Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.47.0-wmf.8
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
0
3156
205727
205667
2026-06-27T16:47:57Z
~2026-37110-69
20350
/* */
205727
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]]
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến thời Đệ nhất [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau. Bản hiến pháp bị bãi bỏ vào năm 1963 sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ nền Đệ nhất Cộng hoà và sẽ được thay thế bằng một bản mới 4 năm sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
cbtpoio9py0s3l4msv7o4prjw9af50m
Tuyên bố Việt Nam độc lập
0
30087
205726
205725
2026-06-27T16:46:06Z
~2026-37110-69
20350
Rút gọn
205726
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Tuyên bố Việt Nam độc lập
| tác giả = Bảo Đại
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1945
| ghi chú = Sau khi quân Nhật lật đổ Pháp tại Đông Dương, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Hoàng đế [[w:Bảo Đại|Bảo Đại]] đã tuyên bố Việt Nam độc lập khỏi Pháp. Trong bản tuyên bố này, ngoài chữ ký của Bảo Đại, còn có chữ ký của sáu vị thượng thư là [[Tác gia:Phạm Quỳnh|Phạm Quỳnh]], Hồ Đắc Khải, Nguyễn Phúc Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính. Nội dung dưới đây được lấy từ báo Sài Gòn, số 16875, ra ngày 13 tháng 3 năm 1945.
}}
{{văn|
Chính phủ Việt Nam nay thủ tiêu điều ước bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam và Đế quốc Việt Nam tuyên bố đã phục hồi sự độc lập.
Đế quốc Việt Nam từ nay về sau sẽ gắng sức phát triển như một nước Độc lập và lấy tư cách là một phần tử của Đông Á, sẽ thực hiện nền thịnh vượng chung và sự tồn tại chung của Đại Đông Á, theo đúng với nguyên tắc của bản tuyên cáo chung của nước Đại Đông Á.
Đế quốc Việt Nam tuyên bố ý muốn cộng tác tận tâm lực với Đế quốc Nhật, và tin tưởng ở lòng chân thành của nước Nhật để thực hiện những mục đích nói trên.
}}
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Tuyên ngôn]]
i2wci6kyfckj4ttzx15vfhmi53zxlr0
Biên dịch:Hòa ước Giáp Thân
114
34717
205732
125683
2026-06-28T08:30:08Z
~2026-37175-17
20352
/* */
205732
wikitext
text/x-wiki
{{Chất lượng vk|75%}}{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hòa ước Giáp Thân
| tác giả =
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| ngôn ngữ = fr
| bản gốc = Traité de Hué (1884)
| năm = 1884
| ấn bản = có
| ghi chú = Hiệp ước ký kết tại Kinh thành Huế vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 chứng nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với Đại Nam của nhà Nguyễn. Hoàng đế Đại Nam [[w:Bảo Đại|Bảo Đại]] sau đó tuyên bố hủy bỏ thoả thuận vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 nhưng đây chỉ là tuyên bố đơn phương. Chỉ đến năm 1949, thông qua Hiệp định Élysée mà cựu hoàng Bảo Đại ký với Pháp, nền bảo hộ mới chấm dứt.
Bản dịch này dựa trên bản gốc tiếng Pháp, có tham khảo bản dịch từ chữ Nho trong ''Đại Nam thực lục'' để bổ sung chi tiết về địa danh, tên và chức vụ của triều đình nhà Nguyễn. Các chú thích đều là của dịch giả.
}}
{{văn|
Chính phủ Cộng hòa Pháp và Đại hoàng đế nước Đại Nam, với mong ước ngăn ngừa vĩnh viễn sự phát sinh khó khăn như đã xảy ra gần đây, mong muốn tăng cường mối bang giao bằng hữu và láng giềng tốt, đã quyết định soạn ra hòa ước sau, và chỉ định các quan Khâm sai Toàn quyền của mình, bao gồm:
Tổng thống Cộng hòa Pháp: Toàn quyền đại thần [[w:Jules Patenôtre|Jules Patenôtre]].
Và Đại hoàng đế nước Đại Nam: Dự thương Phụ chính đại thần [[w:Nguyễn Văn Tường|Nguyễn Văn Tường]]; Thượng thư bộ Hộ [[w:Phạm Thận Duật|Phạm Thận Duật]] làm Khâm sai Toàn quyền đại thần; Tham tri bộ Công là Tôn Thất Phiên làm quyền Thượng thư bộ Công làm Phó toàn quyền.
Sau khi đã tham vấn các bề trên của mình một cách đúng đắn và thích hợp, đã đồng ý với các điều khoản sau:
{{g|{{sc|Điều 1.}}}}
Nước Đại Nam công nhận và chấp nhận sự bảo hộ<ref>Nguyên bản chữ Pháp là ''protectorat''. Bản chữ Hán của hòa ước (trong Đại Nam thực lục, đệ ngũ kỷ, quyển 4, trang 5) dùng chữ ''bảo trợ'' 保助 có nghĩa là ''giúp đỡ'', thay vì chữ ''bảo hộ'' 保護 có nghĩa là ''che chở, bảo vệ''. Đây là khác biệt rất lớn về ý đồ của hai bên ký kết. Tuy nhiên, trong hai bản chữ Hán và tiếng Pháp, chỉ có bản tiếng Pháp là có giá trị khi có tranh chấp theo Điều 19.</ref> của nước Pháp. Nước Pháp sẽ đại diện cho nước Đại Nam trong tất cả các quan hệ ngoại giao với nước khác. Những người Đại Nam ở nước ngoài sẽ được đặt dưới sự bảo hộ của nước Pháp.
{{g|{{sc|Điều 2.}}}}
Quân đội Pháp sẽ được đóng lâu dài ở cửa biển Thuận An. Tất cả các đồn lũy và công sự dọc theo sông sẽ bị triệt bỏ.
{{g|{{sc|Điều 3.}}}}
Các quan viên Đại Nam sẽ tiếp tục quản lý các tỉnh trong địa giới từ giáp tỉnh Biên Hoà, Nam Kỳ cho tới giáp tỉnh Ninh Bình, Bắc Kỳ, ngoại trừ nha Thương chính<ref>Nha Thương chính lo việc thuế quan.</ref> và cục Tạo tác<ref>Cục Tạo tác lo về công trình công cộng</ref> và, nói chung là, bất kỳ công việc nào cần tới sự điều hành hoặc có sử dụng kỹ sư hoặc nhân viên Âu châu.
{{g|{{sc|Điều 4.}}}}
Trong địa giới nói trên, ngoài cửa biển Thị Nại<ref>Thị Nại thuộc tỉnh Bình Định.</ref> đã mở thông thương, triều đình Đại Nam cũng sẽ mở các cửa biển Đà Nẵng<ref>Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam.</ref> và Xuân Đài<ref>Xuân Đài thuộc tỉnh Phú Yên.</ref> để thông thương với tất cả các nước. Các cửa biển khác về sau cũng có thể sẽ mở thông thương theo thỏa thuận chung. Chính phủ Pháp sẽ quản lý các cửa biển này theo lệnh của Khâm sứ đại thần tại Kinh.
{{g|{{sc|Điều 5.}}}}
Quan Khâm sứ đại thần, đại diện cho Chính phủ Pháp, sẽ quản lý công việc ngoại giao của Đại Nam và đảm bảo sự bảo hộ được diễn ra suôn sẻ, nhưng sẽ không can thiệp vào công việc các tỉnh ở địa giới trong Điều 3. Quan Khâm sứ đại thần ở trong Kinh và có quân đội bảo vệ. Quan Khâm sứ đại thần được quyền trực tiếp tiếp kiến Đại hoàng đế nước Đại Nam.
{{g|{{sc|Điều 6.}}}}
Công sứ hoặc Phó Công sứ sẽ được Chính phủ Pháp đặt tại các tỉnh ở Bắc Kỳ<ref>Bắc Kỳ là từ giáp Ninh Bình trở về phía Bắc.</ref> nếu thấy hữu ích, được đặt dưới quyền Khâm sứ tại Kinh. Họ sẽ sống trong thành và, nếu phù hợp, tại khu vực dành riêng cho quan tỉnh. Nếu cần thiết, họ sẽ có lính Pháp hoặc lính Nam theo hầu.
{{g|{{sc|Điều 7.}}}}
Công sứ sẽ không can thiệp vào việc trị dân tại các tỉnh. Các quan tại tỉnh, dù ở cấp nào, sẽ tiếp tục việc trị dân như cũ, nhưng có thể bị thay thế nếu quan chức Pháp yêu cầu.
{{g|{{sc|Điều 8.}}}}
Tất cả quan chức và nhân viên người Pháp sẽ chỉ được liên hệ với các quan nước Đại Nam thông qua Công sứ.
{{g|{{sc|Điều 9.}}}}
Một đường điện báo sẽ được lắp đặt từ Sài Gòn đến Hà Nội, do nhân viên người Pháp đảm trách. Một phần tiền thuế thu được sẽ được chuyển cho nước Nam tiêu dùng, để bù cho phần đất nước Nam nhượng lại khi cần thiết để xây dựng các trạm điện báo.
{{g|{{sc|Điều 10.}}}}
Ở Đại Nam từ giáp Biên Hòa đến giáp Ninh Bình cũng như ở Bắc Kỳ, những người ngoại quốc thuộc tất cả các quốc tịch đều sẽ do nước Pháp phán xử. Chính quyền Pháp sẽ giải quyết tất cả các tranh chấp giữa người nước Nam và người ngoại quốc hoặc giữa những người ngoại quốc với nhau.
{{g|{{sc|Điều 11.}}}}
Trong địa giới Đại Nam từ giáp tỉnh Biên Hòa đến giáp tỉnh Ninh Bình, thì quan Bố chính sẽ thu thuế cho Triều đình nước Đại Nam như trước đây mà không chịu sự giám sát của quan chức Pháp. Ở Bắc Kỳ, quan Công sứ sẽ giám sát việc thu thuế này. Họ được quan Bố chính hỗ trợ và sẽ giám sát công việc và phương thức thu thuế. Một hội đồng gồm quan nước Pháp và quan nước Đại Nam sẽ quyết định số tiền chi cho các nơi và cho công vụ ra sao. Phần còn lại sẽ được chuyển cho Triều đình nước Đại Nam.
{{g|{{sc|Điều 12.}}}}
Các sở Thương chính trên cả nước Đại Nam sẽ được tổ chức lại và giao hết cho quan chức Pháp quản lý. Các sở Thương chính sẽ chỉ được lập ở ven biển và biên giới, khi cần thiết. Các quyết định trước đây của quan chức quân sự về vấn đề thuế quan sẽ không được bàn tới nữa. Luật lệ và quy định của 6 tỉnh Nam Kỳ về đóng góp gián tiếp, sở Thương chính, mức thuế và phòng ngừa vệ sinh sẽ được áp dụng trên toàn lãnh thổ Đại Nam và Bắc Kỳ.
{{g|{{sc|Điều 13.}}}}
Công dân Pháp và những người được Pháp bảo hộ sẽ được đi lại tự do, được buôn bán, và được mua và bán động sản và bất động sản ở bất kỳ đâu trong địa giới Bắc Bộ và trong các cửa biển mở buôn của Đại Nam. Đại hoàng đế nước Đại Nam tuyên bố xác nhận các đảm bảo về việc truyền giáo và người theo đạo Thiên chúa như đã ước định trong Hòa ước ngày 15 tháng 3 năm 1874.
{{g|{{sc|Điều 14.}}}}
Những người muốn đi lại bên trong Đại Nam phải được sự cho phép của quan Khâm sứ tại Kinh hoặc của quan Thống đốc Nam Kỳ. Những nơi này sẽ phát một giấy thông hành, đến trình quan nước Đại Nam để phê đóng ấn "dĩ trình" thì mới được đi.
{{g|{{sc|Điều 15.}}}}
Pháp cam kết đảm bảo tính toàn vẹn của triều đình Đại hoàng đế nước Đại Nam, bảo vệ Chủ quyền khỏi giặc cướp bên trong và bên ngoài. Để làm điều đó, quan chức Pháp có quyền đặt quân đội tại bất cứ đâu trong lãnh thổ Đại Nam và Bắc Kỳ mà họ thấy cần thiết để việc bảo hộ được hiệu quả.
{{g|{{sc|Điều 16.}}}}
Đại hoàng đế nước Đại Nam sẽ tiếp tục cai trị việc trong nước như trước nay, ngoại trừ những điều đã định trong hòa ước này.
{{g|{{sc|Điều 17.}}}}
Khoản nợ còn lại của Đại Nam với Pháp sẽ được trả hết theo cách thức sẽ được bàn định sau. Nước Đại Nam không được đi vay mượn nước ngoài trừ khi được sự cho phép của nước Pháp.
{{g|{{sc|Điều 18.}}}}
Sẽ có thảo luận thêm để xác định giới hạn của các cửa biển mở buôn và của việc nhường đất cho người Pháp trong mỗi bến, địa điểm xây dựng các hải đăng trên bờ biển nước Đại Nam từ ven biển Biên Hòa đến giáp Ninh Bình và địa giới Bắc Kỳ, sắp xếp việc khai mỏ, hệ thống tiền tệ, và phần lợi nhuận từ thuế quan, quy định, thuế điện báo và các khoản thu lợi khác chưa được đề cập trong Điều 11 của hòa ước này. Hòa ước này sẽ được đệ trình cho Chính phủ Cộng hòa Pháp và Đại hoàng đế nước Đại Nam phê chuẩn, và các bản ký kết sẽ được trao đổi càng sớm càng tốt.
{{g|{{sc|Điều 19.}}}}
Hòa ước này thay thế cho hòa ước ngày 15 tháng 3, 31 tháng 8 và 23 tháng 11 năm 1874.
Trong trường hợp có tranh chấp, văn bản tiếng Pháp sẽ được sử dụng.
Để thể hiện lòng tin, các đại diện khâm sai hai hai bên đã ký tên và đóng ấn vào Hòa ước này.
Làm ở Huế thành hai bản, ngày 6 tháng 6 năm 1884.
}}
{| style="margin-left:auto;margin-right:auto;border:none;"
|-
| {{sc|(ấn) [[w:Jules Patenôtre|Patenotre]].}} || {{sc|(ấn) [[w:Nguyễn Văn Tường|Nguyễn Văn Tường]].}}
|-
| {{sc|(ấn) [[w:Phạm Thận Duật|Phạm Thận Duật]].}} || {{sc|(ấn) Tôn Thất Phiên.}}
|}
{{văn|
{{chú thích nhỏ}}
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PVCC-cũ}}|bản dịch={{CC-BY-SA-3.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
mxfjtpyn5bta2jpv1hsidmkwvad7oss
205733
205732
2026-06-28T08:36:08Z
~2026-37175-17
20352
/* */
205733
wikitext
text/x-wiki
{{Chất lượng vk|75%}}{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hòa ước Giáp Thân
| tác giả =
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| ngôn ngữ = fr
| bản gốc = Traité de Hué (1884)
| năm = 1884
| ấn bản = có
| ghi chú = Hiệp ước ký kết tại Kinh thành Huế vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 chứng nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với nước Đại Nam của nhà Nguyễn, cụ thể là Bắc và Trung Kỳ. Hoàng đế Đại Nam [[w:Bảo Đại|Bảo Đại]] sau đó tuyên bố hủy bỏ thoả thuận vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 nhưng đây chỉ là tuyên bố đơn phương. Chỉ đến năm 1949, thông qua Hiệp định Élysée mà cựu hoàng Bảo Đại ký với Pháp, nền bảo hộ mới chấm dứt.
Bản dịch này dựa trên bản gốc tiếng Pháp, có tham khảo bản dịch từ chữ Nho trong ''Đại Nam thực lục'' để bổ sung chi tiết về địa danh, tên và chức vụ của triều đình nhà Nguyễn. Các chú thích đều là của dịch giả.
}}
{{văn|
Chính phủ Cộng hòa Pháp và Đại hoàng đế nước Đại Nam, với mong ước ngăn ngừa vĩnh viễn sự phát sinh khó khăn như đã xảy ra gần đây, mong muốn tăng cường mối bang giao bằng hữu và láng giềng tốt, đã quyết định soạn ra hòa ước sau, và chỉ định các quan Khâm sai Toàn quyền của mình, bao gồm:
Tổng thống Cộng hòa Pháp: Toàn quyền đại thần [[w:Jules Patenôtre|Jules Patenôtre]].
Và Đại hoàng đế nước Đại Nam: Dự thương Phụ chính đại thần [[w:Nguyễn Văn Tường|Nguyễn Văn Tường]]; Thượng thư bộ Hộ [[w:Phạm Thận Duật|Phạm Thận Duật]] làm Khâm sai Toàn quyền đại thần; Tham tri bộ Công là Tôn Thất Phiên làm quyền Thượng thư bộ Công làm Phó toàn quyền.
Sau khi đã tham vấn các bề trên của mình một cách đúng đắn và thích hợp, đã đồng ý với các điều khoản sau:
{{g|{{sc|Điều 1.}}}}
Nước Đại Nam công nhận và chấp nhận sự bảo hộ<ref>Nguyên bản chữ Pháp là ''protectorat''. Bản chữ Hán của hòa ước (trong Đại Nam thực lục, đệ ngũ kỷ, quyển 4, trang 5) dùng chữ ''bảo trợ'' 保助 có nghĩa là ''giúp đỡ'', thay vì chữ ''bảo hộ'' 保護 có nghĩa là ''che chở, bảo vệ''. Đây là khác biệt rất lớn về ý đồ của hai bên ký kết. Tuy nhiên, trong hai bản chữ Hán và tiếng Pháp, chỉ có bản tiếng Pháp là có giá trị khi có tranh chấp theo Điều 19.</ref> của nước Pháp. Nước Pháp sẽ đại diện cho nước Đại Nam trong tất cả các quan hệ ngoại giao với nước khác. Những người Đại Nam ở nước ngoài sẽ được đặt dưới sự bảo hộ của nước Pháp.
{{g|{{sc|Điều 2.}}}}
Quân đội Pháp sẽ được đóng lâu dài ở cửa biển Thuận An. Tất cả các đồn lũy và công sự dọc theo sông sẽ bị triệt bỏ.
{{g|{{sc|Điều 3.}}}}
Các quan viên Đại Nam sẽ tiếp tục quản lý các tỉnh trong địa giới từ giáp tỉnh Biên Hoà, Nam Kỳ cho tới giáp tỉnh Ninh Bình, Bắc Kỳ, ngoại trừ nha Thương chính<ref>Nha Thương chính lo việc thuế quan.</ref> và cục Tạo tác<ref>Cục Tạo tác lo về công trình công cộng</ref> và, nói chung là, bất kỳ công việc nào cần tới sự điều hành hoặc có sử dụng kỹ sư hoặc nhân viên Âu châu.
{{g|{{sc|Điều 4.}}}}
Trong địa giới nói trên, ngoài cửa biển Thị Nại<ref>Thị Nại thuộc tỉnh Bình Định.</ref> đã mở thông thương, triều đình Đại Nam cũng sẽ mở các cửa biển Đà Nẵng<ref>Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam.</ref> và Xuân Đài<ref>Xuân Đài thuộc tỉnh Phú Yên.</ref> để thông thương với tất cả các nước. Các cửa biển khác về sau cũng có thể sẽ mở thông thương theo thỏa thuận chung. Chính phủ Pháp sẽ quản lý các cửa biển này theo lệnh của Khâm sứ đại thần tại Kinh.
{{g|{{sc|Điều 5.}}}}
Quan Khâm sứ đại thần, đại diện cho Chính phủ Pháp, sẽ quản lý công việc ngoại giao của Đại Nam và đảm bảo sự bảo hộ được diễn ra suôn sẻ, nhưng sẽ không can thiệp vào công việc các tỉnh ở địa giới trong Điều 3. Quan Khâm sứ đại thần ở trong Kinh và có quân đội bảo vệ. Quan Khâm sứ đại thần được quyền trực tiếp tiếp kiến Đại hoàng đế nước Đại Nam.
{{g|{{sc|Điều 6.}}}}
Công sứ hoặc Phó Công sứ sẽ được Chính phủ Pháp đặt tại các tỉnh ở Bắc Kỳ<ref>Bắc Kỳ là từ giáp Ninh Bình trở về phía Bắc.</ref> nếu thấy hữu ích, được đặt dưới quyền Khâm sứ tại Kinh. Họ sẽ sống trong thành và, nếu phù hợp, tại khu vực dành riêng cho quan tỉnh. Nếu cần thiết, họ sẽ có lính Pháp hoặc lính Nam theo hầu.
{{g|{{sc|Điều 7.}}}}
Công sứ sẽ không can thiệp vào việc trị dân tại các tỉnh. Các quan tại tỉnh, dù ở cấp nào, sẽ tiếp tục việc trị dân như cũ, nhưng có thể bị thay thế nếu quan chức Pháp yêu cầu.
{{g|{{sc|Điều 8.}}}}
Tất cả quan chức và nhân viên người Pháp sẽ chỉ được liên hệ với các quan nước Đại Nam thông qua Công sứ.
{{g|{{sc|Điều 9.}}}}
Một đường điện báo sẽ được lắp đặt từ Sài Gòn đến Hà Nội, do nhân viên người Pháp đảm trách. Một phần tiền thuế thu được sẽ được chuyển cho nước Nam tiêu dùng, để bù cho phần đất nước Nam nhượng lại khi cần thiết để xây dựng các trạm điện báo.
{{g|{{sc|Điều 10.}}}}
Ở Đại Nam từ giáp Biên Hòa đến giáp Ninh Bình cũng như ở Bắc Kỳ, những người ngoại quốc thuộc tất cả các quốc tịch đều sẽ do nước Pháp phán xử. Chính quyền Pháp sẽ giải quyết tất cả các tranh chấp giữa người nước Nam và người ngoại quốc hoặc giữa những người ngoại quốc với nhau.
{{g|{{sc|Điều 11.}}}}
Trong địa giới Đại Nam từ giáp tỉnh Biên Hòa đến giáp tỉnh Ninh Bình, thì quan Bố chính sẽ thu thuế cho Triều đình nước Đại Nam như trước đây mà không chịu sự giám sát của quan chức Pháp. Ở Bắc Kỳ, quan Công sứ sẽ giám sát việc thu thuế này. Họ được quan Bố chính hỗ trợ và sẽ giám sát công việc và phương thức thu thuế. Một hội đồng gồm quan nước Pháp và quan nước Đại Nam sẽ quyết định số tiền chi cho các nơi và cho công vụ ra sao. Phần còn lại sẽ được chuyển cho Triều đình nước Đại Nam.
{{g|{{sc|Điều 12.}}}}
Các sở Thương chính trên cả nước Đại Nam sẽ được tổ chức lại và giao hết cho quan chức Pháp quản lý. Các sở Thương chính sẽ chỉ được lập ở ven biển và biên giới, khi cần thiết. Các quyết định trước đây của quan chức quân sự về vấn đề thuế quan sẽ không được bàn tới nữa. Luật lệ và quy định của 6 tỉnh Nam Kỳ về đóng góp gián tiếp, sở Thương chính, mức thuế và phòng ngừa vệ sinh sẽ được áp dụng trên toàn lãnh thổ Đại Nam và Bắc Kỳ.
{{g|{{sc|Điều 13.}}}}
Công dân Pháp và những người được Pháp bảo hộ sẽ được đi lại tự do, được buôn bán, và được mua và bán động sản và bất động sản ở bất kỳ đâu trong địa giới Bắc Bộ và trong các cửa biển mở buôn của Đại Nam. Đại hoàng đế nước Đại Nam tuyên bố xác nhận các đảm bảo về việc truyền giáo và người theo đạo Thiên chúa như đã ước định trong Hòa ước ngày 15 tháng 3 năm 1874.
{{g|{{sc|Điều 14.}}}}
Những người muốn đi lại bên trong Đại Nam phải được sự cho phép của quan Khâm sứ tại Kinh hoặc của quan Thống đốc Nam Kỳ. Những nơi này sẽ phát một giấy thông hành, đến trình quan nước Đại Nam để phê đóng ấn "dĩ trình" thì mới được đi.
{{g|{{sc|Điều 15.}}}}
Pháp cam kết đảm bảo tính toàn vẹn của triều đình Đại hoàng đế nước Đại Nam, bảo vệ Chủ quyền khỏi giặc cướp bên trong và bên ngoài. Để làm điều đó, quan chức Pháp có quyền đặt quân đội tại bất cứ đâu trong lãnh thổ Đại Nam và Bắc Kỳ mà họ thấy cần thiết để việc bảo hộ được hiệu quả.
{{g|{{sc|Điều 16.}}}}
Đại hoàng đế nước Đại Nam sẽ tiếp tục cai trị việc trong nước như trước nay, ngoại trừ những điều đã định trong hòa ước này.
{{g|{{sc|Điều 17.}}}}
Khoản nợ còn lại của Đại Nam với Pháp sẽ được trả hết theo cách thức sẽ được bàn định sau. Nước Đại Nam không được đi vay mượn nước ngoài trừ khi được sự cho phép của nước Pháp.
{{g|{{sc|Điều 18.}}}}
Sẽ có thảo luận thêm để xác định giới hạn của các cửa biển mở buôn và của việc nhường đất cho người Pháp trong mỗi bến, địa điểm xây dựng các hải đăng trên bờ biển nước Đại Nam từ ven biển Biên Hòa đến giáp Ninh Bình và địa giới Bắc Kỳ, sắp xếp việc khai mỏ, hệ thống tiền tệ, và phần lợi nhuận từ thuế quan, quy định, thuế điện báo và các khoản thu lợi khác chưa được đề cập trong Điều 11 của hòa ước này. Hòa ước này sẽ được đệ trình cho Chính phủ Cộng hòa Pháp và Đại hoàng đế nước Đại Nam phê chuẩn, và các bản ký kết sẽ được trao đổi càng sớm càng tốt.
{{g|{{sc|Điều 19.}}}}
Hòa ước này thay thế cho hòa ước ngày 15 tháng 3, 31 tháng 8 và 23 tháng 11 năm 1874.
Trong trường hợp có tranh chấp, văn bản tiếng Pháp sẽ được sử dụng.
Để thể hiện lòng tin, các đại diện khâm sai hai hai bên đã ký tên và đóng ấn vào Hòa ước này.
Làm ở Huế thành hai bản, ngày 6 tháng 6 năm 1884.
}}
{| style="margin-left:auto;margin-right:auto;border:none;"
|-
| {{sc|(ấn) [[w:Jules Patenôtre|Patenotre]].}} || {{sc|(ấn) [[w:Nguyễn Văn Tường|Nguyễn Văn Tường]].}}
|-
| {{sc|(ấn) [[w:Phạm Thận Duật|Phạm Thận Duật]].}} || {{sc|(ấn) Tôn Thất Phiên.}}
|}
{{văn|
{{chú thích nhỏ}}
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PVCC-cũ}}|bản dịch={{CC-BY-SA-3.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
1ykbo41icex9jn6irip9u38zmfwk65p
Wikisource:GUS2Wiki
4
46964
205728
205616
2026-06-27T20:06:25Z
Alexis Jazz
15437
Updating gadget usage statistics from [[Special:GadgetUsage]] ([[phab:T121049]])
205728
wikitext
text/x-wiki
{{#ifexist:Project:GUS2Wiki/top|{{/top}}|This page provides a historical record of [[Special:GadgetUsage]] through its page history. To get the data in CSV format, see wikitext. To customize this message or add categories, create [[/top]].}}
Dữ liệu dưới đây được đưa vào vùng nhớ đệm và được cập nhật lần cuối lúc 2026-06-26T00:21:59Z. Tối đa có sẵn {{PLURAL:5000|một kết quả|5000 kết quả}} trong vùng nhớ đệm.
{| class="sortable wikitable"
! Tiện ích !! data-sort-type="number" | Số người dùng !! data-sort-type="number" | Số thành viên tích cực
|-
|AutoOldStyleVi || 7 || 0
|-
|HotCat || 44 || 1
|-
|NopInserter || 9 || 0
|-
|Preload Page Images || 5 || 0
|-
|QualityButton || 12 || 0
|-
|Subpages || 7 || 0
|-
|TemplatePreloader || 37 || 1
|-
|UTCLiveClock || 21 || 0
|-
|addsection-plus || 20 || 0
|-
|edittop || 22 || 1
|-
|mark-proofread || 11 || 0
|-
|navpop || 35 || 0
|-
|purgetab || 26 || 0
|-
|removeAccessKeys || 4 || 0
|-
|wiked || 11 || 0
|}
* [[Đặc biệt:GadgetUsage]]
* [[m:Meta:GUS2Wiki/Script|GUS2Wiki]]
<!-- data in CSV format:
AutoOldStyleVi,7,0
HotCat,44,1
NopInserter,9,0
Preload Page Images,5,0
QualityButton,12,0
Subpages,7,0
TemplatePreloader,37,1
UTCLiveClock,21,0
addsection-plus,20,0
edittop,22,1
mark-proofread,11,0
navpop,35,0
purgetab,26,0
removeAccessKeys,4,0
wiked,11,0
-->
l7yuai6339zlv5ssf2vdhooi05bjovl
Hòa ước Giáp Tuất (1874)
0
51236
205731
146564
2026-06-28T07:47:46Z
~2026-37175-17
20352
205731
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Hòa ước Giáp Tuất
| tác giả =
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1874
| ghi chú = Trong các điều khoản ở dưới, có điều khoản mà nhà Nguyễn công nhận chủ quyền của Pháp với lãnh thổ Nam Kỳ mở rộng mà Pháp chiếm được trong năm 1867.
}}
* '''Điều 1''': Sẽ có hòa bình, hữu nghị và bền vững giữa nước Pháp và Vương Quốc An Nam.
* '''Điều 2''': Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc thừa nhận quyền lực của vua nước An Nam và quyền độc lập hoàn toàn đối với bất kỳ một thế lực ngoại bang nào, tuyên hứa viện trợ, giúp đỡ và là chỗ nương tựa cần thiết của nhà vua nếu được yêu cầu mà không phải chịu một phí tổn nào, để duy trì nền hòa bình trên khắp các vùng đất nước, để chống trả bất cứ một sự tấn công nào và để dẹp bỏ tình trạng cướp bóc đang quấy phá 1 phần vùng biển của Vương quốc.
* '''Điều 3''': Để đáp lại sự bảo hộ này đức Hoàng thượng - Vua nước An Nam thỏa thuận phù hợp chính sách ngoại giao của mình với chính sách ngoại giao của nước Pháp và không có gì thay đổi với những mối liên hệ ngoại giao hiện có của đức vua. Sự giao ước chính trị này không áp dụng vào bản Thương ước. Tuy nhiên, trong bất cứ trường hợp nào, đức Hoàng thượng vua nước An Nam có thể ký kết Thương ước với bất cứ một nước nào khác không phù hợp với Thương ước đã được ký kết giữa nước Pháp và Vương Quốc An Nam, mà không báo trước với Chính phủ của nước Pháp.
* '''Điều 4''': Tổng thống Cộng Hòa Pháp quốc cam kết tặng hoàng thượng Vua nước An Nam:
# Năm chiếc tàu chạy máy hơi nước tổng cộng là 500 mã lực, trong tình trạng toàn hảo về mặt máy móc và bồn đun nước sôi, cùng với súng ống đạn dược và đồ phụ tùng đúng như chế độ quân sự quy định;
# Một trăm khẩu trọng pháo loại 70 ly và 160 ly, với 200 viên đạn cho mỗi khẩu súng, một ngàn khẩu súng và 500 ngàn viên đạn. Tàu và súng ống đạn dược sẽ được chở tới Nam Kỳ và chuyển giao trong thời hạn tối đa là 1 năm kể từ ngày trao đổi hòa ước đã được hai phía chuẩn phê;
:Ngài Tổng thống Cộng Hòa Pháp Quốc cũng cam kết rằng: Đặt dưới quyền sử dụng của đức Vua
# Những huấn luyện viên quân sự và hải quân đủ số cần thiết để tái lập quân đội và hạm đội của hoàng thượng;
# Những kỹ sư và trưởng xưởng để điều hành những công trình do đức Hoàng thượng đề xướng;
# Những chuyên viên tài chánh để tổ chức các cơ cấu thuế khóa và hải quan trong Vương quốc;
# Những giáo sư để thành lập một trường đại học ở Huế. Ngài tổng thống cũng cam kết cung ứng cho đức Vua những tàu chiến, súng óng đạn dược cần thiết.
:Tiền lương trả công cho các dịch vụ như vậy sẽ được ấn định bởi sự thỏa thuận của hai phái đoàn cao cấp ký giao ước
* '''Điều 5''': Đức Hoàng thượng Vua nước An Nam công nhận chủ quyền toàn vẹn của nước Pháp trên các vùng lãnh thổ do nước Pháp hiện đang chiếm giữ và bao gồm trong các ranh giới như sau:
:Về phía Đông; vùng biển Trung Quốc và Vương Quốc An Nam (tỉnh Bình Thuận); Về phía Tây; vịnh Xiêm La; Về phía Nam; vùng biển Trung Quốc; Về phía Bắc; Vương quốc Cam Bốt và Vương quốc An Nam (tỉnh Bình Thuận); Mười một ngôi mộ của họ Phạm ở trong lãnh vực làng Tân Niên Đông và Tân Quan Đông (tỉnh Sài Gòn) và ba ngôi mộ của họ Hồ ở trong lãnh vực làng Linh Chung Tây và Tân Mai (tỉnh Biên Hòa), không được bóc mộ, đào xới, xâm phạm hay đập phá. Sẽ cấp một lô đất rộng 100 mẫu cho các ngôi mộ nhà họ Phạm và một lô tương đương như thế cho nhà họ Hồ. Hoa lợi thu được trên các lô đất nầy được dùng để gìn giữ và bảo toàn các ngôi mộ và chu cấp các gia đình lo việc trông nôm các phần mộ. Các lô đất được miễn các thứ thuế và những người trong dòng họ Phạm, Hồ cũng sẽ được miễn thuế thân, khỏi thi hành quân dịch hay đi dân công.
* '''Điều 6''': Nước Pháp miễn cho đức Vua không phải trả những phần tiền chiến phí cũ còn thiếu.
* '''Điều 7''': Đức Hoàng thượng cam kết một cách chính thức, qua trung gian chuyển giao của chính phủ Pháp, trả nợ số tiền chiến phí còn thiếu nước Tây Ban Nha là một triệu đồng đô la - hối xuất 0.72 lượng (bạc) cho mỗi đô la- và hoàn trả số nợ nầy bằng cách lấy phân nửa số thu nhập các thuế quan đánh trên bất cứ mặt hàng hóa nào trên các bến cảng được mở ra cho Đức Hoàng thượng cam kết một cách chính thức, qua trung gian chuyển giao của chính phủ Pháp, trả nợ số tiền chiến phí còn thiếu nước Tây Ban Nha là một triệu đồng đô la - hối xuất 0.72 lượng (bạc) cho mỗi đô la- và hoàn trả số nợ nầy bằng cách lấy phân nửa số thu nhập các thuế quan đánh trên bấu mặt hàng hóa nào trên các bến cảng được mở ra cho những người Âu, Mỹ. Số tiền thâu được mỗi năm nộp vào Kho bạc ở Sài Gòn để trả cho chính phủ Tây Ban Nha, lập biên nhận gởi cho chính phủ An Nam.
* '''Điều 8''': Tổng thống Cộng Hòa Pháp và Hoàng thượng đức Vua ban bố đại xá trọn vẹn và giải trừ tất cả mọi sai áp cầm giữ trên các tài sản của những công dân nước mình từ trước cho đến khi hai bên ký kết hòa ước vì họ có dính líu hợp tác với phía bên này hay phía bên kia.
* '''Điều 9''': Nhận biết rằng đạo Gia tô truyền dạy con người theo đàng lành, Hoàng thượng đức Vua từ bỏ và chống lại mọi sự ngăm cấm nhằm mục đích chống đạo này và cho phép thần dân của Hoàng thượng theo đạo và truyền đạo một cách tự do.
:Vì vậy, những tín đồ Gia tô giáo của Vương quốc An Nam sẽ có thể tụ hội tại các nhà thờ với một số lượng có giới hạn để hành lễ đọc kinh. Các tín đồ sẽ không bị ép buộc dưới bất cứ một lý do nào để phải thi hành những điều trái với đạo giáo của họ, hoặc là phải chịu một sự kiểm tra đặc biệt nào. Họ sẽ được tham dự các kỳ thi tuyển và làm việc nơi các công sở mà không vì thế phải thi hành bất cứ một điêu gì mà đạo cấm đoán.
:Hoàng thượng thỏa thuận bãi bỏ việc đăng ký tình trạng phân bổ số tín hữu Gia tô đã được thi hành từ 15 năm trước đây và sẽ được đối xử giống như những thần dân khác trong vấn đề kiểm kê dân số và thuế má. Hoàng thượng cũng thỏa thuận xét lại vấn đề quốc phòng một cách khôn khéo trong cách dùng văn tự hay ngôn ngữ, những lời lẽ va chạm tôn giáo và sửa đổi các điều khoản nào trong bản Thập Điều có dùng những lời lẽ va chạm như thế.
:Những giáo sĩ giám mục và các người thừa sai có thể nhập cảnh tự do vào Vương quốc và lui tới các địa phận truyền giáo của ho với một giấy thông hành do thống đốc Nam Kỳ Hạ ban cấp được chiếu khán bởi thượng thơ bộ Lễ hay của tổng đốc tỉnh thành. Họ có thể thuyết giảng mọi nơi các giáo điều của đạo Gia tô. Họ không phải bị đặt dưới một sự giám sát đặc biệt nào và các làng mạc cũng không còn phải bắt buộc báo trình lên chức quan của triều đình về việc tới lui và sự hiện diện của họ.
:Các hàng giáo sĩ người An Nam sẽ được hành đạo một cách tự do giống như những người thừa sai bề trên của họ. Nếu hạnh kiểm của họ đáng quở trách và nếu theo luật pháp hiện hành mà tội phạm của họ được xếp vào hàng khinh tội bị phạt bằng trượng hay bằng roi thì hình phạt trượng hay roi sẽ được cải giảm bằng một hình phạt tương đương.
:Các hàng giáo sĩ giám mục, các người của hội thừa sai, các linh mục người An Nam sẽ được quyền mua, thuê đất cát và nhà cửa, xây cất nhà thờ, bệnh xá, trường học, nhà mồ côi và tất cả những tiện nghi khác để dùng trong việc phụng vụ tôn giáo của họ.
:Tài sản do họ tạo dựng để phụng vụ tôn giáo hiện đang bị sái áp sẽ được trao trả lại cho họ.
:Tất cả những điều kê khai ở trên nếu không có ngoại lệ thì cũng áp dụng cho những người thuộc hội thừ sai Tây Ban Nha.
:Sau khi hòa ước được hai bên chuẩn phê, đức vua sẽ ban một dụ chỉ truyền rao khắp công chúng rằng quyền tự do đã được hoàng thượng ban cho các tín đồ Gia tô của Vương quốc.
* '''Điều 10''': Triều đình An Nam có thể mở một trường cao đẳng ở Sài Gòn đặt dưới quyền giám thị của giám đốc Nha Nội vụ và chương trình dạy học ở trường ấy không có điều gì đi ngược với đạo lý và sự thi hành quyền lực của người Pháp được mang ra giảng dạy. Tự do tín ngưỡng được áp dụng nơi trường học đó.
:Trong trường hợp có sự vi phạm, người thầy dạy học vi phạm những điều quy định sẽ bị tống khứ về nơi xứ sở của đương sự và hơn nữa nếu trường hợp trầm trọng, trường cao đẳng có thể bị đóng cửa.
* '''Điều 11''': Triều đình An Nam thỏa thuận mở các thương cảng ở Thị Nại, trong tỉnh Bình Định, ở Ninh Hải trong tỉnh Hải Dương, tỉnh thành Hà Nội, và đường thủy vận sông Nhỉ Hà từ ngoài biển lên tới tỉnh Vân Nam.
:Một thỏa ước bổ túc cho bản Hòa ước cùng có hiệu lực chấp hành như bản Hòa ước sẽ ấn định các điều kiện chấp hành cho việc thông thương.
:Thương cảng Ninh Hải, Hà Nội và đường thủy vận chuyển tiếp sẽ đước thông thương liền ngay sau khi hai bên ký chuẩn phê hoặc sớm hơn nếu có thể được; thương cảng Thị Nại sẽ được thông thương trong vòng một năm sau.
:Các thương cảng hoặc những đường thủy vận khác có thể được thông thương sớm hơn tùy số lượng và mức quan trọng của tình hình giao thương hiện hữu đòi hỏi cần phải như thế.
* '''Điều 12''': Người Pháp hay người Pháp gốc An Nam và những người ngoại quốc nói chung nếu tuân hành luật pháp của xứ sở thì có thể gây dựng, sở hữu và tự quyết định một cách tự do đối với tất cả những công cuộc làm ăn buôn bán và kỹ nghệ nơi các tỉnh thành đã được đề cặp ở trên. Chính phủ của hoàng thượng sẽ tùy theo trường hợp mà cắt đặt đất đai cần thiết cho công cuộc thiết đặt cơ sở của họ.
:Họ cũng sẽ có thể vận hành và buôn bán trên lưu vực sông Nhỉ Hà từ ngoài biển qua đến tỉnh Vân Nam bằng cách chịu nộp thuế theo luật pháp ấn định và với điều kiện là họ không được thực hiện những dịch vụ buôn bán dọc trên lưu vực sông nầy khoang từ biển vào tới Hà Nội và từ Hà Nội đến biên giới Trung Quốc.
:Họ có thể tự do tuyển chọn và thuê mướn những người mại bản, thông ngôn, nhà văn, thợ thuyền, thủy thủ và người làm mướn việc nhà.
* '''Điều 13''': Tại mỗi cửa thương khẩu đã được mở, nước Pháp sẽ cử nhiệm một toà Lãnh sự hoặc một Cơ quan Trợ tá có thẩm quyền đầy đủ với thành phần nhân sự không quá 100 người, để gìn giữ an ninh và bảo vệ uy quyền của toà lãnh sự, để thi hành nhiệm vụ cảnh sát đối với những người ngoại quốc cho đến khi nào tất cả mọi lo âu vê mặt nầy không còn nữa nhờ ở việc thiết đặt các mối liên hệ tốt đẹp qua sự thi hành Hòa ước một cách trung chính.
* '''Điều 14''': Về phía thần dân của Hoàng thượng, họ có thể tự do lưu thông, cư trú, sở hữu và buôn bán ở nước Pháp và tại những lãnh thổ thuộc địa của Pháp đúng theo luật lệ. Để bảo đảm cho họ được che chở bảo vệ, Hoàng Thượng có thể tùy ý cắt cử những nhân viên của tới cư trú ở các thương cảng hay tỉnh thành do Hoàng Thượng chọn lựa.
* '''Điều 15''': Công dân Pháp, Âu Châu, Nam Kỳ Hạ hay những công dân ngoại quốc khác muốn sinh sống ở tại các vùng chọn lựa vừa kể ở trên thì các đương sự phải đăng ký tại cơ quan Trú Sứ Pháp để nơi đây thông báo chính quyền sở tại.
:Thần dân của An Nam muốn sinh sống trên lãnh thổ của Pháp cũng phải tuân theo cùng một quy định như vậy.
:Những công dân nước Pháp hay của những nước ngoài muốn du lịch trong nước sẽ được chấp nhận nếu các đương sự được cấp phát một sổ thông hành từ một cơ quan đại diện của Pháp và có sự đồng ý cùng sự kiểm thự các chức quyền An Nam. Các đương sự không được buôn bán, nếu vi phạm hàng hóa sẽ bị tịch thâu.
:Cách đi lại du lịch như thế gặp nhiều nguy hiểm vì tình trạng của đất nước hiện nay, những khách ngoại quốc chỉ có thể đi thưởng ngoạn khi mà chính quyền An Nam, với sự đồng ý của với cơ quan Trú Sứ Pháp ở Huế, nhận định rằng tình hình đất nước đã khá ổn định.
:Những chuyến du hành trong nước của các công dân người Pháp mang tính chất tìm tòi nghiên cứu thì cũng phải khai trình, du hành dưới danh nghĩa nầy, các đương sự sẽ được chính quyền che chở và cung cấp thông hành cần thiết, được giúp đỡ để chu toàn công tác và chương trình nghiên cứu của họ.
* '''Điều 16''': Tất cả những việc tranh tụng giữa những công dân Pháp với nhau hoặc giữa người Pháp với người ngoại quốc khác sẽ được phân xử bởi trú sứ Pháp.
:Khi người Pháp hoặc người ngoại quốc khác có việc tranh tụng với người An Nam thì hoặc có điều gì khiếu nại hoặc đòi hỏi thì các nguyên đơn trước hết phải làm đơn trình lên Trú Sứ để cố gắng dàn xếp một cách ổn thỏa.
:Nếu việc dàn xếp xử lí ổn thỏa thì Trú Sứ sẽ nhờ đến sự trợ tá của một quan án sát An Nam để giải quyết vụ tranh tụng, viên trú sứ và quan án cả hai cùng nhau cứu xét sự vụ tranh tụng theo luật lệ mà phán xử thỏa đáng.
:Thủ tục cũng áp dụng cho trường hợp tranh tụng giữa một người An Nam với một người Pháp hay với một người ngoại quốc: nguyên đơn người An Nam sẽ gởi đơn lên quan án và nếu quan án nầy không thể dàn xếp thỏa đáng thì sẽ cùng viên quan Trú Sứ giải quyết việc tranh tụng.
:Tuy nhiên, mọi tranh tụng giữa những người Pháp với nhau hay giữa người Pháp với một người ngoại quốc thì chỉ có viên Trú Sứ Pháp có thẩm quyền xé xử.
* '''Điều 17''': Những vụ phạm pháp đại hình hay tiểu hình của những người Pháp hay của người ngoại quốc xảy ra trên lãnh thổ nước An Nam phải được trình báo và phán xử bởi các tòa án có thẩm quyền ở Sài Gòn. Khi có sự yêu cầu của viên Trú sứ Pháp, các chức quyền địa phương phi dùng mọi nỗ lực để truy bắt tên hoặc bọn tội phạm và giải giao đến viên Trú sứ..
:Khi một vụ phạm pháp đại hình hay tiểu hình của một thần dân người An Nam xảy ra trên lãnh thổ của Pháp, quan Lãnh sự hoặc quan Ủy viên của Hoàng thượng phải được thông báo một cách chính thức các thủ tục truy tố áp dụng với phạm nhân và trong khả năng bảo đảm rằng mọi hình thức luật định đã được tôn trọng đúng mức.
* '''Điều 18''': Khi có kẻ bất lương phá rối hoặc cướp giật trên phần lãnh thổ của Pháp rồi chạy trốn sang sang lãnh thổ của nước An Nam thì chức quyền địa phương khi được thông báo phải gắng sức truy lùng bắt kẻ phạm pháp để giải giao cho chức quyền Pháp.
:Cùng một thể thức, nếu những kẻ trộm, cướp hay phạm tội hình sự nào là thần dân của đức Vua mà lại chạy sang ẩn náu trên phần lãnh thổ của Pháp; Những kẻ đó phải được truy bắt ngay sau khi được thông báo và phải được giải giao về cho chức quyền bản xứ của đương phạm.
* '''Điều 19''': Trong trường hợp một người dân của nước Pháp hay của ngoại quốc qua đời trên lãnh thổ của nước An Nam hoặc là một người dân của nước An Nam qua đời trên lãnh thổ của Pháp thì tài sản của người quá cố sẽ được giao trả cho những người thừa kế của họ; nếu những người thừa kế vắng mặt thì viên Trú Sứ sẽ có nhiệm vụ gọi những người thừa kế luật định để chuyển giao.
* '''Điều 20''': Để bảo đảm và tạo điều kiện dễ dàng cho việc thi hành các điều khoản và những quy định trên bản hiệp ước nầy, một năm sau kể từ ngày ký chuẩn phê, ngài Tổng thống Cộng Hoà Pháp Quốc sẽ bổ nhiệm một viên Trú Sứ ngang hàng với một quan Thượng thư bên cạnh hoàng Thượng đức Vua An Nam. Viên Trú Sứ có nhiệm vụ bảo toàn mối liên lạc hữu nghị, giữa Các Thành viên Cao cấp của hai bên đối ước và giám sát việc thi hành theo lương tâm các điều khoản của bản Hòa Ước.
:Đẳng trật của viên Trú Sứ nầy, những danh dự và quyền lợi mà đương sự được hưởng, sẽ được ấn định sau nầy theo một thỏa thuận chung, và trên một nền tảng hỗ tương hoàn toàn giữ hai bên đối ước.
:Hoàng Thượng đức Vua An Nam có quyền bổ nhiệm các Trú Sứ ở Paris và ở Sài Gòn.
:Tất cả những loại chi phí dùng cho nhiệm kỳ phục vụ của những Trú Sứ nầy bên cạnh Chính phủ đồng minh của mình sẽ do chính phủ của mỗi đương sự đài thọ.
* '''Điều 21''': Hòa Ước nầy thay thế Hòa Ước năm 1862, và chính phủ Pháp có trách nhiệm tìm kiếm sự đồng thuận của chính phủ Tây Ban Nha. Trong trường hợp chính phủ Tây Ban Nha không chấp nhận những sự thay đổi để thay thế Hòa Ước 1862 thì Hòa Ước nầy chỉ có hiệu lực giữa nước Pháp và nước An Nam mà thôi, và những điều ước cũ có liên hệ tới Tây Ban Nha vẫn còn hiệu lực chấp hành. Trong trường nầy, nước Pháp sẽ đảm nhận việc trả tiền bồi thường chiến phí và sẽ thay thế vai trò chủ nợ của Tây Ban Nha đối với con nợ là nước An Nam để được hoàn trả đúng theo những quy định nơi điều thứ 7 của hoà ước hiện tại.
* '''Điều 22''': Hoà ước nầy được thực hiện một cách vĩnh viễn, sẽ được chuẩn phê và nghi thức chuẩn phê sẽ được tổ chức và trao đổi tại Huế, trong vòng thời hạn một năm hoặc sớm hơn nếu có thể được. Hòa Ước sẽ được phát hành và có hiệu lực kể từ ngay sau khi trao đổi. Bởi các lẽ ấy, các quan khâm sai đã lần lượt ấn ký vào bản Hòa Ước nầy.
Làm tại Sài Gòn, tại dinh Thống Đốc Nam Kỳ thuộc Pháp, làm thành bốn bản, vào Chủ nhật, ngày 15 tháng 3 năm 1874, tương ứng với ngày 27 tháng 1 âm lịch niên hiệu Tự Đức thứ 27.
Phó đề đốc Dupré, Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tường
h73au7jma2jj674oq0qfn9upfa1clpz
Thành viên:配合比全额更好(说说而已)
2
72333
205730
2026-06-28T06:09:09Z
配合比全额更好(说说而已)
20351
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “Xin chào!Tôi 配合比全额更好(说说而已).”
205730
wikitext
text/x-wiki
Xin chào!Tôi 配合比全额更好(说说而已).
ktj3g9yr8xnh299qi0lodzlifsrpwft