứng nép độ đâu nữa giờ. Rành rành kẽ tóc chân tơ, Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường. Bao nhiêu đoạn khổ, tình thương, {{số|2000}} Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than. Ngăn tôi đứng lại một bên, Chán tai rồi mới bước lên trên lầu. Nghe thôi kinh hãi xiết đâu: Đàn bà thế ấy thấy âu một người! {{số|2005}} Ấy mới gan ấy mới tài, Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời! Người đâu sâu sắc nước đời, Mà chàng Thúc phải ra người bó tay! Thực tang bắt được dường này, {{số|2010}} Máu ghen ai cũng chau mày nghiến răng. Thế mà im chẳng đãi đằng, Chào mời vui vẻ nói năng dịu dàng! Giận dầu ra dạ thế thường, Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu! {{số|2015}} Thân ta ta phải lo âu, Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này! Ví chăng chắp cánh cao bay, Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa! Phận bèo bao quản nước sa, {{số|2020}} Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh. Chỉn e quê khách một mình, Tay không chưa dễ tìm vành ấm no! Nghĩ đi nghĩ lại quanh co, Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân. {{số|2025}} Bên mình giắt để hộ thân, Lần nghe canh đã một phần trống ba. Cất mình qua ngọn tường hoa, Lần đường theo bóng trăng tà về tây. Mịt mù dặm cát đồi cây, {{số|2030}} Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương. Canh khuya thân gái dặm trường, Phần e đường xá, phần thương dãi dầu! Trời đông vừa rạng ngàn dâu, Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà! {{số|2035}} Chùa đâu trông thấy nẻo xa, Rành rành Chiêu ẩn am ba chữ bài. Xăm xăm gõ mái cửa ngoài, Trụ trì nghe tiếng, rước mời vào trong. Thấy màu ăn mặc nâu sồng, {{số|2040}} Giác duyên sư trưởng lành lòng liền thương. Gạn gùng ngành ngọn cho tường, Lạ lùng nàng hãy tìm đường nói quanh: Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh, Quy sư, quy Phật, tu hành bấy lâu. {{số|2045}} Bản sư rồi cũng đến sau, Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh. Rày vâng diện hiến rành rành, Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra. Xem qua sư mới dạy qua: {{số|2050}} Phải nơi Hằng Thủy là ta hậu tình. Chỉ e đường sá một mình, Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày. Gửi thân được chốn am mây, Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong. {{số|2055}} Kệ kinh câu cũ thuộc lòng, Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay. Sớm khuya lá bối phướn mây, Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương. Thấy nàng thông tuệ khác thường, {{số|2060}} Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân. Cửa thuyền vừa tiết cuối xuân, Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời. Gió quang mây tạnh thảnh thơi, Có người đàn việt lên chơi cửa Già. {{số|2065}} Giở đồ chuông khánh xem qua, Khen rằng: Khéo giống của nhà Hoạn nương! Giác Duyên thực ý lo lường, Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau. Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu, {{số|2070}} Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay: Bây giờ sự đã dường này, Phận hèn dù rủi, dù may, tại người. Giác Duyên nghe nói rụng rời, Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong. {{số|2075}} Rỉ tai nàng mới giãi lòng: Ở đây cửa Phật là không hẹp gì; E chăng những sự bất kỳ, Để nàng cho đến thế thì cũng thương! Lánh xa, trước liệu tìm đường, {{số|2080}} Ngồi chờ nước đến, nên đường còn quê! Có nhà họ Bạc bên kia, Am mây quen lối đi về dầu hương. Nhắn sang, dặn hết mọi đường, Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân. {{số|2085}} Những mừng được chốn an thân, Vội vàng nào kịp tính gần tính xa. Nào ngờ cũng tổ bợm già, Bạc bà học với Tú Bà đồng môn! Thấy nàng mặt phấn tươi son, {{số|2090}} Mừng thầm được mối bán buôn có lời. Hư không đặt để nên lời, Nàng đà nhớn nhác rụng rời lắm phen. Mụ càng xua đuổi cho liền, Lấy lời hung hiểm ép duyên Châu Trần. {{số|2095}} Rằng: Nàng muôn dặm một thân, Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa. Khéo oan gia, của phá gia, Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây! Kíp toan kiếm chốn xe dây, {{số|2100}} Không dưng chưa dễ mà bay đường trời! Nơi gần thì chẳng tiện nơi, Nơi xa thì chẳng có người nào xa. Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà, Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai. {{số|2105}} Cửa hàng buôn bán châu Thai, Thực thà có một, đơn sai chẳng hề. Thế nào nàng cũng phải nghe, Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai. Bấy giờ ai lại biết ai, {{số|2110}} Dầu lòng bể rộng sông dài thênh thênh. Nàng dù quyết chẳng thuận tình, Trái lời nẻo trước lụy mình đến sau. Nàng càng mặt ủ mày chau, Càng nghe mụ nói, càng đau như dần. {{số|2115}} Nghĩ mình túng đất, sẩy chân, Thế cùng nàng mới xa gần thở than: Thiếp như con én lạc đàn, Phải cung rày đã sợ làn cây cong! Cùng đường dù tính chữ tòng, {{số|2120}} Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao? Nữa khi muôn một thế nào, Bán hùm, buôn sói, chắc vào lưng đâu? Dù ai lòng có sở cầu, Tâm mình xin quyết với nhau một lời. {{số|2125}} Chứng minh có đất, có Trời, Bấy giờ vượt bể ra khơi quản gì? Được lời mụ mới ra đi, Mách tin họ Bạc tức thì sắm sanh. Một nhà dọn dẹp linh đình, {{số|2130}} Quét sân, đặt trác, rửa bình, thắp nhang. Bạc sinh quỳ xuống vội vàng, Quá lời nguyện hết Thành hoàng, Thổ công. Trước sân lòng đã giãi lòng, Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên. {{số|2135}} Thành thân mới rước xuống thuyền, Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai. Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi, Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày. Cũng nhà hành viện xưa nay, {{số|2140}} Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người. Xem người định giá vừa rồi, Mối hàng một, đã ra mười, thì buông. Mượn người thuê kiệu rước nường, Bạc đem mặt bạc, kiếm đường cho xa! {{số|2145}} Kiệu hoa đặt trước thềm hoa, Bên trong thấy một mụ ra vội vàng. Đưa nàng vào lạy gia đường, Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh! Thoắt trông nàng đã biết tình, {{số|2150}} Chim lồng khốn lẽ cất mình bay cao. Chém cha cái số hoa đào, Gỡ ra, rồi lại buộc vào như chơi! Nghĩ đời mà chán cho đời, Tài tình chi lắm, cho trời đất ghen! {{số|2155}} Tiếc thay nước đã đánh phèn, Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần! Hồng quân với khách hồng quần, Đã xoay đến thế, còn vần chửa tha. Lỡ từ lạc bước bước ra, {{số|2160}} Cái thân liệu những từ nhà liệu đi. Đầu xanh đã tội tình chi? Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi. Biết thân chạy chẳng khỏi trời, Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh. {{số|2165}} Lần thu gió mát trăng thanh, Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi, Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao. Đường đường một đấng anh hào, {{số|2170}} Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài. Đội trời đạp đất ở đời, Họ Từ tên Hải, vốn người Việt đông. Giang hồ quen thú vẫy vùng, Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo. {{số|2175}} Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều, Tấm lòng nhi nữ cùng xiêu anh hùng. Thiếp danh đưa đến lầu hồng, Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa. Từ rằng: Tâm phúc tương cờ {{số|2180}} Phải người trăng gió vật vờ hay sao? Bấy lâu nghe tiếng má đào, Mắt xanh chẳng để ai vào có không? Một đời được mấy anh hùng, Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi! {{số|2185}} Nàng rằng: Người dạy quá lời, Thân này còn dám xem ai làm thường! Chút riêng chọn đá thử vàng, Biết đâu mà gởi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau, {{số|2190}} Ai cho kén chọn vàng thau tại mình. Từ rằng: Lời nói hữu tình, Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần, Phỏng tin được một vài phần hay không? {{số|2195}} Thưa rằng: Lượng cả bao dong, Tấn Dương được thấy mây rồng có phen. Rộng thương cỏ nội hoa hèn, Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau! Nghe lời vừa ý gật đầu, {{số|2200}} Cười rằng: Tri kỷ trước sau mấy người! Khen cho con mắt tinh đời, Anh hùng đoán giữa trần ai mới già! Một lời đã biết tên ta, Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau! {{số|2205}} Hai bên ý hợp tâm đầu, Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân! Ngỏ lời nói với băng nhân, Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn. Buồn riêng sửa chốn thanh nhàn, {{số|2210}} Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên. Trai anh hùng, gái thuyền nguyên, Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng. Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. {{số|2215}} Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm, yên ngựa lên đàng thẳng rong. Nàng rằng: Phận gái chữ tòng, Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi! Từ rằng: Tâm phúc tương tri, {{số|2220}} Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường Làm cho rõ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia, {{số|2225}} Bằng ngay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận, biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu, Chầy chăng là một năm sau vội gì? Quyết lời rứt áo ra đi, {{số|2230}} Cánh bằng tiện gió cất lìa dậm khơi. Nàng thì chiếc bóng song mai, Đêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây. Sân rêu chẳng vẽ dấu giầy, Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân. {{số|2235}} Đoái thương muôn dặm tử phần Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa; Xót thay huyên cỗi xuân già, Tấm lòng thương nhớ, biết là có nguôi. Chốc là mười mấy năm trời, {{số|2240}} Còn ra khi đã da mồi tóc sương. Tiếc thay chút nghĩa cũ càng, Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng! Duyên em dù nối chỉ hồng, May ra khi đã tay bồng tay mang. {{số|2245}} Tấc lòng cố quốc tha hương, Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời. Cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm. Đêm ngày luống những âm thầm, {{số|2250}} Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương, Ngất trời sát khí mơ màng, Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh. Người quen kẻ thuộc chung quanh Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi. {{số|2255}} Nàng rằng: Trước đã hẹn lời, Dẫu trong nguy hiểm dám rời ước xưa. Còn đương dùng dắng ngẩn ngơ Mái ngoài đã thấy bóng cờ tiếng loa. Giáp binh kéo đến quanh nhà, {{số|2260}} Đồng thanh cùng gửi: nào là phu nhân? Hai bên mười vị tướng quân, Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu. Cung nga, thể nữ nối sau, Rằng: Vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy. {{số|2265}} Sẵn sàng phượng liễn loan nghi, Hoa quan phấp phới hà y rỡ ràng. Dựng cờ, nổi trống lên đàng, Trúc tơ nổi trước, kiệu vàng theo sau. Hỏa bài tiền lộ ruổi mau, {{số|2270}} Nam đình nghe động trống chầu đại doanh. Kéo cờ lũy, phát súng thành, Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài. Rỡ mình, là vẻ cân đai, Hãy còn hàm én mày ngài như xưa. {{số|2275}} Cười rằng: Cá nước duyên ưa, Nhớ lời nói những bao giờ hay không? Anh hùng mới biết anh hùng, Rầy xem phỏng đã cam lòng ấy chưa? Nàng rằng: Chút phận ngây thơ, {{số|2280}} Cũng may dây cát được nhờ bóng cây. Đến bây giờ mới thấy đây, Mà lòng đã chắc những ngày một hai. Cùng nhau trông mặt cả cười, Dan tay về chốn trướng mai tự tình. {{số|2285}} Tiệc bày thưởng tướng khao binh Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân. Vinh hoa bõ lúc phong trần, Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày. Trong quân có lúc vui vầy, {{số|2290}} Thong dong mới kể sự ngày hàn vi: Khi Vô Tích, khi Lâm Tri, Nơi thì lừa đảo, nời thì xót thương. Tấm thân rày đã nhẹ nhàng, Chút còn ân oán đôi đàng chưa xong. {{số|2295}} Từ Công nghe nói thủy chung, Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang. Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng, Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao. Ba quân chỉ ngọn cờ đào, {{số|2300}} Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri, Mấy người phụ bạc xưa kia, Chiếu danh tầm nã bắt về hỏi tra. Lại sai lệnh tiễn truyền qua, Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên. {{số|2305}} Mụ quản gia, vãi Giác Duyên, Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời. Thệ sư kể hết mọi lời, Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy! Đạo trời báo phục chỉn ghê, {{số|2310}} Khéo thay! Một mẻ tóm về đầy nơi, Quân trung gươm lớn áo dài, Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi. Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi, Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân. {{số|2315}} Trướng hùm mở giữa trung quân, Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi. Tiên nghiêm trống chửa dứt hồi Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên. Từ rằng: ân, oán hai bên, {{số|2320}} Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh Nàng rằng: Nhờ cậy uy linh, Hãy xin báo đáp ân tình cho phu. Báo ân rồi sẽ trả thù. Từ rằng: Việc ấy phó cho mặc nàng. {{số|2325}} Cho gươm mời đến Thúc lang, Mặt như chàm đổ, mình giường giẽ run. Nàng rằng: Nghĩa trọng nghìn non, Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không? Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng, {{số|2330}} Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân? Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân, Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là! Vợ chàng quỷ quái tinh ma, Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau! {{số|2335}} Kiến bò miệng chén chưa lâu, Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa. Thúc Sinh trông mặt bấy giờ, Mồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm. Lòng riêng mừng sợ khôn cầm, {{số|2340}} Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai. Mụ già, sư trưởng thứ hai, Thoắt đưa đến trước vội mời lên trên: Dắt tay mở mặt cho nhìn: Hoa Nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi. {{số|2345}} Nhớ khi lỡ bước xẩy vời, Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương. Nghìn vàng gọi chút lễ thường, Mà lòng phiếu mẫu mấy vàng cho cân? Hai người, trông mặt tần ngần, {{số|2350}} Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mừng vui. Nàng rằng: Xin hãy dốn ngôi, Xem cho rõ mặt, biết tôi báo thù! Kíp truyền chư tướng hiến phù, Lại đem các tích phạm tù hậu tra. {{số|2355}} Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra, Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư. Thoạt trông nàng đã chào thưa: Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây? Đàn bà dễ có mấy tay, {{số|2360}} Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan? Dễ dàng là thói hồng nhan, Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều! Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu, Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca. {{số|2365}} Rằng: Tôi chút dạ đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình, Nghĩ cho khi gác viết kinh, Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo. Lòng riêng riêng những kính yêu; {{số|2370}} Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai. Trót lòng gây việc chông gai, Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng? Khen cho: Thật đã nên rằng, Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời, {{số|2375}} Tha ra thì cũng may đời, Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen. Đã lòng tri quá thì nên, Truyền quân lệnh xuống trường tiền tha ngay. Tạ lòng lạy trước sân may, {{số|2380}} Cửa viên lại dắt một dây dẫn vào, Nàng rằng: Lồng lộng trời cao, Hại nhân, nhân hại sự nào tại ta? Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà, Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh. {{số|2385}} Tú Bà cùng Mã Giám Sinh, Các tên tội ấy đáng tình còn sao? Lệnh quân truyền xuống nội đao, Thề sao thì lại cứ sao gia hình, Máu rơi thịt nát tan tành, {{số|2390}} Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời. Cho hay muôn sự tại trời, Phụ người, chẳng bõ khi người phụ ta! Mấy người bạc ác tinh ma, Mình làm mình chịu kêu mà ai thương. {{số|2395}} Ba quân đông mặt pháp trường, Thanh thiên, bạch nhật rõ ràng cho coi. Việc nàng báo phục vừa rồi, Giác Duyên vội vã gởi lời từ quy. Nàng rằng: Thiên tải nhất thì, {{số|2400}} Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn. Rồi đây bèo hợp mây tan, Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu! Sư rằng: Cũng chẳng bao lâu, Trong năm năm lại gặp nhau đó mà. {{số|2405}} Nhớ ngày hành cước phương xa, Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri. Bảo cho hội ngộ chi kỳ, Năm nay là một nữa thì năm năm. Mới hay tiền định chẳng lầm, {{số|2410}} Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau. Còn nhiều ân ái với nhau, Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì? Nàng rằng: Tiền định tiên tri, Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai. {{số|2415}} Họa bao giờ có gặp người, Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân. Giác Duyên vâng dặn ân cần, Tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài. Nàng từ ân oán rạch ròi, {{số|2420}} Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng. Tạ ân lạy trước Từ công: Chút thân bồ liễu nào mong có rày! Trộm nhờ sấm sét ra tay, Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi! {{số|2425}} Chạm xương chép dạ xiết chi, Dễ đem gan óc đền nghì trời mây! Từ rằng: Quốc sĩ xưa nay, Chọn người tri kỷ một ngày được chăng? Anh hùng tiếng đã gọi rằng, {{số|2430}} Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha! Huống chi việc cũng việc nhà, Lọ là thâm tạ mới là tri ân. Xót nàng còn chút song thân, Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa. {{số|2435}} Sao cho muôn dặm một nhà, Cho người thấy mặt là ta cam lòng. Vội truyền sửa tiệc quân trung, Muôn binh nghìn tướng hội đồng tẩy oan. Thừa cơ trúc chẻ ngói tan, {{số|2440}} Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài. Triều đình riêng một góc trời, Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà. Đòi phen gió quét mưa sa, Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam. {{số|2445}} Phong trần mài một lưỡi gươm, Những loài giá áo túi cơm sá gì! Nghênh ngang một cõi biên thùy, Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương! Trước cờ ai dám tranh cường, {{số|2450}} Năm năm hùng cứ một phương hải tần. Có quan tổng đốc trọng thần, Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài. Đẩy xe vâng chỉ đặc sai, Tiện nghi bát tiểu việc ngoài đổng nhung. {{số|2455}} Biết Từ là đấng anh hùng, Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn. Đóng quân làm chước chiêu an, Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng. Lại riêng một lễ với nàng, {{số|2460}} Hai tên thể nữ ngọc vàng nghìn cân. Tin vào gởi trước trung quân, Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ. Một tay gây dựng cơ đồ, Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành! {{số|2465}} Bó thân về với triều đình, Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu? Áo xiêm ràng buộc lấy nhau, Vào luồn ra cúi công hầu mà chi? Sao bằng riêng một biên thùy, {{số|2470}} Sức này đã dễ làm gì được nhau? Chọc trời khuấy nước mặc dầu, Dọc ngang nào biết trên đầu có ai? Nàng thời thật dạ tin người, Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu. {{số|2475}} Nghĩ mình mặt nước cánh bèo, Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân. Bằng nay chịu tiếng vương thần, Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì! Công tư vẹn cả hai bề, {{số|2480}} Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương. Cũng ngôi mệnh phụ đường đường, Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha. Trên vì nước dưới vì nhà, Một là đắc hiếu hai là đắc trung. {{số|2485}} Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng, E dè sóng vỗ hãi hùng cỏ hoa. Nhân khi bàn bạc gần xa, Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào. Rằng: Trong Thánh trạch dồi dào, {{số|2490}} Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu. Bình thành công đức bấy lâu, Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao. Ngẫm từ gây việc binh đao, Đống xương Vô định đã cao bằng đầu. {{số|2495}} Làm chi để tiếng về sau, Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào! Sao bằng lộc trọng quyền cao, Công danh ai dứt lối nào cho qua? Nghe lời nàng nói mặn mà, {{số|2500}} Thế công Từ mới trở ra thế hàng. Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng, Hẹn kỳ thúc giáp quyết đường giải binh. Tin lời thành hạ yêu minh, Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng. {{số|2505}} Việc binh bỏ chẳng giữ giàng, Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư. Hồ công quyết kế thừa cơ, Lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công. Kéo cờ chiêu phủ tiên phong, {{số|2510}} Lễ nghi dàn trước bác đồng phục sau. Từ công hờ hững biết đâu, Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên. Hồ công ám hiệu trận tiền, Ba bề phát súng bốn bên kéo cờ. {{số|2515}} Đương khi bất ý chẳng ngờ, Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn! Tử sinh liều giữa trận tiền, Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân! Khí thiêng khi đã về thần, {{số|2520}} Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng! Trơ như đá vững như đồng, Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời. Quan quân truy sát đuổi dài. Ầm ầm sát khí ngất trời ai đang. {{số|2525}} Trong hào ngoài lũy tan hoang, Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi. Trong vòng tên đá bời bời, Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ. Khóc rằng: Trí dũng có thừa, {{số|2530}} Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này! Mặt nào trông thấy nhau đây? Thà liều sống thác một ngày với nhau! Dòng thu như dội cơn sầu, Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên. {{số|2535}} Lạ thay oan khí tương triền! Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra. Quan quân kẻ lại người qua, Xót nàng sẽ lại vực ra dần dần. Đem vào đến trước trung quân, {{số|2540}} Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han. Rằng: Nàng chút phận hồng nhan, Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương! Đã hay thành toán miếu đường, Giúp công cũng có lời nàng mới nên. {{số|2545}} Bây giờ sự đã vẹn tuyền, Mặc lòng nghĩ lấy muốn xin bề nào? Nàng càng giọt ngọc tuôn dào, Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng. Rằng: Từ là đấng anh hùng, {{số|2550}} Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi! Tin tôi nên quá nghe lời, Đem thân bách chiến làm tôi triều đình. Ngỡ là phu quý phụ vinh, Ai ngờ một phút tan tành thịt xương! {{số|2555}} Năm năm trời bể ngang tàng, Đem mình đi bỏ chiến trường như không. Khéo khuyên kể lấy làm công, Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu! Xét mình công ít tội nhiều, {{số|2560}} Sống thừa tôi đã nên liều mình tôi! Xin cho tiện thổ một doi, Gọi là đắp điếm cho người tử sinh. Hồ công nghe nói thương tình, Truyền cho cảo táng di hình bên sông. {{số|2565}} Trong quân mở tiệc hạ công, Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan. Bắt nàng thị yến dưới màn, Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu. Một cung gió thảm mưa sầu, {{số|2570}} Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay! Ve ngâm vượn hót nào tày, Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu. Hỏi rằng: Này khúc ở đâu? Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay! {{số|2575}} Thưa rằng: Bạc mệnh khúc này, Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ. Cung cầm lựa những ngày xưa, Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây! Nghe càng đắm ngắm càng say, {{số|2580}} Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình! Dạy rằng: Hương lửa ba sinh, Dây loan xin nối cầm lành cho ai. Thưa rằng: Chút phận lạc loài, Trong mình nghĩ đã có người thác oan. {{số|2585}} Còn chi nữa cánh hoa tàn, Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân. Rộng thương còn mảnh hồng quần, Hơi tàn được thấy gốc phần là may! Hạ công chén đã quá say, {{số|2590}} Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra. Nghĩ mình phương diện quốc gia, Quan trên nhắm xuống người ta trông vào. Phải tuồng trăng gió hay sao, Sự này biết tính thế nào được đây? {{số|2595}} Công nha vừa buổi rạng ngày, Quyết tình Hồ mới đoán ngay một bài. Lệnh quan ai dám cãi lời, Ép tình mới gán cho người thổ quan. Ông tơ thực nhẽ đa đoan! {{số|2600}} Xe tơ sao khéo vơ quàng vơ xiên? Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền, Lá màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao. Nàng càng ủ liễu phai đào, Trăm phần nào có phần nào phần tươi? {{số|2605}} Đành thân cát lấp sóng vùi, Cướp công cha mẹ thiệt đời thông minh! Chân trời mặt bể lênh đênh, Nắm xương biết gởi tử sinh chốn nào, Duyên đâu ai dứt tơ đào, {{số|2610}} Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay! Thân sao thân đến thế này? Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi! Đã không biết sống là vui, Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương! {{số|2615}} Một mình cay đắng trăm đường, Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi! Mảnh trăng đã gác non đoài, Một mình luống những đứng ngồi chưa xong. Triều đâu nổi tiếng đùng đùng, {{số|2620}} Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường. Nhớ lời thần mộng rõ ràng, Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây! Đạm Tiên nàng nhé có hay! Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta. {{số|2625}} Dưới đèn sẵn bức tiên hoa, Một thiên tuyệt bút gọi là để sau. Cửa bồng vội mở rèm châu, Trời cao sông rộng một màu bao la. Rằng: Từ công hậu đãi ta, {{số|2630}} Chút vì việc nước mà ra phụ lòng. Giết chồng mà lại lấy chồng, Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời? Thôi thì một thác cho rồi, Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông! {{số|2635}} Trông vời con nước mênh mông, Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang. Thổ quan theo vớt vội vàng, Thời đà đắm ngọc chìm hương mất rồi! Thương thay cũng một kiếp người, {{số|2640}} Hại thay mang lấy sắc tài làm chi! Những là oan khổ lưu ly, Chờ cho hết kiếp còn gì là thân! Mười lăm năm bấy nhiêu lần, Làm gương cho khách hồng quần thử soi! {{số|2645}} Đời người đến thế thì thôi, Trong cơ âm cực dương hồi khốn hay. Mấy người hiếu nghĩa xưa nay, Trời làm chi đến lâu ngày càng thương! Giác Duyên từ tiết giã màng, {{số|2650}} Đeo bầu quảy níp rộng đường vân du. Gặp bà Tam Hợp đạo cô, Thong dong hỏi hết nhỏ to sự nàng: Người sao hiếu nghĩa đủ đường, Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi? {{số|2655}} Sư rằng: Phúc họa đạo trời, Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra. Có trời mà cũng tại ta, Tu là cõi phúc tình là dây oan. Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan, {{số|2660}} Vô duyên là phận hồng nhan đã đành, Lại mang lấy một chữ tình, Khư khư mình buộc lấy mình vào trong. Vậy nên những chốn thong dong, Ở không yên ổn ngồi không vững vàng. {{số|2665}} Ma đưa lối quỷ đem đường, Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi. Hết nạn ấy đến nạn kia, Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần. Trong vòng giáo dựng gươm trần, {{số|2670}} Kề răng hùm sói gởi thân tôi đòi. Giữa dòng nước dẫy sóng dồi, Trước hàm rồng cá gieo mồi thủy tinh. Oan kia theo mãi với tình, Một mình mình biết một mình mình hay. {{số|2675}} Làm cho sống đọa thác đầy, Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi! Giác Duyên nghe nói rụng rời: Một đời nàng nhé thương ôi còn gì! Sư rằng: Song chẳng hề chi, {{số|2680}} Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều. Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều, Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm, Lấy tình thâm trả nghĩa thâm, Bán mình đã động hiếu tâm đến trời! {{số|2685}} Hại một người cứu muôn người, Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng. Thửa công đức ấy ai bằng? Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi! Khi nên trời cũng chiều người, {{số|2690}} Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau. Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau, Tiền Đường thả một bè lau rước người. Trước sau cho vẹn một lời, Duyên ta mà cũng phúc trời chi không! {{số|2695}} Giác Duyên nghe nói mừng lòng, Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường, Đánh tranh chụm nóc thảo đường, Một gian nước biếc mây vàng chia đôi. Thuê năm ngư phủ hai người, {{số|2700}} Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông. Một lòng chẳng quảng mấy công, Khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần! Kiều từ gieo xuống duềnh ngân, Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi. {{số|2705}} Ngư ông kéo lưới vớt người, Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa! Trên mui lướt mướt áo là, Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương. Giác Duyên nhận thật mặt nàng, {{số|2710}} Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai. Mơ màng phách quế hồn mai, Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa. Rằng: Tôi đã có lòng chờ, Mất công mười mấy năm thừa ở đây. {{số|2715}} Chị sao phận mỏng phúc dày, Kiếp xưa đã vậy lòng này dễ ai! Tâm thành đã thấu đến trời, Bán mình là hiếu cứu người là nhân. Một niềm vì nước vì dân, {{số|2720}} Âm công cất một đồng cân đã già! Đoạn trường sổ rút tên ra, Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau. Còn nhiều hưởng thụ về lâu, Duyên xưa tròn trặn phúc sau dồi dào! {{số|2725}} Nàng nghe ngơ ngẩn biết sao, Trạc Tuyền! nghe tiếng gọi vào bên tai. Giật mình thoắt tỉnh giấc mai, Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn. Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên, {{số|2730}} Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề. Thấy nhau mừng rỡ trăm bề, Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư. Một nhà chung chạ sớm trưa, Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng. {{số|2735}} Bốn bề bát ngát mênh mông, Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau. Nạn xưa trút sạch lầu lầu, Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này. Nỗi nàng tai nạn đã đầy, {{số|2740}} Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương. Từ ngày muôn dặm phù tang, Nửa năm ở đất Liêu dương lại nhà. Vội sang vườn Thúy dò la, Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa. {{số|2745}} Đầy vườn cỏ mọc lau thưa, Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời. Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Xập xè én liệng lầu không, {{số|2750}} Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày. Cuối tường gai góc mọc đầy, Đi về này những lối này năm xưa. Chung quanh lặng ngắt như tờ, Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai? {{số|2755}} Láng giềng có kẻ sang chơi, Lân la sẽ hỏi một hai sự tình. Hỏi ông ông mắc tụng đình, Hỏi nàng nàng đã bán mình chuộc cha. Hỏi nhà nhà đã dời xa, {{số|2760}} Hỏi chàng Vương với cùng là Thúy Vân. Đều là sa sút khó khăn, May thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi. Điều đâu sét đánh lưng trời, Thoắt nghe chàng thoắt rụng rời xiết bao! {{số|2765}} Vội han di trú nơi cao, Đánh đường chàng mới tìm vào tận nơi. Nhà tranh vách đất tả tơi, Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa. Một sân đất cỏ dầm mưa, {{số|2770}} Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn đường! Đánh liều lên tiếng ngoài tường, Chàng Vương nghe tiếng vội vàng chạy ra. Dắt tay vội rước vào nhà, Mái sau viên ngoại ông bà ra ngay. {{số|2775}} Khóc than kể hết niềm tây: Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa? Kiều nhi phận mỏng như tờ, Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng! Gặp cơn gia biến lạ dường, {{số|2780}} Bán mình nó phải tìm đường cứu cha. Dùng dằng khi bước chân ra, Cực trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần. Trót lời hẹn với lang quân, Mượn con em nó Thúy Vân thay lời. {{số|2785}} Gọi là trả chút nghĩa người, Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên! Kiếp này duyên đã phụ duyên, Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh. Mấy lời ký chú đinh ninh, {{số|2790}} Ghi lòng để dạ cất mình ra đi. Phận sao bạc bấy Kiều nhi! Chàng Kim về đó con thì đi đâu? Ông bà càng nói càng đau, Chàng càng nghe nói càng dàu như dưa. {{số|2795}} Vật mình vẫy gió tuôn mưa, Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai! Đau đòi đoạn ngất đòi thôi, Tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê. Thấy chàng đau nỗi biệt ly, {{số|2800}} Nhẫn ngừng ông mới vỗ về giải khuyên: Bây giờ ván đã đóng thuyền, Đã đành phận bạc khôn đền tình chung! Quá thương chút nghĩa đèo bòng, Nghìn vàng thân ấy dễ hòng bỏ sao? {{số|2805}} Dỗ dành khuyên giải trăm chiều, Lửa phiền càng dập càng khêu mối phiền. Thề xưa giở đến kim hoàn, Của xưa lại giở đến đàn với hương. Sinh càng trông thấy càng thương. {{số|2810}} Gan càng tức tối ruột càng xót xa. Rằng: Tôi trót quá chân ra, Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo. Cùng nhau thề thốt đã nhiều, Những điều vàng đá phải điều nói không! {{số|2815}} Chưa chăn gối cũng vợ chồng, Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang? Bao nhiêu của mấy ngày đàng, Còn tôi tôi một gặp nàng mới thôi! Nỗi thương nói chẳng hết lời, {{số|2820}} Tạ từ sinh mới sụt sùi trở ra. Vội về sửa chốn vườn hoa, Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang. Thần hôn chăm chút lễ thường, Dưỡng thân thay tấm lòng nàng ngày xưa. {{số|2825}} Đinh ninh mài lệ chép thơ, Cắt người tìm tõi đưa tờ nhắn nhe. Biết bao công mướn của thuê, Lâm Thanh mấy độ đi về dặm khơi. Người một nơi hỏi một nơi, {{số|2830}} Mênh mông nào biết bể trời nơi nao? Sinh càng thảm thiết khát khao, Như nung gan sắt như bào lòng son. Ruột tằm ngày một héo don, Tuyết sương ngày một hao mòn hình ve. {{số|2835}} Thẩn thờ lúc tỉnh lúc mê, Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao. Xuân huyên lo sợ biết bao, Quá ra khi đến thế nào mà hay! Vội vàng sắm sửa chọn ngày, {{số|2840}} Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng. Người yểu điệu kẻ văn chương, Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì, Tuy rằng vui chữ vu quy, Vui nào đã cất sầu kia được nào! {{số|2845}} Khi ăn ở lúc ra vào, Càng âu duyên mới càng dào tình xưa. Nỗi nàng nhớ đến bao giờ, Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng. Có khi vắng vẻ thư phòng, {{số|2850}} Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa. Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ, Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm. Dường như bên nóc trước thềm, Tiếng kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng, {{số|2855}} Bởi lòng tạc đá ghi vàng, Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây. Những là phiền muộn đêm ngày, Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần? Chế khoa gặp hội trường văn. {{số|2860}} Vương, Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày. Cửa trời rộng mở đường mây, Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần. Chàng Vương nhớ đến xa gần, Sang nhà Chung lão tạ ân chu tuyền. {{số|2865}} Tình xưa ân trả nghĩa đền, Gia thân lại mới kết duyên Châu Trần. Kim từ nhẹ bước thanh vân, Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương. Ấy ai dặn ngọc thề vàng, {{số|2870}} Bây giờ kim mã ngọc đường với ai? Ngọn bèo chân sóng lạc loài, Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu ly. Vâng ra ngoại nhậm Lâm Truy, Quan san nghìn dặm thê nhi một đoàn. {{số|2875}} Cầm đường ngày tháng thanh nhàn, Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao. Phòng xuân trướng rủ hoa đào, Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng. Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng, {{số|2880}} Nghe lời chàng cũng hai đường tin nghi. Họ Lâm Thanh với Lâm Truy, Khác nhau một chữ hoặc khi có lầm. Trong cơ thanh khí tương tầm, Ở đây hoặc có giai âm chăng là? {{số|2885}} Thăng đường chàng mới hỏi tra, Họ Đô có kẻ lại già thưa lên: Sự này đã ngoại mười niên, Tôi đà biết mặt biết tên rành rành. Tú Bà cùng Mã Giám Sinh, {{số|2890}} Đi mua người ở Bắc kinh đưa về. Thúy Kiều tài sắc ai bì, Có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ. Kiên trinh chẳng phải gan vừa, Liều mình thế ấy phải lừa thế kia. {{số|2895}} Phong trần chịu đã ê chề, Tơ duyên sau lại xe về Thúc lang. Phải tay vợ cả phũ phàng, Bắt về Vô tích toan đường bẻ hoa. Rứt mình nàng phải trốn ra, {{số|2900}} Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia. Thoắt buôn về thoắt bán đi, Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi! Bỗng đâu lại gặp một người, Hơn đời trí dũng nghiêng trời uy linh. {{số|2905}} Trong tay mười vạn tinh binh, Kéo về đóng chật một thành Lâm Truy. Tóc tơ các tích mọi khi, Oán thì trả oán ân thì trả ân. Đã nên có nghĩa có nhân, {{số|2910}} Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen. Chưa từng được họ được tên, Sự này hỏi Thúc Sinh viên mới tường. Nghe lời đô nói rõ ràng, Tức thì đưa thiếp mời chàng Thúc Sinh. {{số|2915}} Nỗi nàng hỏi hết phân minh, Chồng con đâu tá tính danh là gì? Thúc rằng: Gặp buổi loạn ly, Trong quân tôi hỏi thiếu gì tóc tơ. Đại vương tên Hải họ Từ, {{số|2920}} Đánh quen trăm trận sức dư muôn ngườị Gặp nàng khi ở châu Thai, Lạ gì quốc sắc thiên tài phải duyên. Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên, Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng. {{số|2925}} Đại quân đồn đóng cõi đông, Về sau chẳng biết vân mồng làm sao. Nghe tường ngành ngọn tiêu hao, Lòng riêng chàng luống lao đao thẫn thờ. Xót thay chiếc lá bơ vơ, {{số|2930}} Kiếp trần biết giũ bao giờ cho xong? Hoa trôi nước chảy xuôi dòng, Xót thân chìm nỗi đau lòng hợp tan! Lời xưa đã lỗi muôn vàn, Mảnh hương còn đó phím đàn còn đây, {{số|2935}} Đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây, Lửa hương biết có kiếp này nữa thôi? Bình bồng còn chút xa xôi, Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi cho an! Rắp mong treo ấn từ quan, {{số|2940}} Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha. Dấn mình trong án can qua, Vào sinh ra tử họa là thấy nhau. Nghĩ điều trời thẳm vực sâu, Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn! {{số|2945}} Những là nấn ná đợi tin, Nắng mưa biết đã mấy phen đổi dờỉ Năm mây bỗng thấy chiếu trời, Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành. Kim thì cải nhậm Nam bình, {{số|2950}} Chàng Vương cũng cải nhậm thành Châu dương. Sắm xanh xe ngựa vội vàng, Hai nhà cùng thuận một đường phó quan. Xảy nghe thế giặc đã tan, Sóng êm Phúc kiến lửa tàn Chiếc giang. {{số|2955}} Được tin Kim mới rủ Vương, Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa. Hàng Châu đến đó bây giờ, Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành. Rằng: Ngày hôm nọ giao binh, {{số|2960}} Thất cơ Từ đã thu linh trận tiền. Nàng Kiều công cả chẳng đền, Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù. Nàng đà gieo ngọc trầm châu, Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan! {{số|2965}} Thương ôi! không hợp mà tan, Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng! Chiêu hồn thiết vị lễ thường, Giải oan lập một đàn tràng bên sông. Ngọn triều non bạc trùng trùng, {{số|2970}} Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo. Tình thâm bể thảm lạ điều, Nào hồn tinh vệ biết theo chốn nào? Cơ duyên đâu bỗng lạ sao, Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi. {{số|2975}} Trông lên linh vị chữ bài, Thất kinh mới hỏi: Những người đâu ta? Với nàng thân thích gần xa, Người còn sao bỗng làm ma khóc người? Nghe tin ngơ ngác rụng rời, {{số|2980}} Xúm quanh kể lể rộn lời hỏi tra: Này chồng này mẹ này cha, Này là em ruột này là em dâu. Thật tin nghe đã bấy lâu, Pháp sư dạy thế sự đâu lạ thường! {{số|2985}} Sư rằng: Nhân quả với nàng, Lâm Truy buổi trước Tiền Đường buổi sau. Khi nàng gieo ngọc trầm châu, Đón nhau tôi đã gặp nhau rước về, Cùng nhau nương cửa bồ đề, {{số|2990}} Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa. Phật tiền ngày bạc lân la, Đăm đăm nàng cũng nhớ nhà khôn khuây. Nghe tin nở mặt nở mày, Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng? {{số|2995}} Từ phen chiếc lá lìa rừng, Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây. Rõ ràng hoa rụng hương bay, Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi. Minh dương đôi ngả chắc rồi, {{số|3000}} Cõi trần mà lại thấy người cửu nguyên! Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên, Bộ hành một lũ theo liền một khi. Bẻ lau vạch cỏ tìm đi, Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần. {{số|3005}} Quanh co theo dải giang tân, Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường. Giác Duyên lên tiếng gọi nàng, Buồng trong vội dạo sen vàng bước ra. Trông xem đủ mặt một nhà: {{số|3010}} Xuân già còn khỏe huyên già còn tươi. Hai em phương trưởng hòa hai, Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa! Tưởng bây giờ là bao giờ, Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao! {{số|3015}} Giọt châu thánh thót quẹn bào, Mừng mừng tủi tủi xiết bao là tình! Huyên già dưới gối gieo mình, Khóc than mình kể sự tình đầu đuôi: Từ con lưu lạc quê người, {{số|3020}} Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm! Tính rằng sông nước cát lầm, Kiếp này ai lại còn cầm gặp đây! Ông bà trông mặt cầm tay, Dung quang chẳng khác chi ngày bước ra. {{số|3025}} Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa, Mười phần xuân có gầy ba bốn phần. Nỗi mừng biết lấy chi cân? Lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu! Hai em hỏi trước han sau, {{số|3030}} Đứng trông chàng cũng trở sầu làm tươi. Quây nhau lạy trước Phật đài, Tái sinh trần tạ lòng người từ bi. Kiệu hoa giục giã tức thì, Vương ông dạy rước cùng về một nơi. {{số|3035}} Nàng rằng: Chút phận hoa rơi, Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay. Tính rằng mặt nước chân mây, Lòng nào còn tưởng có rày nữa không? Được rày tái thế tương phùng. {{số|3040}} Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay! Đã đem mình bỏ am mây, Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừạ Mùi thiền đã bén muối dưa, Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng. {{số|3045}} Sự đời đã tắt lửa lòng, Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi! Dở dang nào có hay gì, Đã tu tu trót quá thì thì thôi! Trùng sinh ân nặng bể trời, {{số|3050}} Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi? Ông rằng: Bỉ thử nhất thì, Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền. Phải điều cầu Phật cầu Tiên, Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây? {{số|3055}} Độ sinh nhờ đức cao dày, Lập am rồi sẽ rước thầy ở chung. Nghe lời nàng cũng chiều lòng, Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra. Một nhà về đến quan nha, {{số|3060}} Đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy. Tàng tàng chén cúc dở say, Đứng lên Vân mới giãi bày một hai. Rằng: Trong tác hợp cơ trời. Hai bên gặp gỡ một lời kết giao. {{số|3065}} Gặp cơn bình địa ba đào, Vậy đem duyên chị buộc vào cho em. Cũng là phận cải duyên kim, Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao? Những là rày ước mai ao, {{số|3070}} Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình! Bây giờ gương vỡ lại lành, Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi. Còn duyên may lại còn người, Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa. {{số|3075}} Quả mai ba bảy đương vừa, Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì. Dứt lời nàng vội gạt đi: Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ? Một lời tuy có ước xưa, {{số|3080}} Xét mình dãi gió dầu mưa đã nhiều. Nói càng hổ thẹn trăm chiều, Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi! Chàng rằng: Nói cũng lạ đời, Dẫu lòng kia vậy còn lời ấy sao? {{số|3085}} Một lời đã trót thâm giao, Dưới dày có đất trên cao có trời! Dẫu rằng vật đổi sao dời, Tử sinh phải giữ lấy lời tử sinh! Duyên kia có phụ chi tình, {{số|3090}} Mà toan sẻ gánh chung tình làm hai? Nàng rằng: Gia thất duyên hài, Chút lòng ân ái ai ai cũng lòng. Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng, Hoa thơm phong nhị trăng vòng. {{số|3100}} Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn. Còn chi là cái hồng nhan, Đã xong thân thế còn toan nỗi nào? Nghĩ mình chẳng hổ mình sao, Dám đem trần cấu dự vào bố kinh! {{số|3105}} Đã hay chàng nặng vì tình, Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru! Từ rày khép cửa phòng thu, Chẳng tu thì cũng như tu mới là! Chàng dù nghĩ đến tình xa, {{số|3110}} Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ. Nói chi kết tóc xe tơ, Đã buồn cả ruột mà dơ cả đời! Chàng rằng: Khéo nói nên lời, Mà trong lẽ phải có người có ta! {{số|3115}} Xưa nay trong đạo đàn bà, Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường, Có khi biến có khi thường, Có quyền nào phải một đường chấp kinh. Như nàng lấy hiếu làm trinh, {{số|3120}} Bụi nào cho đục được mình ấy vay? Trời còn để có hôm nay, Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời. Hoa tàn mà lại thêm tươi, Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. {{số|3125}} Có điều chi nữa mà ngờ, Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu! Nghe chàng nói đã hết điều, Hai thân thì cũng quyết theo một bài. Hết lời khôn lẽ chối lời, {{số|3130}} Cúi đầu nàng những vắn dài thở than. Nhà vừa mở tiệc đoàn viên, Hoa soi ngọn đuốc hồng chen bức là. Cùng nhau giao bái một nhà, Lễ đà đủ lễ đôi đà xứng đôi. {{số|3135}} Động phòng dìu dặt chén mồi, Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa. Những từ sen ngó đào tơ, Mười lăm năm mới bây giờ là đây! Tình duyên ấy hợp tan này, {{số|3140}} Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao. Canh khuya bức gấm rủ thao, Dưới đèn tỏ rạng má đào thêm xuân. Tình nhân lại gặp tình nhân, Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình. {{số|3145}} Nàng rằng: Phận thiếp đã đành, Có làm chi nữa cái mình bỏ đi! Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi, Chiều lòng gọi có xướng tùy mảy may. Riêng lòng đã thẹn lắm thay, {{số|3150}} Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi! Những như âu yếm vành ngoài, Còn toan mở mặt với người cho qua. Lại như những thói người ta, Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa. {{số|3155}} Khéo là giở nhuốc bày trò, Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi! Người yêu ta xấu với người, Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau! Cửa nhà dù tính về sau, {{số|3160}} Thì còn em đó lọ cầu chị đây. Chữ trinh còn một chút này, Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan! Còn nhiều ân ái chan chan, Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi? {{số|3165}} Chàng rằng: Gắn bó một lời, Bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau. Xót người lưu lạc bấy lâu, Tưởng thề thốt nặng nên đau đớn nhiều! Thương nhau sinh tử đã liều, {{số|3170}} Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình. Chừng xuân tơ liễu còn xanh, Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân. Gương trong chẳng chút bụi trần, Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm! {{số|3175}} Bấy lâu đáy bể mò kim, Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa? Ai ngờ lại họp một nhà, Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm! Nghe lời sửa áo cài trâm, {{số|3180}} Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng: Thân tàn gạn đục khơi trong, Là nhờ quân tử khác lòng người ta. Mấy lời tâm phúc ruột rà, Tương tri dường ấy mới là tương tri! {{số|3185}} Chở che đùm bọc thiếu chi, Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay! Thoắt thôi tay lại cầm tay, Càng yêu vì nết càng say vì tình. Thêm nến giá nối hương bình, {{số|3190}} Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan. Tình xưa lai láng khôn hàn, Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa. Nàng rằng: Vì mấy đường tơ, Lầm người cho đến bây giờ mới thôi! {{số|3195}} Ăn năn thì sự đã rồi! Nể lòng người cũ vâng lời một phen. Phím đàn dìu dặt tay tiên, Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa. Khúc đâu đầm ấm dương hòa, {{số|3200}} Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh. Khúc đâu êm ái xuân tình, Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên? Trong sao châu nhỏ duềnh quyên, Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông! {{số|3205}} Lọt tai nghe suốt năm cung, Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao. Chàng rằng: Phổ ấy tay nào, Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy? Tẻ vui bởi tại lòng này, {{số|3210}} Hay là khổ tận đến ngày cam lai? Nàng rằng: Ví chút nghề chơi, Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu! Một phen tri kỷ cùng nhau, Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa. {{số|3215}} Chuyện trò chưa cạn tóc tơ, Gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông. Tình riêng chàng lại nói sòng, Một nhà ai cũng lạ lùng khen lao. Cho hay thục nữ chí cao, {{số|3220}} Phải người tối mận sớm đào như ai? Hai tình vẹn vẽ hòa hai, Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thơ. Khi chén rượu khi cuộc cờ, Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên. {{số|3225}} Ba sinh đã phỉ mười nguyền, Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy. Nhớ lời lập một am mây, Khiến người thân thích rước thầy Giác Duyên. Đến nơi đóng cửa cài then, {{số|3230}} Rêu trùm kẻ ngạch cỏ len mái nhà, Sư đà hái thuốc phương xa, Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu? Nặng vì chút nghĩa bấy lâu, Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai. {{số|3235}} Một nhà phúc lộc gồm hai, Ngàn năm dằng dặc quan giai lần lần. Thừa gia chẳng hết nàng Vân, Một cây cù mộc một sân quế hòe. Phong lưu phú quý ai bì, {{số|3240}} Vườn xuân một cửa để bia muôn đời Ngẫm hay muôn sự tại trời, Trời kia đã bắt làm người có thân. Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao. {{số|3245}} Có đâu thiên vị người nào, Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai, Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, {{số|3250}} Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh. </poem> {{PD-old}} [[Thể loại:Lục bát|Kiều]] [[Thể_loại:Thơ Việt Nam|Kiều]] [[Thể loại:Truyện Nôm|Kiều]] [[Thể_loại:Thơ Nôm|Kiều]] 5by5q5hx1onluip4vfhagnmbm3tb1cl 205132 205130 2026-05-06T04:49:24Z ~2026-27373-48 20153 Đã lùi lại sửa đổi [[Special:Diff/205130|205130]] của [[Special:Contributions/~2026-27292-09|~2026-27292-09]] ([[User talk:~2026-27292-09|thảo luận]]) 205132 wikitext text/x-wiki {{Chất lượng vk|75%}}{{đầu đề | tựa đề = Truyện Kiều | tác giả = Nguyễn Du | năm = | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ghi chú = '''Truyện Kiều''' (tên gốc là '''Đoạn Trường Tân Thanh''' 斷腸新聲) là tác phẩm nổi tiếng nhất của đại thi hào [[w:Nguyễn Du|Nguyễn Du]], kiệt tác của văn học Việt Nam thời trung đại. Với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã được tôn vinh là Danh nhân văn hóa thế giới. :Xem thêm các bản Nôm:[[Truyện Kiều (bản Liễu Văn Ðường 1866)|bản Liễu Văn Đường 1866]], [[Truyện Kiều (bản Kinh Tự Đức 1870)|bản Kinh Tự Đức 1870]], [[Truyện Kiều (bản Liễu Văn Ðường 1871)|bản Liễu Văn Đường 1871]], [[Truyện Kiều (bản Duy Minh Thị 1872)|bản Duy Minh Thị 1872]], [[Truyện Kiều (bản Kiều Oánh Mậu 1902)|bản Kiều Oánh Mậu 1902]] :Bản truyện tiếng Hán: [[:zh:金雲翹傳|金雲翹傳]] | wikipedia = Truyện Kiều }} [[Tập tin:ThuykieuTruyen.jpg|nhỏ|phải|Áng văn Nôm Truyện Kiều bản Chiêm Vân Thị dưới tựa ''Thúy Kiều Truyện tường chú'']] <poem> Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. {{số|5}} Lạ gì bỉ sắc tư phong, Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Cảo thơm lần giở trước đèn, Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh. Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, {{số|10}} Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng. Có nhà viên ngoại họ Vương, Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung. Một trai con thứ rốt lòng, Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia. {{số|15}} Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân. Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Một người một vẻ, mười phân vẹn mười. Vân xem trang trọng khác vời, {{số|20}} Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Kiều càng sắc sảo, mặn mà, So bề tài, sắc, lại là phần hơn. {{số|25}} Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Một, hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một, tài đành họa hai. Thông minh vốn sẵn tư trời, {{số|30}} Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm. Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh, lại càng não nhân. {{số|35}} Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai. Ngày xuân con én đưa thoi, {{số|40}} Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh. {{số|45}} Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử, giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Ngổn ngang gò đống kéo lên, {{số|50}} Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay. Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. {{số|55}} Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Sè sè nấm đất bên đàng, Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Rằng: Sao trong tiết thanh minh, {{số|60}} Mà đây hương khói vắng tanh thế mà? Vương Quan mới dẫn gần xa: Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi. Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh. {{số|65}} Kiếp hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương. Có người khách ở viễn phương, Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi. Thuyền tình vừa ghé tới nơi, {{số|70}} Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ. Buồng không lạnh ngắt như tờ, Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh. Khóc than khôn xiết sự tình, Khéo vô duyên ấy là mình với ta. {{số|75}} Đã không duyên trước chăng mà, Thì chi chút ước gọi là duyên sau. Sắm xanh nếp tử xe trâu Vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa. Trải bao thỏ lặn ác tà, {{số|80}} Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm! Lòng đâu sẵn mối thương tâm, Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa. Đau đớn thay phận đàn bà! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. {{số|85}} Phũ phàng chi bấy hóa công, Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha. Sống làm vợ khắp người ta, Khéo thay thác xuống làm ma không chồng. Nào người phượng chạ loan chung, {{số|90}} Nào người tích lục tham hồng là ai? Đã không kẻ đoái người hoài, Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương. Gọi là gặp gỡ giữa đường, Họa là người dưới suối vàng biết cho. {{số|95}} Lầm rầm khấn khứa nhỏ to, Sụp ngồi vài gật trước mồ bước ra. Một vùng cỏ áy bóng tà, Gió hiu hiu thổi một vài bông lau. Rút trâm sẵn giắt mái đầu, {{số|100}} Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần. Lại càng mê mẩn tâm thần Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra. Lại càng ủ dột nét hoa, Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài. {{số|105}} Vân rằng: Chị cũng nực cười, Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu? Nỗi niềm tưởng đến mà đau, {{số|110}} Thấy người nằm đó biết sau thế nào? Quan rằng: Chị nói hay sao, Một lời là một vận vào khó nghe. Ở đây âm khí nặng nề, Bóng chiều đã ngả dậm về còn xa. {{số|115}} Kiều rằng: Những đấng tài hoa, Thác là thể phách, còn là tinh anh, Dễ hay tình lại gặp tình, Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ. Một lời nói chửa kịp thưa, {{số|120}} Thoắt đâu trận gió cuốn cờ đến ngay. Ào ào đổ lộc rung cây, Ở trong dường có hương bay ít nhiều. Đè chừng ngọn gió lần theo, Dấu giày từng bước in rêu rành rành. {{số|125}} Mắt nhìn ai nấy đều kinh, Nàng rằng: Này thực tinh thành chẳng xa. Hữu tình ta lại gặp ta, Chớ nề u hiển mới là chị em. Đã lòng hiển hiện cho xem, {{số|130}} Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời. Lòng thơ lai láng bồi hồi, Gốc cây lại vạch một bài cổ thi. Dùng dằng nửa ở nửa về, Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần. {{số|135}} Trông chừng thấy một văn nhân, Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng. Đề huề lưng túi gió trăng, Sau chân theo một vài thằng con con. Tuyết in sắc ngựa câu giòn, {{số|140}} Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời. Nẻo xa mới tỏ mặt người, Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình. Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây quỳnh cành dao. {{số|145}} Chàng Vương quen mặt ra chào, Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa. Nguyên người quanh quất đâu xa, Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh. Nền phú hậu, bậc tài danh, {{số|150}} Văn chương nết đất, thông minh tính trời. Phong tư tài mạo tót vời, Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa. Chung quanh vẫn đất nước nhà, Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân. {{số|155}} Vẫn nghe thơm nức hương lân, Một nền đồng Tước khóa xuân hai Kiều. Nước non cách mấy buồng thêu, Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng. May thay giải cấu tương phùng, {{số|160}} Gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa. Bóng hồng nhác thấy nẻo xa, Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai. Người quốc sắc, kẻ thiên tài, Tình trong như đã, mặt ngoài còn e. {{số|165}} Chập chờn cơn tỉnh cơn mê. Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn. Bóng tà như giục cơn buồn, Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo. Dưới cầu nước chảy trong veo, {{số|170}} Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha. Kiều từ trở gót trướng hoa, Mặt trời gác núi chiêng đà thu không. Gương nga chênh chếch dòm song, Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân. {{số|175}} Hải đường lả ngọn đông lân, Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà. Một mình lặng ngắm bóng nga, Rộn đường gần với nỗi xa bời bời: Người mà đến thế thì thôi, {{số|180}} Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi! Người đâu gặp gỡ làm chi, Trăm năm biết có duyên gì hay không? Ngổn ngang trăm mối bên lòng, Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình. {{số|185}} Chênh chênh bóng nguyệt xế mành, Tựa nương bên triện một mình thiu thiu. Thoắt đâu thấy một tiểu kiều, Có chiều thanh vận, có chiều thanh tân. Sương in mặt, tuyết pha thân, {{số|190}} Sen vàng lãng đãng như gần như xa. Chào mừng đón hỏi dò la: Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây? Thưa rằng: Thanh khí xưa nay, Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên. {{số|195}} Hàn gia ở mé tây thiên, Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu. Mấy lòng hạ cố đến nhau, Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng. Vâng trình hội chủ xem tường, {{số|200}} Mà sao trong sổ đoạn trường có tên. Âu đành quả kiếp nhân duyên, Cùng người một hội, một thuyền đâu xa! Này mười bài mới mới ra, Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời. {{số|205}} Kiều vâng lĩnh ý đề bài, Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm. Xem thơ nức nở khen thầm: Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường Ví đem vào tập đoạn Trường {{số|210}} Thì treo giải nhất chi nhường cho ai. Thềm hoa khách đã trở hài, Nàng còn cầm lại một hai tự tình. Gió đâu xịch bức mành mành, Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao. {{số|215}} Trông theo nào thấy đâu nào Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây. Một mình lưỡng lự canh chầy, Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh. Hoa trôi bèo dạt đã đành, {{số|220}} Biết duyên mình, biết phận mình thế thôi! Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi, Nghĩ đòi cơn lại sụt sùi đòi cơn. Giọng Kiều rền rĩ trướng loan, Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ gì? {{số|225}} Cớ sao trằn trọc canh khuya, Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa? Thưa rằng: Chút phận ngây thơ, Dưỡng sinh đôi nợ tóc tơ chưa đền. Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên, {{số|230}} Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao. Đoạn trường là số thế nào, Bài ra thế ấy, vịnh vào thế kia. Cứ trong mộng triệu mà suy, Phận con thôi có ra gì mai sau! {{số|235}} Dạy rằng: Mộng triệu cớ đâu, Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao. Vâng lời khuyên giải thấp cao, Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương. Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng, {{số|240}} Nách tường bông liễu bay ngang trước mành. Hiên tà gác bóng chênh chênh, Nỗi riêng, riêng trạnh tấc riêng một mình. Cho hay là thói hữu tình, Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong. {{số|245}} Chàng Kim từ lại thư song, Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây. Sầu đong càng lắc càng đầy, Ba thu dồn lại một ngày dài ghê. Mây Tần khóa kín song the, {{số|250}} Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao. Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao, Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng. Buồng văn hơi giá như đồng, Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan. {{số|255}} Mành Tương phất phất gió đàn, Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình. Vì chăng duyên nợ ba sinh, Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi. Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người, {{số|260}} Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi. Một vùng cỏ mọc xanh rì, Nước ngâm trong vắt, thấy gì nữa đâu! Gió chiều như gợi cơn sầu, Vi lô hiu hắt như màu khảy trêu. {{số|265}} Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều, Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang. Thâm nghiêm kín cổng cao tường, Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh. Lơ thơ tơ liễu buông mành, {{số|270}} Con oanh học nói trên cành mỉa mai. Mấy lần cửa đóng then cài, Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu? Tần ngần đứng suốt giờ lâu, Dạo quanh chợt thấy mái sau có nhà. {{số|275}} Là nhà Ngô Việt thương gia, Buồng không để đó người xa chưa về. Lấy điều du học hỏi thuê, Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang. Có cây, có đá sẵn sàng, {{số|280}} Có hiên Lãm thúy, nét vàng chưa phai. Mừng thầm chốn ấy chữ bài, Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây. Song hồ nửa khép cánh mây, Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông. {{số|285}} Tấc gang động khóa nguồn phong, Tịt mù nào thấy bóng hồng vào ra. Nhẫn từ quán khách lân la, Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai. Cách tường phải buổi êm trời, {{số|290}} Dưới đào dường có bóng người thướt tha. Buông cầm xốc áo vội ra, Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh. Lần theo tường gấm dạo quanh, Trên đào nhác thấy một cành kim thoa. {{số|295}} Giơ tay với lấy về nhà: Này trong khuê các đâu mà đến đây? Ngẫm âu người ấy báu này, Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm! Liền tay ngắm nghía biếng nằm, {{số|300}} Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai. Tan sương đã thấy bóng người, Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ. Sinh đà có ý đợi chờ, Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng: {{số|305}} Thoa này bắt được hư không, Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về? Tiếng Kiều nghe lọt bên kia: Ơn lòng quân tử sá gì của rơi, Chiếc thoa nào của mấy mươi {{số|310}} Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!" Sinh rằng: "Lân lý ra vào, Gần đây nào phải người nào xa xôi, Rày nhờ được chút thơm rơi Kể đà thiểu não lòng người bấy nay! {{số|315}} Bấy lâu mới được một ngày, Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là" Vội về thêm lấy của nhà, Khuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông Thang mây qua bước ngọn tường, {{số|320}} Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng như. Sượng sùng giữ ý rụt rè, Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu Rằng: "Từ ngẫu nhỉ gặp nhau Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn, {{số|325}} Xương mai tính đã rũ mòn Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay! Vuông tròn nhờ cậy cung mây Trần trần một phận ấp cây đã liều! Tiện đây xin một đôi điều {{số|330}} Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?" Ngần ngừ nàng mới thưa rằng: Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong Dù khi lá thắm chỉ hồng Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha {{số|335}} Nặng lòng xót liễu vì hoa Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!" Sinh rằng: Rày gió mai mưa, Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi! Dù chăng xét tấm tình si, {{số|340}} Thiệt đây mà có ích gì cho ai? Chút chi gắn bó một hai, Cho đành rồi sẽ liệu bài mối manh, Khuôn thiên dù phụ tấc thành, Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời, {{số|345}} Lượng xuân dù quyết hẹp hòi Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru?" Lặng nghe lời nói như ru, Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng Rằng: "Trong buổi mới lạ lùng, {{số|350}} Nể lòng có lẽ, cầm lòng cho đang? Đã lòng quân tử đa mang Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung!" Được lời như cởi tấm lòng, Giở kim thoa với khăn hồng trao tay, {{số|355}} Rằng: "Trăm năm cũng từ đây, Của tin gọi một chút này làm ghi". Sẵn tay bả quạt hoa quỳ, Với cành thoa ấy tức thì đổi trao. Một lời gắn bó tất giao {{số|360}} Mé sau nhường có xôn xao tiếng người, Vội vàng lá rụng hoa rơi Chàng về viện sách, nàng dời lầu trang. Từ phen đá biết tuổi vàng, Tình càng thấm thía lòng càng ngẩn ngơ. {{số|365}} Sông Tương một dải nông sờ, Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia Một tuồng tuyết chở sương che Tin xuân đâu dễ đi về cho năng Lần lần ngày gió đêm trăng {{số|370}} Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua. Ngày vừa sinh nhật ngoại gia, Trên hai đường, dưới nữa là hai em, Tưng bừng sắm sửa áo xiêm, Biện dâng một lễ, xa đem tấc thành. {{số|375}} Nhà hương thanh vắng một mình Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay. Thời trân thức thức sẵn bày, Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường. Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng, {{số|380}} Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông: Trách lòng hờ hững với lòng, Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu, Những là đắp nhớ đổi sầu, Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm". {{số|385}} Nàng rằng: "Gió bắt mưa cầm, Đã cam tệ với tri âm bấy chầy, Vắng nhà được buổi hôm nay, Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng Lần theo núi giả đi vòng, {{số|390}} Cuối tường nhường có nẻo thông mới rào, Xắn tay mở khóa động đào, Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai. Mặt nhìn mặt, càng thêm tươi, Bên lời vạn phúc, bên lời hàn huyên {{số|395}} Sánh vai về chốn tư hiên, Góp lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông. Trên yên bút giá thi đồng, Đạm thanh một bức trang tùng treo trên. Phong sương được vẻ thiên nhiên, {{số|400}} Mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi, Sinh rằng: "Phác họa vừa rồi, Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa!" Tay tiên gió táp mưa sa Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu. {{số|405}} Khen: "Tài nhả ngọc, phun châu, Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này! Kiếp tu xưa ví chưa dày, Phúc nào nhắc được giá này cho ngang! Nàng rằng: Trộm liếc dung quang, {{số|410}} Chẳng sân bội ngọc cũng phường kim môn. Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn, Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay? Nhớ từ năm hãy thơ ngây, Có người tướng sĩ đoán ngay một lời: {{số|415}} Anh hoa phát tiết ra ngoài, Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa. Trông người lại ngẫm đến ta, Một dầy một mỏng biết là có nên?' Sinh rằng: Giải cấu là duyên, {{số|420}} Xưa nay nhân định thắng nhiên cũng nhiều. Ví dù giải kết đến điều, Thì đem vàng đá mà liều với thân! Đủ điều trung khúc ân cần, Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng. {{số|425}} Ngày vui ngắn chẳng đầy gang, Trông ra ác đã ngậm gương non đoài. Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai, Giã chàng nàng mới kíp dời song sa. Đến nhà vừa thấy tin nhà, {{số|430}} Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về. Cửa ngoài vội rủ rèm the, Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình. Nhặt thưa gương giọi đầu cành, Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu. {{số|435}} Sinh vừa tựa án thiu thiu, Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê. Tiếng sen sẽ động giấc hòe, Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần. Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần, {{số|440}} Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng. Nàng rằng: Khoảng vắng đêm trường, Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa. Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao? {{số|445}} Vội mừng làm lễ rước vào, Đài sen nối sáp song đào thêm hương. Tiên thề cùng thảo một chương, Tóc mây một món dao vàng chia đôi. Vầng trăng vằng vặc giữa trời, {{số|450}} Đinh ninh hai mặt một lời song song. Tóc tơ căn vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương. Chén hà sánh giọng quỳnh tương, Dải là hương lộn bình gương bóng lồng. {{số|455}} Sinh rằng: Gió mát trăng trong, Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam. Chày sương chưa nện cầu Lam, Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng? Nàng rằng: Hồng diệp xích thằng, {{số|460}} Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri. Đừng điều nguyệt nọ hoa kia. Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai. Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài, Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ. {{số|465}} Thưa rằng: Tiện kỹ sá chi, Đã lòng dạy đến dạy thì phải vâng. Hiên sau treo sẵn cầm trăng, Vội vàng Sinh đã tay nâng ngang mày. Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay, {{số|470}} Làm chi cho bận lòng này lắm thân! So dần dây vũ dây văn, Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương. Khúc đâu Hán Sở chiến trường, Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. {{số|475}} Khúc đâu Tư mã Phượng cầu, Nghe ra như oán như sầu phải chăng! Kê Khang này khúc Quảng lăng, Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân. Qua quan này khúc Chiêu Quân, {{số|480}} Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia. Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. {{số|485}} Ngọn đèn khi tỏ khi mờ, Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu. Khi tựa gối khi cúi đầu, Khi vò chín khúc khi chau đôi mày. Rằng: Hay thì thật là hay, {{số|490}} Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào! Lựa chi những bậc tiêu tao, Dột lòng mình cũng nao nao lòng người? Rằng: Quen mất nết đi rồi, Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao! {{số|495}} Lời vàng âm lĩnh ý cao, Họa dần dần bớt chút nào được không. Hoa hương càng tỏ thức hồng, Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu. Sóng tình dường đã xiêu xiêu, {{số|500}} Xem trong âu yếm có chiều lả lơi. Thưa rằng: đừng lấy làm chơi, Dẽ cho thưa hết một lời đã nao! Vẻ chi một đóa yêu đào, Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh. {{số|505}} Đã cho vào bậc bố kinh, Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầụ Ra tuồng trên Bộc trong dâu, Thì con người ấy ai cầu làm chi! Phải điều ăn xổi ở thì, {{số|510}} Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày! Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay, Lứa đôi ai đẹp lại tày Thôi Trương. Mây mưa đánh đổ đá vàng, Quá chiều nên đã chán chường yến anh. {{số|515}} Trong khi chắp cánh liền cành, Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên. Mái tây để lạnh hương nguyền, Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng. Gieo thoi trước chẳng giữ giàng, {{số|520}} Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai? Vội chi liễu ép hoa nài, Còn thân ắt lại đền bồi có khi! Thấy lời đoan chính dễ nghe, Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân. {{số|525}} Bóng tàu vừa lạt vẻ ngân, Tin đâu đã thấy cửa ngăn gọi vào. Nàng thì vội trở buồng thêu, Sinh thì dạo gót sân đào bước ra. Cửa sài vừa ngỏ then hoa, {{số|530}} Gia đồng vào gởi thư nhà mới sang. Đem tin thúc phụ từ đường, Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề. Liêu dương cách trở sơn khê, Xuân đường kíp gọi sinh về hộ tang. {{số|535}} Mảng tin xiết nỗi kinh hoàng, Băng mình lẻn trước đài trang tự tình. Gót đầu mọi nỗi đinh ninh, Nỗi nhà tang tóc nỗi mình xa xôi: Sự đâu chưa kịp đôi hồi, {{số|540}} Duyên đâu chưa kịp một lời trao tơ, Trăng thề còn đó trơ trơ, Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng. Ngoài nghìn dặm chốc ba đông, Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy! {{số|545}} Gìn vàng giữ ngọc cho hay, Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời. Tai nghe ruột rối bời bời, Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau: Ông tơ ghét bỏ chi nhau, {{số|550}} Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi! Cùng nhau trót đã nặng lời, Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ! Quản bao tháng đợi năm chờ, Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm. {{số|555}} Đã nguyền hai chữ đồng tâm, Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai. Còn non còn nước còn dài, Còn về còn nhớ đến người hôm nay! Dùng dằng chưa nỡ rời tay, {{số|560}} Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà. Ngại ngùng một bước một xa, Một lời trân trọng châu sa mấy hàng. Buộc yên quảy gánh vội vàng, Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai. {{số|565}} Buồn trông phong cảnh quê người, Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa. Não người cữ gió tuần mưa, Một ngày nặng gánh tương tư một ngày. Nàng còn đứng tựa hiên tây, {{số|570}} Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ. Trông chừng khói ngất song thưa, Hoa trôi trác thắm, liễu xơ xác vàng. Tần ngần dạo gót lầu trang, Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về, {{số|575}} Hàn huyên chưa kịp giãi dề, Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao. Người nách thước, kẻ tay đao; Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi. Già giang một lão một trai, {{số|580}} Một dây vô lại buộc hai thâm tình. Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh, Rụng rời khung dệt, tan tành gói may. Đồ tế nhuyễn, của riêng tây, Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham. {{số|585}} Điều đâu bay buộc ai làm? Này ai đan dậm, giật giàm bỗng dưng? Hỏi ra sau mới biết rằng: Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ. Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ, {{số|590}} Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây. Hạ từ van lạy suốt ngày, Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn. Rường cao rút ngược dây oan, Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người. {{số|595}} Mặt trông đau đớn rụng rời, Oan này còn một kêu trời, nhưng xa. Một ngày lạ thói sai nha, Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền. Sao cho cốt nhục vẹn tuyền, {{số|600}} Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao? Duyên hội ngộ, đức cù lao, Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn? Để lời thệ hải minh sơn, Làm con trước phải đền ơn sinh thành. {{số|605}} Quyết tình nàng mới hạ tình: Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha! Họ Chung có kẻ lại già, Cũng trong nha dịch lại là từ tâm. Thấy nàng hiếu trọng tình thâm, {{số|610}} Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay. Tính bài lót đó luồn đây, Có ba trăm lạng việc này mới xuôi. Hãy về tạm phó giam ngoài, Dặn nàng quy liệu trong đôi ba ngày. {{số|615}} Thương tình con trẻ thơ ngây, Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ! Đau lòng tử biệt sinh ly, Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên! Hạt mưa sá nghĩ phận hèn, {{số|620}} Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân. Sự lòng ngỏ với băng nhân, Tin sương đồn đại xa gần xôn xao. Gần miền có một mụ nào, Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh. {{số|625}} Hỏi tên rằng: Mã Giám Sinh. Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần. Quá niên trạc ngoại tứ tuần, Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. Trước thầy sau tớ lao xao {{số|630}} Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang. Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra. Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng! {{số|635}} Ngại ngùng giợn gió e sương, Nhìn hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày. Mối càng vén tóc bắt tay, Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai. Đắn đo cân sắc cân tài, {{số|640}} Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ. Mặn nồng một vẻ một ưa, Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu. Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều, Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường? {{số|645}} Mối rằng: đáng giá nghìn vàng, Gấp nhà nhờ lượng người thương dám nài. Cò kè bớt một thêm hai, Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm. Một lời thuyền đã êm dằm {{số|650}} Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi. Định ngày nạp thái vu quy, Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong! Một lời cậy với Chung công, Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà. {{số|655}} Thương tình con trẻ cha già, Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu: Nuôi con những ước về sau, Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi. Trời làm chi cực bấy trời, {{số|660}} Này ai vu thác cho người hợp tan! Búa rìu bao quản thân tàn, Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già. Một lần sau trước cũng là, Thôi thì mặt khuất chẳng thà lòng đau! {{số|665}} Theo lời càng chảy dòng châu, Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi. Vội vàng kẻ giữ người coi, Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can: Vẻ chi một mảnh hồng nhan, {{số|670}} Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành. Dâng thư đã thẹn nàng Oanh, Lại thua ả Lý bán mình hay sao? Cỗi xuân tuổi hạc càng cao, Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành. {{số|675}} Lòng tơ dù chẳng dứt tình, Gió mưa âu hẳn tan tành nưóc non. Thà rằng liều một thân con, Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây. Phận sao đành vậy cũng vầy, {{số|680}} Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh. Cũng đừng tính quẩn lo quanh, Tan nhà là một thiệt mình là hai. Phải lời ông cũng êm tai, Nhìn nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang. {{số|685}} Mái ngoài họ Mã vừa sang, Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao. Trăng già độc địa làm sao? Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên. Trong tay đã sẵn đồng tiền, {{số|690}} Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì! Họ Chung ra sức giúp vì, Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong. Việc nhà đã tạm thong dong, Tinh kỳ giục giã đã mong độ về. {{số|695}} Một mình nàng ngọn đèn khuya, Áo dầm giọt lệ, tóc xe mối sầu. Phận dầu, dầu vậy cũng dầu, Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời! Công trình kể biết mấy mươi. {{số|700}} Vì ta khăng khít, cho người dở dang. Thề hoa chưa ráo chén vàng, Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa. Trời Liêu non nước bao xa. Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi. {{số|705}} Biết bao duyên nợ thề bồi. Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì. Tái sinh chưa dứt hương thề. Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai. Nợ tình chưa trả cho ai, {{số|710}} Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan. Nỗi riêng riêng những bàng hoàng, Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn. Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân, Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han: {{số|715}} Cơ trời dâu bể đa đoan, Một nhà để chị riêng oan một mình, Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh? Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây? Rằng: Lòng đương thổn thức đầy, {{số|720}} Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong. Hở môi ra cũng thẹn thùng, Để lòng thì phụ tấm lòng với ai. Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. {{số|725}} Giữa đường đứt gánh tương tư, Loan giao chắp mối tơ thừa mặc em. Kể từ khi gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề. Sự đâu sóng gió bất kỳ, {{số|730}} Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai! Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ, thay lời nước non. Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây. {{số|735}} Chiếc thoa với bức tờ mây, Duyên này thì giữ vật này của chung. Dù em nên vợ nên chồng, Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên. Mất người còn chút của tin, {{số|740}} Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa. Mai sao dầu có bao giờ. Đốt lò hương ấy, so tơ phím này. Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. {{số|745}} Hồn còn mang nặng lời thề, Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai; Dạ đài cách mặt khuất lời, Rẩy xin chén nước cho người thác oan. Bây giờ trâm gẫy bình tan, {{số|750}} Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân. Trăm nghìn gửi lại tình quân, Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi. Phận sao phận bạc như vôi, Đã đành nước chẩy hoa trôi lỡ làng. {{số|755}} Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Cạn lời hồn ngất máu say, Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng. Xuân Huyên chợt tỉnh giất nồng, {{số|760}} Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài. Kẻ thang người thuốc bời bời, Mới dằn cơn vựng, chưa phai giọt hồng. Hỏi: Sao ra sự lạ lùng? Kiều càng nức nở mở không ra lời. {{số|765}} Nỗi nàng Vân mới rỉ tai, Chiếc thoa này với tờ bồi ở đây.. Này cha làm lỗi duyên mày, Thôi thì nỗi ấy sau này đã em. Vì ai rụng cải rơi kim, {{số|770}} Để con bèo nổi mây chìm vì ai. Lời con dặn lại một hai, Dẫu mòn bia đá, dám sai tấc vàng. Lậy thôi, nàng lại thưa chiềng, Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi. {{số|775}} Sá chi thân phận tôi đòi, Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu. Xiết bao kể nỗi thảm sầu! Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi. Kiệu hoa đâu đã đến ngoài, {{số|780}} Quản huyền đâu đã giục người sinh ly. Đau lòng kẻ ở người đi, Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm. Trời hôm mây kéo tối rầm, Rầu rầu ngọn cỏ đầm đầm cành sương. {{số|785}} Rước nàng về đến trú phường, Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong. Ngập ngừng thẹn lục e hồng, Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen. Phẩm tiên rơi đến tay hèn, {{số|790}} Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai: Biết thân đến bước lạc loài, Nhị đào thà bẻ cho người tình chung. Vì ai ngăn đón gió đông, Thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi. {{số|795}} Trùng phùng dầu họa có khi, Thân này thôi có còn gì mà mong. Đã sinh ra số long đong, Còn mang lấy kiếp má hồng được sao? Trên yên sẵn có con dao, {{số|800}} Giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn: Phòng khi nước đã đến chân, Dao này thì liệu với thân sau này. Đêm thu một khắc một chầy, Bâng khuâng như tỉnh như say một mình. {{số|805}} Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh, Vẫn là một đứa phong tình đã quen. Quá chơi lại gặp hồi đen, Quen mùi lại kiếm ăn miền nguyệt hoa. Lầu xanh có mụ Tú Bà, {{số|810}} Làng chơi đã trở về già hết duyên. Tình cờ chẳng hẹn mà nên, Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường. Chung lưng mở một ngôi hàng, Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề. {{số|815}} Dạo tìm khắp chợ thì quê, Giả danh hầu hạ dạy nghề ăn chơi. Rủi may âu cũng tại trời, Đoạn trường lại chọn mặt người vô duyên. Xót nàng chút phận thuyền quyên, {{số|820}} Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn. Mẹo lừa đã mắc vào khuôn, Sính nghi rẻ giá nghênh hôn sẵn ngày. Mừng thầm: Cờ đã đến tay! Càng nhìn vẻ ngọc càng say khúc vàng. {{số|825}} Đã nên quốc sắc thiên hương, Một cười này hẳn nghìn vàng chẳng ngoa. Về đây nước trước bẻ hoa, Vương tôn quý khách ắt là đua nhau. Hẳn ba trăm lạng kém đâu, {{số|830}} Cũng đà vừa vốn còn sau thì lời, Miếng ngon kề dến tận nơi, Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham. Đào tiên đã bén tay phàm, Thì vin cành quýt cho cam sự đời! {{số|835}} Dưới trần mấy mặt làng chơi, Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa. Nước vỏ lựu máu mào gà, Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên. Mập mờ đánh lận con đen, {{số|840}} Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi? Mụ già hoặc có điều gì, Liều công mất một buổi quỳ mà thôi. Vả đây đường xá xa xôi, Mà ta bất động nữa người sinh nghi. {{số|845}} Tiếc thay một đóa trà mi, Con ong đã tỏ đường đi lối về. Một cơn mưa gió nặng nề, Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương. Đêm xuân một giấc mơ màng, {{số|850}} Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ. Giọt riêng tầm tã tuôn mưa, Phần căm nỗi khách phần dơ nỗi mình: Tuồng chi là giống hôi tanh, Thân nghìn vàng để ô danh má hồng. {{số|855}} Thôi còn chi nữa mà mong? Đời người thôi thế là xong một đời. Giận duyên tủi phận bời bời, Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh. Nghĩ đi nghĩ lại một mình: {{số|860}} Một mình thì chớ hai tình thì sao? Sao dầu sinh sự thế nào, Truy nguyên chẳng kẻo lụy vào song thân. Nỗi mình âu cũng giãn dần, Kíp chầy thôi cũng một lần mà thôi. {{số|865}} Những là đo đắn ngược xuôi, Tiếng gà nghe đã gáy sôi mái tường. Lầu mai vừa rúc còi sương, Mã Sinh giục giã vội vàng ra đi. Đoạn trường thay lúc phân kỳ! {{số|870}} Vó câu khấp khểnh bóng xe gập ghềnh. Bề ngoài mười dặm trường đình, Vương ông mở tiệc tiễn hành đưa theo. Ngoài thì chủ khách dập dìu, Một nhà huyên với một Kiều ở trong. {{số|875}} Nhìn càng lã chã giọt hồng, Rỉ tai nàng mới giãi lòng thấp cao: Hổ sinh ra phận thơ đào, Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong? Lỡ làng nước đục bụi trong, {{số|880}} Trăm năm để một tấm lòng từ đây. Xem gương trong bấy nhiêu ngày, Thân con chẳng kẻo mắc tay bợm già! Khi về bỏ vắng trong nhà, Khi vào dùng dắng khi ra vội vàng. {{số|885}} Khi ăn khi nói lỡ làng, Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh. Khác màu kẻ quý người thanh, Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn. Thôi con còn nói chi con? {{số|890}} Sống nhờ đất khách thác chôn quê người! Vương bà nghe bấy nhiêu lời, Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên. Vài tuần chưa cạn chén khuyên. Mái ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe. {{số|895}} Xót con lòng nặng trì trì, Trước yên ông đã nằn nì thấp cao: Chút thân yếu liễu tơ đào, Rớp nhà đến nỗi giấn vào tôi ngươi. Từ đây góc bể bên trời, {{số|900}} Nắng mưa thui thủi quê người một thân. Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân, Tuyết sương che chở cho thân cát đằng. Cạn lời khách mới thưa rằng: Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao. {{số|905}} Mai sau dầu dến thế nào, Kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỷ thần! Đùng dùng gió giục mây vần, Một xe trong cõi hồng trần như bay. Trông vời gạt lệ chia tay, {{số|910}} Góc trời thăm thẳm đêm ngày đăm đăm. Nàng thì dặm khách xa xăm, Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây. Vi lô san sát hơi may, Một trời thu để riêng ai một người. {{số|915}} Dặm khuya ngất tạnh mù khơi, Thấy trăng mà thẹn những lời non sông. Rừng thu từng biếc xen hồng, Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn. Những là lạ nước lạ non, {{số|920}} Lâm Truy vừa một tháng tròn tới nơi. Xe châu dừng bánh cửa ngoài, Rèm trong đã thấy một người bước ra. Thoắt trông nhờn nhợt màu da, Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao! {{số|925}} Trước xe lơi lả han chào, Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi. Bên thì mấy ả mày ngài, Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi. Giữa thì hương án hẳn hoi, {{số|930}} Trên treo một tượng trắng đôi lông mày. Lầu xanh quen lối xưa nay, Nghề này thì lấy ông này tiên sư, Hương hôm hoa sớm phụng thờ. Cô nào xấu vía có thưa mối hàng, {{số|935}} Cởi xiêm lột áo sỗ sàng, Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm. Đổi hoa lót xuống chiếu nằm, Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi! Kiều còn ngơ ngẩn biết gì, {{số|940}} Cứ lời lạy xuống mụ thì khấn ngay: Cửa hàng buôn bán cho may, Đêm đêm Hàn thực ngày ngày Nguyên tiêu. Muôn nghìn người thấy cũng yêu, Xôn xao oanh yến rập rìu trúc mai. {{số|945}} Tin nhạn vẩn lá thư bài, Đưa người cửa trước rước người cửa sau. Lạ tai nghe chửa biết đâu, Xem tình ra cũng những màu dở dang. Lễ xong hương hỏa gia đường, {{số|950}} Tú Bà vắt nóc lên giường ngồi ngay. Dạy rằng: Con lạy mẹ đây, Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia. Nàng rằng: Phải bước lưu ly, Phận hèn vâng đã cam bề tiểu tinh. {{số|955}} Điều đâu lấy yến làm oanh, Ngây thơ chẳng biết là danh phận gì? Đủ điều nạp thái vu quy, Đã khi chung chạ lại khi đứng ngồi. Giờ ra thay mặt đổi ngôi, {{số|960}} Dám xin gửi lại một lời cho minh. Mụ nghe nàng nói hay tình, Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên: Này này sự đã quả nhiên, Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi. {{số|965}} Bảo rằng đi dạo lấy người, Đem về rước khách kiếm lời mà ăn. Tuồng vô nghĩa ở bất nhân, Buồn mình trước đã tần mần thử chơi. Màu hồ đã mất đi rồi, {{số|970}} Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma! Con kia đã bán cho ta, Nhập ra phải cứ phép nhà tao đây. Lão kia có giở bài bây, Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe. {{số|975}} Cớ sao chịu tốt một bề, Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao? Phải làm cho biết phép tao! Chập bì tiên rắp sấn vào ra tay. Nàng rằng: Trời thẳm đất dày! {{số|980}} Thân này đã bỏ những ngày ra đi. Thôi thì thôi có tiếc gì! Sẵn dao tay áo tức thì giở ra. Sợ gan nát ngọc liều hoa! Mụ còn trông mặt nàng đà quá tay. {{số|985}} Thương ôi tài sắc bậc này, Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần. Nỗi oan vỡ lở xa gần, Trong nhà người chật một lần như nêm. Nàng thì bằn bặt giấc tiên, {{số|990}} Mụ thì cầm cập mặt nhìn hồn bay. Vực nàng vào chốn hiên tây, Cắt người coi sóc chạy thầy thuốc thang. Nào hay chưa hết trần duyên, Trong mê dường đã đứng bên một nàng. {{số|995}} Rỉ rằng: Nhân quả dở dang, Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao? Số còn nặng nợ má đào, Người dầu muốn quyết trời nào đã cho. Hãy xin hết kiếp liễu bồ, {{số|1000}} Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau. Thuốc thang suốt một ngày thâu, Giấc mê nghe đã dàu dàu vừa tan. Tú Bà chực sẵn bên màn, Lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần: {{số|1005}} Một người dễ có mấy thân! Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài. Cũng là lỡ một lầm hai, Đá vàng sao nỡ ép nài mưa mây! Lỡ chưn trót đã vào đây, {{số|1010}} Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non. Người còn thì của hãy còn, Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà. Làm chi tội báo oán gia, Thiệt mình mà hại đến ta hay gì? {{số|1015}} Kề tai mấy mỗi nằn nì, Nàng nghe dường cũng thị phi rạch ròi. Vả suy thần mộng mấy lời, Túc nhân âu cũng có trời ở trong. Kiếp này nợ trả chưa xong, {{số|1020}} Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau! Lặng nghe, thấm thía gót đầu, Thưa rằng: Ai có muốn đâu thế này? Được như lời, thế là may, Hẳn rằng mai có như rày cho chăng! {{số|1025}} Sợ khi ong bướm đãi đằng, Đến điều sống đục, sao bằng thác trong! Mụ rằng: Con hãy thong dong, Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi! Mai sau ở chẳng như lời, {{số|1030}} Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi. Thấy lời quyết đoán hẳn hoi, Đành lòng, nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần. Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân, Vẻ non xa, tấm trăng gần, ở chung. {{số|1035}} Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia. Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng. Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, {{số|1040}} Tin sương luống những rày trông mai chờ. Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ? {{số|1045}} Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm? Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, {{số|1050}} Hoa trôi man mác, biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ dàu dàu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồị {{số|1055}} Chung quanh những nước non người, Đau lòng lưu lạc, nên vài bốn câu. Ngậm ngùi rủ bước rèm châu, Cách tường, nghe có tiếng đâu họa vần. Một chàng vừa trạc thanh xuân, {{số|1060}} Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng. Nghĩ rằng cũng mạch thư hương, Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh. Bóng Nga thấp thoáng dưới mành, Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai. {{số|1065}} Than ôi! sắc nước hương trời, Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây? Giá đành trong nguyệt trên mây, Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa? Tức gan riêng giận trời già, {{số|1070}} Lòng này ai tỏ cho ta, hỡi lòng? Thuyền quyên ví biết anh hùng, Ra tay tháo cũi, sổ lồng như chơi! Song thu đã khép cánh ngoài, Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh. {{số|1075}} Nghĩ người thôi lại nghĩ mình, Cám lòng chua xót, nhạt tình chơ vơ. Những là lần lữa nắng mưa, Kiếp phong trần biết bao giờ mới thôi? Đánh liều nhắn một hai lời, {{số|1080}} Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân. Mảnh tiên kể hết xa gần, Nỗi nhà báo đáp, nỗi thân lạc loài. Tan sương vừa rạng ngày mai, Tiện hồng nàng mới nhắn lời gửi sang. {{số|1085}} Trời tây lãng đãng bóng vàng, Phúc thư đã thấy tin chàng đến nơi. Mở xem một bức tiên mai, Rành rành tích việt có hai chữ đề. Lấy trong ý tứ mà suy: {{số|1090}} Ngày hai mươi mốt, tuất thì phải chăng? Chim hôm thoi thót về rừng, Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành. Tường đông lay động bóng cành, Rẽ song, đã thấy Sở Khanh lẻn vào. {{số|1095}} Sượng sùng đánh dạn ra chào, Lạy thôi, nàng mới rỉ tai ân cần. Rằng: Tôi bèo bọt chút thân, Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh. Dám nhờ cốt nhục tử sinh, {{số|1100}} Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau! Lặng nghe, lẩm nhẩm gật đầu: Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng! Nàng đà biết đến ta chăng, Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi! {{số|1105}} Nàng rằng: Muôn sự ơn người, Thế nào xin quyết một bài cho xong. Rằng: Ta có ngựa truy phong, Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi. Thừa cơ lẻn bước ra đi, {{số|1110}} Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn. Dù khi gió kép, mưa đơn, Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì! Nghe lời nàng đã sinh nghi, Song đà quá đỗi, quản gì được thân. {{số|1115}} Cũng liều nhắm mắt đưa chân, Mà xem con Tạo xoay vần đến đâu! Cùng nhau lẻn bước xuống lầu, Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn. Đêm thâu khắc lậu canh tàn, {{số|1120}} Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương. Lối mòn cỏ nhợt mù sương, Lòng quê đi một bước đường, một đau. Tiếng gà xao xác gáy mau, Tiếng người đâu đã mái sau dậy dàng. {{số|1125}} Nàng càng thổn thức gan vàng, Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào! Một mình khôn biết làm sao, Dặm rừng bước thấp, bước cao hãi hùng. Hóa nhi thật có nỡ lòng, {{số|1130}} Làm chi dày tía, vò hồng, lắm nau! Một đoàn đổ đến trước sau, Vuốt đâu xuống đất, cánh đâu lên trời. Tú Bà tốc thẳng đến nơi, Hầm hầm áp điệu một hơi lại nhà. {{số|1135}} Hung hăng chẳng nói chẳng tra, Đang tay vùi liễu, giập hoa tơi bời. Thịt da ai cũng là người, Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau. Hết lời thú phục, khẩn cầu, {{số|1140}} Uốn lưng thịt đổ, cất đầu máu sa. Rằng: Tôi chút phận đàn bà, Nước non lìa cửa, lìa nhà, đến đây. Bây giờ sống chết ở tay, Thân này đã đến thế này thì thôi! {{số|1145}} Nhưng tôi có sá chi tôi, Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu? Thân lươn bao quản lấm đầu, Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa! Được lời mụ mới tùy cơ, {{số|1150}} Bắt người bảo lĩnh làm tờ cung chiêu. Bày vai có ả Mã Kiều, Xót nàng, ra mới đánh liều chịu đoan. Mụ càng kể nhặt, kể khoan, Gạn gùng đến mực, nồng nàn mới tha. {{số|1155}} Vực nàng vào nghỉ trong nhà, Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời: Thôi đà mắc lận thì thôi! Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh? Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh, {{số|1160}} Một tay chôn biết mấy cành phù dung! Đà đào lập sẵn chước dùng, Lạ gì một cốt một đồng xưa nay! Có ba mươi lạng trao tay, Không dưng chi có chuyện này, trò kia! {{số|1165}} Rồi ra trở mặt tức thì, Bớt lời, liệu chớ sân si, thiệt đời! Nàng rằng: Thề thốt nặng lời, Có đâu mà lại ra người hiểm sâu! Còn đương suy trước, nghĩ sau, {{số|1170}} Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào. Sở Khanh lên tiếng rêu rao: Rằng nghe mới có con nào ở đây. Phao cho quyến gió rủ mây, Hãy xem có biết mặt này là aỉ {{số|1175}} Nàng rằng: Thôi thế thì thôi! Rằng không, thì cũng vâng lời là không! Sở Khanh quắt mắng đùng đùng, Sấn vào, vừa rắp thị hùng ra tay, Nàng rằng: Trời nhé có hay! {{số|1180}} Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai? Đem người giẩy xuống giếng khơi, Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay! Còn tiên tích việt ở tay, Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai? {{số|1185}} Lời ngay, đông mặt trong ngoài, Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương! Phụ tình án đã rõ ràng, Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui. Buồng riêng, riêng những sụt sùi: {{số|1190}} Nghĩ thân, mà lại ngậm ngùi cho thân. Tiếc thay trong giá trắng ngần, Đến phong trần, cũng phong trần như ai! Tẻ vui cũng một kiếp người, Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru! {{số|1195}} Kiếp xưa đã vụng đường tu, Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi! Dù sao bình đã vỡ rồi, Lấy thân mà trả nợ đời cho xong! Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong, {{số|1200}} Tú Bà ghé lại thong dong dặn dò: Nghề chơi cũng lắm công phu, Làng chơi ta phải biết cho đủ điều. Nàng rằng: Mưa gió dập dìu, Liều thân, thì cũng phải liều thế thôi! {{số|1205}} Mụ rằng: Ai cũng như ai, Người ta ai mất tiền hoài đến đây? Ở trong còn lắm điều hay, Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung. Này con thuộc lấy nằm lòng, {{số|1210}} Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề. Chơi cho liễu chán, hoa chê, Cho lăn lóc đá, cho mê mẩn đời. Khi khóe hạnh, khi nét ngài, Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa. {{số|1215}} Điều là nghề nghiệp trong nhà, Đủ ngần ấy nết, mới là người soi. Gót đầu vâng dạy mấy lời, Dường chau nét nguyệt, dường phai vẻ hồng. Những nghe nói, đã thẹn thùng, {{số|1220}} Nước đời lắm nỗi lạ lùng, khắt khe! Xót mình cửa các, buồng khuê, Vỡ lòng, học lấy những nghề nghiệp hay! Khéo là mặt dạn, mày dày, Kiếp người đã đến thế này thì thôi! {{số|1225}} Thương thay thân phận lạc loài, Dẫu sao cũng ở tay người biết sao? Lầu xanh, mới rủ trướng đào, Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người. Biết bao bướm lả, ong lơi, {{số|1230}} Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm. Dập dìu lá gió, cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh. Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa. {{số|1235}} Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường? Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân? Mặt người mưa Sở, mây Tần, {{số|1240}} Những mình nào biết có xuân là gì! Đôi phen gió tựa, hoa kề, Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu. Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ! {{số|1245}} Đòi phen nét vẽ, câu thơ, Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa, Vui là vui gượng kẻo mà, Ai tri âm đó, mặn mà với ai? Thờ ơ gió trúc, mưa mai, {{số|1250}} Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân. Ôm lòng đòi đoạn xa gần, Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau! Nhớ ơn chín chữ cao sâu, Một ngày một ngả bóng dâu tà tà. {{số|1255}} Dặm ngàn, nước thẳm, non xa, Nghĩ đâu thân phận con ra thế này! Sân hòe đôi chút thơ ngây Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc mình? Nhớ lời nguyện ước ba sinh, {{số|1260}} Xa xôi ai có thấu tình chăng ai? Khi về hỏi liễu Chương đài, Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay. Tình sâu mong trả nghĩa dày, Hoa kia đã chắp cành này cho chưa? {{số|1265}} Mối tình đòi đoạn vò tơ, Giấc hương quan luống lần mơ canh dài. Song sa vò võ phương trời, Nay hoàng hôn, đã lại mai hôn hoàng. Lần lần thỏ bạc ác vàng, {{số|1270}} Xót người trong hội đoạn tràng đòi cơn! Đã cho lấy chữ hồng nhan, Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân! Đã đày vào kiếp phong trần, Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi! {{số|1275}} Khách du bỗng có một người, Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương. Vốn người huyện Tích châu Thường, Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm tri. Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi, {{số|1280}} Thiếp hồng tìm đến hương khuê gửi vào. Trướng tô giáp mặt hoa đào, Vẻ nào chẳng mặn nét nào chăng ưa? Hải đường mơn mởn cành tơ, Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng. {{số|1285}} Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng, Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng? Lạ gì thanh khí lẽ hằng, Một dây một buộc ai giằng cho ra. Sớm đào tối mận lân la, {{số|1290}} Trước còn trăng gió sau ra đá vàng. Dịp đâu may mắn lạ dường, Lại vừa gặp khoảng xuân đường lại quê. Sinh càng một tỉnh mười mê, Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân. {{số|1295}} Khi gió gác khi trăng sân, Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ. Khi hương sớm khi trà trưa, Bàn vây điểm nước đường tơ họa đàn. Miệt mài trong cuộc truy hoan, {{số|1300}} Càng quen thuộc nết càng dan díu tình. Lạ cho cái sóng khuynh thành, Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi. Thúc Sinh quen thói bốc rời, Trăm nghìn đổ một trận cười như không. {{số|1305}} Mụ càng tô lục chuốt hồng, Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê. Dưới trăng quyên đã gọi hè, Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông. Buồng the phải buổi thong dong, {{số|1310}} Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa. Rõ màu trong ngọc trắng ngà! Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên. Sinh càng tỏ nét càng khen, Ngụ tình tay thảo một thiên luật đường. {{số|1315}} Nàng rằng: Vâng biết ý chàng. Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu. Hay hèn lẽ cũng nối điêu, Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang. Lòng còn gửi áng mây Vàng. {{số|1320}} Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay. Rằng: Sao nói lạ lùng thay! Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra? Nàng càng ủ đột thu ba, Đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh: {{số|1325}} Thiếp như hoa đã lìa cành, Chàng như con bướm lượn vành mà chơi. Chúa xuân đành đã có nơi, Vắn ngày thôi chớ dài lời làm chi. Sinh răng: Từ thuở tương tri, {{số|1330}} Tấm riêng riêng những nặng vì nước non. Trăm năm tính cuộc vuông tròn, Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông. Nàng rằng: Muôn đội ơn lòng. Chút e bên thú bên tòng dễ đâu. {{số|1335}} Bình Khang nấn ná bấy lâu, Yêu hoa yêu được một màu điểm trang. Rồi ra lạt phấn phai hương, Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng? Vả trong thềm quế cung trăng, {{số|1340}} Chủ trương đành đã chị Hằng ở trong. Bấy lâu khăng khít dải đồng, Thêm người người cũng chia lòng riêng tây. Vẻ chi chút phận bèo mây, Làm cho bể ái khi đầy khi vơi. {{số|1345}} Trăm điều ngang ngửa vì tôi, Thân sau ai chịu tội trời ấy cho? Như chàng có vững tay co, Mười phần cũng đắp điếm cho một vài. Thế trong dầu lớn hơn ngoài, {{số|1350}} Trươc hàm sư tử gửi người đằng la. Cúi đầu luồn xuống mái nhà, Giấm chua lại tội băng ba lửa nồng. Ở trên còn có nhà thông, Lượng trên trong xuống biết lòng có thương? {{số|1355}} Sá chi liễu ngõ hoa tường? Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh. Lại càng dơ dáng dại hình, Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng. Thương sao cho vẹn thì thương. {{số|1360}} Tính sao cho vẹn mọi đường xin vâng. Sinh rằng: Hay nói đè chừng! Lòng đây lòng đấy chưa từng hay sao Đường xa chớ ngại Ngô Lào, Trăm điều hãy cứ trông vào một ta. {{số|1365}} Đã gần chi có điều xa? Đá vàng đã quyết phong ba cũng liều. Cùng nhau căn vặn đến điều, Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời. Nỉ non đêm ngắn tình dài, {{số|1370}} Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương. Mượn điều trúc viện thừa lương, Rước về hãy tạm giấu nàng một nơi. Chiến hòa sắp sẵn hai bài, Cậy tay thầy thợ mượn người dò la. {{số|1375}} Bắn tin đến mặt Tú Bà, Thua cơ mụ cũng cầu hòa dám sao. Rõ ràng của dẫn tay trao, Hoàn lương một thiếp thân vào cửa công. Công tư đôi lẽ đều xong, {{số|1380}} Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai. Một nhà sum họp trúc mai, Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông. Hương càng đượm lửa càng nồng, Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen. {{số|1385}} Nửa năm hơi tiếng vừa quen, Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng. Giậu thu vừa nảy giò sương, Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi. Phong lôi nổi trận bời bời, {{số|1390}} Nặng lòng e ấp tính bài phân chia. Quyết ngay biện bạch một bề, Dạy cho má phấn lại về lầu xanh. Thấy lời nghiêm huấn rành rành, Đánh liều sinh mới lấy tình nài kêu. {{số|1395}} Rằng: Con biết tội đã nhiều, Đẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam. Trót vì tay đã nhúng chàm, Dại rồi còn biết khôn làm sao đây. Cùng nhau vả tiếng một ngày, {{số|1400}} Ôm cầm ai nỡ dứt dây cho đành. Lượng trên quyết chẳng thương tình, Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi. Thấy lời sắt đá tri tri, Sốt gan ông mới cáo quỳ cửa công. {{số|1405}} Đất bằng nổi sóng đùng đùng, Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra. Cùng nhau theo gót sai nha, Song song vào trước sân hoa lạy quỳ. Trông lên mặt sắt đen sì, {{số|1410}} Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời: Gã kia dại nết chơi bời, Mà con người thế là người đong đưa. Tuồng chi hoa thải hương thừa, Mượn màu son phấn đánh lừa con đen. {{số|1415}} Suy trong tình trạng nguyên đơn, Bề nào thì cũng chưa yên bề nào. Phép công chiếu án luận vào. Có hai đường ấy muốn sao mặc mình. Một là cứ phép gia hình, {{số|1420}} Một là lại cứ lầu xanh phó về. Nàng rằng: đã quyết một bề! Nhện này vương lấy tơ kia mấy lần. Đục trong thân cũng là thân. Yếu thơ vâng chịu trước sân lôi đình! {{số|1425}} Dạy rằng: Cứ phép gia hình! Ba cây chập lại một cành mẫu đơn. Phận đành chi dám kêu oan, Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày. Một sân lầm cát đã đầy, {{số|1430}} Gương lờ nước thủy mai gầy vóc sương. Nghĩ tình chàng Thúc mà thương, Nẻo xa trông thấy lòng càng xót xa. Khóc rằng: Oan khốc vì ta! Có nghe lời trước chẳng đà lụy sau. {{số|1435}} Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu. Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai. Phủ đường nghe thoảng vào tai, Động lòng lại gạn đến lời riêng tây. Sụt sùi chàng mới thưa ngay, {{số|1440}} Đầu đuôi kể lại sự ngày cầu thân: Nàng đà tính hết xa gần, Từ xưa nàng đã biết thân có rày. Tại tôi hứng lấy một tay, Để nàng cho đến nỗi này vì tôi. {{số|1445}} Nghe lời nói cũng thương lời, Dẹp uy mới dạy cho bài giải vi. Rằng: Như hẳn có thế thì Trăng hoa song cũng thị phi biết điều. Sinh rằng: Chút phận bọt bèo, {{số|1450}} Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên. Cười rằng: đã thế thì nên! Mộc già hãy thử một thiên trình nghề. Nàng vâng cất bút tay đề, Tiên hoa trình trước án phê xem tường. {{số|1455}} Khen rằng: Giá đáng Thịnh đường! Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân! Thật là tài tử giai nhân, Châu Trần còn có Châu Trần nào hơn? Thôi đừng rước dữ cưu hờn, {{số|1460}} Làm chi lỡ nhịp cho đòn ngang cung. Đã đưa đến trước cửa công, Ngoài thì là lý song trong là tình. Dâu con trong đạo gia đình, Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong. {{số|1465}} Kíp truyền sắm sửa lễ công, Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao. Bày hàng cổ xúy xôn xao, Song song đưa tới trướng đào sánh đôi. Thương vì hạnh trọng vì tài, {{số|1470}} Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba. Huệ lan sực nức một nhà, Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa. Mảng vui rượu sớm cờ trưa, Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh. {{số|1475}} Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh, E tình nàng mới bày tình riêng chung: Phận bồ từ vẹn chữ tòng, Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên. Tin nhà ngày một vắng tin, {{số|1480}} Mặn tình cát lũy lạt tình tào khang. Nghĩ ra thật cũng nên đường, Tăm hơi ai dễ giữ giàng cho ta? Trộm nghe kẻ lớn trong nhà, Ở vào khuôn phép nói ra mối đường. {{số|1485}} E thay những dạ phi thường, Dễ dò rốn bể khôn lường đáy sông! Mà ta suốt một năm ròng, Thế nào cũng chẳng giấu xong được nàọ Bấy chầy chưa tỏ tiêu hao, {{số|1490}} Hoặc là trong có làm sao chăng là? Xin chàng kíp liệu lại nhà, Trước người đẹp ý sau ta biết tình. Đêm ngày giữ mức giấu quanh, Rày lần mai lữa như hình chưa thông. {{số|1495}} Nghe lời khuyên nhủ thong dong, Đành lòng sinh mới quyết lòng hồi trang. Rạng ra gửi đến xuân đường, Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia. Tiễn đưa một chén quan hà, {{số|1500}} Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình. Sông Tần một dải xanh xanh, Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan. Cầm tay dài ngắn thở than, Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời. {{số|1505}} Nàng rằng: Non nước xa khơi, Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm. Dễ lòa yếm thắm trôn kim, Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng! Đôi ta chút nghĩa đèo bòng, {{số|1510}} Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh. Dù khi sóng gió bất tình, Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi. Hơn điều giấu ngược giấu xuôi. Lại mang những việc tày trời đến sau. {{số|1515}} Thương nhau xin nhớ lời nhau, Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy. Chén đưa nhớ bữa hôm nay, Chén mừng xin đợi ngày này năm sau! Người lên ngựa kẻ chia bào, {{số|1520}} Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Dặm hồng bụi cuốn chinh an, Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh. Người về chiếc bóng năm canh, Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi. {{số|1525}} Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. Kể chi những nỗi dọc đường, Buồn trong này nỗi chủ trương ở nhà: Vốn dòng họ Hoạn danh gia, {{số|1530}} Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư. Duyên đằng thuận nẻo gió đưa, Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày. Ở ăn thì nết cũng hay, Nói điều ràng buộc thì tay cũng già. {{số|1535}} Từ nghe vườn mới thêm hoa, Miệng người đã lắm tin nhà thì không. Lửa tâm càng dập càng nồng, Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa: Ví bằng thú thật cùng ta, {{số|1540}} Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên. Dại chi chẳng giữ lấy nền, Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình? Lại còn bưng bít giấu quanh, Làm chi những thói trẻ ranh nực cười! {{số|1545}} Tính rằng cách mặt khuất lời, Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho! Lo gì việc ấy mà lo, Kiến trong miệng chén có bò đi đâu? Làm cho nhìn chẳng được nhau, {{số|1550}} Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên! Làm cho trông thấy nhãn tiền, Cho người thăm ván bán thuyền biết tay. Nỗi lòng kín chẳng ai hay, Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài. {{số|1555}} Tuần sau bỗng thấy hai người, Mách tin ý cũng liệu bài tâng công. Tiểu thư nổi giận đùng đùng: Gớm tay thêu dệt ra lòng trêu ngươi! Chồng tao nào phải như ai, {{số|1560}} Điều này hẳn miệng những người thị phi! Vội vàng xuống lệnh ra uy, Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng. Trong ngoài kín mít như bưng. Nào ai còn dám nói năng một lời! {{số|1565}} Buồng đào khuya sớm thảnh thơi, Ra vào một mực nói cười như không. Đêm ngày lòng những dặn lòng, Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên. Lời tan hợp nỗi hàn huyên, {{số|1570}} Chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng. Tẩy trần vui chén thong dong, Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra. Chàng về xem ý tứ nhà, Sự mình cũng rắp lân la giãi bày. {{số|1575}} Mấy phen cười nói tỉnh say, Tóc tơ bất động mảy may sự tình. Nghĩ đà bưng kín miệng bình, Nào ai có khảo mà mình đã xưng? Những là e ấp dùng dằng, {{số|1580}} Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi. Có khi vui chuyện mua cười, Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu. Rằng: Trong ngọc đá vàng thau, Mười phần ta đã tin nhau cả mười. {{số|1585}} Khen cho những chuyện dông dài, Bướm ong lại đặt những lời nọ kia. Thiếp dù bụng chẳng hay suy, Đã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười! Thấy lời thủng thỉnh như chơi, {{số|1590}} Thuận lời chàng cũng nói xuôi đỡ đòn. Những là cười phấn cợt son, Đèn khuya chung bóng trăng tròn sánh vai. Thú quê thuần hức bén mùi, Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô. {{số|1595}} Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ, Một màu quan tái mấy mùa gió trăng. Tình riêng chưa dám rỉ răng, Tiểu thư trước đã liệu chừng nhủ qua: Cách năm mây bạc xa xa, {{số|1600}} Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn. Được lời như cởi tấc son, Vó câu chẳng ruổi nước non quê người. Long lanh đáy nước in trời, Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng. {{số|1605}} Roi câu vừa gióng dặm trường, Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh. Thưa nhà huyên hết mọi tình, Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen. Nghĩ rằng: Ngứa ghẻ hờn ghen, {{số|1610}} Xấu chàng mà có ai khen chi mình! Vậy nên ngảnh mặt làm thinh, Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày. Lâm Tri đường bộ tháng chầy, Mà đường hải đạo sang ngay thì gần. {{số|1615}} Dọn thuyền lựa mặt gia nhân, Hãy đem dây xích buộc chân nàng về. Làm cho cho mệt cho mê, Làm cho đau đớn ê chề cho coi! Trước cho bõ ghét những người, {{số|1620}} Sau cho để một trò cười về sau. Phu nhân khen chước rất mầu, Chiều con mới dạy mặc dầu ra tay. Sửa sang buồm gió lèo mây, Khuyển ưng lại chọn một bầy côn quang. {{số|1625}} Dặn dò hết các mọi đường, Thuận phong một lá vượt sang bến Tề. Nàng từ chiếc bóng song the, Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu. Bóng đâu đã xế ngang đầu, {{số|1630}} Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi. Tóc thề đã chấm ngang vai, Nào lời non nước nào lời sắt son. Sắn bìm chút phận cỏn con, Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng? {{số|1635}} Thân sao nhiều nỗi bất bằng, Liều như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao! Đêm thu gió lọt song đào, Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời. Nén hương đến trước Phật đài, {{số|1640}} Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân. Dưới hoa dậy lũ ác nhân, Ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra. Đầy sân gươm tuốt sáng lòa, Thất kinh nàng chửa biết là làm sao. {{số|1645}} Thuốc mê đâu đã rưới vào, Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì. Vực ngay lên ngựa tức thì, Phòng đào viện sách bốn bề lửa dong. Sẵn thây vô chủ bên sông, {{số|1650}} Đem vào để đó lộn sòng ai hay? Tôi đòi phách lạc hồn bay, Pha càn bụi cỏ gốc cây ẩn mình. Thúc ông nhà cũng gần quanh, Chợt trông ngọn lửa thất kinh rụng rời. {{số|1655}} Tớ thầy chạy thẳng đến nơi, Tơi bời tưới lửa tìm người lao xao. Gió cao ngọn lửa càng cao, Tôi đòi tìm đủ nàng nào thấy đâu! Hớt hơ hớt hải nhìn nhau, {{số|1660}} Giếng sâu bụi rậm trước sau tìm quàng. Chạy vào chốn cũ phòng hương, Trong tro thấy một đống xương cháy tàn. Tình ngay ai biết mưu gian, Hẳn nàng thôi lại còn bàn rằng ai! {{số|1665}} Thúc ông sùi sụt ngắn dài, Nghĩ con vắng vẻ thương người nết na. Di hài nhặt gói về nhà, Nào là khâm liệm nào là tang trai. Lễ thường đã đủ một hai, {{số|1670}} Lục trình chàng cũng đến nơi bấy giờ. Bước vào chốn cũ lầu thơ, Tro than một đống nắng mưa bốn tường. Sang nhà cha tới trung đường, Linh sàng bài vị thờ nàng ở trên. {{số|1675}} Hỡi ôi nói hết sự duyên, Tơ tình đứt ruột lửa phiền cháy gan! Gieo mình vật vã khóc than: Con người thế ấy thác oan thế này. Chắc rằng mai trúc lại vầy, {{số|1680}} Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau! Thương càng nghĩ nghĩ càng đau, Dễ ai lấp thảm quạt sầu cho khuây. Gần miền nghe có một thầy, Phi phù trí quỷ cao tay thông huyền. {{số|1685}} Trên tam đảo dưới cửu tuyền, Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng. Sắm sanh lễ vật rước sang, Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han. Đạo nhân phục trước tĩnh đàn, {{số|1690}} Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương. Trở về minh bạch nói tường: Mặt nàng chẳng thấy việc nàng đã tra. Người này nặng kiếp oan gia, Còn nhiều nợ lắm sao đà thoát cho! {{số|1695}} Mệnh cung đang mắc nạn to, Một năm nữa mới thăm dò được tin. Hai bên giáp mặt chiền chiền, Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay! Điều đâu nói lạ dường này, {{số|1700}} Sự nàng đã thế lời thầy dám tin! Chẳng qua đồng cốt quàng xiên, Người đâu mà lại thấy trên cõi trần? Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân, Thân này dễ lại mấy lần gặp tiên. {{số|1705}} Nước trôi hoa rụng đã yên, Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian. Khuyển ưng đã đắt mưu gian, Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền. Buồm cao lèo thẳng cánh suyền, {{số|1710}} Đè chừng huyện Tích băng miền vượt sang. Dỡ đò lên trước sảnh đường, Khuyển ưng hai đứa nộp nàng dâng công. Vực nàng tạm xuống môn phòng, Hãy còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai. {{số|1715}} Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai, Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây? Bàng hoàng giở tỉnh giở say, Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu. A hoàn trên dưới giục mau, {{số|1720}} Hãi hùng nàng mới theo sau một người. Ngước trông tòa rộng dãy dài, Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên. Ban ngày sáp thắp hai bên, Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà. {{số|1725}} Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra, Sự mình nàng phải cứ mà gửi thưa. Bất tình nổi trận mây mưa, Mắng rằng: Những giống bơ thờ quên thân! Con này chẳng phải thiện nhân, {{số|1730}} Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng. Ra tuồng mèo mả gà đồng, Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào. Đã đem mình bán cửa tao, Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này. {{số|1735}} Nào là gia pháp nọ bay! Hãy cho ba chục biết tay một lần. A hoàn trên dưới dạ ran, Dẫu rằng trăm miệng không phân lẽ nào. Trúc côn ra sức đập vào, {{số|1740}} Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh. Xót thay đào lý một cành, Một phen mưa gió tan tành một phen. Hoa nô truyền dạy đổi tên, Buồng the dạy ép vào phiên thị tì. {{số|1745}} Ra vào theo lũ thanh y, Dãi dầu tóc rối da chì quản bao. Quản gia có một mụ nào, Thấy người thấy nết ra vào mà thương. Khi chè chén khi thuốc thang, {{số|1750}} Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh. Dạy rằng: May rủi đã đành, Liểu bồ mình giữ lấy mình cho hay. Cũng là oan nghiệp chi đây, Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng. {{số|1755}} Ở đây tai vách mạch rừng, Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi. Kẻo khi sấm sét bất kỳ, Con ong cái kiến kêu gì được oan? Nàng càng giọt ngọc như chan, {{số|1760}} Nỗi lòng luống những bàng hoàng niềm tây: Phong trần kiếp chịu đã đầy, Lầm than lại có thứ này bằng hai. Phận sao bạc chẳng vừa thôi, Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan. {{số|1765}} Đã đành túc trái tiền oan, Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi. Những là nương náu qua thì, Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia. Mẹ con trò chuyện lân la, {{số|1770}} Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời: Tiểu thư dưới trướng thiếu người, Cho về bên ấy theo đòi lầu trang. Lãnh lời nàng mới theo sang, Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu. {{số|1775}} Sớm khuya khăn mắt lược đầu, Phận con hầu giữ con hầu dám sai. Phải đêm êm ả chiều trời, Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày. Lĩnh lời nàng mới lựa dây, {{số|1780}} Nỉ non thánh thót dễ say lòng người. Tiểu thư xem cũng thương tài, Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân. Cửa người đày đọa chút thân, Sớm ngơ ngẩn bóng đêm năn nỉ lòng. {{số|1785}} Lâm Tri chút nghĩa đèo bồng, Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau. Bốn phương mây trắng một màu, Trông vời cố quốc biết đâu là nhà. Lần lần tháng trọn ngày qua, {{số|1790}} Nỗi gần nào biết đường xa thế này. Lâm Tri từ thuở uyên bay, Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân. Mày ai trăng mới in ngần, Phần thừa hương cũ bội phần xót xa. {{số|1795}} Sen tàn cúc lại nở hoa, Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân. Tìm đâu cho thấy cố nhân? Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương. Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương, {{số|1800}} Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê. Tiểu thư đón cửa giãi giề, Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa. Nhà hương cao cuốn bức là, Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng. {{số|1805}} Bước ra một bước một dừng, Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa: Phải chăng nắng quáng đèn lòa, Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh? Bây giờ tình mới rõ tình, {{số|1810}} Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai. Chước đâu có chước lạ đời? Người đâu mà lại có người tinh ma? Rõ ràng thật lứa đôi ta, Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi. {{số|1815}} Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm giết người không dao. Bây giờ đất thấp trời cao, Ăn làm sao nói làm sao bây giờ? Càng trông mặt càng ngẩn ngơ, {{số|1820}} Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời. Sợ uy dám chẳng vâng lời, Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều. Sinh đà phách lạc hồn siêu: Thương ơi chẳng phải nàng Kiều ở đây? {{số|1825}} Nhân làm sao đến thế này? Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi! Sợ quen dám hở ra lời, Không ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa. Tiểu thư trông mặt hỏi tra: {{số|1830}} Mới về có việc chi mà động dong? Sinh rằng hiếu phục vừa xong, Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên. Khen rằng: Hiếu tử đã nên! Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu. {{số|1835}} Vợ chồng chén tạc chén thù, Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi. Bắt khoan bắt nhặt đến lời, Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay. Sinh càng như dại như ngây, {{số|1840}} Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi. Ngảnh đi chợt nói chợt cười, Cáo say chàng đã giạm bài lảng ra. Tiểu thư vội thét: Con Hoa! Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn. {{số|1845}} Sinh càng nát ruột tan hồn, Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay. Tiểu thư cười nói tỉnh say, Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi. Rằng: Hoa nô đủ mọi tài, {{số|1850}} Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe. Nàng đà tán hoán tê mê, Vâng lời ra trước bình the vặn đàn. Bốn dây như khóc như than, Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng. {{số|1855}} Cùng chung một tiếng tơ đồng, Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm. Giọt châu lã chã khôn cầm, Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương. Tiểu thư lại thét lấy nàng: {{số|1860}} Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi? Sao chẳng biết ý tứ gì? Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi. Sinh càng thảm thiết bồi hồi, Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua. {{số|1865}} Giọt rồng canh đã điểm ba, Tiểu thư nhìn mặt dường đà can tâm. Lòng riêng khấp khởi mừng thầm: Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay. Sinh thì gan héo ruột đầy, {{số|1870}} Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng. Người vào chung gối loan phòng, Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài: Bây giờ mới rõ tăm hơi, Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen! {{số|1875}} Chước đâu rẽ thúy chia uyên, Ai ra đường nấy ai nhìn được ai. Bây giờ một vực một trời, Hết điều khinh trọng hết lời thị phi. Nhẹ như bấc nặng như chì, {{số|1880}} Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên? Lỡ làng chút phận thuyền quyên, Bể sâu sóng cả có tuyền được vay? Một mình âm ỉ đêm chày, Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh. {{số|1885}} Sớm trưa hầu hạ đài doanh, Tiểu thư chạm mặt đè tình hỏi tra. Lựa lời nàng mới thưa qua: Phải khi mình lại xót xa nỗi mình. Tiểu thư hỏi lại Thúc Sinh: {{số|1890}} Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao! Sinh đà rát ruột như bào, Nói ra chẳng tiện trông vào chẳng đang! Những e lại lụy đến nàng, Đánh liều mới sẽ lựa đường hỏi tra. {{số|1895}} Cúi đầu quỳ trước sân hoa, Thân cung nàng mới dâng qua một tờ. Diện tiền trình với Tiểu thư, Thoạt xem dường có ngẩn ngơ chút tình. Liền tay trao lại Thúc Sinh, {{số|1900}} Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương! Ví chăng có số giàu sang, Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên! Bể trần chìm nổi thuyền quyên, Hữu tài thương nỗi vô duyên lạ đời! {{số|1905}} Sinh rằng: Thật có như lời, Hồng nhan bạc mệnh một người nào vay! Nghìn xưa âu cũng thế này, Từ bi âu liệu bớt tay mới vừa. Tiểu thư rằng: ý trong tờ, {{số|1910}} Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa Không. Thôi thì thôi cũng chiều lòng, Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra. Sẵn Quan âm các vườn ta, Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa. {{số|1915}} Có cổ thụ, có sơn hồ, Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh. Tàng tàng trời mới bình minh, Hương hoa, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường. Đưa nàng đến trước Phật đường, {{số|1920}} Tam quy, ngũ giới, cho nàng xuất gia. Áo xanh đổi lấy cà sa, Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền. Sớm khuya sắm đủ dầu đèn, Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà. {{số|1925}} Nàng từ lánh gót vườn hoa, Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng. Nhân duyên đâu lại còn mong, Khỏi điều thẹn phấn, tủi hồng thì thôi. Phật tiền thảm lấp sầu vùi, {{số|1930}} Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương. Cho hay giọt nước cành dương, Lửa lòng tưới tắt mọi đường trần duyên. Nâu sồng từ trở màu thiền, Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu, {{số|1935}} Cửa thiền, then nhặt, lưới mau, Nói lời trước mặt, rời châu vắng người. Gác kinh viện sách đôi nơi, Trong gang tấc lại gấp mười quan san. Những là ngậm thở nuốt than, {{số|1940}} Tiểu thư phải buổi vấn an về nhà. Thừa cơ, sinh mới lẻn ra, Xăm xăm đến mé vườn hoa với nàng. Sụt sùi giở nỗi đoạn tràng, Giọt châu tầm tã đẫm tràng áo xanh: {{số|1945}} Đã cam chịu bạc với tình, Chúa xuân để tội một mình cho hoa! Thấp cơ thua trí đàn bà, Trông vào đau ruột nói ra ngại lời. Vì ta cho lụy đến người, {{số|1950}} Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh! Quản chi lên thác xuống ghềnh, Cũng toan sống thác với tình cho xong. Tông đường chút chửa cam lòng, Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai. {{số|1955}} Thẹn mình đá nát vàng phai, Trăm thân dễ chuộc một lời được sao? Nàng rằng: Chiếc bách sóng đào, Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may! Chút thân quằn quại vũng lầy, {{số|1960}} Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao? Cũng liều một giọt mưa rào, Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay! Xót vì cầm đã bén dây, Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta. {{số|1965}} Liệu bài mở cửa cho ra, Ấy là tình nặng ấy là ân sâu! Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu, Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường. Nữa khi giông tố phũ phàng, {{số|1970}} Thiệt riêng đó cũng lại càng cực đây. Liệu mà xa chạy cao bay, Ái ân ta có ngần này mà thôi! Bâu giờ kẻ ngược người xuôi, Biết bao giờ lại nối lời nước non? {{số|1975}} Dẫu rằng sông cạn đá mòn, Con tằm đến thác cũng còn vướng tơ! Cùng nhau kể lể sau xưa, Nói rồi lại nói, lời chưa hết lời. Mặt trông tay chẳng nỡ rời, {{số|1980}} Hoa tì đã động tiếng người nẻo xa. Nhận ngừng, nuốt tủi, lảng ra, Tiểu thư đâu đã rẽ hoa bước vào. Cười cười, nói nói ngọt ngào, Hỏi: Chàng mới ở chốn nào lại chơi? {{số|1985}} Dối quanh Sinh mới liệu lời: Tìm hoa quá bước, xem người viết kinh. Khen rằng: Bút pháp đã tinh, So vào với thiếp Lan đình nào thua! Tiếc thay lưu lạc giang hồ, {{số|1990}} Nghìn vàng, thật cũng nên mua lấy tài! Thiền trà cạn chén hồng mai, Thong dong nối gót thư trai cùng về. Nàng càng e lệ ủ ê, Rỉ tai, hỏi lại hoa tì trước sau. {{số|1995}} Hoa rằng: Bà đã đến lâu, Rón chân đứng nép độ đâu nữa giờ. Rành rành kẽ tóc chân tơ, Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường. Bao nhiêu đoạn khổ, tình thương, {{số|2000}} Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than. Ngăn tôi đứng lại một bên, Chán tai rồi mới bước lên trên lầu. Nghe thôi kinh hãi xiết đâu: Đàn bà thế ấy thấy âu một người! {{số|2005}} Ấy mới gan ấy mới tài, Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời! Người đâu sâu sắc nước đời, Mà chàng Thúc phải ra người bó tay! Thực tang bắt được dường này, {{số|2010}} Máu ghen ai cũng chau mày nghiến răng. Thế mà im chẳng đãi đằng, Chào mời vui vẻ nói năng dịu dàng! Giận dầu ra dạ thế thường, Cười dầu mới thực khôn lường hiểm sâu! {{số|2015}} Thân ta ta phải lo âu, Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này! Ví chăng chắp cánh cao bay, Rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa! Phận bèo bao quản nước sa, {{số|2020}} Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh. Chỉn e quê khách một mình, Tay không chưa dễ tìm vành ấm no! Nghĩ đi nghĩ lại quanh co, Phật tiền sẵn có mọi đồ kim ngân. {{số|2025}} Bên mình giắt để hộ thân, Lần nghe canh đã một phần trống ba. Cất mình qua ngọn tường hoa, Lần đường theo bóng trăng tà về tây. Mịt mù dặm cát đồi cây, {{số|2030}} Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương. Canh khuya thân gái dặm trường, Phần e đường xá, phần thương dãi dầu! Trời đông vừa rạng ngàn dâu, Bơ vơ nào đã biết đâu là nhà! {{số|2035}} Chùa đâu trông thấy nẻo xa, Rành rành Chiêu ẩn am ba chữ bài. Xăm xăm gõ mái cửa ngoài, Trụ trì nghe tiếng, rước mời vào trong. Thấy màu ăn mặc nâu sồng, {{số|2040}} Giác duyên sư trưởng lành lòng liền thương. Gạn gùng ngành ngọn cho tường, Lạ lùng nàng hãy tìm đường nói quanh: Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh, Quy sư, quy Phật, tu hành bấy lâu. {{số|2045}} Bản sư rồi cũng đến sau, Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh. Rày vâng diện hiến rành rành, Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra. Xem qua sư mới dạy qua: {{số|2050}} Phải nơi Hằng Thủy là ta hậu tình. Chỉ e đường sá một mình, Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày. Gửi thân được chốn am mây, Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong. {{số|2055}} Kệ kinh câu cũ thuộc lòng, Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay. Sớm khuya lá bối phướn mây, Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương. Thấy nàng thông tuệ khác thường, {{số|2060}} Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân. Cửa thuyền vừa tiết cuối xuân, Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời. Gió quang mây tạnh thảnh thơi, Có người đàn việt lên chơi cửa Già. {{số|2065}} Giở đồ chuông khánh xem qua, Khen rằng: Khéo giống của nhà Hoạn nương! Giác Duyên thực ý lo lường, Đêm thanh mới hỏi lại nàng trước sau. Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu, {{số|2070}} Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay: Bây giờ sự đã dường này, Phận hèn dù rủi, dù may, tại người. Giác Duyên nghe nói rụng rời, Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong. {{số|2075}} Rỉ tai nàng mới giãi lòng: Ở đây cửa Phật là không hẹp gì; E chăng những sự bất kỳ, Để nàng cho đến thế thì cũng thương! Lánh xa, trước liệu tìm đường, {{số|2080}} Ngồi chờ nước đến, nên đường còn quê! Có nhà họ Bạc bên kia, Am mây quen lối đi về dầu hương. Nhắn sang, dặn hết mọi đường, Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân. {{số|2085}} Những mừng được chốn an thân, Vội vàng nào kịp tính gần tính xa. Nào ngờ cũng tổ bợm già, Bạc bà học với Tú Bà đồng môn! Thấy nàng mặt phấn tươi son, {{số|2090}} Mừng thầm được mối bán buôn có lời. Hư không đặt để nên lời, Nàng đà nhớn nhác rụng rời lắm phen. Mụ càng xua đuổi cho liền, Lấy lời hung hiểm ép duyên Châu Trần. {{số|2095}} Rằng: Nàng muôn dặm một thân, Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa. Khéo oan gia, của phá gia, Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây! Kíp toan kiếm chốn xe dây, {{số|2100}} Không dưng chưa dễ mà bay đường trời! Nơi gần thì chẳng tiện nơi, Nơi xa thì chẳng có người nào xa. Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà, Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai. {{số|2105}} Cửa hàng buôn bán châu Thai, Thực thà có một, đơn sai chẳng hề. Thế nào nàng cũng phải nghe, Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai. Bấy giờ ai lại biết ai, {{số|2110}} Dầu lòng bể rộng sông dài thênh thênh. Nàng dù quyết chẳng thuận tình, Trái lời nẻo trước lụy mình đến sau. Nàng càng mặt ủ mày chau, Càng nghe mụ nói, càng đau như dần. {{số|2115}} Nghĩ mình túng đất, sẩy chân, Thế cùng nàng mới xa gần thở than: Thiếp như con én lạc đàn, Phải cung rày đã sợ làn cây cong! Cùng đường dù tính chữ tòng, {{số|2120}} Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao? Nữa khi muôn một thế nào, Bán hùm, buôn sói, chắc vào lưng đâu? Dù ai lòng có sở cầu, Tâm mình xin quyết với nhau một lời. {{số|2125}} Chứng minh có đất, có Trời, Bấy giờ vượt bể ra khơi quản gì? Được lời mụ mới ra đi, Mách tin họ Bạc tức thì sắm sanh. Một nhà dọn dẹp linh đình, {{số|2130}} Quét sân, đặt trác, rửa bình, thắp nhang. Bạc sinh quỳ xuống vội vàng, Quá lời nguyện hết Thành hoàng, Thổ công. Trước sân lòng đã giãi lòng, Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên. {{số|2135}} Thành thân mới rước xuống thuyền, Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai. Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi, Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày. Cũng nhà hành viện xưa nay, {{số|2140}} Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người. Xem người định giá vừa rồi, Mối hàng một, đã ra mười, thì buông. Mượn người thuê kiệu rước nường, Bạc đem mặt bạc, kiếm đường cho xa! {{số|2145}} Kiệu hoa đặt trước thềm hoa, Bên trong thấy một mụ ra vội vàng. Đưa nàng vào lạy gia đường, Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh! Thoắt trông nàng đã biết tình, {{số|2150}} Chim lồng khốn lẽ cất mình bay cao. Chém cha cái số hoa đào, Gỡ ra, rồi lại buộc vào như chơi! Nghĩ đời mà chán cho đời, Tài tình chi lắm, cho trời đất ghen! {{số|2155}} Tiếc thay nước đã đánh phèn, Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần! Hồng quân với khách hồng quần, Đã xoay đến thế, còn vần chửa tha. Lỡ từ lạc bước bước ra, {{số|2160}} Cái thân liệu những từ nhà liệu đi. Đầu xanh đã tội tình chi? Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi. Biết thân chạy chẳng khỏi trời, Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh. {{số|2165}} Lần thu gió mát trăng thanh, Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi, Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao. Đường đường một đấng anh hào, {{số|2170}} Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài. Đội trời đạp đất ở đời, Họ Từ tên Hải, vốn người Việt đông. Giang hồ quen thú vẫy vùng, Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo. {{số|2175}} Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều, Tấm lòng nhi nữ cùng xiêu anh hùng. Thiếp danh đưa đến lầu hồng, Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa. Từ rằng: Tâm phúc tương cờ {{số|2180}} Phải người trăng gió vật vờ hay sao? Bấy lâu nghe tiếng má đào, Mắt xanh chẳng để ai vào có không? Một đời được mấy anh hùng, Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi! {{số|2185}} Nàng rằng: Người dạy quá lời, Thân này còn dám xem ai làm thường! Chút riêng chọn đá thử vàng, Biết đâu mà gởi can tràng vào đâu? Còn như vào trước ra sau, {{số|2190}} Ai cho kén chọn vàng thau tại mình. Từ rằng: Lời nói hữu tình, Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân. Lại đây xem lại cho gần, Phỏng tin được một vài phần hay không? {{số|2195}} Thưa rằng: Lượng cả bao dong, Tấn Dương được thấy mây rồng có phen. Rộng thương cỏ nội hoa hèn, Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau! Nghe lời vừa ý gật đầu, {{số|2200}} Cười rằng: Tri kỷ trước sau mấy người! Khen cho con mắt tinh đời, Anh hùng đoán giữa trần ai mới già! Một lời đã biết tên ta, Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau! {{số|2205}} Hai bên ý hợp tâm đầu, Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân! Ngỏ lời nói với băng nhân, Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn. Buồn riêng sửa chốn thanh nhàn, {{số|2210}} Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên. Trai anh hùng, gái thuyền nguyên, Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng. Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. {{số|2215}} Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm, yên ngựa lên đàng thẳng rong. Nàng rằng: Phận gái chữ tòng, Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi! Từ rằng: Tâm phúc tương tri, {{số|2220}} Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường Làm cho rõ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia, {{số|2225}} Bằng ngay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận, biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu, Chầy chăng là một năm sau vội gì? Quyết lời rứt áo ra đi, {{số|2230}} Cánh bằng tiện gió cất lìa dậm khơi. Nàng thì chiếc bóng song mai, Đêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây. Sân rêu chẳng vẽ dấu giầy, Cỏ cao hơn thước, liễu gầy vài phân. {{số|2235}} Đoái thương muôn dặm tử phần Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa; Xót thay huyên cỗi xuân già, Tấm lòng thương nhớ, biết là có nguôi. Chốc là mười mấy năm trời, {{số|2240}} Còn ra khi đã da mồi tóc sương. Tiếc thay chút nghĩa cũ càng, Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng! Duyên em dù nối chỉ hồng, May ra khi đã tay bồng tay mang. {{số|2245}} Tấc lòng cố quốc tha hương, Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời. Cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm. Đêm ngày luống những âm thầm, {{số|2250}} Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương, Ngất trời sát khí mơ màng, Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh. Người quen kẻ thuộc chung quanh Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi. {{số|2255}} Nàng rằng: Trước đã hẹn lời, Dẫu trong nguy hiểm dám rời ước xưa. Còn đương dùng dắng ngẩn ngơ Mái ngoài đã thấy bóng cờ tiếng loa. Giáp binh kéo đến quanh nhà, {{số|2260}} Đồng thanh cùng gửi: nào là phu nhân? Hai bên mười vị tướng quân, Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu. Cung nga, thể nữ nối sau, Rằng: Vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy. {{số|2265}} Sẵn sàng phượng liễn loan nghi, Hoa quan phấp phới hà y rỡ ràng. Dựng cờ, nổi trống lên đàng, Trúc tơ nổi trước, kiệu vàng theo sau. Hỏa bài tiền lộ ruổi mau, {{số|2270}} Nam đình nghe động trống chầu đại doanh. Kéo cờ lũy, phát súng thành, Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài. Rỡ mình, là vẻ cân đai, Hãy còn hàm én mày ngài như xưa. {{số|2275}} Cười rằng: Cá nước duyên ưa, Nhớ lời nói những bao giờ hay không? Anh hùng mới biết anh hùng, Rầy xem phỏng đã cam lòng ấy chưa? Nàng rằng: Chút phận ngây thơ, {{số|2280}} Cũng may dây cát được nhờ bóng cây. Đến bây giờ mới thấy đây, Mà lòng đã chắc những ngày một hai. Cùng nhau trông mặt cả cười, Dan tay về chốn trướng mai tự tình. {{số|2285}} Tiệc bày thưởng tướng khao binh Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân. Vinh hoa bõ lúc phong trần, Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày. Trong quân có lúc vui vầy, {{số|2290}} Thong dong mới kể sự ngày hàn vi: Khi Vô Tích, khi Lâm Tri, Nơi thì lừa đảo, nời thì xót thương. Tấm thân rày đã nhẹ nhàng, Chút còn ân oán đôi đàng chưa xong. {{số|2295}} Từ Công nghe nói thủy chung, Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang. Nghiêm quân tuyển tướng sẵn sàng, Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao. Ba quân chỉ ngọn cờ đào, {{số|2300}} Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri, Mấy người phụ bạc xưa kia, Chiếu danh tầm nã bắt về hỏi tra. Lại sai lệnh tiễn truyền qua, Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên. {{số|2305}} Mụ quản gia, vãi Giác Duyên, Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời. Thệ sư kể hết mọi lời, Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy! Đạo trời báo phục chỉn ghê, {{số|2310}} Khéo thay! Một mẻ tóm về đầy nơi, Quân trung gươm lớn áo dài, Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi. Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi, Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân. {{số|2315}} Trướng hùm mở giữa trung quân, Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi. Tiên nghiêm trống chửa dứt hồi Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên. Từ rằng: ân, oán hai bên, {{số|2320}} Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh Nàng rằng: Nhờ cậy uy linh, Hãy xin báo đáp ân tình cho phu. Báo ân rồi sẽ trả thù. Từ rằng: Việc ấy phó cho mặc nàng. {{số|2325}} Cho gươm mời đến Thúc lang, Mặt như chàm đổ, mình giường giẽ run. Nàng rằng: Nghĩa trọng nghìn non, Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không? Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng, {{số|2330}} Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân? Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân, Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là! Vợ chàng quỷ quái tinh ma, Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau! {{số|2335}} Kiến bò miệng chén chưa lâu, Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa. Thúc Sinh trông mặt bấy giờ, Mồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm. Lòng riêng mừng sợ khôn cầm, {{số|2340}} Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai. Mụ già, sư trưởng thứ hai, Thoắt đưa đến trước vội mời lên trên: Dắt tay mở mặt cho nhìn: Hoa Nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi. {{số|2345}} Nhớ khi lỡ bước xẩy vời, Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương. Nghìn vàng gọi chút lễ thường, Mà lòng phiếu mẫu mấy vàng cho cân? Hai người, trông mặt tần ngần, {{số|2350}} Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mừng vui. Nàng rằng: Xin hãy dốn ngôi, Xem cho rõ mặt, biết tôi báo thù! Kíp truyền chư tướng hiến phù, Lại đem các tích phạm tù hậu tra. {{số|2355}} Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra, Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư. Thoạt trông nàng đã chào thưa: Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây? Đàn bà dễ có mấy tay, {{số|2360}} Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan? Dễ dàng là thói hồng nhan, Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều! Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu, Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca. {{số|2365}} Rằng: Tôi chút dạ đàn bà, Ghen tuông thì cũng người ta thường tình, Nghĩ cho khi gác viết kinh, Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo. Lòng riêng riêng những kính yêu; {{số|2370}} Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai. Trót lòng gây việc chông gai, Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng? Khen cho: Thật đã nên rằng, Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời, {{số|2375}} Tha ra thì cũng may đời, Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen. Đã lòng tri quá thì nên, Truyền quân lệnh xuống trường tiền tha ngay. Tạ lòng lạy trước sân may, {{số|2380}} Cửa viên lại dắt một dây dẫn vào, Nàng rằng: Lồng lộng trời cao, Hại nhân, nhân hại sự nào tại ta? Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà, Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh. {{số|2385}} Tú Bà cùng Mã Giám Sinh, Các tên tội ấy đáng tình còn sao? Lệnh quân truyền xuống nội đao, Thề sao thì lại cứ sao gia hình, Máu rơi thịt nát tan tành, {{số|2390}} Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời. Cho hay muôn sự tại trời, Phụ người, chẳng bõ khi người phụ ta! Mấy người bạc ác tinh ma, Mình làm mình chịu kêu mà ai thương. {{số|2395}} Ba quân đông mặt pháp trường, Thanh thiên, bạch nhật rõ ràng cho coi. Việc nàng báo phục vừa rồi, Giác Duyên vội vã gởi lời từ quy. Nàng rằng: Thiên tải nhất thì, {{số|2400}} Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn. Rồi đây bèo hợp mây tan, Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu! Sư rằng: Cũng chẳng bao lâu, Trong năm năm lại gặp nhau đó mà. {{số|2405}} Nhớ ngày hành cước phương xa, Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri. Bảo cho hội ngộ chi kỳ, Năm nay là một nữa thì năm năm. Mới hay tiền định chẳng lầm, {{số|2410}} Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau. Còn nhiều ân ái với nhau, Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì? Nàng rằng: Tiền định tiên tri, Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai. {{số|2415}} Họa bao giờ có gặp người, Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân. Giác Duyên vâng dặn ân cần, Tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài. Nàng từ ân oán rạch ròi, {{số|2420}} Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng. Tạ ân lạy trước Từ công: Chút thân bồ liễu nào mong có rày! Trộm nhờ sấm sét ra tay, Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi! {{số|2425}} Chạm xương chép dạ xiết chi, Dễ đem gan óc đền nghì trời mây! Từ rằng: Quốc sĩ xưa nay, Chọn người tri kỷ một ngày được chăng? Anh hùng tiếng đã gọi rằng, {{số|2430}} Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha! Huống chi việc cũng việc nhà, Lọ là thâm tạ mới là tri ân. Xót nàng còn chút song thân, Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa. {{số|2435}} Sao cho muôn dặm một nhà, Cho người thấy mặt là ta cam lòng. Vội truyền sửa tiệc quân trung, Muôn binh nghìn tướng hội đồng tẩy oan. Thừa cơ trúc chẻ ngói tan, {{số|2440}} Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài. Triều đình riêng một góc trời, Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà. Đòi phen gió quét mưa sa, Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam. {{số|2445}} Phong trần mài một lưỡi gươm, Những loài giá áo túi cơm sá gì! Nghênh ngang một cõi biên thùy, Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương! Trước cờ ai dám tranh cường, {{số|2450}} Năm năm hùng cứ một phương hải tần. Có quan tổng đốc trọng thần, Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài. Đẩy xe vâng chỉ đặc sai, Tiện nghi bát tiểu việc ngoài đổng nhung. {{số|2455}} Biết Từ là đấng anh hùng, Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn. Đóng quân làm chước chiêu an, Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng. Lại riêng một lễ với nàng, {{số|2460}} Hai tên thể nữ ngọc vàng nghìn cân. Tin vào gởi trước trung quân, Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ. Một tay gây dựng cơ đồ, Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành! {{số|2465}} Bó thân về với triều đình, Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu? Áo xiêm ràng buộc lấy nhau, Vào luồn ra cúi công hầu mà chi? Sao bằng riêng một biên thùy, {{số|2470}} Sức này đã dễ làm gì được nhau? Chọc trời khuấy nước mặc dầu, Dọc ngang nào biết trên đầu có ai? Nàng thời thật dạ tin người, Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu. {{số|2475}} Nghĩ mình mặt nước cánh bèo, Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân. Bằng nay chịu tiếng vương thần, Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì! Công tư vẹn cả hai bề, {{số|2480}} Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương. Cũng ngôi mệnh phụ đường đường, Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha. Trên vì nước dưới vì nhà, Một là đắc hiếu hai là đắc trung. {{số|2485}} Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng, E dè sóng vỗ hãi hùng cỏ hoa. Nhân khi bàn bạc gần xa, Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào. Rằng: Trong Thánh trạch dồi dào, {{số|2490}} Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu. Bình thành công đức bấy lâu, Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao. Ngẫm từ gây việc binh đao, Đống xương Vô định đã cao bằng đầu. {{số|2495}} Làm chi để tiếng về sau, Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào! Sao bằng lộc trọng quyền cao, Công danh ai dứt lối nào cho qua? Nghe lời nàng nói mặn mà, {{số|2500}} Thế công Từ mới trở ra thế hàng. Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng, Hẹn kỳ thúc giáp quyết đường giải binh. Tin lời thành hạ yêu minh, Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng. {{số|2505}} Việc binh bỏ chẳng giữ giàng, Vương sư dòm đã tỏ tường thực hư. Hồ công quyết kế thừa cơ, Lễ tiên binh hậu khắc cờ tập công. Kéo cờ chiêu phủ tiên phong, {{số|2510}} Lễ nghi dàn trước bác đồng phục sau. Từ công hờ hững biết đâu, Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên. Hồ công ám hiệu trận tiền, Ba bề phát súng bốn bên kéo cờ. {{số|2515}} Đương khi bất ý chẳng ngờ, Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn! Tử sinh liều giữa trận tiền, Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân! Khí thiêng khi đã về thần, {{số|2520}} Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng! Trơ như đá vững như đồng, Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời. Quan quân truy sát đuổi dài. Ầm ầm sát khí ngất trời ai đang. {{số|2525}} Trong hào ngoài lũy tan hoang, Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi. Trong vòng tên đá bời bời, Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ. Khóc rằng: Trí dũng có thừa, {{số|2530}} Bởi nghe lời thiếp nên cơ hội này! Mặt nào trông thấy nhau đây? Thà liều sống thác một ngày với nhau! Dòng thu như dội cơn sầu, Dứt lời nàng cũng gieo đầu một bên. {{số|2535}} Lạ thay oan khí tương triền! Nàng vừa phục xuống Từ liền ngã ra. Quan quân kẻ lại người qua, Xót nàng sẽ lại vực ra dần dần. Đem vào đến trước trung quân, {{số|2540}} Hồ công thấy mặt ân cần hỏi han. Rằng: Nàng chút phận hồng nhan, Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương! Đã hay thành toán miếu đường, Giúp công cũng có lời nàng mới nên. {{số|2545}} Bây giờ sự đã vẹn tuyền, Mặc lòng nghĩ lấy muốn xin bề nào? Nàng càng giọt ngọc tuôn dào, Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng. Rằng: Từ là đấng anh hùng, {{số|2550}} Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi! Tin tôi nên quá nghe lời, Đem thân bách chiến làm tôi triều đình. Ngỡ là phu quý phụ vinh, Ai ngờ một phút tan tành thịt xương! {{số|2555}} Năm năm trời bể ngang tàng, Đem mình đi bỏ chiến trường như không. Khéo khuyên kể lấy làm công, Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu! Xét mình công ít tội nhiều, {{số|2560}} Sống thừa tôi đã nên liều mình tôi! Xin cho tiện thổ một doi, Gọi là đắp điếm cho người tử sinh. Hồ công nghe nói thương tình, Truyền cho cảo táng di hình bên sông. {{số|2565}} Trong quân mở tiệc hạ công, Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan. Bắt nàng thị yến dưới màn, Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu. Một cung gió thảm mưa sầu, {{số|2570}} Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay! Ve ngâm vượn hót nào tày, Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu. Hỏi rằng: Này khúc ở đâu? Nghe ra muôn oán nghìn sầu lắm thay! {{số|2575}} Thưa rằng: Bạc mệnh khúc này, Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ. Cung cầm lựa những ngày xưa, Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây! Nghe càng đắm ngắm càng say, {{số|2580}} Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình! Dạy rằng: Hương lửa ba sinh, Dây loan xin nối cầm lành cho ai. Thưa rằng: Chút phận lạc loài, Trong mình nghĩ đã có người thác oan. {{số|2585}} Còn chi nữa cánh hoa tàn, Tơ lòng đã dứt dây đàn Tiểu Lân. Rộng thương còn mảnh hồng quần, Hơi tàn được thấy gốc phần là may! Hạ công chén đã quá say, {{số|2590}} Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra. Nghĩ mình phương diện quốc gia, Quan trên nhắm xuống người ta trông vào. Phải tuồng trăng gió hay sao, Sự này biết tính thế nào được đây? {{số|2595}} Công nha vừa buổi rạng ngày, Quyết tình Hồ mới đoán ngay một bài. Lệnh quan ai dám cãi lời, Ép tình mới gán cho người thổ quan. Ông tơ thực nhẽ đa đoan! {{số|2600}} Xe tơ sao khéo vơ quàng vơ xiên? Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền, Lá màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao. Nàng càng ủ liễu phai đào, Trăm phần nào có phần nào phần tươi? {{số|2605}} Đành thân cát lấp sóng vùi, Cướp công cha mẹ thiệt đời thông minh! Chân trời mặt bể lênh đênh, Nắm xương biết gởi tử sinh chốn nào, Duyên đâu ai dứt tơ đào, {{số|2610}} Nợ đâu ai đã dắt vào tận tay! Thân sao thân đến thế này? Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi! Đã không biết sống là vui, Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương! {{số|2615}} Một mình cay đắng trăm đường, Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi! Mảnh trăng đã gác non đoài, Một mình luống những đứng ngồi chưa xong. Triều đâu nổi tiếng đùng đùng, {{số|2620}} Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường. Nhớ lời thần mộng rõ ràng, Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây! Đạm Tiên nàng nhé có hay! Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta. {{số|2625}} Dưới đèn sẵn bức tiên hoa, Một thiên tuyệt bút gọi là để sau. Cửa bồng vội mở rèm châu, Trời cao sông rộng một màu bao la. Rằng: Từ công hậu đãi ta, {{số|2630}} Chút vì việc nước mà ra phụ lòng. Giết chồng mà lại lấy chồng, Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời? Thôi thì một thác cho rồi, Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông! {{số|2635}} Trông vời con nước mênh mông, Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang. Thổ quan theo vớt vội vàng, Thời đà đắm ngọc chìm hương mất rồi! Thương thay cũng một kiếp người, {{số|2640}} Hại thay mang lấy sắc tài làm chi! Những là oan khổ lưu ly, Chờ cho hết kiếp còn gì là thân! Mười lăm năm bấy nhiêu lần, Làm gương cho khách hồng quần thử soi! {{số|2645}} Đời người đến thế thì thôi, Trong cơ âm cực dương hồi khốn hay. Mấy người hiếu nghĩa xưa nay, Trời làm chi đến lâu ngày càng thương! Giác Duyên từ tiết giã màng, {{số|2650}} Đeo bầu quảy níp rộng đường vân du. Gặp bà Tam Hợp đạo cô, Thong dong hỏi hết nhỏ to sự nàng: Người sao hiếu nghĩa đủ đường, Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi? {{số|2655}} Sư rằng: Phúc họa đạo trời, Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra. Có trời mà cũng tại ta, Tu là cõi phúc tình là dây oan. Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan, {{số|2660}} Vô duyên là phận hồng nhan đã đành, Lại mang lấy một chữ tình, Khư khư mình buộc lấy mình vào trong. Vậy nên những chốn thong dong, Ở không yên ổn ngồi không vững vàng. {{số|2665}} Ma đưa lối quỷ đem đường, Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi. Hết nạn ấy đến nạn kia, Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần. Trong vòng giáo dựng gươm trần, {{số|2670}} Kề răng hùm sói gởi thân tôi đòi. Giữa dòng nước dẫy sóng dồi, Trước hàm rồng cá gieo mồi thủy tinh. Oan kia theo mãi với tình, Một mình mình biết một mình mình hay. {{số|2675}} Làm cho sống đọa thác đầy, Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi! Giác Duyên nghe nói rụng rời: Một đời nàng nhé thương ôi còn gì! Sư rằng: Song chẳng hề chi, {{số|2680}} Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều. Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều, Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm, Lấy tình thâm trả nghĩa thâm, Bán mình đã động hiếu tâm đến trời! {{số|2685}} Hại một người cứu muôn người, Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng. Thửa công đức ấy ai bằng? Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi! Khi nên trời cũng chiều người, {{số|2690}} Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau. Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau, Tiền Đường thả một bè lau rước người. Trước sau cho vẹn một lời, Duyên ta mà cũng phúc trời chi không! {{số|2695}} Giác Duyên nghe nói mừng lòng, Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường, Đánh tranh chụm nóc thảo đường, Một gian nước biếc mây vàng chia đôi. Thuê năm ngư phủ hai người, {{số|2700}} Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông. Một lòng chẳng quảng mấy công, Khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần! Kiều từ gieo xuống duềnh ngân, Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi. {{số|2705}} Ngư ông kéo lưới vớt người, Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa! Trên mui lướt mướt áo là, Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương. Giác Duyên nhận thật mặt nàng, {{số|2710}} Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai. Mơ màng phách quế hồn mai, Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa. Rằng: Tôi đã có lòng chờ, Mất công mười mấy năm thừa ở đây. {{số|2715}} Chị sao phận mỏng phúc dày, Kiếp xưa đã vậy lòng này dễ ai! Tâm thành đã thấu đến trời, Bán mình là hiếu cứu người là nhân. Một niềm vì nước vì dân, {{số|2720}} Âm công cất một đồng cân đã già! Đoạn trường sổ rút tên ra, Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau. Còn nhiều hưởng thụ về lâu, Duyên xưa tròn trặn phúc sau dồi dào! {{số|2725}} Nàng nghe ngơ ngẩn biết sao, Trạc Tuyền! nghe tiếng gọi vào bên tai. Giật mình thoắt tỉnh giấc mai, Bâng khuâng nào đã biết ai mà nhìn. Trong thuyền nào thấy Đạm Tiên, {{số|2730}} Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề. Thấy nhau mừng rỡ trăm bề, Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư. Một nhà chung chạ sớm trưa, Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng. {{số|2735}} Bốn bề bát ngát mênh mông, Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau. Nạn xưa trút sạch lầu lầu, Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này. Nỗi nàng tai nạn đã đầy, {{số|2740}} Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương. Từ ngày muôn dặm phù tang, Nửa năm ở đất Liêu dương lại nhà. Vội sang vườn Thúy dò la, Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa. {{số|2745}} Đầy vườn cỏ mọc lau thưa, Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời. Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Xập xè én liệng lầu không, {{số|2750}} Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày. Cuối tường gai góc mọc đầy, Đi về này những lối này năm xưa. Chung quanh lặng ngắt như tờ, Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai? {{số|2755}} Láng giềng có kẻ sang chơi, Lân la sẽ hỏi một hai sự tình. Hỏi ông ông mắc tụng đình, Hỏi nàng nàng đã bán mình chuộc cha. Hỏi nhà nhà đã dời xa, {{số|2760}} Hỏi chàng Vương với cùng là Thúy Vân. Đều là sa sút khó khăn, May thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi. Điều đâu sét đánh lưng trời, Thoắt nghe chàng thoắt rụng rời xiết bao! {{số|2765}} Vội han di trú nơi cao, Đánh đường chàng mới tìm vào tận nơi. Nhà tranh vách đất tả tơi, Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa. Một sân đất cỏ dầm mưa, {{số|2770}} Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn đường! Đánh liều lên tiếng ngoài tường, Chàng Vương nghe tiếng vội vàng chạy ra. Dắt tay vội rước vào nhà, Mái sau viên ngoại ông bà ra ngay. {{số|2775}} Khóc than kể hết niềm tây: Chàng ôi biết nỗi nước này cho chưa? Kiều nhi phận mỏng như tờ, Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng! Gặp cơn gia biến lạ dường, {{số|2780}} Bán mình nó phải tìm đường cứu cha. Dùng dằng khi bước chân ra, Cực trăm nghìn nỗi dặn ba bốn lần. Trót lời hẹn với lang quân, Mượn con em nó Thúy Vân thay lời. {{số|2785}} Gọi là trả chút nghĩa người, Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên! Kiếp này duyên đã phụ duyên, Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh. Mấy lời ký chú đinh ninh, {{số|2790}} Ghi lòng để dạ cất mình ra đi. Phận sao bạc bấy Kiều nhi! Chàng Kim về đó con thì đi đâu? Ông bà càng nói càng đau, Chàng càng nghe nói càng dàu như dưa. {{số|2795}} Vật mình vẫy gió tuôn mưa, Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai! Đau đòi đoạn ngất đòi thôi, Tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê. Thấy chàng đau nỗi biệt ly, {{số|2800}} Nhẫn ngừng ông mới vỗ về giải khuyên: Bây giờ ván đã đóng thuyền, Đã đành phận bạc khôn đền tình chung! Quá thương chút nghĩa đèo bòng, Nghìn vàng thân ấy dễ hòng bỏ sao? {{số|2805}} Dỗ dành khuyên giải trăm chiều, Lửa phiền càng dập càng khêu mối phiền. Thề xưa giở đến kim hoàn, Của xưa lại giở đến đàn với hương. Sinh càng trông thấy càng thương. {{số|2810}} Gan càng tức tối ruột càng xót xa. Rằng: Tôi trót quá chân ra, Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo. Cùng nhau thề thốt đã nhiều, Những điều vàng đá phải điều nói không! {{số|2815}} Chưa chăn gối cũng vợ chồng, Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang? Bao nhiêu của mấy ngày đàng, Còn tôi tôi một gặp nàng mới thôi! Nỗi thương nói chẳng hết lời, {{số|2820}} Tạ từ sinh mới sụt sùi trở ra. Vội về sửa chốn vườn hoa, Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang. Thần hôn chăm chút lễ thường, Dưỡng thân thay tấm lòng nàng ngày xưa. {{số|2825}} Đinh ninh mài lệ chép thơ, Cắt người tìm tõi đưa tờ nhắn nhe. Biết bao công mướn của thuê, Lâm Thanh mấy độ đi về dặm khơi. Người một nơi hỏi một nơi, {{số|2830}} Mênh mông nào biết bể trời nơi nao? Sinh càng thảm thiết khát khao, Như nung gan sắt như bào lòng son. Ruột tằm ngày một héo don, Tuyết sương ngày một hao mòn hình ve. {{số|2835}} Thẩn thờ lúc tỉnh lúc mê, Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao. Xuân huyên lo sợ biết bao, Quá ra khi đến thế nào mà hay! Vội vàng sắm sửa chọn ngày, {{số|2840}} Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng. Người yểu điệu kẻ văn chương, Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì, Tuy rằng vui chữ vu quy, Vui nào đã cất sầu kia được nào! {{số|2845}} Khi ăn ở lúc ra vào, Càng âu duyên mới càng dào tình xưa. Nỗi nàng nhớ đến bao giờ, Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng. Có khi vắng vẻ thư phòng, {{số|2850}} Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa. Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ, Trầm bay nhạt khói gió đưa lay rèm. Dường như bên nóc trước thềm, Tiếng kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng, {{số|2855}} Bởi lòng tạc đá ghi vàng, Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây. Những là phiền muộn đêm ngày, Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần? Chế khoa gặp hội trường văn. {{số|2860}} Vương, Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày. Cửa trời rộng mở đường mây, Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần. Chàng Vương nhớ đến xa gần, Sang nhà Chung lão tạ ân chu tuyền. {{số|2865}} Tình xưa ân trả nghĩa đền, Gia thân lại mới kết duyên Châu Trần. Kim từ nhẹ bước thanh vân, Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương. Ấy ai dặn ngọc thề vàng, {{số|2870}} Bây giờ kim mã ngọc đường với ai? Ngọn bèo chân sóng lạc loài, Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu ly. Vâng ra ngoại nhậm Lâm Truy, Quan san nghìn dặm thê nhi một đoàn. {{số|2875}} Cầm đường ngày tháng thanh nhàn, Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao. Phòng xuân trướng rủ hoa đào, Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng. Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng, {{số|2880}} Nghe lời chàng cũng hai đường tin nghi. Họ Lâm Thanh với Lâm Truy, Khác nhau một chữ hoặc khi có lầm. Trong cơ thanh khí tương tầm, Ở đây hoặc có giai âm chăng là? {{số|2885}} Thăng đường chàng mới hỏi tra, Họ Đô có kẻ lại già thưa lên: Sự này đã ngoại mười niên, Tôi đà biết mặt biết tên rành rành. Tú Bà cùng Mã Giám Sinh, {{số|2890}} Đi mua người ở Bắc kinh đưa về. Thúy Kiều tài sắc ai bì, Có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ. Kiên trinh chẳng phải gan vừa, Liều mình thế ấy phải lừa thế kia. {{số|2895}} Phong trần chịu đã ê chề, Tơ duyên sau lại xe về Thúc lang. Phải tay vợ cả phũ phàng, Bắt về Vô tích toan đường bẻ hoa. Rứt mình nàng phải trốn ra, {{số|2900}} Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia. Thoắt buôn về thoắt bán đi, Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi! Bỗng đâu lại gặp một người, Hơn đời trí dũng nghiêng trời uy linh. {{số|2905}} Trong tay mười vạn tinh binh, Kéo về đóng chật một thành Lâm Truy. Tóc tơ các tích mọi khi, Oán thì trả oán ân thì trả ân. Đã nên có nghĩa có nhân, {{số|2910}} Trước sau trọn vẹn xa gần ngợi khen. Chưa từng được họ được tên, Sự này hỏi Thúc Sinh viên mới tường. Nghe lời đô nói rõ ràng, Tức thì đưa thiếp mời chàng Thúc Sinh. {{số|2915}} Nỗi nàng hỏi hết phân minh, Chồng con đâu tá tính danh là gì? Thúc rằng: Gặp buổi loạn ly, Trong quân tôi hỏi thiếu gì tóc tơ. Đại vương tên Hải họ Từ, {{số|2920}} Đánh quen trăm trận sức dư muôn ngườị Gặp nàng khi ở châu Thai, Lạ gì quốc sắc thiên tài phải duyên. Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên, Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng. {{số|2925}} Đại quân đồn đóng cõi đông, Về sau chẳng biết vân mồng làm sao. Nghe tường ngành ngọn tiêu hao, Lòng riêng chàng luống lao đao thẫn thờ. Xót thay chiếc lá bơ vơ, {{số|2930}} Kiếp trần biết giũ bao giờ cho xong? Hoa trôi nước chảy xuôi dòng, Xót thân chìm nỗi đau lòng hợp tan! Lời xưa đã lỗi muôn vàn, Mảnh hương còn đó phím đàn còn đây, {{số|2935}} Đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây, Lửa hương biết có kiếp này nữa thôi? Bình bồng còn chút xa xôi, Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi cho an! Rắp mong treo ấn từ quan, {{số|2940}} Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha. Dấn mình trong án can qua, Vào sinh ra tử họa là thấy nhau. Nghĩ điều trời thẳm vực sâu, Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn! {{số|2945}} Những là nấn ná đợi tin, Nắng mưa biết đã mấy phen đổi dờỉ Năm mây bỗng thấy chiếu trời, Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành. Kim thì cải nhậm Nam bình, {{số|2950}} Chàng Vương cũng cải nhậm thành Châu dương. Sắm xanh xe ngựa vội vàng, Hai nhà cùng thuận một đường phó quan. Xảy nghe thế giặc đã tan, Sóng êm Phúc kiến lửa tàn Chiếc giang. {{số|2955}} Được tin Kim mới rủ Vương, Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa. Hàng Châu đến đó bây giờ, Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành. Rằng: Ngày hôm nọ giao binh, {{số|2960}} Thất cơ Từ đã thu linh trận tiền. Nàng Kiều công cả chẳng đền, Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù. Nàng đà gieo ngọc trầm châu, Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan! {{số|2965}} Thương ôi! không hợp mà tan, Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng! Chiêu hồn thiết vị lễ thường, Giải oan lập một đàn tràng bên sông. Ngọn triều non bạc trùng trùng, {{số|2970}} Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo. Tình thâm bể thảm lạ điều, Nào hồn tinh vệ biết theo chốn nào? Cơ duyên đâu bỗng lạ sao, Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi. {{số|2975}} Trông lên linh vị chữ bài, Thất kinh mới hỏi: Những người đâu ta? Với nàng thân thích gần xa, Người còn sao bỗng làm ma khóc người? Nghe tin ngơ ngác rụng rời, {{số|2980}} Xúm quanh kể lể rộn lời hỏi tra: Này chồng này mẹ này cha, Này là em ruột này là em dâu. Thật tin nghe đã bấy lâu, Pháp sư dạy thế sự đâu lạ thường! {{số|2985}} Sư rằng: Nhân quả với nàng, Lâm Truy buổi trước Tiền Đường buổi sau. Khi nàng gieo ngọc trầm châu, Đón nhau tôi đã gặp nhau rước về, Cùng nhau nương cửa bồ đề, {{số|2990}} Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa. Phật tiền ngày bạc lân la, Đăm đăm nàng cũng nhớ nhà khôn khuây. Nghe tin nở mặt nở mày, Mừng nào lại quá mừng này nữa chăng? {{số|2995}} Từ phen chiếc lá lìa rừng, Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây. Rõ ràng hoa rụng hương bay, Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi. Minh dương đôi ngả chắc rồi, {{số|3000}} Cõi trần mà lại thấy người cửu nguyên! Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên, Bộ hành một lũ theo liền một khi. Bẻ lau vạch cỏ tìm đi, Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần. {{số|3005}} Quanh co theo dải giang tân, Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường. Giác Duyên lên tiếng gọi nàng, Buồng trong vội dạo sen vàng bước ra. Trông xem đủ mặt một nhà: {{số|3010}} Xuân già còn khỏe huyên già còn tươi. Hai em phương trưởng hòa hai, Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa! Tưởng bây giờ là bao giờ, Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao! {{số|3015}} Giọt châu thánh thót quẹn bào, Mừng mừng tủi tủi xiết bao là tình! Huyên già dưới gối gieo mình, Khóc than mình kể sự tình đầu đuôi: Từ con lưu lạc quê người, {{số|3020}} Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm! Tính rằng sông nước cát lầm, Kiếp này ai lại còn cầm gặp đây! Ông bà trông mặt cầm tay, Dung quang chẳng khác chi ngày bước ra. {{số|3025}} Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa, Mười phần xuân có gầy ba bốn phần. Nỗi mừng biết lấy chi cân? Lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu! Hai em hỏi trước han sau, {{số|3030}} Đứng trông chàng cũng trở sầu làm tươi. Quây nhau lạy trước Phật đài, Tái sinh trần tạ lòng người từ bi. Kiệu hoa giục giã tức thì, Vương ông dạy rước cùng về một nơi. {{số|3035}} Nàng rằng: Chút phận hoa rơi, Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay. Tính rằng mặt nước chân mây, Lòng nào còn tưởng có rày nữa không? Được rày tái thế tương phùng. {{số|3040}} Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay! Đã đem mình bỏ am mây, Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừạ Mùi thiền đã bén muối dưa, Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng. {{số|3045}} Sự đời đã tắt lửa lòng, Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi! Dở dang nào có hay gì, Đã tu tu trót quá thì thì thôi! Trùng sinh ân nặng bể trời, {{số|3050}} Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi? Ông rằng: Bỉ thử nhất thì, Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền. Phải điều cầu Phật cầu Tiên, Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây? {{số|3055}} Độ sinh nhờ đức cao dày, Lập am rồi sẽ rước thầy ở chung. Nghe lời nàng cũng chiều lòng, Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra. Một nhà về đến quan nha, {{số|3060}} Đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy. Tàng tàng chén cúc dở say, Đứng lên Vân mới giãi bày một hai. Rằng: Trong tác hợp cơ trời. Hai bên gặp gỡ một lời kết giao. {{số|3065}} Gặp cơn bình địa ba đào, Vậy đem duyên chị buộc vào cho em. Cũng là phận cải duyên kim, Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao? Những là rày ước mai ao, {{số|3070}} Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình! Bây giờ gương vỡ lại lành, Khuôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi. Còn duyên may lại còn người, Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa. {{số|3075}} Quả mai ba bảy đương vừa, Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì. Dứt lời nàng vội gạt đi: Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ? Một lời tuy có ước xưa, {{số|3080}} Xét mình dãi gió dầu mưa đã nhiều. Nói càng hổ thẹn trăm chiều, Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi! Chàng rằng: Nói cũng lạ đời, Dẫu lòng kia vậy còn lời ấy sao? {{số|3085}} Một lời đã trót thâm giao, Dưới dày có đất trên cao có trời! Dẫu rằng vật đổi sao dời, Tử sinh phải giữ lấy lời tử sinh! Duyên kia có phụ chi tình, {{số|3090}} Mà toan sẻ gánh chung tình làm hai? Nàng rằng: Gia thất duyên hài, Chút lòng ân ái ai ai cũng lòng. Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng, Hoa thơm phong nhị trăng vòng tròn gương. {{số|3095}} Chữ trinh đáng giá nghìn vàng, Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa. Thiếp từ ngộ biến đến giờ. Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa. Bấy chầy gió táp mưa sa. {{số|3100}} Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn. Còn chi là cái hồng nhan, Đã xong thân thế còn toan nỗi nào? Nghĩ mình chẳng hổ mình sao, Dám đem trần cấu dự vào bố kinh! {{số|3105}} Đã hay chàng nặng vì tình, Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru! Từ rày khép cửa phòng thu, Chẳng tu thì cũng như tu mới là! Chàng dù nghĩ đến tình xa, {{số|3110}} Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ. Nói chi kết tóc xe tơ, Đã buồn cả ruột mà dơ cả đời! Chàng rằng: Khéo nói nên lời, Mà trong lẽ phải có người có ta! {{số|3115}} Xưa nay trong đạo đàn bà, Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường, Có khi biến có khi thường, Có quyền nào phải một đường chấp kinh. Như nàng lấy hiếu làm trinh, {{số|3120}} Bụi nào cho đục được mình ấy vay? Trời còn để có hôm nay, Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời. Hoa tàn mà lại thêm tươi, Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. {{số|3125}} Có điều chi nữa mà ngờ, Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu! Nghe chàng nói đã hết điều, Hai thân thì cũng quyết theo một bài. Hết lời khôn lẽ chối lời, {{số|3130}} Cúi đầu nàng những vắn dài thở than. Nhà vừa mở tiệc đoàn viên, Hoa soi ngọn đuốc hồng chen bức là. Cùng nhau giao bái một nhà, Lễ đà đủ lễ đôi đà xứng đôi. {{số|3135}} Động phòng dìu dặt chén mồi, Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi tình xưa. Những từ sen ngó đào tơ, Mười lăm năm mới bây giờ là đây! Tình duyên ấy hợp tan này, {{số|3140}} Bi hoan mấy nỗi đêm chầy trăng cao. Canh khuya bức gấm rủ thao, Dưới đèn tỏ rạng má đào thêm xuân. Tình nhân lại gặp tình nhân, Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình. {{số|3145}} Nàng rằng: Phận thiếp đã đành, Có làm chi nữa cái mình bỏ đi! Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi, Chiều lòng gọi có xướng tùy mảy may. Riêng lòng đã thẹn lắm thay, {{số|3150}} Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi! Những như âu yếm vành ngoài, Còn toan mở mặt với người cho qua. Lại như những thói người ta, Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa. {{số|3155}} Khéo là giở nhuốc bày trò, Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi! Người yêu ta xấu với người, Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau! Cửa nhà dù tính về sau, {{số|3160}} Thì còn em đó lọ cầu chị đây. Chữ trinh còn một chút này, Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan! Còn nhiều ân ái chan chan, Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi? {{số|3165}} Chàng rằng: Gắn bó một lời, Bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau. Xót người lưu lạc bấy lâu, Tưởng thề thốt nặng nên đau đớn nhiều! Thương nhau sinh tử đã liều, {{số|3170}} Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình. Chừng xuân tơ liễu còn xanh, Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân. Gương trong chẳng chút bụi trần, Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm! {{số|3175}} Bấy lâu đáy bể mò kim, Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa? Ai ngờ lại họp một nhà, Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm! Nghe lời sửa áo cài trâm, {{số|3180}} Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng: Thân tàn gạn đục khơi trong, Là nhờ quân tử khác lòng người ta. Mấy lời tâm phúc ruột rà, Tương tri dường ấy mới là tương tri! {{số|3185}} Chở che đùm bọc thiếu chi, Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay! Thoắt thôi tay lại cầm tay, Càng yêu vì nết càng say vì tình. Thêm nến giá nối hương bình, {{số|3190}} Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan. Tình xưa lai láng khôn hàn, Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa. Nàng rằng: Vì mấy đường tơ, Lầm người cho đến bây giờ mới thôi! {{số|3195}} Ăn năn thì sự đã rồi! Nể lòng người cũ vâng lời một phen. Phím đàn dìu dặt tay tiên, Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa. Khúc đâu đầm ấm dương hòa, {{số|3200}} Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh. Khúc đâu êm ái xuân tình, Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên? Trong sao châu nhỏ duềnh quyên, Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông! {{số|3205}} Lọt tai nghe suốt năm cung, Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao. Chàng rằng: Phổ ấy tay nào, Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy? Tẻ vui bởi tại lòng này, {{số|3210}} Hay là khổ tận đến ngày cam lai? Nàng rằng: Ví chút nghề chơi, Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu! Một phen tri kỷ cùng nhau, Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa. {{số|3215}} Chuyện trò chưa cạn tóc tơ, Gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông. Tình riêng chàng lại nói sòng, Một nhà ai cũng lạ lùng khen lao. Cho hay thục nữ chí cao, {{số|3220}} Phải người tối mận sớm đào như ai? Hai tình vẹn vẽ hòa hai, Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thơ. Khi chén rượu khi cuộc cờ, Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên. {{số|3225}} Ba sinh đã phỉ mười nguyền, Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy. Nhớ lời lập một am mây, Khiến người thân thích rước thầy Giác Duyên. Đến nơi đóng cửa cài then, {{số|3230}} Rêu trùm kẻ ngạch cỏ len mái nhà, Sư đà hái thuốc phương xa, Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu? Nặng vì chút nghĩa bấy lâu, Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai. {{số|3235}} Một nhà phúc lộc gồm hai, Ngàn năm dằng dặc quan giai lần lần. Thừa gia chẳng hết nàng Vân, Một cây cù mộc một sân quế hòe. Phong lưu phú quý ai bì, {{số|3240}} Vườn xuân một cửa để bia muôn đời Ngẫm hay muôn sự tại trời, Trời kia đã bắt làm người có thân. Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao. {{số|3245}} Có đâu thiên vị người nào, Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai, Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, {{số|3250}} Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh. </poem> {{PD-old}} [[Thể loại:Lục bát|Kiều]] [[Thể_loại:Thơ Việt Nam|Kiều]] [[Thể loại:Truyện Nôm|Kiều]] [[Thể_loại:Thơ Nôm|Kiều]] qjtwjmd03c749m0c5d5v98va1qd9syu Hai đứa trẻ 0 7702 205136 203720 2026-05-06T09:19:28Z ~2026-27254-58 20154 Sửa lỗi chính tả 205136 wikitext text/x-wiki {{Chất lượng vk|50%}}{{đầu đề | tựa đề = Hai đứa trẻ | tác giả = Thạch Lam | năm = 1938 | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ấn bản = có | ghi chú = }} <div class="prose" style="text-align:justify;"> Tiếng trống thu không<ref>Thu không: chiều tối, lính huyện đánh trống thu quân và đóng cổng thành (thành bảo vệ huyện đường) sau khi xem xét trong thành không có gì khả nghi.</ref> trên cái chợ của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rơ rệt trên nền trời. Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị: Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. - Em thắp đèn lên chị Liên nhé? Nghe tiếng An, Liên đứng dậy trả lời: - Hẵng thong thả một lát nữa cũng được. Em ra ngồi đây với chị kẻo trong muỗi. An bỏ bao diêm xuống bàn cùng chị ra ngoài chõng ngồi; chiếc chõng nan lún xuống và kêu cót két. - Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ? - Ừ để rồi chị bảo mẹ mua cái khác thay vào. Hai chị em gượng nhẹ ngồi yên nhìn ra phố. Các nhà đã lên đèn cả rồi, đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn Hoa Kì leo lét trong nhà ông Cửu, và đèn dây sáng xanh trong hiệu khách... Những nguồn ánh sáng đều chiếu ra ngoài phố khiến cát lấp lánh từng chỗ và đường mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối. Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này. Một vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng hóa, đòn gánh đã xỏ sẵn vào quang rồi, họ còn đứng nói chuyện với nhau ít câu nữa. Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ cái gì có thể dùng được của các người bán hàng để lại, Liên trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó. Trời nhá nhem tối, bây giờ chị em Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngơ đi ra; chị Tí, mẹ nó, theo sau, đội cái chỏng trên đầu và tay mang không biết bao nhiêu là đồ đạc: tất cả cái cửa hàng của chị. - Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế? Chị Tí để chõng xuống đất, bày biện các bát uống nước mãi rồi mới chép miệng trả lời Liên: - Ối chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì. Ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này dưới gốc cây bàng, bên cạnh cái mốc gạch. Để bán cho ai? Mấy người phu gạo hay phu xe, thỉnh thoảng có mấy chú lính lệ<ref>Lính lệ: lính nhưng không có vũ trang chỉ làm các việc tạp dịch, hầu hạ quan lại, giữ trật tự trong dinh quan huyện.</ref> trong huyện hay người nhà thầy thừa<ref>Thầy thừa: thừa phái. Một loại viên chức Nhà nước phụ trách công việc ở các phòng khác nhau trong một huyện đường.</ref> đi gọi chân tổ tôm, cao hứng vào hàng chị uống bát nước chè tươi và hút điếu thuốc lào. Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm. Chị kê xong chõng ghế, dịch ngọn đèn Hoa Kì lại để ngồi têm trầu, còn thằng cu thì loay hoay nhóm lửa để nấu nồi nước chè. Lúc bấy giờ chị mới ngẩng lên nói chuyện với Liên: - Còn cô chưa dọn hàng à? Liên giật mình, kêu khẽ: Chết chửa! Rồi đứng dậy giục em: - Vào đóng cửa hàng thôi, không mẹ mắng chết. An đáp: - Hôm nay chưa chắc mẹ có ra không, chị ạ. Mẹ còn bận làm gạo cơ mà. Ngày nào, cứ chập tối, mẹ Liên tạt ra thăm hàng một lần, và bà dặn hễ cứ trống thu không là phải đóng cửa hàng lại. Thế mà Liên mãi ngồi nhìn phố quên mất! Bây giờ Liên vội vàng vào thắp đèn, xếp những quả<ref>Quả: một thứ dụng cụ dùng để đựng hàng khô, hình tròn có nắp, cốt trong bằng tre đan, bên ngoài thường sơn mầu đen hoặc mầu nâu, mầu đỏ.</ref> sơn đen lại, trong lúc An đi tìm then để cài cửa cho chắc chắn. Cái cửa hàng hai chị em trông coi - là một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc. Một gian hàng bé thuê lại của bà lão móm ngăn ra bằng một tấm phên nứa dán giấy nhật trình<ref>Nhật trình: báo hằng ngày.</ref>. Mẹ Liên giao cho Liên trông coi - bà còn bận làm hàng xáo<ref>Làm hàng xáo: đong thóc, xay giã, giần sàng thành gạo rồi đem bán.</ref> - và buổi tối thì hai chị em cùng ngủ đây để trông hàng. Liên đếm lại những phong thuốc lào, xếp vào hòm các bánh xà phòng còn lại, vừa lẩm nhẩm tính tiền hàng. Hôm nay ngày phiên mà bán cũng chẳng ăn thua gì. - Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không? An ngẫm nghĩ rồi đáp: - Vâng, bà ta mua hai bánh, còn cụ Chi lấy chịu nửa bánh nữa. Liên với cái bàn tính để cộng số tiền. Nhưng trong hàng nóng và muỗi quá, chị ngần ngại rồi xếp hết cả tiền vào tráp không tính nữa: - Thôi, để mai tính một thể. An nhìn chị, chỉ đợi lúc ấy. Hai chị em cùng vội muốn đóng cửa hàng để lại ra ngoài kia, ngồi trên chỏng ngắm nhìn phong cảnh ngoài phố. Liên khóa vội tráp tiền với một chiếc chìa khóa chị đeo vào cái dây xà tích bạc<ref>Xà tích: một thứ đồ trang sức của phụ nữ ngày xưa thường là một sợi dây mạ bạc giắt ở thắt lưng có đeo chìa khóa, hộp vôi ăn trầu.</ref> ở thắt lưng, chiếc xà tích và cái khóa chị quý mến và hãnh diện, vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang. - A, cô bé làm gì thế? Nghe câu nói tiếp theo một tiếng cười khanh khách, chị em Liên không cần ngoảnh mặt ra cũng biết là ai đã vào hàng. Đó là cụ Thi, một bà già hơi điên, vẫn mua rượu ở hàng Liên. Liên đã biết tính bà, chị lẳng lặng rót một cút rượu ti<ref>Rượu ti: rượu do công ty rượu được Nhà nước (thời Pháp thuộc) bảo trợ sản xuất bán cho dân một cách hợp pháp.</ref> đầy đưa cho cụ; chị không dám nhìn mặt cụ, và trong lòng hơi run sợ, chị mong cho cụ chóng đi. Cụ cầm cút rượu soi lên rồi cười gịn giã nói: - A, em Liên thảo nhỉ. Hôm nay lại rót đầy cho chị đây. Cụ ngửa cổ ra đằng sau, uống một hơi cạn sạch, rồi vừa chép miệng vừa lần ruột tượng trả tiền - Cụ để ba đồng xu vào tay Liên, xoa đầu chị một cái rồi lảo đảo bước ra ngoài. Hai chị em Liên đứng sững nhìn theo cụ đi lần vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng. &ast; &ast; &ast; Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát. Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối. Các nhà đã đóng im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng. Trẻ con tụ họp nhau ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ, khiến An thèm muốn nhập bọn với chúng để nô đùa, nhưng sợ trái lời mẹ dặn phải coi hàng, nên hai chị em đành ngồi yên trên chỏng, đưa mắt theo dơi những bóng người về muộn, từ từ đi trong đêm. Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là trên mặt đất hay leo vào cành cây. An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông. Vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ và làm mỏi trí nghĩ, nên chỉ một lát hai chị em lại chúi nhìn về mặt đất, về quầng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên chỏng hàng của chị Tí. Về phía huyện, một chấm lửa khác nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi, rồi lại hiện ra... An trỏ tay bảo chị: - Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi. Tiếng đòn gánh kĩu kịt nghe rơ rệt, khói theo gió tạt lại chỗ hai chị em: bác Siêu đã tới gần, đặt gánh phở xuống đường. Bác cúi xuống, nhóm lại lửa, thổi vào cái nứa con. Bóng bác mênh mang ngả xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngơ. An là Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị em không bao giờ mua được. Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chỉ được hưởng những thức quà ngon, lạ - bấy giờ mẹ Liên nhiều tiền - được đi chơi bờ hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ. Ngoài ra, kỷ niệm nhớ lại không rơ rệt, chỉ là một vùng sáng rực và lấp lánh. Hà Nội nhiều đèn quá! Từ khi nhà Liên dọn về đây, từ khi có cái cửa hàng này, đêm nào Liên và em cũng phải ngồi trên chiếc chỏng tre dưới gốc bàng với cái tối của quang cảnh phố chung quanh. Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa. Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngơ vào làng lại sẫm đen hơn nữa. Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cái bếp lửa của bác Siêu chiếu sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa. Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Thêm được một gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe. Chị Tí phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng, chậm rãi nói: - Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ? Chị muốn nói mấy chú lính trong huyện, mấy người nhà của cụ thừa, cụ lục<ref>Cụ lục (lục sự): loại viên chức nhà nước ngành tòa án (ở đây là cấp huyện).</ref> là những khách hàng quen của chị. Bác Siêu đáp vẩn vơ. - Hôm nay trong ông giáo cũng có tổ tôm. Dễ họ không phải đi gọi đâu. Vợ chồng bác xẩm góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng. Thằng con bò ra đất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường. Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ. * * * An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt. Tuy vậy hai chị em vẫn cố gượng để thức khuya chút nữa, trước khi vào hàng đóng cửa đi ngủ. Mẹ vẫn dặn phải thức đến khi tàu xuống - Ðường sắt đi ngang qua ngay trước mặt phố - để bán hàng, may ra còn có một vài người mua. Nhưng cũng như mọi đêm, Liên không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại đêm họ chỉ mua bao diêm, hai gói thuốc là cùng. Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn chuyến tàu. Chín giờ có chuyến tàu ở Hà Nội đi qua huyện. Đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya. An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mí mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với: - Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé. - Ừ, em cứ ngủ đi. Liên khẽ quạt cho An, vuốt lại mái tóc tơ. Đầu em bé nặng dần trên người Liên; chị ngồi yên không động đậy. Qua khe lá của cành bàng ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu. Trống cầm canh<ref>Trống cầm canh: người xưa chia thời gian một đêm làm năm canh. Đầu mỗi canh có điểm trống.</ref> ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối. Người vắng mãi, trên hàng ghế chị Tí mới có hai ba bác phu ngồi uống nước và hút thuốc lào. Nhưng một lát từ phố huyện đi ra, hai ba người cầm đèn lồng lung lay các bóng dài: mấy người làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ ở tỉnh về. Bác Siêu nghển cổ nhìn ra phía ga, lên tiếng: - Đèn ghi đã ra kia rồi. Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại, trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Liên đánh thức em: - Dậy đi, An. Tàu đến rồi. An nhỏm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào khe khẽ. Mấy năm nay buôn bán kém nên người lên xuống ít, có khi hai chị em đợi chờ chẳng thấy ai. Trước kia, ở sân ga, có mấy hàng cơm mở đón khách, đèn sáng cho đến nửa đêm. Nhưng bây giờ họ đóng cửa cả rồi, cũng im lặng tối đen như ngoài phố. Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre. - Tàu hôm nay không đông nhỉ, chị nhỉ. Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình khư kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về! Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng. - Thôi đi ngủ đi chị. Liên vỗ vai em ngồi xuống chỏng. An cũng ngồi xuống và ngả đầu vào vai Liên. Tiếng vang động của xe hỏa đã nhỏ dần, và mất dần trong bóng tối, lắng tai cũng không nghe thấy nữa. Sao trên trời vẫn lấp lánh. Cả phố huyện bây giờ mới thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn. Từ phía ga, bóng đêm lồng với bóng người đi về; chị Tí đương sửa soạn đồ đạc và bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, còn vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ. Liên quay lại nhìn em thấy An cũng đã ngủ say, tay nắm chặt tà áo chị và đầu vẫn dựa vào vai. Liên nhìn quanh đêm tối, gió đã thoáng lạnh và đom đóm không còn nữa. Chị cúi xuống vực em vào trong hàng, mắt cũng đã ríu lại. Chị gài cửa cẩn thận và vặn nhỏ đèn đặt trên cái quả thuốc sơn đen. Rồi Liên đến bên em nằm xuống. Chị gối đầu lên tay nhắm mắt lại. Những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên và hình ảnh của thế giới quanh mình mờ đi trong mắt chị. Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Nhưng Liên không nghĩ được lâu; mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối. </div> {{chú thích cuối trang}} {{PVCC-Việt Nam}} [[Thể loại:Truyện ngắn]] [[Thể loại:Văn học Việt Nam]] mnjnyl0hv9qqzck8906op3ry24gb23g Tập Việt Nam Tự điển của hội Khai trí tiến đức 0 22696 205129 107713 2026-05-05T12:10:01Z ~2026-27228-83 20149 205129 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Tập Việt Nam Tự điển của hội Khai trí tiến đức | tác giả = Phan Khôi | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ấn bản = có | năm = 1932 | ghi chú = Bài đăng trên ''Phụ nữ tân văn'', Sài Gòn, số 123 (17. 3. 1932), ''Trung lập'', Sài Gòn, số 6685 (''Phụ trương văn chương'' số 46, thứ bảy 19.3.1932); số 6690 (''P.C.V.C.'' số 47, thứ bảy 26. 3. 1932), ''Đông tây'', Hà Nội, số 158 (26. 3. 1932) }} {{văn| Nhớ đâu từ mười năm trước, hội Khai trí tiến đức ở Hà Nội phát khởi ra việc biên tập bộ ''Tự điển Việt Nam''. Nói là hội Khai trí chứ kỳ thực chỉ do một ban Văn học trong hội ấy; mà một ban Văn học cũng chỉ là cái danh, chứ cái thực thì là có ông Phó bảng Bùi Kỷ với một vài ông Tú già nào đó nữa mà thôi. Ở mười năm trên hay là ngày nay nữa cũng vậy, nước mình thật sự rất cần có một bộ tự điển, không hoàn toàn được chứ cũng phải cho gần đến bực hoàn toàn. Điều đó ai cũng biết như vậy, ai cũng mong như vậy, có điều thực hành thì rất khó. Khó là bởi con người thời nay, sự sống không phải dễ dãi như thời xưa; làm việc gì cũng mong cho có cái mà ăn trước con mắt, chứ còn làm không mong ăn hay là mong ăn về sau thì không có ai làm được dẫu muốn làm mấy đi nữa. Huống chi việc làm một bộ tự điển không phải là việc một vài người làm nổi; như vậy mà mong cho có tự điển, lại càng khó thêm. Ở nước ta ngày nay mà mong làm tự điển được thì duy có các cơ quan của nhà nước – không cứ nhà nước nào – như Sử quán hay Cổ học viện ở Huế; còn không nữa thì có cái hội nào, hay cái nhà in, hàng sách nào thì mới làm được thôi. Thế nhưng thảm quá! Ở Huế thì người ta không hề nghĩ đến sự học hành, sự làm sách làm vở gì hết; còn nhà in hàng sách thì không có nhà nào lớn vốn, phần thì họ còn sợ không biết về sau bán có chạy không, nên họ cũng không dám bỏ vốn ra. May sao có hội Khai trí tiến đức đã ra vai gánh lấy công cuộc này! Đối với hội ấy, việc gì thì chưa nói làm gì, chứ riêng việc làm tự điển này, nếu mai sau có ngày thành công trọn vẹn thì quốc dân ta cũng nên hè nhau mà nói một tiếng cảm ơn hội ấy thật lớn mới đáng! Đôi chục năm nay sĩ phu ta có một cái sỉ nhục khó chịu, là một thứ tiếng nói hơn 20 triệu người mà không có tự điển của người bản quốc làm ra cho thật đúng đắn. Nhiều khi có người ngoại quốc nào hỏi ta điều ấy thì ta hay bị lúng túng với họ quá, mà trả lời bề nào cũng không xuôi. Nhờ hội Khai trí tiến đức, may ra, về sau khỏi bị cái sỉ nhục nầy, cũng đỡ lắm. Bộ Tự điển đây mới là bổn cảo chứ chưa phải đã thành sách rồi. Bởi vậy mới xuất bản từng tập một. Hiện nay mới ra được hai tập: tập I từ chữ A đến chữ ẬY; tập II từ chữ BA đến chữ BÁT. Giá mỗi tập 0p20; ai mua đồng niên 12 tập thì 2p00; giá đặc biệt cho hội viên của hội Khai trí mua đồng niên 1p50. Ai muốn mua năm hay mua lẻ cũng cứ hỏi tại nhà in Lê Văn Phúc, số 83, Hàng Gai Hà Nội. Theo như bức thơ của hội Khai trí tiến đức gửi cho bổn báo, chúng tôi xin giới thiệu tập Tự điển ấy cho độc giả ''Phụ nữ tân văn''; mong rằng hết thảy anh chị em mua mỗi người lấy một phần, như vậy là giục giã cho hội ấy làm mau rồi bộ Tự điển vậy. Ta thử hỏi tại sao bộ Tự điển này không in ngay thành sách mà lại ra từng tập như bổn cảo. Nếu ai đã biết hỏi tới chỗ đó thì phải nhìn nhận rằng sự phê bình chỉ trích những chỗ khiếm khuyết của nó, là một sự cần lắm, phải làm ngay từ bây giờ. Coi một sự xuất bản chưa quyết định như thế là đủ biết đối với sự biên tập bộ Tự điển ấy, hội Khai trí vẫn còn chưa dám lấy ý kiến của mình làm phải, mà mong ở mọi người trong nước có thấy ra chỗ nào chưa được thì chỉ chánh cho. Bởi việc biên tập tự điển không phải là việc dễ, vả lại là một bộ sách chung cho quốc dân, thì hội ấy thận trọng như vậy là phải, mà chúng ta nếu biết được điều gì cũng chẳng nên làm thinh mà bỏ qua vậy. Bỏ qua, ấy chẳng những là vô tình đối với tiếng mẹ đẻ, mà cũng là cái tội nữa, tội biết mà không nói. Vì nghĩ vậy, sau khi làm phần việc giới thiệu xong, tôi còn phải làm phần việc phê bình. Nhà trứ thuật đời nay, khi biên tập các sách, nhứt là các sách "loại thơ" như là tự điển, từ nguyên, bách khoa v.v… một điều cần có trước hết là nên đem cái não tủy khoa học mà rót vào đó. Những sách ấy mà có gia vào ít nhiều ý vị khoa học thì tiện lợi cho người đọc kẻ học không biết bao nhiêu. Bằng như không biết dùng phương pháp khoa học mà giá ngự, thì dầu có tài liệu cho nhiều mấy đi nữa, cái đồ trứ thuật của mình cũng không có giá trị gì. Nói đến đây tôi lại nhớ ông Lê Dư – Lê Dư này là ông Lê Dư, một tay trứ thuật ở Hà Nội, đương biên tập ''Sở Cuồng văn khố'', chớ không phải ông Lê Dư anh em với tôi.<ref>Thực ra thì 2 ông này chỉ là một Lê Dư, nhưng Phan Khôi nói như vậy có lẽ là để nhấn mạnh sự nhận định khách quan của mình đối với công việc trứ thuật của Lê Dư. Vợ Lê Dư là em gái Phan Khôi. Có thể hiểu Lê Dư là em rể của Phan Khôi.</ref> – Ông Lê ở trường Viễn đông Bác cổ bao nhiêu năm trời, thâu góp vô số là tài liệu quý báu, gia dĩ ông lại giỏi Hán văn, Nhựt văn, học rộng như biển, vậy mà về các phương pháp khoa học, hình như ông chẳng nắm lấy được chút nào cả, thật ông không đủ sức mà giá ngự tài liệu, cho nên bao nhiêu đồ trứ thuật của ông mới xuất bản rồi đó, chẳng những chẳng có giá trị gì đặc biệt mà lại cứ bị người này kẻ kia chỉ trích luôn luôn. Chúng ta xem đó xem, đủ thấy cái phương pháp khoa học cần cho sự học và sự trứ thuật của chúng ta ngày nay là dường nào. (Hễ nói đến phương pháp khoa học hay là cái gì giống như nó thì hình như ông Phạm Quỳnh ông chực sẵn một bên, ông chặn họng lại mà hô lên rằng: Ấy đó, đã nói theo rồi! Không biết mà cũng nói! – Dẫu vậy tôi cũng cứ nói). Thế nên trong khi tôi đọc bổn cảo ''Việt Nam Tự điển'' của hội Khai trí tiến đức đây, tôi cũng chỉ xét xem về mặt phương pháp khoa học trước hết thử ra sao. Trong các phương pháp khoa học có sự phân loại (''clasification'') là khó hơn hết, lôi thôi hơn hết, rộn ràng hơn hết. Cho đến nhiều tay bác sĩ mà cũng phải chịu. Cái gì về vật chất, mỗi cái có mỗi cái đặc tánh (''caractère particulier''), thế thì phân loại dễ lắm mới phải, vậy mà cũng còn thấy khó, vì có cái, cho về loại nầy được mà cho về loại kia cũng được. Huống chi là những cái về tinh thần, trừu tượng, thì sự phân loại nó lại còn khó hơn lắm nữa, há đợi phải nói mới hiểu ư? Bởi sự phân loại là khó, cho nên một vạn nhà học giả đời nay, nhà nào cũng phải lấy làm chú ý. Rốt lại, họ có một cái phép để giá ngự: Nếu phân loại mà không tiện thì không phân. Mới nghe cái phép như là thụt lùi ấy, ta hẳn tưởng là họ làm biếng. Không phải đâu. Bởi vì ấy là cái nước đáo đầu, không thể chạy đi đường nào được. Thật vậy, nếu phân loại là khó, phân ra nhiều loại mà loại nầy nó cũng không khác gì loại kia, hay là nó cũng có thể lộn với loại kia, thì còn phân làm chi? bất nhược đừng phân là hơn vậy. ''Việt Nam Tự điển'' của hội Khai trí chính đã phạm vào sự cấm kỵ ở chỗ đó, cái chỗ phân loại không được mà cũng cứ phân, lại muốn phân cho càng tách bạch ra; nhưng có được đâu, càng phân chừng nào lại càng lộn xộn chừng nấy. Sẵn trên bàn viết có bộ đại tự điển ''Larousse (Larousse Universel)'', biên tập dưới quyền chỉ huy của ông Claude Augé, tôi đem so sánh với tập ''Việt Nam Tự điển'', thì thấy trong mỗi chữ, bộ kia không có phân loại nhiều và kỹ như tập nầy. Đó không phải là ông Claude Augé cùng bạn đồng sự với ông ấy dở hay làm biếng hơn ông Bùi Kỷ cùng mấy ông Tú ta; có điều tại họ biết sự phân loại là khó, là bất tiện, nên họ tránh đi vậy. Tập ''Việt Nam Tự điển'' được cái may là làm sau nhiều thứ tự điển của các thứ tiếng, cũng sau bộ đại tự điển ''Larousse'' nữa, có lẽ các tay biên tập họ nghĩ rằng hễ là cái gì làm sau thì thường thường là hơn bao nhiêu những cái đã làm từ trước, cho nên mới cố làm cho kỹ để đạt tới cái mục đích ''hậu lai cư thượng'' mà chơi; không dè chính bởi ở chỗ muốn kỹ hơn người ta đó mà trở thua người ta, – lời nầy tôi nói một cách quả quyết. Ta hãy lấy ra một chữ A mà xem. Xem một chữ A đầu, tôi thấy ra người biên tập rất chú trọng về sự phân loại. Cách phân loại của họ không có đặt ra những danh từ gì để mà gọi. Nay tôi muốn phân tích cho thật rõ thì phải tạm đặt ra nhiều tên rồi nói mới trôi. Trong một chữ A, họ chia làm hai bộ phận, là ''A đơn'' và ''A kép'': ''A đơn'' có một tiếng mà ''A kép'' thì ghép từ hai tiếng trở lên, như ''a-men'' cho tới ''a-di-đà-phật''. Cái sự chia làm hai ''bộ phận'' ấy phải lắm, tôi biểu đồng tình. Rồi trong chữ ''A đơn'', họ mói chia ra ''chủng'', ''loại'' và ''biệt'' nữa. Rắc rối là tại ba khoản nầy, tôi không nhận cho làm vậy là phải. Để tôi kể hết ra đây rồi tôi sẽ giải cái sở dĩ theo sau. Về ''chủng'' thì chữ ''A đơn'' họ chia làm tám ''chủng'', những chữ A ấy đều in bằng ''Latin đen'' cả. Vì mỗi chữ A có một nghĩa riêng, thì chia như vậy là phải. Nhưng có chỗ đáng chỉ trích, là nhằm chữ có một nghĩa mà họ cũng chia làm hai. Ấy là như ''chủng'' thứ ba và thứ tư. ''Chủng'' thứ ba chia làm hai loại: "I, ''Đồ làm ruộng để cắt rạ ở ruộng chiêm''", ấy là danh từ; "II, ''Cắt rạ bằng cái a''", ấy là động từ. Rồi đến ''chủng'' thứ tư: "''Vơ lại thành đống : a cỏ vào bờ cho gọn''", thì chữ nầy cũng lại là một động từ vậy. Coi đó thì cái chữ A về ''chủng'' thứ tư chẳng qua do chữ A ở ''loại'' thứ II của ''chủng'' thứ ba mà ra, ''a rạ'' với ''a cỏ'' thì cũng là đồng một công dụng trong khi dùng cái lưỡi a hết, làm sao lại chia ra như thế được? Không đáng chia mà chia, luống làm cho rộn mắt đó thôi. Đến ''loại'' và ''biệt'' lại còn khó chịu lắm nữa! Để tôi nói hết mà nghe, chắc các ông biên tập ''Việt Nam Tự điển'' cũng phải bụm miệng cười với nhau và hỏi nhau rằng: "Ủa! chúng mình làm cái gì bấy lâu nay mà kỳ quá vậy!" Tôi nói ''loại'', tức là, trong Tự điển ấy, những điều đã chia ra mà ghi bằng những chữ số Romain; nói ''biệt'', tức là những điều đã chia ra mà ghi bằng những chữ số Arabe. Như chữ A, ''chủng'' thứ hai, chia làm bốn ''loại''; và ''loại'' thứ I chia làm năm ''biệt''. Bốn ''loại: loại'' thứ I chia làm năm biệt: "1. Một thứ tiếng kêu, đứng đầu hay cuối câu: ''A vui! A thích! Đẹp a! Sướng a!'' 2. Chỉ ý bất thình lình mà hỏi: ''Ông đây a''? 3. Chỉ ý kinh dị mà hỏi: ''A quái nhỉ? Đông dữ a!'' 4. Chỉ ý hỏi mỉa: ''Da mồi tóc bạc ta già nhỉ, áo biếc đai vàng bác đấy a''? 5. Chỉ ý hỏi trách: ''Chị đã năn năn nỉ nỉ mà em không nghe chị a em''?" Nội năm ''biệt'' đó, đã thấy nó chống với nhau, không chịu được rồi. Phàm cái gì mà chia ra là vì nó có khác. Song trong năm ''biệt'' trên đó, xin ai nấy coi, có thể nói mỗi ''biệt'' nầy khác hẳn với ''biệt'' kia không? ''Biệt'' thứ 2 chỉ ý bất thình lình thì khác gì với ''biệt'' thứ 3 chỉ ý kinh dị? ''Ông đấy a''? thì khác gì với ''A quái nhỉ'' và ''Đông dữ a''? Lại trong ''biệt'' thứ 4, chữ ''bác đấy a''? trong câu thơ Yên Đổ, tuy có ý mỉa mặc dầu, cái ý ấy chỉ ở ngoài lời nói, chớ còn bổn chất chữ "a" ấy cũng chẳng có phân biệt gì với chữ "a" trong cái ví dụ "ông đấy a?" trên kia, thì làm sao lại chia ra? Vì sự tiện trong khi hành văn nên tôi trót nói cái ''biệt'' ở trước; đây xin nói đến ''loại''. ''Loại'' II của chủng thứ hai ấy là: "Tiếng reo mừng: ''A quân ta được rồi! A! A! mẹ ta đi chợ đã về''". Vậy thì tôi dám hỏi, cái ''tiếng a reo mừng'' ấy, nó có khác gì với cái tiếng kêu ''đẹp a, sướng a'' trên kia chăng? Cho đến ''A vui! A thích!'' thì cũng coi là ''tiếng reo mừng'' được vậy chớ. ''Loại'' thứ III: "Giọng kêu trong tuồng, trong chèo: ''Hảo a! Úy a! Ối a!''" ''Loại'' nầy tưởng nên bỏ đứt đi là phải, bởi vì cái khác của tiếng nói nên phân biệt ở khi người ta phát nó ra bằng cách nào, chớ không có thể phân biệt bởi tuồng hoặc chèo; nếu bởi đó mà phân biệt thì còn thiếu gì nơi dùng mà phân biệt được nữa? Mà "''Hảo a! Úy a!''" nếu đem cho vào nơi ''tiếng reo mừng'' và ''chỉ ý bất thình lình, kinh dị'' cũng được, thì sao đặt riêng nó ra một loại làm chi? Trên đó tôi tìm ra những chỗ không đáng chia mà chia ở trong một phần của chữ A đó; những lời biện nạn của tôi, nghe như lộn xộn một chút, song nếu ai có sẵn một tập ''Việt Nam Tự điển'' trong tay đem mà đối chiếu nhau thì thấy những chỗ tôi chỉ trích rất rõ ràng. Theo lẽ trên đó, tức là theo phương pháp khoa học, khi phân loại không tiện thì chớ nên phân, tôi tưởng trong chữ A đó và trong các chữ khác nữa đều nên xóa hết những cái ''biệt'' rộn ràng đi mà chỉ để nội ''bộ phận'' và ''chủng, loại'' là đủ. Nghĩa là cũng chia, mà đừng chia tách bạch quá, nẻ nóc quá. Ai lại chẳng muốn cho cái gì cũng được tách bạch, nẻ nóc, nhưng gặp cái không làm được, ta cũng phải không làm. Phân tích tiếng A về ''chủng'' thứ hai đó ra, tôi tưởng chỉ phân tích đến hai ''loại'' là cùng: Ấy là ''tiếng kinh dị'' và ''tiếng reo mừng''. Rồi dưới mỗi ''loại'' lấy nhiều nhiều ví dụ là được. Có sợ sót thì thêm một ''loại'' là ''tiếng cảm thán'' nữa: như ''Ái a! Ối a! Ru con a hả a hà''. Kể ra thì bộ Tự điển của hội Khai trí đây nếu thành công ra sẽ đứng đầu các tự điển tiếng ta đã làm từ đó đến giờ. Vì thâu được nhiều chữ, biên tập có công phu; lại thêm có chua chữ Hán, có mục ''Văn liệu'', tiện cho người tra xem nhiều đường lắm. Cái điều tôi chỉ trích trên đó là chẳng qua muốn cho một cái công trình lớn lao như vậy sẽ được hoàn toàn hơn đó thôi; nếu lời tôi nói là phải và nếu hội Khai trí dủ nghe, thì là một cái ích lợi chung cho cả và hậu sanh sau nầy, chẳng phải riêng gì một mình ai vậy. Còn những chỗ sai lầm mà không có thể kể hết thì tôi xin kể lấy một chỗ ra đây. Như chữ A, ''chủng'' thứ ba, ''loại'' I, nói rằng: "Đồ làm ruộng để cắt rạ ở ruộng chiêm", rồi lại chua ngay theo rằng: "Nam kỳ gọi là cái trang cái gạc". Nói vậy thì sai quá. Vả cái a nếu là cái rèn bằng sắt để cắt rạ thì có phải là ''cái trang'' của Nam kỳ đâu? ''Cái trang'' Nam kỳ làm bằng săng, để quào lúa, không răng gọi bằng ''trang'', có răng gọi bằng ''bù quào''. Còn cái a bằng sắt để cắt rạ thì ở Nam kỳ cũng gọi cái lưỡi hái hoặc có nơi gọi cái liềm cắt rạ. Đến như cái ''gạc'' thì trong đồ làm ruộng Nam kỳ chẳng có tiếng ấy, chẳng có cái gì là ''cái gạc'' cả. Những chỗ sai lầm như vậy chẳng phải là lỗi của các ông biên tập đâu. Lỗi tại trong việc biên tập có ít người quá. Không đủ người các nơi thì lấy ai mà biết cho hết những việc vặt vãnh mà bình nhựt họ không hề để ý đến làm chi. Lại còn một cái lỗi là tại không có in hình. Nếu vẽ hình ''cái a'' mà in lên thì dầu cho có nói tức ''cái trang'' của Nam kỳ cũng không làm lầm ai được. Sau nữa có một điều nên nói là sự chua ở dưới một chữ nào đó rằng "tiếng Nam kỳ", hay "tiếng Trung kỳ, Bắc kỳ". Sự đó, theo tôi, cho là vô ích. Ta đã kêu là ''Việt Nam Tự điển'' thì ta còn để cái dấu phân biệt ấy làm chi? Xem thử tự điển Lang Sa, họ có phân riêng tiếng từng miền như vậy không? Nếu một tiếng nào đã nhìn nhận cho là tiếng Việt Nam thì cứ để vào Tự điển Việt Nam, chớ chẳng còn nên chia ra xứ nầy xứ kia làm chi hết. Muốn nói thêm nữa thì trong tập Tự điển đó cũng có chỗ đặt câu thích nghĩa hay là ví dụ không được trôi chảy, hoặc thừa ra. Những chỗ nầy về sau thế nào cũng phải sửa lại thì mới trọn lành. Chữ A, ''chủng'' thứ tám, mà thích nghĩa rằng: "''Theo tựa vào người. Không dùng một mình''". ''Theo tựa vào người'' thì được, và cũng đủ nghĩa rồi, sao lại còn thêm những chữ ''Không dùng một mình'' vào làm chi? Câu ấy đã thừa mà nghĩa nó còn không chạy nữa, vì người ta sẽ hỏi được rằng: Dùng là dùng cái gì? Nếu đáp rằng "mình dùng lấy mình" thì nghe ra lơ lửng quá. Vả lại ''Không dùng một mình'' thì đâu có nảy ra được cái ý ''a dua'' hay là ''a tùng''?<ref>Khi bài nầy gần lên khuôn, một ông có quyền đọc trước, nói với tôi rằng: "Chữ ''Không dùng một mình'' đó có lẽ là nói chữ a ấy không dùng một mình, phải đi theo tiếng khác, như trong tiếng Pháp nói "ne s'emploie pas seul", có điều tại họ không dùng chữ in cho phân biệt, thành ra chẳng ai hiểu chi hết!" Tôi bèn coi lại tập Tự điển, thấy chỗ khác cũng có vậy, thì ra lời ông ấy nói trúng lắm, tôi xin phụ vào đây, không dám cướp làm của tôi. - P.K. (nguyên chú)</ref> Tóm lại, trong bài nầy tôi lấy làm hệ trọng nhứt là sự phân loại đã nói trên đó. Chỗ ấy tôi rất mong hội Khai trí và các ông biên tập để ý đến mà sửa sang đi. Còn mấy điều vặt vãnh sau, tôi chỉ nói sơ qua, xin những người có trách nhiệm trong việc ấy hãy cẩn thận mà xem xét từng chút. Đến như có ai trách tôi rằng làm không làm được, chỉ chực người ta làm ra rồi chỉ trích, thì tôi dám cầm người ấy là nói bậy. Tôi sẽ nói lại với họ rằng: Cái đời tôi, chẳng có làm gì hết, chỉ có chực chỉ trích mà thôi, – thì họ làm gì tôi? {{phải|'''PHAN KHÔI'''}} }} {{chú thích cuối trang}} [[Thể loại:Bài báo]] t0e4rrei2tfd18dw6lcuhpvsqa4qt24 205133 205129 2026-05-06T04:50:12Z ~2026-27373-48 20153 Đã lùi lại sửa đổi [[Special:Diff/205129|205129]] của [[Special:Contributions/~2026-27228-83|~2026-27228-83]] ([[User talk:~2026-27228-83|thảo luận]]) 205133 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Tập Việt Nam Tự điển của hội Khai trí tiến đức | tác giả = Phan Khôi | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ấn bản = có | năm = 1932 | ghi chú = Bài đăng trên ''Phụ nữ tân văn'', Sài Gòn, số 123 (17. 3. 1932), ''Trung lập'', Sài Gòn, số 6685 (''Phụ trương văn chương'' số 46, thứ bảy 19.3.1932); số 6690 (''P.C.V.C.'' số 47, thứ bảy 26. 3. 1932), ''Đông tây'', Hà Nội, số 158 (26. 3. 1932) }} {{văn| Nhớ đâu từ mười năm trước, hội Khai trí tiến đức ở Hà Nội phát khởi ra việc biên tập bộ ''Tự điển Việt Nam''. Nói là hội Khai trí chớ kỳ thiệt chỉ do một ban Văn học trong hội ấy; mà một ban Văn học cũng chỉ là cái danh, chớ cái thiệt thì là có ông Phó bảng Bùi Kỷ với một vài ông Tú già nào đó nữa mà thôi. Ở mười năm trên hay là ngày nay nữa cũng vậy, nước mình thật rất cần có một bộ tự điển, không hoàn toàn được chớ cũng phải cho gần đến bực hoàn toàn. Điều đó ai cũng biết như vậy, ai cũng mong như vậy, có điều thiệt hành thì rất khó. Khó là bởi con người thời nay, sự sống không phải dễ dãi như thời xưa; làm việc gì cũng mong cho có cái mà ăn trước con mắt, chớ còn làm không mong ăn hay là mong ăn về sau thì không có ai làm được dầu muốn làm mấy đi nữa. Huống chi việc làm một bộ tự điển không phải là việc một vài người làm nổi; như vậy mà mong cho có tự điển, lại càng khó thêm. Ở nước ta ngày nay mà mong làm tự điển được thì duy có các cơ quan của nhà nước – không cứ nhà nước nào – như Sử quán hay Cổ học viện ở Huế; còn không nữa thì có cái hội nào, hay cái nhà in, hàng sách nào thì mới làm được thôi. Thế nhưng thảm quá! Ở Huế thì người ta không hề nghĩ đến sự học hành, sự làm sách làm vở chi hết; còn nhà in hàng sách thì không có nhà nào lớn vốn, phần thì họ còn sợ không biết về sau bán có chạy không, nên họ cũng không dám bỏ vốn ra. May sao có hội Khai trí tiến đức đã ra vai gánh lấy công cuộc nầy! Đối với hội ấy, việc gì thì chưa nói làm chi, chớ riêng việc làm tự điển nầy, nếu mai sau có ngày thành công trọn vẹn thì quốc dân ta cũng nên hè nhau mà nói một tiếng cảm ơn hội ấy thật lớn mới đáng! Đôi chục năm nay sĩ phu ta có một cái sỉ nhục khó chịu, là một thứ tiếng nói hơn 20 triệu người mà không có tự điển của người bổn quốc làm ra cho thật đúng đắn. Nhiều khi có người ngoại quốc nào hỏi ta điều ấy thì ta hay bị lúng túng với họ quá, mà trả lời bề nào cũng không xuôi. Nhờ hội Khai trí tiến đức, may ra, về sau khỏi bị cái sỉ nhục nầy, cũng đỡ lắm. Bộ Tự điển đây mới là bổn cảo chớ chưa phải đã thành sách rồi. Bởi vậy mới xuất bản từng tập một. Hiện nay mới ra được hai tập: tập I từ chữ A đến chữ ẬY; tập II từ chữ BA đến chữ BÁT. Giá mỗi tập 0p20; ai mua đồng niên 12 tập thì 2p00; giá đặc biệt cho hội viên của hội Khai trí mua đồng niên 1p50. Ai muốn mua năm hay mua lẻ cũng cứ hỏi tại nhà in Lê Văn Phúc, số 83, Hàng Gai Hà Nội. Theo như bức thơ của hội Khai trí tiến đức gởi cho bổn báo, chúng tôi xin giới thiệu tập Tự điển ấy cho độc giả ''Phụ nữ tân văn''; mong rằng hết thảy anh chị em mua mỗi người lấy một phần, như vậy là giục giã cho hội ấy làm mau rồi bộ Tự điển vậy. Ta thử hỏi tại sao bộ Tự điển nầy không in ngay thành sách mà lại ra từng tập như bổn cảo. Nếu ai đã biết hỏi tới chỗ đó thì phải nhìn nhận rằng sự phê bình chỉ trích những chỗ khiếm khuyết của nó, là một sự cần lắm, phải làm ngay từ bây giờ. Coi một sự xuất bản chưa quyết định như thế là đủ biết đối với sự biên tập bộ Tự điển ấy, hội Khai trí vẫn còn chưa dám lấy ý kiến của mình làm phải, mà mong ở mọi người trong nước có thấy ra chỗ nào chưa được thì chỉ chánh cho. Bởi việc biên tập tự điển không phải là việc dễ, vả lại là một bộ sách chung cho quốc dân, thì hội ấy thận trọng như vậy là phải, mà chúng ta nếu biết được điều gì cũng chẳng nên làm thinh mà bỏ qua vậy. Bỏ qua, ấy chẳng những là vô tình đối với tiếng mẹ đẻ, mà cũng là cái tội nữa, tội biết mà không nói. Vì nghĩ vậy, sau khi làm phần việc giới thiệu xong, tôi còn phải làm phần việc phê bình. Nhà trứ thuật đời nay, khi biên tập các sách, nhứt là các sách "loại thơ" như là tự điển, từ nguyên, bách khoa v.v… một điều cần có trước hết là nên đem cái não tủy khoa học mà rót vào đó. Những sách ấy mà có gia vào ít nhiều ý vị khoa học thì tiện lợi cho người đọc kẻ học không biết bao nhiêu. Bằng như không biết dùng phương pháp khoa học mà giá ngự, thì dầu có tài liệu cho nhiều mấy đi nữa, cái đồ trứ thuật của mình cũng không có giá trị chi. Nói đến đây tôi lại nhớ ông Lê Dư – Lê Dư nầy là ông Lê Dư, một tay trứ thuật ở Hà Nội, đương biên tập ''Sở Cuồng văn khố'', chớ không phải ông Lê Dư anh em với tôi.<ref>Thực ra thì 2 ông này chỉ là một Lê Dư; nhưng Phan Khôi nói như vậy có lẽ là để nhấn mạnh sự nhận định khách quan của mình đối với công việc trứ thuật của Lê Dư. Vợ Lê Dư là em gái Phan Khôi.</ref> – Ông Lê ở trường Viễn đông Bác cổ bao nhiêu năm trời, thâu góp vô số là tài liệu quý báu, gia dĩ ông lại giỏi Hán văn, Nhựt văn, học rộng như biển, vậy mà về các phương pháp khoa học, hình như ông chẳng nắm lấy được chút nào cả, thật ông không đủ sức mà giá ngự tài liệu, cho nên bao nhiêu đồ trứ thuật của ông mới xuất bản rồi đó, chẳng những chẳng có giá trị gì đặc biệt mà lại cứ bị người nầy kẻ kia chỉ trích luôn luôn. Chúng ta xem đó xem, đủ thấy cái phương pháp khoa học cần cho sự học và sự trứ thuật của chúng ta ngày nay là dường nào. (Hễ nói đến phương pháp khoa học hay là cái gì giống như nó thì hình như ông Phạm Quỳnh ông chực sẵn một bên, ông chận họng lại mà hô lên rằng: Ấy đó, đã nói theo rồi! Không biết mà cũng nói! – Dầu vậy tôi cũng cứ nói). Thế nên trong khi tôi đọc bổn cảo ''Việt Nam Tự điển'' của hội Khai trí tiến đức đây, tôi cũng chỉ xét xem về mặt phương pháp khoa học trước hết thử ra sao. Trong các phương pháp khoa học có sự phân loại (''clasification'') là khó hơn hết, lôi thôi hơn hết, rộn ràng hơn hết. Cho đến nhiều tay bác sĩ mà cũng phải chịu. Cái gì về vật chất, mỗi cái có mỗi cái đặc tánh (''caractère particulier''), thế thì phân loại dễ lắm mới phải, vậy mà cũng còn thấy khó, vì có cái, cho về loại nầy được mà cho về loại kia cũng được. Huống chi là những cái về tinh thần, trừu tượng, thì sự phân loại nó lại còn khó hơn lắm nữa, há đợi phải nói mới hiểu ư? Bởi sự phân loại là khó, cho nên một vạn nhà học giả đời nay, nhà nào cũng phải lấy làm chú ý. Rốt lại, họ có một cái phép để giá ngự: Nếu phân loại mà không tiện thì không phân. Mới nghe cái phép như là thụt lùi ấy, ta hẳn tưởng là họ làm biếng. Không phải đâu. Bởi vì ấy là cái nước đáo đầu, không thể chạy đi đường nào được. Thật vậy, nếu phân loại là khó, phân ra nhiều loại mà loại nầy nó cũng không khác gì loại kia, hay là nó cũng có thể lộn với loại kia, thì còn phân làm chi? bất nhược đừng phân là hơn vậy. ''Việt Nam Tự điển'' của hội Khai trí chính đã phạm vào sự cấm kỵ ở chỗ đó, cái chỗ phân loại không được mà cũng cứ phân, lại muốn phân cho càng tách bạch ra; nhưng có được đâu, càng phân chừng nào lại càng lộn xộn chừng nấy. Sẵn trên bàn viết có bộ đại tự điển ''Larousse (Larousse Universel)'', biên tập dưới quyền chỉ huy của ông Claude Augé, tôi đem so sánh với tập ''Việt Nam Tự điển'', thì thấy trong mỗi chữ, bộ kia không có phân loại nhiều và kỹ như tập nầy. Đó không phải là ông Claude Augé cùng bạn đồng sự với ông ấy dở hay làm biếng hơn ông Bùi Kỷ cùng mấy ông Tú ta; có điều tại họ biết sự phân loại là khó, là bất tiện, nên họ tránh đi vậy. Tập ''Việt Nam Tự điển'' được cái may là làm sau nhiều thứ tự điển của các thứ tiếng, cũng sau bộ đại tự điển ''Larousse'' nữa, có lẽ các tay biên tập họ nghĩ rằng hễ là cái gì làm sau thì thường thường là hơn bao nhiêu những cái đã làm từ trước, cho nên mới cố làm cho kỹ để đạt tới cái mục đích ''hậu lai cư thượng'' mà chơi; không dè chính bởi ở chỗ muốn kỹ hơn người ta đó mà trở thua người ta, – lời nầy tôi nói một cách quả quyết. Ta hãy lấy ra một chữ A mà xem. Xem một chữ A đầu, tôi thấy ra người biên tập rất chú trọng về sự phân loại. Cách phân loại của họ không có đặt ra những danh từ gì để mà gọi. Nay tôi muốn phân tích cho thật rõ thì phải tạm đặt ra nhiều tên rồi nói mới trôi. Trong một chữ A, họ chia làm hai bộ phận, là ''A đơn'' và ''A kép'': ''A đơn'' có một tiếng mà ''A kép'' thì ghép từ hai tiếng trở lên, như ''a-men'' cho tới ''a-di-đà-phật''. Cái sự chia làm hai ''bộ phận'' ấy phải lắm, tôi biểu đồng tình. Rồi trong chữ ''A đơn'', họ mói chia ra ''chủng'', ''loại'' và ''biệt'' nữa. Rắc rối là tại ba khoản nầy, tôi không nhận cho làm vậy là phải. Để tôi kể hết ra đây rồi tôi sẽ giải cái sở dĩ theo sau. Về ''chủng'' thì chữ ''A đơn'' họ chia làm tám ''chủng'', những chữ A ấy đều in bằng ''Latin đen'' cả. Vì mỗi chữ A có một nghĩa riêng, thì chia như vậy là phải. Nhưng có chỗ đáng chỉ trích, là nhằm chữ có một nghĩa mà họ cũng chia làm hai. Ấy là như ''chủng'' thứ ba và thứ tư. ''Chủng'' thứ ba chia làm hai loại: "I, ''Đồ làm ruộng để cắt rạ ở ruộng chiêm''", ấy là danh từ; "II, ''Cắt rạ bằng cái a''", ấy là động từ. Rồi đến ''chủng'' thứ tư: "''Vơ lại thành đống : a cỏ vào bờ cho gọn''", thì chữ nầy cũng lại là một động từ vậy. Coi đó thì cái chữ A về ''chủng'' thứ tư chẳng qua do chữ A ở ''loại'' thứ II của ''chủng'' thứ ba mà ra, ''a rạ'' với ''a cỏ'' thì cũng là đồng một công dụng trong khi dùng cái lưỡi a hết, làm sao lại chia ra như thế được? Không đáng chia mà chia, luống làm cho rộn mắt đó thôi. Đến ''loại'' và ''biệt'' lại còn khó chịu lắm nữa! Để tôi nói hết mà nghe, chắc các ông biên tập ''Việt Nam Tự điển'' cũng phải bụm miệng cười với nhau và hỏi nhau rằng: "Ủa! chúng mình làm cái gì bấy lâu nay mà kỳ quá vậy!" Tôi nói ''loại'', tức là, trong Tự điển ấy, những điều đã chia ra mà ghi bằng những chữ số Romain; nói ''biệt'', tức là những điều đã chia ra mà ghi bằng những chữ số Arabe. Như chữ A, ''chủng'' thứ hai, chia làm bốn ''loại''; và ''loại'' thứ I chia làm năm ''biệt''. Bốn ''loại: loại'' thứ I chia làm năm biệt: "1. Một thứ tiếng kêu, đứng đầu hay cuối câu: ''A vui! A thích! Đẹp a! Sướng a!'' 2. Chỉ ý bất thình lình mà hỏi: ''Ông đây a''? 3. Chỉ ý kinh dị mà hỏi: ''A quái nhỉ? Đông dữ a!'' 4. Chỉ ý hỏi mỉa: ''Da mồi tóc bạc ta già nhỉ, áo biếc đai vàng bác đấy a''? 5. Chỉ ý hỏi trách: ''Chị đã năn năn nỉ nỉ mà em không nghe chị a em''?" Nội năm ''biệt'' đó, đã thấy nó chống với nhau, không chịu được rồi. Phàm cái gì mà chia ra là vì nó có khác. Song trong năm ''biệt'' trên đó, xin ai nấy coi, có thể nói mỗi ''biệt'' nầy khác hẳn với ''biệt'' kia không? ''Biệt'' thứ 2 chỉ ý bất thình lình thì khác gì với ''biệt'' thứ 3 chỉ ý kinh dị? ''Ông đấy a''? thì khác gì với ''A quái nhỉ'' và ''Đông dữ a''? Lại trong ''biệt'' thứ 4, chữ ''bác đấy a''? trong câu thơ Yên Đổ, tuy có ý mỉa mặc dầu, cái ý ấy chỉ ở ngoài lời nói, chớ còn bổn chất chữ "a" ấy cũng chẳng có phân biệt gì với chữ "a" trong cái ví dụ "ông đấy a?" trên kia, thì làm sao lại chia ra? Vì sự tiện trong khi hành văn nên tôi trót nói cái ''biệt'' ở trước; đây xin nói đến ''loại''. ''Loại'' II của chủng thứ hai ấy là: "Tiếng reo mừng: ''A quân ta được rồi! A! A! mẹ ta đi chợ đã về''". Vậy thì tôi dám hỏi, cái ''tiếng a reo mừng'' ấy, nó có khác gì với cái tiếng kêu ''đẹp a, sướng a'' trên kia chăng? Cho đến ''A vui! A thích!'' thì cũng coi là ''tiếng reo mừng'' được vậy chớ. ''Loại'' thứ III: "Giọng kêu trong tuồng, trong chèo: ''Hảo a! Úy a! Ối a!''" ''Loại'' nầy tưởng nên bỏ đứt đi là phải, bởi vì cái khác của tiếng nói nên phân biệt ở khi người ta phát nó ra bằng cách nào, chớ không có thể phân biệt bởi tuồng hoặc chèo; nếu bởi đó mà phân biệt thì còn thiếu gì nơi dùng mà phân biệt được nữa? Mà "''Hảo a! Úy a!''" nếu đem cho vào nơi ''tiếng reo mừng'' và ''chỉ ý bất thình lình, kinh dị'' cũng được, thì sao đặt riêng nó ra một loại làm chi? Trên đó tôi tìm ra những chỗ không đáng chia mà chia ở trong một phần của chữ A đó; những lời biện nạn của tôi, nghe như lộn xộn một chút, song nếu ai có sẵn một tập ''Việt Nam Tự điển'' trong tay đem mà đối chiếu nhau thì thấy những chỗ tôi chỉ trích rất rõ ràng. Theo lẽ trên đó, tức là theo phương pháp khoa học, khi phân loại không tiện thì chớ nên phân, tôi tưởng trong chữ A đó và trong các chữ khác nữa đều nên xóa hết những cái ''biệt'' rộn ràng đi mà chỉ để nội ''bộ phận'' và ''chủng, loại'' là đủ. Nghĩa là cũng chia, mà đừng chia tách bạch quá, nẻ nóc quá. Ai lại chẳng muốn cho cái gì cũng được tách bạch, nẻ nóc, nhưng gặp cái không làm được, ta cũng phải không làm. Phân tích tiếng A về ''chủng'' thứ hai đó ra, tôi tưởng chỉ phân tích đến hai ''loại'' là cùng: Ấy là ''tiếng kinh dị'' và ''tiếng reo mừng''. Rồi dưới mỗi ''loại'' lấy nhiều nhiều ví dụ là được. Có sợ sót thì thêm một ''loại'' là ''tiếng cảm thán'' nữa: như ''Ái a! Ối a! Ru con a hả a hà''. Kể ra thì bộ Tự điển của hội Khai trí đây nếu thành công ra sẽ đứng đầu các tự điển tiếng ta đã làm từ đó đến giờ. Vì thâu được nhiều chữ, biên tập có công phu; lại thêm có chua chữ Hán, có mục ''Văn liệu'', tiện cho người tra xem nhiều đường lắm. Cái điều tôi chỉ trích trên đó là chẳng qua muốn cho một cái công trình lớn lao như vậy sẽ được hoàn toàn hơn đó thôi; nếu lời tôi nói là phải và nếu hội Khai trí dủ nghe, thì là một cái ích lợi chung cho cả và hậu sanh sau nầy, chẳng phải riêng gì một mình ai vậy. Còn những chỗ sai lầm mà không có thể kể hết thì tôi xin kể lấy một chỗ ra đây. Như chữ A, ''chủng'' thứ ba, ''loại'' I, nói rằng: "Đồ làm ruộng để cắt rạ ở ruộng chiêm", rồi lại chua ngay theo rằng: "Nam kỳ gọi là cái trang cái gạc". Nói vậy thì sai quá. Vả cái a nếu là cái rèn bằng sắt để cắt rạ thì có phải là ''cái trang'' của Nam kỳ đâu? ''Cái trang'' Nam kỳ làm bằng săng, để quào lúa, không răng gọi bằng ''trang'', có răng gọi bằng ''bù quào''. Còn cái a bằng sắt để cắt rạ thì ở Nam kỳ cũng gọi cái lưỡi hái hoặc có nơi gọi cái liềm cắt rạ. Đến như cái ''gạc'' thì trong đồ làm ruộng Nam kỳ chẳng có tiếng ấy, chẳng có cái gì là ''cái gạc'' cả. Những chỗ sai lầm như vậy chẳng phải là lỗi của các ông biên tập đâu. Lỗi tại trong việc biên tập có ít người quá. Không đủ người các nơi thì lấy ai mà biết cho hết những việc vặt vãnh mà bình nhựt họ không hề để ý đến làm chi. Lại còn một cái lỗi là tại không có in hình. Nếu vẽ hình ''cái a'' mà in lên thì dầu cho có nói tức ''cái trang'' của Nam kỳ cũng không làm lầm ai được. Sau nữa có một điều nên nói là sự chua ở dưới một chữ nào đó rằng "tiếng Nam kỳ", hay "tiếng Trung kỳ, Bắc kỳ". Sự đó, theo tôi, cho là vô ích. Ta đã kêu là ''Việt Nam Tự điển'' thì ta còn để cái dấu phân biệt ấy làm chi? Xem thử tự điển Lang Sa, họ có phân riêng tiếng từng miền như vậy không? Nếu một tiếng nào đã nhìn nhận cho là tiếng Việt Nam thì cứ để vào Tự điển Việt Nam, chớ chẳng còn nên chia ra xứ nầy xứ kia làm chi hết. Muốn nói thêm nữa thì trong tập Tự điển đó cũng có chỗ đặt câu thích nghĩa hay là ví dụ không được trôi chảy, hoặc thừa ra. Những chỗ nầy về sau thế nào cũng phải sửa lại thì mới trọn lành. Chữ A, ''chủng'' thứ tám, mà thích nghĩa rằng: "''Theo tựa vào người. Không dùng một mình''". ''Theo tựa vào người'' thì được, và cũng đủ nghĩa rồi, sao lại còn thêm những chữ ''Không dùng một mình'' vào làm chi? Câu ấy đã thừa mà nghĩa nó còn không chạy nữa, vì người ta sẽ hỏi được rằng: Dùng là dùng cái gì? Nếu đáp rằng "mình dùng lấy mình" thì nghe ra lơ lửng quá. Vả lại ''Không dùng một mình'' thì đâu có nảy ra được cái ý ''a dua'' hay là ''a tùng''?<ref>Khi bài nầy gần lên khuôn, một ông có quyền đọc trước, nói với tôi rằng: "Chữ ''Không dùng một mình'' đó có lẽ là nói chữ a ấy không dùng một mình, phải đi theo tiếng khác, như trong tiếng Pháp nói "ne s'emploie pas seul", có điều tại họ không dùng chữ in cho phân biệt, thành ra chẳng ai hiểu chi hết!" Tôi bèn coi lại tập Tự điển, thấy chỗ khác cũng có vậy, thì ra lời ông ấy nói trúng lắm, tôi xin phụ vào đây, không dám cướp làm của tôi. - P.K. (nguyên chú)</ref> Tóm lại, trong bài nầy tôi lấy làm hệ trọng nhứt là sự phân loại đã nói trên đó. Chỗ ấy tôi rất mong hội Khai trí và các ông biên tập để ý đến mà sửa sang đi. Còn mấy điều vặt vãnh sau, tôi chỉ nói sơ qua, xin những người có trách nhiệm trong việc ấy hãy cẩn thận mà xem xét từng chút. Đến như có ai trách tôi rằng làm không làm được, chỉ chực người ta làm ra rồi chỉ trích, thì tôi dám cầm người ấy là nói bậy. Tôi sẽ nói lại với họ rằng: Cái đời tôi, chẳng có làm gì hết, chỉ có chực chỉ trích mà thôi, – thì họ làm gì tôi? {{phải|'''PHAN KHÔI'''}} }} {{chú thích cuối trang}} [[Thể loại:Bài báo]] omdqd3yev2f9fk79ptqxqcx35fh6hmf Khắc họa xã Hưng Trung 0 72180 205134 205128 2026-05-06T04:50:53Z ~2026-27373-48 20153 205134 wikitext text/x-wiki {{delete|out of project scope}} {{Đầu đề | tựa đề = Khắc họa xã Hưng Trung | tác giả = Cay Senhong | năm = 2018 | ghi chú = Tác giả là người con của xã Hưng Trung, Hưng Nguyên, Nghệ An }} {{Thông tin tác phẩm | tác giả = Cay Senhong | thời gian = 2018 | nơi xuất bản = Hưng Trung, Hưng Nguyên Nghệ An(địa chỉ mới Xóm Hưng Trung 8 : xã yên Trung, Nghệ An ) | nguồn = Tác giả đăng trực tiếp | giấy phép = {{CC-BY-SA-4.0}} }} KHẮC HỌA XÃ HƯNG TRUNG Quê tôi gian khổ, thủy chung Ai qua mãi nhớ, Hưng Trung, Chợ Cầu Thôn quê nông nghiệp làm đầu Khi úng khi hạn,ai cầu được đâu Tùng Hoang,Tùng Bến, ngập sâu Mỗi lần mưa đến là đâu thấy bờ Bao nhiêu đồng ruộng bơ vơ Lụt đến là hết, đợi chờ trâu sang Quê tôi gồm có sáu làng Bùi Ngọa là gốc là chàng chở che Làng Tùng, ai chẳng dám chê Lắm nghề, chịu khó, ai về làm dâu Xưa chanh nhiều nhất ở đâu? Thanh Phong vô địch, đứng đầu xã ta Ven sông làng nhỏ, Ngã Ba Một con đò bé, đậm đà tình xưa Bán buôn chẳng kể sớm trưa Bùi Chu, sông chợ, nắng mưa, mặc người Vạn Hồng, đôi chốn đôi nơi Bùi Thượng, Bùi Hạ, đời đời bên nhau Quê mình nổi tiếng thơm lâu Hai ông Tộ,Tụy đứng đầu rạng danh Trái thơm, trái ngọt cả cành Cha ông đi trước, xuất hành đời sau Hỡi ai dù ở nơi đâu ! Là con đất mẹ, nhớ câu ân tình Muôn vàn tình nghĩa đẹp xinh Hưng Trung trong bạn, trong mình thiết tha. Tác giả:Cay Senhong [[Thể loại:Thơ lục bát Việt Nam]] ktvkh0ymgo1doykfvq870wvkzi1gd2t Tình quê Hưng Trung 0 72182 205135 205125 2026-05-06T04:51:22Z ~2026-27373-48 20153 205135 wikitext text/x-wiki {{delete|out of project scope}} |Tựa đề = Tình quê Hưng Trung |Tác giả = Cay Senhong |Thế loại = Truyện ngắn |Năm = 2026 | Ghi chú = Tác giả là người con của Hưng Trung, Hưng Nguyên, Nghệ An (Yên Trung, Nghệ An) TÌNH QUÊ HƯNG TRUNG Hưng Trung – Cái tên gọi nghe sao mà thân thương và bình dị đến thế. Đó là một vùng đất hiền hòa,nơi những con đường làng quanh co ôm lấy từng nếp nhà cũ mới đan xen,nơi mà bốn mùa luân chuyển và mang theo những cung bậc cảm xúc rất riêng của đất trời miền Trung đầy nắng gió. ​Ở Hưng Trung quê mình,thời tiết không chiều lòng người theo kiểu dịu dàng quanh năm_Đông đến gió ngang lạnh se sắt lòng người và bàng,xoan trơ trụi lá_Xuân sang mưa bụi rắc trên những mầm non_Nhưng khắc nghiệt nhất vẫn là mùa hạ với gió Lào khô nóng. ​Khi những chùm hoa phượng bắt đầu thắp lửa,cũng là lúc cái gió Lào tây nam tràn về. Ngọn gió mang theo cái nóng hầm hập,khô rát như thể vắt kiệt chút hơi ẩm cuối cùng của đất trời_Nó thổi từ Chùa Đại Tuệ rồi băng qua làng Bùi Thượng,Bùi Hạ rồi trườn qua làng Tùng,Bùi Ngọa, xuống tận Thanh Phong,Ngã Ba và Bùi Chu,cuối cùng không biết nó dừng lại ở nơi đâu. Những buổi trưa hè,gió thổi ràn rạt qua rặng tre,tiếng lá xào xạc khô khốc...Khi thời tiết hè sắp chuyển sang thu,gió tây nam giường như đã thấm mệt và thổi nhẹ nhàng hơn... Nhưng rồi,khi đông sang,cái nóng ấy lại nhường chỗ cho cái rét của mùa đông.Thời tiết vào giữa đông có lúc xuống thấp dưới 13 đến 14 độ. Những buổi sáng sớm sương muối giăng mờ lối đi, ai ra đồng cũng phải quấn thêm lớp khăn len dày_Những người ra đồng sớm chăm ruộng,đi bắt dam,lấy ống lươn,thăm lưới... đều phải lội dưới bùn sâu buốt giá. Bạn có biết không_​Hưng Trung quê mình,sống nhờ cây lúa. Nhìn từ xa, cánh đồng như một tấm thảm khổng lồ thay màu theo mùa: lúc thì xanh mướt mát của thời con gái,lúc lại vàng ươm,óng ả trải dài tận chân trời khi mùa gặt bắt đầu... ​​Giữa không gian của làng quê thanh bình ấy,tình yêu của tôi và người con gái ấy cũng theo bốn mùa nảy nở đơm hoa_Vâng ! Rất giản dị đơn sơ như khóm lúa bờ tre nhưng lại bền bỉ đến lạ thường trước bao mùa giông bão. ​Tôi nhớ,có những ngày đông giá rét, khi nhiệt độ xuống thấp,tôi và em cùng nhau đi cấy. Hai đứa đứng dưới ruộng, bùn ngập đến bắp chân,đôi tay tê cóng vì cái lạnh tê tái của cái rét ở nơi đây. Tôi nhìn em,chóp mũi đỏ ửng vì gió lạnh,chiếc nón lá che nghiêng nhưng vẫn không giấu được nụ cười hiền hậu. Những lúc ấy,một cái nắm tay vội dưới mặt nước bùn, hay một cái bánh của mẹ mua vội gửi ra đồng cũng đủ để xua tan cái giá lạnh của mùa đông... ​Rồi mùa hạ tới, cái nóng của gió Lào như thử thách lòng người. Giữa cái nắng cháy da cháy thịt, chúng tôi lại cùng nhau đi gặt. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo,tiếng liềm cắt lúa sột soạt hòa cùng tiếng cười nói rộn rã của bà con trên cảnh đồng. Có những lúc mệt nhoài, hai đứa ngồi nghỉ dưới bóng bạt được làm bằng những bao xi măng và cắm bởi hai cây đòn xóc,chia nhau ngụm nước chanh muối... Cuối chiều nhìn những xe lúa đầy ắp lăn bánh về làng thật bình yên. Khó khăn là thế,nhưng chính cái nắng,cái gió rát mặt ấy lại làm cho tình cảm của chúng tôi thêm mặn nồng,bền chặt... ​Kỷ niệm đẹp nhất và thơ mộng nhất có lẽ là những đêm trăng mùa hạ trên sân lúa_ Sau một ngày gặt hái vất vả,lúa được đổ đầy sân phơi. Dưới ánh trăng,không gian thoang thoảng mùi hương lúa mới,mùi rơm rạ thơm nồng mà thanh khiết đến thật là lạ... ​Chúng tôi ngồi bên nhau trên đống rơm khô,mắt ngắm nhìn về vầng trăng đang tỏa sáng trên rặng tre già. Em khẽ tựa đầu vào vai tôi,nói về những ước mơ giản dị sau này. Tiếng dế mèn nỉ non, gió đêm mơn man thổi nhẹ làm dịu đi cái nóng hầm hập còn sót lại của ngày hè. Bất chợt,em nói với tôi: _Giá như chúng mình được cùng nhau ngắm trăng mãi mãi _Tôi gật đầu: _Em thấy không,ánh trăng đã thay mặt cả vũ trụ bao la đã thầm làm chứng cho tình yêu của chúng mình rồi đó ! Tôi nhìn trên gương mặt em một nụ cười hạnh phúc ... ​Thời gian trôi qua,trôi qua... Hưng Trung vẫn thế,làng Bùi Ngọa tôi vẫn vậy,mộc mạc và thanh bình... Rồi tình yêu của chúng tôi cũng như cây lúa, trải qua mùa đông giá lạnh và mùa hạ nóng ran,để rồi kết tinh thành những mùa vàng bội thu,ngọt ngào và bền vững. Tác giả : Cay Senhong 7xzzfon801joc6o52zsikiz4wvy27el Trang:Tien bac bac tien.pdf/46 104 72183 205137 2026-05-06T10:10:04Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205137 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 44 —|}}</noinclude>không thế chịu được. Anh ta đọc thơ tới câu: « Thôi, nhơn duyên tại trời định, vậy xin bạn chớ khá buồn » thì anh ta càng buồn hơn nữa. Biết đâu là nhơn duyên? Ai dám chắc mình không có duyên nợ với Thanh-Kiều? Nếu không có duyên nợ thì có lẽ nào trời lại xui cho Bá-Kỳ bày chuyện như vậy. Nếu không có duyên nợ thì sao mình nghe Thanh-Kiều có chồng mình lại tức giận. Đừng buồn sao đặng, mà biểu đừng buồn! Thôi, trong ít ngày nữa đây Thanh-Kiều sẽ làm vợ ông Thầy-thuốc sang trọng hơn mình biết chừng nào! Thanh-Kiều ôi, em không có lòng thương qua chút nào hay sao? Em đành lấy chồng hay sao? Em là em ruột của Bá-Kỳ, mà Bá-Kỳ thương qua, sao em không thương? Hiếu-Liêm nghĩ tới đó thì đau-đớn quá chịu không nổi, nên hai tay chống trên bàn rồi ôm đầu mà khóc. Cao-Thị nằm mơ-màng chớ chưa ngủ, bỗng nghe tiếng khóc thút-thít không rõ ai khóc ở đâu, nên dở mùng chun ra, chừng ngó thấy con nước mắt chàm-ngoàm, bà kinh hãi, lật-đật hỏi con coi có việc gì quan hệ đến nỗi thảm sầu như vậy. Hiếu-Liêm lỡ cấp không thế giấu giếm việc riêng của mình nữa được; đã vậy mà tình ức{{nct}}<noinclude></noinclude> 5cbubuiu384nknvftev5l7i5acf3t80 Trang:Tien bac bac tien.pdf/47 104 72184 205138 2026-05-06T10:10:05Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205138 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 45 —|}}</noinclude>uất chất chứa tràng-trề trong trí cần phải tỏ ra đặng dảm bớt thảm sầu, nên ngồi và khóc và thuật rõ đầu đuôi mọi việc lại cho mẹ nghe, thuật chuyện Bá-Kỳ tính với mình trên xe, thuật lời kiêu căng của Đỗ-Thị trong lúc đêm vắng, rồi cũng đọc bức thơ mới tiếp hồi chiều nữa, chẳng giấu một chỗ nào hết. Cao-Thị ngồi châm-chỉ nghe, sắc mặt như thường, không buồn mà cũng không giận. Chừng Hiếu-Liêm nói dứt rồi bà mới nói rằng: « Phận người ta giàu sang, còn phận mẹ con mình nghèo hèn, tự nhiên người ta khinh thị mình, ấy là tình thường, con giận làm chi. Con hãy nghe lời mẹ, cứ nắm giữ nhơn nghĩa mà ở đời, ai giàu sang mặc họ, con đừng thèm dua bợ ganh ghét ai, tự nhiên con vui-vẻ. Vợ chồng ông Bá-Vạn chê con hèn hạ không chịu gả con gái cho con thì thôi, người giàu sang mà tánh tình như vậy con cũng chẳng nên tiếc làm gì. Mà sao con nghe cô Thanh-Kiều lấy chồng con lại tức, thế khi con có tình riêng với cô Thanh-Kiều hay sao? » Hiếu-Liêm cúi mặt xuống bàn nói nhỏ nhỏ rằng: « Con thương cô lắm! » Cao-Thị nghe mấy lời thì biến sắc, ngồi suy nghĩ một hồi rồi hỏi rằng: {{nop}}<noinclude></noinclude> g97uba6r1jl01848wv5sk1qnn2pte7v Trang:Tien bac bac tien.pdf/48 104 72185 205139 2026-05-06T10:10:07Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205139 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 46 —|}}</noinclude>— Vậy mà cô có thương con hay không? — Thưa, con không biết lòng cô được. Thuở nay con tới lui chơi với Bá-Kỳ thì cô vui-vẻ tử-tế vậy thôi, chớ có không có tỏ ý chi khác. — Nếu vậy thì cô có tình gì với con đâu mà con thương. Hay là con thấy cô giàu có nên con thương, phải hôn? — Thưa, má nói như vậy thì hèn cái tình của con quá. Con thương Thanh-Kiều là vì nết vì hạnh, chớ tiền bạc mà sá gì. — Người ta đã khinh thị con, mà con còn thương người ta làm chi? — Khinh thị con là mẹ của cô, chớ cô có nói tiếng chi đâu. — Nếu cô có lòng thương con thì có lẽ nào cô lại chịu ưng chỗ khác. Hiếu-Liêm nghe câu ấy thì châu mày, ngồi gãi đầu một hồi rồi đứng dậy, bộ giận lắm, nên nói rằng: « Rau nào sâu nấy, mẹ như vậy thì con cũng chẳng khác gì. » Anh ta quày-quả dẹp đèn đi ngủ, không thèm tưởng tới Thanh-Kiều nữa, mà có nhớ tới thì là giận, chớ không phải buồn như trước vậy. {{nop}}<noinclude></noinclude> mhf4n9lu7ryrvg247vfr0zgyvw6u19a Trang:Tien bac bac tien.pdf/49 104 72186 205140 2026-05-06T10:10:08Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205140 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 47 —|}}</noinclude>Cách 5 ngày sau, nhầm chúa-nhựt, sớm mai thức dậy, Hiếu-Liêm thay áo đổi quần rồi đi ra chợ Bến-Thành cũ mà chơi. Vừa quẹo qua giãy phố chà-và bán vải, anh ta dòm thấy xe-hơi của Bá-Vạn đậu dựa lề đường, trên xe có một mình Thanh-Kiều ngồi mà thôi, mà mặt mày buồn xo, chớ không phải tươi-tắn sáng-sủa như khi trước vậy. Anh ta ngó cô trân-trân, chừng đi lại gần cô day qua ngó thấy, cô vùng la lên một tiếng rồi lật-đật mở cữa xe tính leo xuống. Hiếu-Liêm ngó cô hoài, có ý làm cho cô biết mình đã thấy cô, rồi day mặt chỗ khác mà đi tuốt, dường như người thuở nay không quen biết chi hết vậy. Hiếu-Liêm đi khỏi rồi trong bụng nói thầm rằng: « Nó đi mua đồ về sửa soạn dọn đám hỏi đa. » Về đến nhà anh ta cũng thuật việc ấy lại cho mẹ nghe, mà trong lời nói của anh ta thì nghe có hơi oán hận, chớ không phải sầu thảm như trước nữa. Còn Thanh Kiều tình cờ gặp Hiếu-Liêm, cô lật-đật xuống xe chắc là ý cô muốn tỏ chuyện chi đó, bỡi vì khi cô thấy Hiếu-Liêm làm lơ đi tuốt rồi, thì cô ngồi lại, mặt mày tái lét, cập mắt nháy lia, quày đầu ngó theo Hiếu-Liêm rồi lại lấy khăn nhỏ ra lau nước mắt. {{nop}}<noinclude></noinclude> aa1fh1t9bz786tcj7u5cvuoxjmtb85q Trang:Tien bac bac tien.pdf/50 104 72187 205141 2026-05-06T10:10:10Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205141 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 48 —|}}</noinclude>Đến ngày Thầy thuốc Thái-Thường đi lễ hỏi thì nhà Bá-Vạn khách đông dầy-dầy, lại cũng có rước bà Phủ Khánh-Long ra thị sự nữa. Trong tiệc chủ khách chẳng nói chuyện chi khác hơn là chuyện tranh cử Hội-đồng, mà nói chuyện tranh cử thì ai cũng ngợi khen tài đức của Bá-Vạn và ai cũng chắc Bá-Vạn sẽ đắc cử. Tuy Bá-Vạn là người ở trong bực hàn vi mà xuất thân, vốn đã nếm đủ mùi đời cay đắng, vốn đã từng quen đen bạc nhơn tình, nhưng vì lời khen tiếng chúc vấn-vít bên tai hoài, rồi đắc ý phỉ tình, trong trí tưởng có một mình anh ta đáng làm Nghị-viên Hội-đồng Quản-hạt mà thôi, chớ không còn ai nữa hết, nên sốt sắng quyết lo cho được, thường nói với vợ con cùng với người thân-thích rằng dầu hết nhà anh ta cũng vui lòng. Đỗ-Thị đã có ý ham làm « bà Hội-đồng » nên thấy chồng như vậy bà càng vui mừng, vợ chồng hiệp ý đồng lòng, nay tiếp khách, mai đi làm quen, xài phí luôn mấy tháng, đến chừng quan định ngày cử thì tốn hao đã hơn ba ngàn đồng bạc. Rủi cho Bá-Vạn, kỳ tuyển cử này có hai người đối đầu, một là Lý-thiên-Thành ở Chợ{{nct}}<noinclude></noinclude> 48sbar0snwa8joxpyudz1xcayrr719h Trang:Tien bac bac tien.pdf/51 104 72188 205142 2026-05-06T10:10:12Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205142 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 49 —|}}</noinclude>lớn, tuy nhà không giàu lớn, song có tài học rộng lại có danh nhiều, hai là Lê-văn-Bính ở Khánh-Hội, sự nghiệp đến hai ba chục muôn, nên cũng quyết thí năm bảy muôn ra mà mua chức. Tuy Bá-Vạn biết tài của mình không bằng Lý-thiên-Thành, còn thế của mình không bằng Lê-văn-Bính, nhưng vì lòng ham muốn đã tràng-trề không thể dằn được, lại lỡ tốn hao đã nhiều rồi không lẽ nhịn thua, bỡi vậy anh ta nhắm mắt đánh liều, xuất tiền bạc mà mua thăm, họ mua bao nhiêu mình cũng mua bao nhiêu, lại hứa đến ngày chót sẽ trao thêm cho cử-tri mỗi vị vài ba đồng bạc đặng đi xe nữa. Đến bữa tuyển cử Bá-Vạn lớp mướn xe hơi để đi rước cử-tri, lớp mướn tiệm cơm để mà đãi cử-tri ăn uống, tiền bạc tuôn ra như nước chảy, mấy người lãnh đi lo hễ hỏi bao nhiêu thì đưa bấy nhiêu. Té ra chừng khai thùng thăm rồi thì Bá-Vạn tuy thắng số thăm hơn hai người kia, song không được phân nửa số người có đi bỏ thăm, nên quan trên định hai tuần lễ sau sẽ bỏ thăm mà cử lại. Vợ chồng Bá-Vạn về nhà tính lại thì tốn hao trong mấy ngày sau đây đã gần mười một<noinclude></noinclude> qw2ap2ypd2qge9g31tjwtid9jaxghdg Trang:Tien bac bac tien.pdf/52 104 72189 205143 2026-05-06T10:10:14Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205143 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 50 —|}}</noinclude>ngàn đồng. Bá-Vạn biến sắc, thấy tốn hao quá thì giựt mình, nên nằm xụi-lơ, cứ nhắm mắt mà thở dài, không nói chi hết. Mấy người lãnh đi lo giùm, mỗi người đều có một cái xe hơi, lục-thục đều tựu về nhà đủ mặt, kẻ đấm ngực than tức, người châu mày làm giận, ai cũng nói kỳ thứ nhì hễ ai nhiều thăm hơn hết thì được, chẳng luận số bao nhiêu, và ai cũng khuyên Bá-Vạn đừng thối chí, bỡi vì mình đã nhiều thăm hơn hết, lại Lê-văn-Bính có tiền nhiều mà anh ta đứng chót, thế thì kỳ thứ nhì chẳng sợ gì. Đỗ-Thị với Bá-Vạn nghe lời hữu lý thì bớt buồn, nên tính tranh nữa, chớ không chịu nhịn thua. Khách ăn uống rồi tản lạc về nghỉ. Vợ chồng Bá-Vạn tính sổ lại thì tiền tốn hao về cuộc tuyển cử, từ khi mới khởi ra cho đến ngày ấy, kể hơn 14 ngàn đồng. Bá-Vạn suy nghĩ nếu ra tranh cử lần thứ nhì chắc là còn phải tốn trên một muôn nữa, mà trong nhà bạc mặt chỉ còn có vài ba ngàn mà thôi, thì làm sao mà lo cho đặng. Bá-Vạn tính đi vay bạc xã-tri thêm một muôn. Đỗ-Thị nghe nói đi vay thì giựt mình, vì sợ nếu trật cử rồi lấy bạc đâu mà trả nợ, nên khuyên chồng vô năn{{nct}}<noinclude></noinclude> onsx0rygcb7r87cjn3x7zmi2g0u6xzx Trang:Tien bac bac tien.pdf/53 104 72190 205144 2026-05-06T10:10:15Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205144 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 51 —|}}</noinclude>nỉ với bà Phủ Khánh-Long mà mượn, chừng nào bà không cho mượn rồi sẽ hay. Bá-Vạn nghe lời vợ đi mượn bạc của chị. Bà Phủ lắc đầu, mắng Bá-Vạn tính chuyện bá-láp uổng tiền nên bà nhứt định không cho. Bá-Vạn mượn bạc không được mà lại còn bị mắng thì giận, nên về ghé {{sic|chà|nhà}} xã-tri thế bằng-khoán nhà đất mà xin vay mười ngàn đồng, quyết tranh cử cho được rồi nhiếc chị lại cho đã nư giận. Đỗ-Thị sợ nửa chừng mà hụt tiền thì khó, nên lén đem hột-xoàn thế cho bà Đội Thinh rồi vay thêm ba ngàn nữa mà để sẵn trong nhà. Cuộc tuyển cử lần thứ nhì tranh với nhau còn kịch-liệt hơn lần trước nhiều nữa. Lê-văn-Bính sai người đi rảo khấp các làng các tổng mà đưa trước cho cử-tri mỗi vị 20 đồng. Bá-Vạn hay tin ấy thì kinh tâm, song không lẽ nhịn thua, nên phải tăng số đưa cho mỗi người 25 đồng. Lý-thiên-Thành thấy thái độ của cử-tri hèn hạ, ai cũng quyết đem quyền bỏ thăm ra đấu giá mà bán, chớ không biết dùng quyền ấy mà lựa người xứng đáng đặng bàu cử để thay mặt lo những việc ích quốc lợi dân, bỡi vậy<noinclude></noinclude> g1kbwq7w0n0luy3svy33419iqj5q5m3 Trang:Tien bac bac tien.pdf/54 104 72191 205145 2026-05-06T10:10:17Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205145 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 52 —|}}</noinclude>anh ta thối chí ngã lòng, còn vài ngày nữa tới bỏ thăm, anh ta cáo thối, không thèm tranh nữa. Bá-Vạn nghe Thiên-Thành thối rồi thì mừng thầm, chắc rằng những người bỏ thăm cử Thiên-Thành kỳ trước, thế nào kỳ này họ cũng về theo mình, chẳng dè đến ngày chót Lê-văn-Bính sai người đi vào trong các làng mà đưa thêm cho mỗi cử-tri 15 đồng bạc nữa, nên đến chừng khai thăm rồi thì Bá-Vạn thua Lê-văn-Bính 12 thăm. Bá-Vạn trật cử, tối tăm mày mặt muốn té xỉu. Mấy người quen áp lại đỡ rồi dắc ra xe hơi. Đỗ-Thị đã nghe tin rồi ngồi trên xe mà chết điến trong lòng, nước mắt tuôn ra hoài lau không ráo. Vợ chồng Bá-Vạn đi về dọc đường, cứ lặng thinh, không nói một tiếng. Chừng về tới nhà Bá-Vạn đi thẳng lên lầu rồi vô mùng mà nằm không kịp thay áo đổi quần, còn vợ thì nằm tại bộ ván để từng dưới, khăn đậy mặt, tay gác ngang qua trán cũng như người ngủ. Mấy ngày trước thiên hạ lui tới đầy nhà, ăn uống vui cười, nói chuyện inh-ỏi. Bữa nay tiu hiu, không thấy ai tới nữa, mà một lát có một người ghé ấy là ghé xin tiền đặng trả tiền<noinclude></noinclude> akr39uki39nvkwv87530pm6vh540um6 Trang:Tien bac bac tien.pdf/55 104 72192 205146 2026-05-06T10:10:19Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 205146 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||— 53 —|}}</noinclude>xe mà thôi, song thấy Đỗ-Thị nằm dàu-dàu không dám hỏi rồi bước nhẹ-nhẹ trở ra đi mất. Đêm ấy Bá-Vạn nằm nóng vùi, nên mê-man không biết chi hết. Rể là Như-Bình kiếm dầu mà thoa đỡ, còn Thanh-Huê với Thanh-Kiều thì lăng-xăng trong nhà mà mặt mày buồn xo. Sáng bữa sau Bá-Vạn hết mê, song trán rờ cũng còn nóng hực. Đỗ-Thị ép chồng rán uống một chén sữa, rồi sai Như-Bình vô nhà thương Chợ-Rẫy kiếm Thầy-thuốc Thái-Thường đặng biểu ra chẩn mạch {{sic|ồi|rồi}} điều trị giùm cho đắc ý. Đến trưa Thái-Thường mới ra, chẩn mạch rồi viết toa biểu kẻ gia-dịch cầm xuống Saigon mà mua thuốc. Đỗ-Thị trong lòng sầu não hết sức, phần thì trật cử hổ thẹn, phần thì tiền bạc hết, mà lại còn thêm mang nợ nữa. Bà muốn tỏ thiệt việc nhà cho Thái-Thường nghe, song bà sợ Thái-Thường biết rồi khinh khi nên bà ngại-ngùng không nỡ nói. Còn Thái-Thường thì ngồi chim-bỉm chẳng hề hỏi thăm việc tuyển cử Hội-đồng. Trẻ ở mua thuốc đem về, Thái-Thường dặn thứ nào uống giờ nào rồi từ mà về Cholon, nói rằng để trưa mai sẽ ra mà từng mạch lại. {{nop}}<noinclude></noinclude> nomgot1dx36zw13tmzb16hif2v0p6lc