Wikibooks
viwikibooks
https://vi.wikibooks.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.47.0-wmf.16
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikibooks
Thảo luận Wikibooks
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Trẻ em
Thảo luận Trẻ em
Nấu ăn
Thảo luận Nấu ăn
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Bản mẫu:BOOKCATEGORY
10
29113
542799
263175
2026-08-19T13:50:39Z
DeutschMax
19700
542799
wikitext
text/x-wiki
<includeonly>Thể loại:Sách:{{{book|{{safesubst:<noinclude/>BOOKNAME|{{{1|{{safesubst:<noinclude/>FULLPAGENAME}}}}}}}}}}</includeonly><noinclude>
{{Documentation}}
</noinclude>
dgeds7hhaqoje8hjc04q39cvyje2y64
Wikibooks:GUS2Wiki
4
60273
542803
542779
2026-08-19T19:56:33Z
Alexis Jazz
13988
Updating gadget usage statistics from [[Special:GadgetUsage]] ([[phab:T121049]])
542803
wikitext
text/x-wiki
{{#ifexist:Project:GUS2Wiki/top|{{/top}}|This page provides a historical record of [[Special:GadgetUsage]] through its page history. To get the data in CSV format, see wikitext. To customize this message or add categories, create [[/top]].}}
Dữ liệu dưới đây được đưa vào vùng nhớ đệm và được cập nhật lần cuối lúc 2026-08-19T11:16:13Z. Tối đa có sẵn {{PLURAL:5000|một kết quả|5000 kết quả}} trong vùng nhớ đệm.
{| class="sortable wikitable"
! Tiện ích !! data-sort-type="number" | Số người dùng !! data-sort-type="number" | Số thành viên tích cực
|-
|Cat-a-lot || 3 || 0
|-
|CommentsInLocalTime || 16 || 1
|-
|DeluxeHistory || 19 || 1
|-
|Editsummary || 17 || 1
|-
|LocalLiveClock || 10 || 0
|-
|XTools-ArticleInfo || 10 || 0
|-
|addsection-plus || 16 || 1
|-
|autodel || 4 || 1
|-
|darkmode || 12 || 0
|-
|dropdown-menus || 15 || 1
|-
|edittop || 15 || 1
|-
|externallinks || 11 || 2
|-
|goToTop || 7 || 1
|-
|hotcat || 36 || 1
|-
|moveRV || 23 || 2
|-
|navpop || 25 || 1
|-
|purgetab || 13 || 0
|-
|removeAccessKeys || 1 || 0
|-
|revisionjumper || 14 || 2
|-
|sidebartranslate || 7 || 1
|-
|subpages || 17 || 2
|-
|wiked || 8 || 1
|}
* [[Đặc biệt:GadgetUsage]]
* [[m:Meta:GUS2Wiki/Script|GUS2Wiki]]
<!-- data in CSV format:
Cat-a-lot,3,0
CommentsInLocalTime,16,1
DeluxeHistory,19,1
Editsummary,17,1
LocalLiveClock,10,0
XTools-ArticleInfo,10,0
addsection-plus,16,1
autodel,4,1
darkmode,12,0
dropdown-menus,15,1
edittop,15,1
externallinks,11,2
goToTop,7,1
hotcat,36,1
moveRV,23,2
navpop,25,1
purgetab,13,0
removeAccessKeys,1,0
revisionjumper,14,2
sidebartranslate,7,1
subpages,17,2
wiked,8,1
-->
9l16nkqvorzelpt5xidadg7d6dlourr
Giải phẫu và Sinh lý học Động vật/Các chất hoá học
0
110496
542796
542790
2026-08-19T13:18:19Z
DeutschMax
19700
/* Hợp chất hữu cơ và vô cơ */
542796
wikitext
text/x-wiki
[[File:Anatomy and Physiology of Animals - 01 Chemicals.jpg|thumb|400px|right|ảnh gốc bởi [http://flickr.com/photos/jurvetson/397768296/ jurvetson] CC-BY]]
==Mục tiêu==
Sau khi hoàn thành chương này, bạn sẽ biết được:
* ký hiệu hóa học dùng để biểu thị các nguyên tố;
* tên gọi của các phân tử phổ biến có trong tế bào động vật;
* đặc tính của các ion và chất điện ly;
* cấu trúc cơ bản của carbohydrat kèm các ví dụ minh họa;
* carbohydrat có thể được phân loại thành monosaccharide (đường đơn), disaccharide (đường đôi) và polysaccharide (đường đa);
* cấu trúc cơ bản của chất béo kèm các ví dụ minh họa;
* cấu trúc cơ bản của protein kèm các ví dụ minh họa;
* chức năng của carbohydrat, lipid và protein trong tế bào và cơ thể động vật;
* các loại thực phẩm cung cấp carbohydrat, lipid và protein trong khẩu phần ăn của động vật.
==Nguyên tố và nguyên tử==
Các nguyên tố (những chất hóa học đơn giản nhất) cấu tạo nên cơ thể động vật đều được tạo thành từ các đơn vị cấu trúc cơ bản là nguyên tử. Những nguyên tố phổ biến nhất trong tế bào cùng ký hiệu hóa học tương ứng của chúng được trình bày trong bảng dưới đây.
{| class="wikitable" style="width: 200px; margin: 0px auto 0px auto; text-align: center;"
! Nguyên tố || Ký hiệu
|-
| Calci || Ca
|-
| Carbon || C
|-
| Chlor || Cl
|-
| Đồng || Cu
|-
| Iod || I
|-
| Hydro || H
|-
| Sắt|| Fe
|-
| Magnesi || Mg
|-
| Nitơ || N
|-
| Oxy || O
|-
| Phosphor || P
|-
| Kali|| K
|-
| Natri || Na
|-
| Lưu huỳnh|| S
|-
| Kẽm|| Zn
|}
==Hợp chất và phân tử==
Một '''phân tử''' được hình thành khi hai hay nhiều '''nguyên tử''' liên kết với nhau. Một hợp chất được tạo thành khi hai hoặc nhiều nguyên tố khác nhau kết hợp theo một tỉ lệ khối lượng cố định.
Lưu ý rằng một số nguyên tử không bao giờ tồn tại riêng lẻ dưới dạng độc lập. Ví dụ, '''oxy''' luôn tồn tại ở dạng phân tử gồm 2 nguyên tử oxy. (được ký hiệu là O<sub>2</sub>).
Bảng dưới đây cho biết một số hợp chất phổ biến
{| class="wikitable" style="width: 300px; margin: 0px auto 0px auto; text-align: center;"
! Hợp chất|| Ký hiệu
|-
| Calci carbonate || CaCO<sub>3</sub>
|-
| Carbon dioxide || CO<sub>2</sub>
|-
| Đồng (II) sulfat || CuSO<sub>4</sub>
|-
| Glucose || C<sub>6</sub>H<sub>12</sub>O<sub>6</sub>
|-
| Acid hydrochloric || HCl
|-
| Natri bicarbonat (baking soda) || NaHCO<sub>3</sub>
|-
| Natri chloride (muối ăn) || NaCl
|-
| Natri hydroxide || NaOH
|-
| Nước || H<sub>2</sub>O
|}
==Phản ứng hoá học==
Các phản ứng xảy ra khi các nguyên tử liên kết với nhau hoặc tách rời khỏi nhau. Trong quá trình này, các sản phẩm mới có tính chất hóa học khác biệt được tạo thành.
Phản ứng hóa học có thể được biểu diễn bằng '''phương trình hóa học'''. Các chất tham gia thường được đặt ở phía bên trái của phương trình, còn các chất sản phẩm tạo thành nằm ở phía bên phải.
Ví dụ
* <math>\text{H}_2\text{O} + \text{CO}_2 \rightarrow \text{H}_2\text{CO}_3</math>
==Điện ly==
Một số loại nguyên tử khi hòa tan trong nước biến thành các hạt mang điện tích gọi là '''ion'''. Một số trở thành ion mang điện tích dương, trong khi số khác trở thành ion mang điện tích âm. Các ion có thể mang 1, 2 hoặc đôi khi là 3 điện tích.
Bảng dưới đây trình bày các ví dụ về ion mang điện tích dương và ion mang điện tích âm cùng với số lượng điện tích tương ứng của chúng.
{| class="wikitable" style="width: 300px; margin: 0px auto 0px auto; text-align: center;"
! colspan="2" | Ion dương
! colspan="2" | Ion âm
|-
| H+ || Hydro || Cl- ||Chlor
|-
| Ca<sup>2</sup>+ || Calci || OH- || Hydroxyl
|-
| Na+ || Natri || HCO<sub>3</sub>- || Bicarbonate
|-
| K+ || Kali|| CO<sub>3</sub><sup>2</sup>- || Carbonate
|-
| Mg<sup>2</sup>+ || Magnesi || SO<sub>4</sub><sup>2</sup>- || Sulfat
|-
| Fe<sup>2</sup>+ || Sắt (2 điện tích) || PO<sub>4</sub><sup>3</sup>- || Phosphat
|-
| Fe<sup>3</sup>+ || Sắt (3 điện tích) || S<sup>2</sup>- || Sulfide
|}
Các ion dương và ion âm hút lẫn nhau để giữ các hợp chất liên kết chặt chẽ với nhau.
Các ion đóng vai trò quan trọng trong tế bào vì chúng có khả năng dẫn điện khi hòa tan trong nước. Chất điện ly (hay chất điện giải, chất điện phân) là những chất khi tan trong nước phân ly thành các ion.
==Hợp chất hữu cơ và vô cơ==
Các phân tử trong cơ thể động vật được chia thành hai nhóm: '''hợp chất vô cơ''' và '''hợp chất hữu cơ'''. Điểm khác biệt giữa hai nhóm này là nhóm vô cơ không chứa '''carbon''' (trừ một số ngoại lệ), còn nhóm hữu cơ thì có.
Một số ví dụ về hợp chất vô cơ gồm nước, natri chloride, kali hydroxide và calci phosphat. '''Nước''' là hợp chất vô cơ dồi dào nhất, chiếm hơn 60% thể tích tế bào và trên 90% thể tích các dịch cơ thể như máu. Nhiều chất hòa tan trong nước và tất cả các phản ứng hóa học diễn ra trong cơ thể đều xảy ra khi các chất đã được hòa tan trong môi trường nước. Các phân tử vô cơ khác giúp duy trì ổn định '''cân bằng acid/base (pH)''' cũng như nồng độ của máu và các dịch cơ thể khác (xem Chương 8).
Một số ví dụ về hợp chất hữu cơ bao gồm '''carbohydrat''', '''protein''' và '''chất béo''' (lipid). Mọi phân tử hữu cơ đều chứa các nguyên tử carbon và chúng thường có kích thước lớn hơn, cấu trúc phức tạp hơn so với các hợp chất vô cơ. Điều này chủ yếu do mỗi nguyên tử carbon có khả năng liên kết tối đa với bốn nguyên tử khác. Vì vậy, các hợp chất hữu cơ có thể bao gồm từ một đến hàng nghìn nguyên tử carbon liên kết lại với nhau để tạo thành chuỗi thẳng, chuỗi nhánh hoặc dạng vòng (xem sơ đồ bên dưới).
[[File:Anatomy and physiology of animals-organic compounds.jpg|center]]
==Carbohydrat==
Tất cả các hợp chất carbohydrat đều bao gồm các nguyên tố chính là carbon, hydro và oxy; giống như nước (H<sub>2</sub>O), số nguyên tử hydro trong mỗi phân tử carbohydrat luôn gấp đôi số nguyên tử oxy. Carbohydrat là một nhóm lớn và đa dạng, trong đó bao gồm đường, tinh bột, glycogen, cellulose... Trong một khẩu phần ăn, carbohydrat cung cấp cho động vật phần lớn năng lượng, đồng thời trong cơ thể động vật, chúng cũng đảm nhận vai trò vận chuyển và dự trữ năng lượng.
Dựa vào kích thước phân tử, các hợp chất carbohydrat được chia làm ba nhóm lớn: '''monosaccharide''' (đường đơn), '''disaccharide''' (đường đôi) và '''polysaccharide''' (đường đa).
'''Monosaccharide''' là những phân tử carbohydrate nhỏ nhất. Monosaccharide quan trọng nhất là glucose; đây là chất cung cấp phần lớn năng lượng cho tế bào.
'''Disaccharide''' được hình thành khi 2 phân tử monosaccharide liên kết với nhau. Sucrose (đường ăn), maltose và lactose (đường sữa) là ba disaccharide quan trọng. Chúng được phân giải thành các monosaccharide nhờ các enzyme tiêu hóa trong ruột.
'''Polysaccharide''' (như tinh bột, glycogen và cellulose...) được tạo thành từ nhiều phân tử monosaccharide liên kết với nhau. Khác với monosaccharide và disaccharide, các polysaccharide không có vị ngọt và hầu hết đều không tan trong nước.
{{multiple image
|align=center
|image1=Alpha-D-Glucopyranose.svg
|alt1=Glucose
|caption1=Glucose
|width1=164
|image2=Lactose Haworth.svg
|alt2=Lactose
|width2=202
|caption2=Disaccharide (Lactose)
}}
:*Thực vật chủ yếu dùng '''tinh bột''' để dự trữ năng lượng thu nhận từ Mặt Trời. Tinh bột được tìm thấy trong các loại hạt như đại mạch và các loại củ như khoai tây.
:*'''Glycogen''' là loại polysaccharide được động vật dùng để dự trữ năng lượng; glycogen cũng được tìm thấy trong gan và các cơ xương (cơ vân).
:*'''Cellulose''' tạo nên thành tế bào cứng cáp của thực vật. Các loài động vật có vú không thể tự tiêu hóa được chất này. Bò và ngựa có thể tiêu hoá cellulose nhờ sự trợ giúp của các vi khuẩn sống trong các bộ phận tiêu hóa của chúng.
[[Image:Anatomy and physiology of animals-Polysaccharides.jpg|center]]
==Chất béo==
'''Chất béo (lipid)''' là một trong những thành phần chính cấu tạo nên màng sinh chất bao quanh tế bào và chúng cũng đóng vai trò tạo thành lớp mỡ cách nhiệt dưới da. Chất béo là nguồn chứa nhiều năng lượng. Khi tiêu thụ 1 gram chất béo trong chế độ ăn, lượng năng lượng được cung cấp gấp hơn hai lần so với carbohydrat hoặc protein.
Giống như carbohydrat, các thành phần chính của chất béo gồm carbon, hydro và oxy, nhưng khác với carbohydrate, trong phân tử chất béo, không có tỷ lệ cố định nào giữa số lượng nguyên tử hydro và oxy.
Đa số các chất béo và dầu mà động vật tiêu thụ trong chế độ ăn là '''triglyceride''' hay còn gọi là '''chất béo trung tính'''. Các đơn vị cấu tạo nên triglyceride gồm 3 acid béo liên kết với một phân tử glycerol. Khi chất béo được tiêu hoá, các enzyme tiêu hóa sẽ phân giải chất béo trở lại thành các acid béo và glycerol riêng rẽ.
'''Acid béo''' được chia làm hai loại chính: acid béo bão hoà và chưa bão hoà. '''Acid béo bão hòa''' có khung carbon chỉ chứa các liên kết đơn và mang tối đa số nguyên tử hydro có thể; loại này chiếm tỷ lệ cao trong mỡ động vật gia súc và các sản phẩm từ sữa, nên thường ở dạng rắn ở nhiệt độ phòng. Ngược lại, '''acid béo chưa bão hoà''' chứa ít nhất một liên kết đôi giữa các nguyên tử carbon nên chứa ít hydro hơn; chúng chiếm phần lớn trong dầu thực vật, dầu cá và mỡ gia cầm, khiến chúng thường tồn tại ở dạng lỏng ở nhiệt độ phòng.
Phospholipid là các lipid có chứa nhóm phosphat. Chúng đóng vai trò quan trọng trong sự cấu thành màng sinh chất của tế bào.
[[Image:Triglyceride.JPG|left]]
[[Image:Chain of amino acids.jpg|center]]
==Protein==
'''Protein''' là một trong các nhóm hợp chất hữu cơ chính trong tế bào. Các nguyên tố cốt lõi trong protein gồm C, H, O và N (nitơ). Nhiều loại protein còn chứa cả '''lưu huỳnh''' và '''phospho'''.
Trong tế bào, protein là một trong các thành phần quan trọng cấu tạo nên màng sinh chất. Vai trò của hầu hết các protein trong cơ thể là làm '''enzyme'''. Enzyme là các phân tử đóng vai trò là chất xúc tác sinh học, cần thiết cho các phản ứng hóa sinh diễn ra. Trong da, lông vũ và tóc có chứa một loại protein có tên '''keratin'''. Ngoài ra, protein còn xuất hiện trong các mô cơ, trong các kháng thể và một số hormone.
Protein được xây dựng từ các chuỗi dài gồm các phân tử nhỏ hơn gọi là '''acid amin.''' Có 20 loại acid amin phổ biến; số lượng và thứ tự sắp xếp khác nhau của chúng tạo nên vô số các loại protein riêng biệt tồn tại trong cơ thể động vật.
Các chuỗi acid amin dài thường liên kết với các chuỗi acid amin khác. Phân tử protein tạo ra từ sự liên kết này có thể xoắn, cuộn tròn và gập lại để tạo nên một cấu trúc không gian 3 chiều phức tạp. Lấy làm ví dụ, hãy xem sơ đồ của protein lysozyme bên dưới. Nhìn như vậy thôi, đây vẫn được coi là một protein nhỏ và tương đối đơn giản.
[[Image:Protein conformation.jpg|center]]
Chính hình dạng không gian này quyết định cách thức protein hoạt động trong tế bào, đặc biệt là khi chúng đóng vai trò làm enzyme. Nếu vì bất kỳ lý do gì mà hình dạng này bị biến đổi, protein sẽ ngừng hoạt động. Sự biến đổi đó chính là những gì xảy ra khi protein bị đun nóng hoặc đặt trong dung dịch quá acid hay quá kiềm. Hãy tưởng tượng những gì xảy ra với lòng trắng trứng khi được nấu chín. Lòng trắng trứng chứa protein albumin; khi nấu chín, albumin sẽ bị biến đổi hoặc '''biến tính''' vĩnh viễn do nhiệt độ. Tác động tàn phá của nhiệt độ đối với enzyme là một trong những lý do khiến động vật tử vong khi tiếp xúc với nhiệt độ cao.
Trong chế độ ăn của động vật, protein được tìm thấy trong thịt, các sản phẩm từ sữa, các loại hạt, quả hạt và các loài cây họ đậu như đậu nành. Khi các enzyme trong đường tiêu hóa tiêu hóa protein, chúng phân giải protein thành các acid amin riêng lẻ - các phân tử đó đủ nhỏ để được hấp thu vào máu.
==Tóm tắt==
* Ion là các hạt mang điện tích, và chất điện ly là những chất khi hòa tan vào nước sẽ phân ly ra các ion, giúp cho dung dịch đó có khả năng dẫn điện.
* Carbohydrat có cấu tạo chính từ carbon cùng với hydro và oxy (theo cùng tỷ lệ như trong nước, tỉ lệ 2:1) liên kết với nhau. Tế bào chủ yếu sử dụng carbohydrat để cung cấp năng lượng.
* Chất béo cũng có cấu tạo chính từ carbon, hydro và oxy. Chúng là nguồn năng lượng dồi dào, đồng thời được sử dụng để cách nhiệt/giữ nhiệt.
* Protein là vật liệu xây dựng của cơ thể, và cũng đóng vai trò làm enzyme. Khi đóng vai trò làm enzyme, protein giúp các phản ứng hoá sinh trong tế bào diễn ra. Chúng chứa nitơ, carbon, hydro và oxy.
* Nhiều protein còn chứa cả lưu huỳnh và phospho.
==Phiếu bài tập==
[http://www.wikieducator.org/Chemicals_Worksheet Phiếu bài tập về Các chất hoá học trong Tế bào] (bằng Tiếng Anh)
==Tự kiểm tra bản thân==
1. Sự khác biệt giữa nguyên tử và phân tử là gì?
2. Tên hóa học của baking soda là gì? Và công thức hóa học của nó?
3. Viết phương trình phản ứng phân hủy acid carbonic thành nước và carbon dioxide.
4. Dung dịch muối ăn trong nước là một ví dụ về chất điện ly. Những ion nào có mặt trong dung dịch này?
5. Nguyên tố nào luôn luôn có mặt trong protein nhưng thường không có trong chất béo hoặc carbohydrate?
6. Liệt kê 3 điểm khác nhau giữa glucose và glycogen.
7. Cái nào sẽ cung cấp cho bạn nhiều năng lượng nhất – một gam đường hay một gam bơ?
8. Tại sao các hợp chất hữu cơ thường có xu hướng phức tạp và kích thước lớn hơn các hợp chất vô cơ?
[[/Câu trả lời cho phần Tự kiểm tra bản thân/]]
==Trang web==
* [http://darwin.baruch.cuny.edu/bio1003/organic_background.html Khảo sát các hợp chất hữu cơ trong thế giới sống] (bằng Tiếng Anh)
Một bài tóm tắt về carbohydrat, chất béo và protein.
==Chú giải thuật ngữ==
* [http://vi.wikibooks.org/wiki/Giải_phẫu_và_Sinh_lý_học_Động_vật/Chú_giải_thuật_ngữ Phần chú giải]
{{BookCat}}
16sl65iig4njaceg598t0kwasny4qfl
Trẻ em:Các vua và hoàng hậu của Anh
104
110498
542797
2026-08-19T13:41:46Z
DeutschMax
19700
Trang mới: “'''Nội dung''' #[[/Giới thiệu|Giới thiệu]] #[[/Người Anglo-Saxon|Người Anglo-Saxon (871–1016)]] #[[/Người Đan Mạch|Người Đan Mạch (1016–1042)]] #[[/Trở lại với người Anglo-Saxon|Trở lại với người Anglo-Saxon (1042–1066)]] #[[/Nhà Normandy|Nhà Normandy (1066–1154)]] #[[/Nhà Plantagenet|Nhà Plantagenet (1154–1399)]] #[[/Nhà Lancaster|Nhà Lancaster (1399–1461, 1470–1471)]] #/Nhà…”
542797
wikitext
text/x-wiki
'''Nội dung'''
#[[/Giới thiệu|Giới thiệu]]
#[[/Người Anglo-Saxon|Người Anglo-Saxon (871–1016)]]
#[[/Người Đan Mạch|Người Đan Mạch (1016–1042)]]
#[[/Trở lại với người Anglo-Saxon|Trở lại với người Anglo-Saxon (1042–1066)]]
#[[/Nhà Normandy|Nhà Normandy (1066–1154)]]
#[[/Nhà Plantagenet|Nhà Plantagenet (1154–1399)]]
#[[/Nhà Lancaster|Nhà Lancaster (1399–1461, 1470–1471)]]
#[[/Nhà York|Nhà York (1461–1470, 1471–1485)]]
#[[/Nhà Tudor|Nhà Tudor (1485–1603)]]
#[[/Nhà Stuart|Nhà Stuart (1603–1649, 1660–1714)]]
#[[/Nhà Hanover|Nhà Hanover (1714–1901)]]
#[[/Nhà Saxe-Coburg-Gotha|Nhà Saxe-Coburg-Gotha (1901–1917)]]
#[[/Nhà Windsor|Nhà Windsor (1917 trở đi)]]
#[[/Các vị quốc vương tương lai|Các vị quốc vương tương lai]]
3k1cv95s0w5kfbiuoe2yl9etnmrpzwd
Bản mẫu:Navigate
10
110499
542798
2026-08-19T13:45:23Z
DeutschMax
19700
Trang mới: “{| class="noprint" style="margin:0.5em auto; border:0px; background:#aaaaaa; color:black; border-spacing:1px; text-align:center; width:90%;" |- | style="padding:0.25em; background:#6699dd; color:black;" colspan="3" | '''[[{{{Book|{{BOOKNAME}}}}}|<span style="color:#ddddff;">{{{Book|{{BOOKNAME}}}}}</span>]]''' |- style="background:white; color:black;" | style="width:30%; padding:0.25em;" | {{#if:{{{Prev|}}} |'''{{{Book|{{BOOKNAME}}}}}/{{{Prev}}}|{{{PrevText|{{{Prev}}…”
542798
wikitext
text/x-wiki
{| class="noprint" style="margin:0.5em auto; border:0px; background:#aaaaaa; color:black; border-spacing:1px; text-align:center; width:90%;"
|-
| style="padding:0.25em; background:#6699dd; color:black;" colspan="3" | '''[[{{{Book|{{BOOKNAME}}}}}|<span style="color:#ddddff;">{{{Book|{{BOOKNAME}}}}}</span>]]'''
|- style="background:white; color:black;"
| style="width:30%; padding:0.25em;" | {{#if:{{{Prev|}}} |'''[[{{{Book|{{BOOKNAME}}}}}/{{{Prev}}}|{{{PrevText|{{{Prev}}}}}}]]'''}}
| style="width:40%; padding:0.25em;" | '''{{{Curr|{{SUBPAGENAME}}}}}'''
| style="width:30%; padding:0.25em;" | {{#if:{{{Next|}}} |'''[[{{{Book|{{BOOKNAME}}}}}/{{{Next}}}|{{{NextText|{{{Next}}}}}}]]'''}}
|}
<includeonly>{{#ifeq:{{{example|no}}}|no|[[{{BOOKCATEGORY|{{{Book|{{BOOKNAME}}}}}}}|{{BOOKSORTKEY}}]]}}</includeonly><noinclude>{{documentation}}</noinclude>
1lm8n1kqp8w8fgzf7f67xrw7zlx6mbk
Bản mẫu:BOOKSORTKEY
10
110500
542800
2026-08-19T13:52:21Z
DeutschMax
19700
Trang mới: “{{{{#if:{{BOOKPAGENAME|{{{1|{{FULLPAGENAME}}}}}}}|BOOKPAGENAME|BOOKNAME}}|{{{1|{{FULLPAGENAME}}}}}}}<noinclude>{{documentation}}</noinclude>”
542800
wikitext
text/x-wiki
{{{{#if:{{BOOKPAGENAME|{{{1|{{FULLPAGENAME}}}}}}}|BOOKPAGENAME|BOOKNAME}}|{{{1|{{FULLPAGENAME}}}}}}}<noinclude>{{documentation}}</noinclude>
jtaxod9a5ukdy5ui1sfskudad368esj
Trẻ em:Các vua và hoàng hậu của Anh/Giới thiệu
104
110501
542801
2026-08-19T13:57:04Z
DeutschMax
19700
Trang mới: “<noinclude>{{Navigate|Next=Người Anglo-Saxon}} </noinclude> Chào mừng các bạn nhỏ đến với cuốn sách Wikijunior về các Vua và Nữ hoàng Anh! Trong cuốn sách này, chúng ta sẽ bắt đầu chuyến du hành ngược thời gian để tìm hiểu về những vị vua người Anglo-Saxon đầu tiên. Sau đó, chúng ta sẽ cùng xem chiếc ngai vàng đã liên tục đổi chủ ra sao sau những cuộc chiến chinh phạt. Bạn sẽ…”
542801
wikitext
text/x-wiki
<noinclude>{{Navigate|Next=Người Anglo-Saxon}}
</noinclude>
Chào mừng các bạn nhỏ đến với cuốn sách Wikijunior về các Vua và Nữ hoàng Anh!
Trong cuốn sách này, chúng ta sẽ bắt đầu chuyến du hành ngược thời gian để tìm hiểu về những vị vua người Anglo-Saxon đầu tiên. Sau đó, chúng ta sẽ cùng xem chiếc ngai vàng đã liên tục đổi chủ ra sao sau những cuộc chiến chinh phạt. Bạn sẽ được gặp những vị vua rất mạnh mẽ, cũng như những vị vua vô cùng yếu đuối, đồng thời chứng kiến những cuộc tranh giành quyền lực nảy lửa giữa Nhà vua và Quốc hội. Cuốn sách cũng kể về giai đoạn quyền lực dần chuyển hẳn sang cho Quốc hội; giai đoạn này kéo dài cho tới tận thời của vị vua hiện tại là vua Charles III. Ở phần cuối, chúng ta sẽ cùng xem ai có thể là những vị vua tiếp theo của nước Anh nhé.
Chúng ta sẽ cùng khám phá câu chuyện về 11 vị vua có tên Edward, 9 vị vua tên Henry, một vị nữ hoàng kỳ lạ chỉ cai trị trong vỏn vẹn 9 ngày và cả Vua Philip - người mà hầu như ai ai ngày nay cũng đã quên mất. Nhưng trước hết, hãy cùng quay về năm 871 với người Anglo-Saxon để gặp vị vua duy nhất trong lịch sử nước Anh được người dân gọi là "Đại đế": Vua Alfred.
{{BookCat}}
l1m7x136y8xuwpyksmd9z8ja7f4ucta
Các vua và hoàng hậu của Anh/Người Anglo-Saxon
0
110502
542802
2026-08-19T15:10:58Z
DeutschMax
19700
Trang mới: “Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và nhữn…”
542802
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|right|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924. Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
Ethelweard sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
Athelstan sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Người Cao Tuổi. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
3rglgfj3zox5i8voirsj1dqqw8bqsaj
542804
542802
2026-08-20T04:59:24Z
DeutschMax
19700
/* Edward Trưởng giả (899-924) */
542804
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|right|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edward {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edward-Anglo-Saxon-king |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
Ethelweard sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
Athelstan sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Người Cao Tuổi. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
pm9e5bh0iys6lph1q3v1pteikk1atnc
542805
542804
2026-08-20T05:00:07Z
DeutschMax
19700
542805
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|right|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edward {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edward-Anglo-Saxon-king |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
'''Ethelweard''' sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
'''Athelstan''' sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Người Cao Tuổi. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
o9mw1rxx9s0jn1voh7rmkqh6kibnvgk
542806
542805
2026-08-20T05:23:44Z
DeutschMax
19700
/* Edward Trưởng giả (899-924) */
542806
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|left|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edward {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edward-Anglo-Saxon-king |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
'''Ethelweard''' sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
'''Athelstan''' sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Người Cao Tuổi. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
6ikfk3lymv70t6mlzd8nbm8e6c29dps
542807
542806
2026-08-20T05:31:58Z
DeutschMax
19700
/* Edwy Công chính (955-959) */
542807
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|left|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edward {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edward-Anglo-Saxon-king |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
'''Ethelweard''' sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
'''Athelstan''' sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Người Cao Tuổi. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
== Edgar Hoà bình (959 - 975) ==
[[Image:King Edgar, c.943-75.jpg|left|thumb|100px|Vua Edgar]]
Vua '''Edgar''' sinh vào khoảng năm 942 tại Wessex. Ông là con trai thứ của vua Edmund I.<ref>{{Cite web |date=2024-04-25 |title=Edgar {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Coronation, Reforms {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edgar-king-of-England |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Nhờ có một thời kỳ cai trị hoà bình, ông được hậu thế xưng tụng là "Edgar Hòa Bình".
Ông là một quân vương bản lĩnh hơn hẳn người anh trai Edwy. Năm 958, được sự ủng hộ của giới quý tộc Mercia, Edgar được tôn làm vua vùng đất phía bắc sông Thames, tiếp quản hai khu vực Northumbria và Mercia từ tay anh mình. Đến tháng 10 năm 959, khi Edwy qua đời, Edgar mới chính thức nối ngôi, thống nhất toàn bộ vương quốc.
Lễ đăng quang của Edgar được tổ chức tại Bath vào năm 973. Dù diễn ra khá muộn, sự kiện này lại được dàn dựng như một cột mốc hoàng kim đánh dấu đỉnh cao quyền lực của ông. Ngay sau nghi lễ mang tính biểu tượng đó, sáu vị vua khác trên đảo Anh (bao gồm cả các vua của Scotland và Strathclyde) đã tìm đến Chester để chính thức phục tùng và tuyên thệ trung thành với ông.
Về đời tư, Edgar trải qua hai lần kết hôn chính thức: đầu tiên với bà Ethelfled, và sau đó là bà Elfrida. Ông có nhiều người con. Khi ông qua đời vào ngày 8 tháng 7 năm 975 tại Winchester, ông để lại hai người con trai, cả hai người sau này đều trở thành vua của nước Anh. Người con cả Edward (con với người vợ đầu) lên ngôi ngay sau khi ông mất. Về sau, người con thứ Ethelred (con với người vợ sau) lại tiếp tục lên kế vị người anh cùng cha khác mẹ của mình. Edgar được an táng tại Tu viện Glastonbury. Ngoài ra, người ta còn cho rằng giữa hai đời vợ, Edgar từng kết hôn với một người thiếp tên là Wulfryth. Họ có một người con gái tên là Eadgyth, người sau này trở thành Nữ viện trưởng tại tu viện Wilton.
b9xyp2j62xw322lmi1hzuhijne83wrf
542808
542807
2026-08-20T06:45:32Z
DeutschMax
19700
/* Edgar Hoà bình (959 - 975) */
542808
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|left|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edward {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edward-Anglo-Saxon-king |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
'''Ethelweard''' sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
'''Athelstan''' sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Người Cao Tuổi. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
== Edgar Hoà bình (959 - 975) ==
[[Image:King Edgar, c.943-75.jpg|left|thumb|100px|Vua Edgar]]
Vua '''Edgar''' sinh vào khoảng năm 942 tại Wessex. Ông là con trai thứ của vua Edmund I.<ref>{{Cite web |date=2024-04-25 |title=Edgar {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Coronation, Reforms {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edgar-king-of-England |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Nhờ có một thời kỳ cai trị hoà bình, ông được hậu thế xưng tụng là "Edgar Hòa Bình".
Ông là một quân vương bản lĩnh hơn hẳn người anh trai Edwy. Năm 958, được sự ủng hộ của giới quý tộc Mercia, Edgar được tôn làm vua vùng đất phía bắc sông Thames, chiếm được hai khu vực Northumbria và Mercia từ tay anh mình. Đến tháng 10 năm 959, khi Edwy qua đời, Edgar mới chính thức nối ngôi, thống nhất toàn bộ vương quốc.
Lễ đăng quang của Edgar được tổ chức tại Bath vào năm 973. Dù diễn ra khá muộn, sự kiện này lại được dàn dựng như một cột mốc hoàng kim đánh dấu đỉnh cao quyền lực của ông. Ngay sau nghi lễ mang tính biểu tượng đó, sáu vị vua khác trên đảo Anh (bao gồm cả các vua của Scotland và Strathclyde) đã tìm đến Chester để chính thức phục tùng và tuyên thệ trung thành với ông.
Về đời tư, Edgar trải qua hai lần kết hôn chính thức: đầu tiên với bà Ethelfled, và sau đó là bà Elfrida. Ông có nhiều người con. Khi ông qua đời vào ngày 8 tháng 7 năm 975 tại Winchester, ông để lại hai người con trai, cả hai người sau này đều trở thành vua của nước Anh. Người con cả Edward (con với người vợ đầu) lên ngôi ngay sau khi ông mất. Về sau, người con thứ Ethelred (con với người vợ sau) lại tiếp tục lên kế vị người anh cùng cha khác mẹ của mình. Edgar được an táng tại Tu viện Glastonbury. Ngoài ra, người ta còn cho rằng giữa hai đời vợ, Edgar từng kết hôn với một người thiếp tên là Wulfryth. Họ có một người con gái tên là Eadgyth, người sau này trở thành Nữ viện trưởng tại tu viện Wilton.
== Edward Tuẫn đạo (975 - 978) ==
Vua '''Edward Tuẫn đạo''' sinh vào khoảng năm 962 tại Wessex. Ông nối ngôi cha là Vua Edgar để trở thành Vua nước Anh vào năm 975, nhưng đã bị sát hại chỉ sau vài năm trị vì, cụ thể là vào năm 978. Do vụ ám sát được cho là do những kẻ đối lập "bất kính với Chúa" thực hiện, trong khi đó, bản thân Edward lại được coi là một tín đồ Công giáo thuần thành, ông đã được phong Thánh (Thánh Edward Tuẫn đạo) vào năm 1001. Ông chưa từng kết hôn.
Ngay từ khi lên ngôi, quyền lực của Edward đã bị thách thức bởi một phe quý tộc do người mẹ kế - Vương hậu Elfrida - dẫn đầu. Bà muốn đưa đứa con trai còn nhỏ của mình là Ethelred (người này sau đó trở thành vua và được biết đến với biệt danh Ethelred Bất tài) lên làm vua. Tuy nhiên, Edward nhận được nhiều sự ủng hộ hơn và ông đã được Hội đồng quý tộc Witan chính thức phê chuẩn ngôi vị.
Vào thời điểm đó, một trận đại hạn hán và nạn đói khủng khiếp đang hoành hành khắp đất nước. Nhiều quý tộc đã kích động các cuộc tấn công dữ dội vào các tu viện nhằm chiếm đoạt và giữ lại những phần đất đai mà Vua Edgar (cha của Edward) từng ban tặng cho Giáo hội trước đây. Hàng loạt tu viện bị tàn phá, các tu sĩ buộc phải bỏ chạy, nhưng nhà vua vẫn kiên quyết đứng về phía Tổng Giám mục Dunstan để bảo vệ Giáo hội và các tu viện. Chính vì điều này, một số quý tộc đã quyết định loại bỏ ông để đưa Ethelred lên thay thế.
=== Cái chết và di sản ===
Vào ngày 18 tháng 3 năm 978, khi đang đi săn cùng chó nghiệp vụ và kỵ binh tại một khu vực gần Wareham, Dorset, vua Edward quyết định tới thăm Ethelred, người em trai đang được nuôi dưỡng tại nhà của mẹ kế Elfrida ở Lâu đài Corfe gần đó. Nhà vua đi một mình. Trong lúc vẫn ngồi trên lưng ngựa ở khu vực sân dưới của lâu đài, ông được bà mẹ kế Elfrida dâng một ly rượu mead. Vừa lúc ông nâng ly uống, một kẻ thuộc phe Vương hậu đã đâm lén ông từ phía sau lưng. Bản thân Ethelred khi đó mới 10 tuổi nên không liên quan đến vụ ám sát này. Dù vậy, một nguồn ghi chép khác lại khẳng định chính Elfrida đã ra tay sát hại nhà vua.
Ngay sau khi bị đâm, thi thể của nhà vua rơi khỏi yên ngựa và bị kéo lê trên mặt đất. Cuối cùng, thi thể của ông được thả xuống một dòng suối dưới chân ngọn đồi nơi Lâu đài Corfe tọa lạc. Dòng suối này về sau được cho là có khả năng chữa bệnh, đặc biệt là mang lại ánh sáng cho người mù. Vương hậu sau đó ra lệnh giấu xác nhà vua trong một căn chòi gần đó. Trong căn chòi có một người phụ nữ bị mù bẩm sinh sinh sống, và ngay đêm hôm đó, bà bất ngờ sáng mắt trở lại. Ngày nay, Nhà thờ Thánh Edward tại Lâu đài Corfe chính là nơi dựng trên nền đất từng diễn ra phép lạ này.
Rạng sáng hôm sau, Vương hậu ra lệnh đem chôn Vua Edward tại một vùng đầm lầy gần Wareham. Tuy nhiên, đúng một năm sau vụ ám sát, một cột lửa bất ngờ xuất hiện chiếu sáng rực cả một vùng không gian ngay trên chỗ giấu xác. Dân chúng Wareham thấy vậy liền đào thi thể ông lên, và ngay tại vị trí đó lập tức phun trào một dòng nước mát lành có khả năng chữa lành bệnh tật. Trong sự đưa tiễn của dòng người tiếc thương đông đảo, thi thể nhà vua được rước về Nhà thờ Đức Mẹ ở Wareham và an táng tại phía đông nhà thờ vào ngày 13 tháng 2 năm 980. Nhiều phép lạ khác sau đó cũng được tin là do Vua Edward hiển linh.
Edward chính thức được Hội đồng Toàn Anh phong Thánh vào năm 1008 dưới sự chủ trì của Tổng Giám mục xứ Canterbury. Vua Ethelred sau đó ra lệnh cho toàn nước Anh phải làm lễ kỷ niệm ba ngày vía của Thánh Edward. Tu viện Shaftesbury cũng trở thành nơi để phụng thờ Đức Mẹ lẫn Thánh Edward; thậm chí thị trấn Shaftesbury còn được đổi tên thành "Edwardstowe" và chỉ dùng lại tên cũ sau thời kỳ Cải cách Tu viện dưới triều Vua Henry VIII nhiều thế kỷ sau đó. Rất nhiều phép lạ như chữa lành bệnh phong hay giúp người mù sáng mắt đã được ghi nhận tại ngôi mộ của Thánh Edward.
Đến thế kỷ 16, hài cốt của Thánh Edward được đem giấu đi để tránh bị mạo phạm trong thời kỳ Cải cách Tôn giáo. Mãi tới năm 1931, phần hài cốt này mới được khai quật trở lại. Ngày nay, hài cốt của ông được đặt tại một nhà thờ tại nghĩa trang Brookwood ở Woking, Surrey. Ngày nay, nhà thờ này có tên là Nhà thờ Công giáo Chính thống Edward Tuẫn Đạo.
== Ethelred Bất tài (978-1013, 1014-1016) ==
'''Ethelred Bất tài''' (tiếng Anh: '''Ethelred the Unready''') sinh vào khoảng năm 968 tại Wessex và mất năm 1016.<ref>{{Cite web |date=2024-04-19 |title=Ethelred the Unready {{!}} Viking invasions, Wessex, Mercia {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Ethelred-the-Unready |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua nước Anh trong hai giai đoạn: từ năm 978 đến 1013, và sau đó từ năm 1014 đến 1016. Ông còn được biết đến với niên hiệu Vua Ethelred II.
Biệt danh "Unready" của ông trong tiếng Anh thực chất không mang nghĩa là "chưa chuẩn bị, chưa sẵn sàng", mà xuất phát từ từ unræd trong tiếng Anglo-Saxon, có nghĩa là "thiếu sự cố vấn" hoặc "do dự, thiếu sự quyết đoán". Đây cũng có thể xem là một trò chơi chữ dựa trên chính tên gọi của ông - Æðelræd - vốn mang ý nghĩa là "lời cố vấn cao quý". Ethelred lên ngôi vua khi mới khoảng 10 tuổi, sau cái chết của cha ông là Vua Edgar và vụ ám sát của Vua Edward, người anh cùng cha khác mẹ.
=== Xung đột với người Đan Mạch ===
Nước Anh đã trải qua một thời kỳ hòa bình kéo dài sau khi giành lại vùng Danelaw. Tuy nhiên, đến năm 991, Ethelred phải đối mặt với một hạm đội Viking có quy mô lớn chưa từng thấy kể từ thời Guthrum một thế kỷ trước. Hạm đội này do Olaf Trygvasson - một người Na Uy mang tham vọng giải phóng đất nước mình khỏi sự thống trị của Đan Mạch - dẫn đầu.
Sau những thất bại quân sự ban đầu, Ethelred đã đàm phán thành công với Olaf. Olaf trở về Na Uy để gây dựng lại cơ nghiệp nhưng chỉ đạt được những thành công nhất định. Mặc dù thỏa thuận này giúp nước Anh mua thêm được chút thời gian, đất nước vẫn sớm phải hứng chịu các cuộc tập kích tiếp theo từ người Viking. Ethelred đã nỗ lực đánh đuổi họ, nhưng trong nhiều trường hợp, ông lại chọn cách làm của các vị vua tiền nhiệm (bao gồm cả Alfred Đại đế) là cống nộp tiền để đổi lấy bình yên - khoản tiền này về sau được gọi là Danegeld. Tuy nhiên, vào ngày 13 tháng 11 năm 1012, Ethelred đã ra lệnh thảm sát toàn bộ người Đan Mạch đang sinh sống tại Anh. Hành động này đã kích động một làn sóng phẫn nộ dữ dội, khiến Sweyn Haraldsson mở một loạt chiến dịch sấm sét nhằm chinh phục nước Anh. Sweyn đã thành công và phế bỏ Ethelred. Ethelred sau đó phải cùng vợ cùng các con tháo chạy sang Normandy để tị nạn. Dù vậy, Sweyn qua đời không lâu sau đó và đến tháng 2 năm 1014, Ethelred đã trở lại tiếp quản ngôi vương.
=== Hôn nhân và con cái ===
Ethelred kết hôn lần đầu với bà Ælflaed, con gái của Thored - một quý tộc cấp cao vùng Northumbria. Bà là mẹ của bốn người con trai, trong đó có Edmund Ironside (người sau này trở thành Vua Edmund II). Đến năm 997, ông tái hôn với Ælfgifu, con gái của vị quý tộc cấp cao Aethelberht và có thêm hai người con trai. Cuộc hôn nhân thứ ba cũng là cuộc hôn nhân cuối cùng của ông, diễn ra vào năm 1002 với bà Emma xứ Normandy. Sau này, người cháu của bà là William I (William Kẻ Chinh Phục) đã dùng chính mối quan hệ họ hàng này làm cơ sở để lấy quyền thừa kế ngai vàng nước Anh.
=== Cái chết và di sản ===
Ethelred qua đời vào ngày 23 tháng 4 năm 1016 tại London và được an táng ngay tại đây. Người lên kế vị ông là con trai ông, Edmund Ironside.
Dù triều đại của Ethelred phải liên tục hứng chịu các cuộc tấn công từ người Viking, thời kỳ ông cai trị hoàn toàn không phải là một thảm họa tồi tệ như những gì các sử gia sau này mô tả. Ông đã đưa ra nhiều cải cách quan trọng cho bộ máy chính quyền thời Anglo-Saxon, đặc biệt là việc thành lập chức vụ Hạt trưởng. Bên cạnh đó, giá trị của đồng tiền - vốn luôn là thước đo chính xác cho tình hình kinh tế - dưới thời ông vẫn duy trì ở mức rất cao trong suốt triều đại.
== Edmund Ironside (1016) ==
[[Image:Edmond II d'Angleterre.jpg|thumb|right|150px|Edmund Ironside]]
Edmund II sinh trong khoảng từ năm 988 đến 993.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund II {{!}} Saxon ruler, Conqueror, Warrior {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-II |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua của nước Anh từ ngày 23 tháng 4 năm 1016 cho đến khi qua đời vào ngày 30 tháng 11 cùng năm. Ông nhận biệt danh "Ironside" (tạm dịch: Mình đồng thân sắt) nhờ những nỗ lực kiên cường nhằm đẩy lùi cuộc xâm lược của người Đan Mạch do Vua Canute dẫn đầu. Sau khi Ethelred Bất tài qua đời, Edmund lên nối ngôi nhưng ông nhận được rất ít sự ủng hộ từ giới quý tộc London, trong khi Canute lại có nhiều sự ủng hộ hơn, đặc biệt là sự hậu thuẫn từ quý tộc vùng Southampton.
Khi Edmund giành lại Wessex từ tay Canute sau đợt xâm lược năm 1015, Canute đã đáp trả bằng cách bao vây London, nhưng Edmund đã chiến thắng và giải tỏa được vòng vây. Dù thắng trận, xung đột vẫn tiếp diễn cho đến khi Edmund bị Canute đánh bại vào ngày 18 tháng 10 tại Ashingdon thuộc Essex.
Sau trận chiến, hai vị vua tiến hành đàm phán: Edmund tiếp tục giữ xứ Wessex, còn Canute nắm quyền cai trị các vùng đất phía bắc sông Thames. Bên cạnh đó, họ giao ước rằng khi một trong hai người qua đời, toàn bộ vương quốc sẽ được chuyển giao cho người còn sống. Vào ngày 30 tháng 11 năm 1016, Vua Edmund II qua đời do nguyên nhân tự nhiên tại Oxford hoặc London. Toàn bộ vương quốc vì vậy được nhượng lại cho Canute, giúp ông này chính thức trở thành Vua của nước Anh. Edmund được an táng tại Tu viện Glastonbury ở Somerset. Hai người con của Edmund với người vợ Ældgyth - là Edward và Edmund - đều trốn thoát sang Hungary.
lrpeoos4fzjvrdrt20fxb7cfab48wum
542809
542808
2026-08-20T06:46:30Z
DeutschMax
19700
/* Ethelred Bất tài (978-1013, 1014-1016) */
542809
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|left|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edward {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edward-Anglo-Saxon-king |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
'''Ethelweard''' sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
'''Athelstan''' sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Người Cao Tuổi. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
== Edgar Hoà bình (959 - 975) ==
[[Image:King Edgar, c.943-75.jpg|left|thumb|100px|Vua Edgar]]
Vua '''Edgar''' sinh vào khoảng năm 942 tại Wessex. Ông là con trai thứ của vua Edmund I.<ref>{{Cite web |date=2024-04-25 |title=Edgar {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Coronation, Reforms {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edgar-king-of-England |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Nhờ có một thời kỳ cai trị hoà bình, ông được hậu thế xưng tụng là "Edgar Hòa Bình".
Ông là một quân vương bản lĩnh hơn hẳn người anh trai Edwy. Năm 958, được sự ủng hộ của giới quý tộc Mercia, Edgar được tôn làm vua vùng đất phía bắc sông Thames, chiếm được hai khu vực Northumbria và Mercia từ tay anh mình. Đến tháng 10 năm 959, khi Edwy qua đời, Edgar mới chính thức nối ngôi, thống nhất toàn bộ vương quốc.
Lễ đăng quang của Edgar được tổ chức tại Bath vào năm 973. Dù diễn ra khá muộn, sự kiện này lại được dàn dựng như một cột mốc hoàng kim đánh dấu đỉnh cao quyền lực của ông. Ngay sau nghi lễ mang tính biểu tượng đó, sáu vị vua khác trên đảo Anh (bao gồm cả các vua của Scotland và Strathclyde) đã tìm đến Chester để chính thức phục tùng và tuyên thệ trung thành với ông.
Về đời tư, Edgar trải qua hai lần kết hôn chính thức: đầu tiên với bà Ethelfled, và sau đó là bà Elfrida. Ông có nhiều người con. Khi ông qua đời vào ngày 8 tháng 7 năm 975 tại Winchester, ông để lại hai người con trai, cả hai người sau này đều trở thành vua của nước Anh. Người con cả Edward (con với người vợ đầu) lên ngôi ngay sau khi ông mất. Về sau, người con thứ Ethelred (con với người vợ sau) lại tiếp tục lên kế vị người anh cùng cha khác mẹ của mình. Edgar được an táng tại Tu viện Glastonbury. Ngoài ra, người ta còn cho rằng giữa hai đời vợ, Edgar từng kết hôn với một người thiếp tên là Wulfryth. Họ có một người con gái tên là Eadgyth, người sau này trở thành Nữ viện trưởng tại tu viện Wilton.
== Edward Tuẫn đạo (975 - 978) ==
Vua '''Edward Tuẫn đạo''' sinh vào khoảng năm 962 tại Wessex. Ông nối ngôi cha là Vua Edgar để trở thành Vua nước Anh vào năm 975, nhưng đã bị sát hại chỉ sau vài năm trị vì, cụ thể là vào năm 978. Do vụ ám sát được cho là do những kẻ đối lập "bất kính với Chúa" thực hiện, trong khi đó, bản thân Edward lại được coi là một tín đồ Công giáo thuần thành, ông đã được phong Thánh (Thánh Edward Tuẫn đạo) vào năm 1001. Ông chưa từng kết hôn.
Ngay từ khi lên ngôi, quyền lực của Edward đã bị thách thức bởi một phe quý tộc do người mẹ kế - Vương hậu Elfrida - dẫn đầu. Bà muốn đưa đứa con trai còn nhỏ của mình là Ethelred (người này sau đó trở thành vua và được biết đến với biệt danh Ethelred Bất tài) lên làm vua. Tuy nhiên, Edward nhận được nhiều sự ủng hộ hơn và ông đã được Hội đồng quý tộc Witan chính thức phê chuẩn ngôi vị.
Vào thời điểm đó, một trận đại hạn hán và nạn đói khủng khiếp đang hoành hành khắp đất nước. Nhiều quý tộc đã kích động các cuộc tấn công dữ dội vào các tu viện nhằm chiếm đoạt và giữ lại những phần đất đai mà Vua Edgar (cha của Edward) từng ban tặng cho Giáo hội trước đây. Hàng loạt tu viện bị tàn phá, các tu sĩ buộc phải bỏ chạy, nhưng nhà vua vẫn kiên quyết đứng về phía Tổng Giám mục Dunstan để bảo vệ Giáo hội và các tu viện. Chính vì điều này, một số quý tộc đã quyết định loại bỏ ông để đưa Ethelred lên thay thế.
=== Cái chết và di sản ===
Vào ngày 18 tháng 3 năm 978, khi đang đi săn cùng chó nghiệp vụ và kỵ binh tại một khu vực gần Wareham, Dorset, vua Edward quyết định tới thăm Ethelred, người em trai đang được nuôi dưỡng tại nhà của mẹ kế Elfrida ở Lâu đài Corfe gần đó. Nhà vua đi một mình. Trong lúc vẫn ngồi trên lưng ngựa ở khu vực sân dưới của lâu đài, ông được bà mẹ kế Elfrida dâng một ly rượu mead. Vừa lúc ông nâng ly uống, một kẻ thuộc phe Vương hậu đã đâm lén ông từ phía sau lưng. Bản thân Ethelred khi đó mới 10 tuổi nên không liên quan đến vụ ám sát này. Dù vậy, một nguồn ghi chép khác lại khẳng định chính Elfrida đã ra tay sát hại nhà vua.
Ngay sau khi bị đâm, thi thể của nhà vua rơi khỏi yên ngựa và bị kéo lê trên mặt đất. Cuối cùng, thi thể của ông được thả xuống một dòng suối dưới chân ngọn đồi nơi Lâu đài Corfe tọa lạc. Dòng suối này về sau được cho là có khả năng chữa bệnh, đặc biệt là mang lại ánh sáng cho người mù. Vương hậu sau đó ra lệnh giấu xác nhà vua trong một căn chòi gần đó. Trong căn chòi có một người phụ nữ bị mù bẩm sinh sinh sống, và ngay đêm hôm đó, bà bất ngờ sáng mắt trở lại. Ngày nay, Nhà thờ Thánh Edward tại Lâu đài Corfe chính là nơi dựng trên nền đất từng diễn ra phép lạ này.
Rạng sáng hôm sau, Vương hậu ra lệnh đem chôn Vua Edward tại một vùng đầm lầy gần Wareham. Tuy nhiên, đúng một năm sau vụ ám sát, một cột lửa bất ngờ xuất hiện chiếu sáng rực cả một vùng không gian ngay trên chỗ giấu xác. Dân chúng Wareham thấy vậy liền đào thi thể ông lên, và ngay tại vị trí đó lập tức phun trào một dòng nước mát lành có khả năng chữa lành bệnh tật. Trong sự đưa tiễn của dòng người tiếc thương đông đảo, thi thể nhà vua được rước về Nhà thờ Đức Mẹ ở Wareham và an táng tại phía đông nhà thờ vào ngày 13 tháng 2 năm 980. Nhiều phép lạ khác sau đó cũng được tin là do Vua Edward hiển linh.
Edward chính thức được Hội đồng Toàn Anh phong Thánh vào năm 1008 dưới sự chủ trì của Tổng Giám mục xứ Canterbury. Vua Ethelred sau đó ra lệnh cho toàn nước Anh phải làm lễ kỷ niệm ba ngày vía của Thánh Edward. Tu viện Shaftesbury cũng trở thành nơi để phụng thờ Đức Mẹ lẫn Thánh Edward; thậm chí thị trấn Shaftesbury còn được đổi tên thành "Edwardstowe" và chỉ dùng lại tên cũ sau thời kỳ Cải cách Tu viện dưới triều Vua Henry VIII nhiều thế kỷ sau đó. Rất nhiều phép lạ như chữa lành bệnh phong hay giúp người mù sáng mắt đã được ghi nhận tại ngôi mộ của Thánh Edward.
Đến thế kỷ 16, hài cốt của Thánh Edward được đem giấu đi để tránh bị mạo phạm trong thời kỳ Cải cách Tôn giáo. Mãi tới năm 1931, phần hài cốt này mới được khai quật trở lại. Ngày nay, hài cốt của ông được đặt tại một nhà thờ tại nghĩa trang Brookwood ở Woking, Surrey. Ngày nay, nhà thờ này có tên là Nhà thờ Công giáo Chính thống Edward Tuẫn Đạo.
== Ethelred Bất tài (978-1013, 1014-1016) ==
[[Image:EthelUn.jpg|right|150px|thumb|Ethelred Bất tài]]
'''Ethelred Bất tài''' (tiếng Anh: '''Ethelred the Unready''') sinh vào khoảng năm 968 tại Wessex và mất năm 1016.<ref>{{Cite web |date=2024-04-19 |title=Ethelred the Unready {{!}} Viking invasions, Wessex, Mercia {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Ethelred-the-Unready |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua nước Anh trong hai giai đoạn: từ năm 978 đến 1013, và sau đó từ năm 1014 đến 1016. Ông còn được biết đến với niên hiệu Vua Ethelred II.
Biệt danh "Unready" của ông trong tiếng Anh thực chất không mang nghĩa là "chưa chuẩn bị, chưa sẵn sàng", mà xuất phát từ từ unræd trong tiếng Anglo-Saxon, có nghĩa là "thiếu sự cố vấn" hoặc "do dự, thiếu sự quyết đoán". Đây cũng có thể xem là một trò chơi chữ dựa trên chính tên gọi của ông - Æðelræd - vốn mang ý nghĩa là "lời cố vấn cao quý". Ethelred lên ngôi vua khi mới khoảng 10 tuổi, sau cái chết của cha ông là Vua Edgar và vụ ám sát của Vua Edward, người anh cùng cha khác mẹ.
=== Xung đột với người Đan Mạch ===
Nước Anh đã trải qua một thời kỳ hòa bình kéo dài sau khi giành lại vùng Danelaw. Tuy nhiên, đến năm 991, Ethelred phải đối mặt với một hạm đội Viking có quy mô lớn chưa từng thấy kể từ thời Guthrum một thế kỷ trước. Hạm đội này do Olaf Trygvasson - một người Na Uy mang tham vọng giải phóng đất nước mình khỏi sự thống trị của Đan Mạch - dẫn đầu.
Sau những thất bại quân sự ban đầu, Ethelred đã đàm phán thành công với Olaf. Olaf trở về Na Uy để gây dựng lại cơ nghiệp nhưng chỉ đạt được những thành công nhất định. Mặc dù thỏa thuận này giúp nước Anh mua thêm được chút thời gian, đất nước vẫn sớm phải hứng chịu các cuộc tập kích tiếp theo từ người Viking. Ethelred đã nỗ lực đánh đuổi họ, nhưng trong nhiều trường hợp, ông lại chọn cách làm của các vị vua tiền nhiệm (bao gồm cả Alfred Đại đế) là cống nộp tiền để đổi lấy bình yên - khoản tiền này về sau được gọi là Danegeld. Tuy nhiên, vào ngày 13 tháng 11 năm 1012, Ethelred đã ra lệnh thảm sát toàn bộ người Đan Mạch đang sinh sống tại Anh. Hành động này đã kích động một làn sóng phẫn nộ dữ dội, khiến Sweyn Haraldsson mở một loạt chiến dịch sấm sét nhằm chinh phục nước Anh. Sweyn đã thành công và phế bỏ Ethelred. Ethelred sau đó phải cùng vợ cùng các con tháo chạy sang Normandy để tị nạn. Dù vậy, Sweyn qua đời không lâu sau đó và đến tháng 2 năm 1014, Ethelred đã trở lại tiếp quản ngôi vương.
=== Hôn nhân và con cái ===
Ethelred kết hôn lần đầu với bà Ælflaed, con gái của Thored - một quý tộc cấp cao vùng Northumbria. Bà là mẹ của bốn người con trai, trong đó có Edmund Ironside (người sau này trở thành Vua Edmund II). Đến năm 997, ông tái hôn với Ælfgifu, con gái của vị quý tộc cấp cao Aethelberht và có thêm hai người con trai. Cuộc hôn nhân thứ ba cũng là cuộc hôn nhân cuối cùng của ông, diễn ra vào năm 1002 với bà Emma xứ Normandy. Sau này, người cháu của bà là William I (William Kẻ Chinh Phục) đã dùng chính mối quan hệ họ hàng này làm cơ sở để lấy quyền thừa kế ngai vàng nước Anh.
=== Cái chết và di sản ===
Ethelred qua đời vào ngày 23 tháng 4 năm 1016 tại London và được an táng ngay tại đây. Người lên kế vị ông là con trai ông, Edmund Ironside.
Dù triều đại của Ethelred phải liên tục hứng chịu các cuộc tấn công từ người Viking, thời kỳ ông cai trị hoàn toàn không phải là một thảm họa tồi tệ như những gì các sử gia sau này mô tả. Ông đã đưa ra nhiều cải cách quan trọng cho bộ máy chính quyền thời Anglo-Saxon, đặc biệt là việc thành lập chức vụ Hạt trưởng. Bên cạnh đó, giá trị của đồng tiền - vốn luôn là thước đo chính xác cho tình hình kinh tế - dưới thời ông vẫn duy trì ở mức rất cao trong suốt triều đại.
== Edmund Ironside (1016) ==
[[Image:Edmond II d'Angleterre.jpg|thumb|right|150px|Edmund Ironside]]
Edmund II sinh trong khoảng từ năm 988 đến 993.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund II {{!}} Saxon ruler, Conqueror, Warrior {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-II |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua của nước Anh từ ngày 23 tháng 4 năm 1016 cho đến khi qua đời vào ngày 30 tháng 11 cùng năm. Ông nhận biệt danh "Ironside" (tạm dịch: Mình đồng thân sắt) nhờ những nỗ lực kiên cường nhằm đẩy lùi cuộc xâm lược của người Đan Mạch do Vua Canute dẫn đầu. Sau khi Ethelred Bất tài qua đời, Edmund lên nối ngôi nhưng ông nhận được rất ít sự ủng hộ từ giới quý tộc London, trong khi Canute lại có nhiều sự ủng hộ hơn, đặc biệt là sự hậu thuẫn từ quý tộc vùng Southampton.
Khi Edmund giành lại Wessex từ tay Canute sau đợt xâm lược năm 1015, Canute đã đáp trả bằng cách bao vây London, nhưng Edmund đã chiến thắng và giải tỏa được vòng vây. Dù thắng trận, xung đột vẫn tiếp diễn cho đến khi Edmund bị Canute đánh bại vào ngày 18 tháng 10 tại Ashingdon thuộc Essex.
Sau trận chiến, hai vị vua tiến hành đàm phán: Edmund tiếp tục giữ xứ Wessex, còn Canute nắm quyền cai trị các vùng đất phía bắc sông Thames. Bên cạnh đó, họ giao ước rằng khi một trong hai người qua đời, toàn bộ vương quốc sẽ được chuyển giao cho người còn sống. Vào ngày 30 tháng 11 năm 1016, Vua Edmund II qua đời do nguyên nhân tự nhiên tại Oxford hoặc London. Toàn bộ vương quốc vì vậy được nhượng lại cho Canute, giúp ông này chính thức trở thành Vua của nước Anh. Edmund được an táng tại Tu viện Glastonbury ở Somerset. Hai người con của Edmund với người vợ Ældgyth - là Edward và Edmund - đều trốn thoát sang Hungary.
805guz9modbsykb9p1b0keuzly4wiei
542810
542809
2026-08-20T06:47:00Z
DeutschMax
19700
/* Edmund Ironside (1016) */
542810
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|left|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edward {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edward-Anglo-Saxon-king |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
'''Ethelweard''' sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
'''Athelstan''' sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Người Cao Tuổi. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
== Edgar Hoà bình (959 - 975) ==
[[Image:King Edgar, c.943-75.jpg|left|thumb|100px|Vua Edgar]]
Vua '''Edgar''' sinh vào khoảng năm 942 tại Wessex. Ông là con trai thứ của vua Edmund I.<ref>{{Cite web |date=2024-04-25 |title=Edgar {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Coronation, Reforms {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edgar-king-of-England |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Nhờ có một thời kỳ cai trị hoà bình, ông được hậu thế xưng tụng là "Edgar Hòa Bình".
Ông là một quân vương bản lĩnh hơn hẳn người anh trai Edwy. Năm 958, được sự ủng hộ của giới quý tộc Mercia, Edgar được tôn làm vua vùng đất phía bắc sông Thames, chiếm được hai khu vực Northumbria và Mercia từ tay anh mình. Đến tháng 10 năm 959, khi Edwy qua đời, Edgar mới chính thức nối ngôi, thống nhất toàn bộ vương quốc.
Lễ đăng quang của Edgar được tổ chức tại Bath vào năm 973. Dù diễn ra khá muộn, sự kiện này lại được dàn dựng như một cột mốc hoàng kim đánh dấu đỉnh cao quyền lực của ông. Ngay sau nghi lễ mang tính biểu tượng đó, sáu vị vua khác trên đảo Anh (bao gồm cả các vua của Scotland và Strathclyde) đã tìm đến Chester để chính thức phục tùng và tuyên thệ trung thành với ông.
Về đời tư, Edgar trải qua hai lần kết hôn chính thức: đầu tiên với bà Ethelfled, và sau đó là bà Elfrida. Ông có nhiều người con. Khi ông qua đời vào ngày 8 tháng 7 năm 975 tại Winchester, ông để lại hai người con trai, cả hai người sau này đều trở thành vua của nước Anh. Người con cả Edward (con với người vợ đầu) lên ngôi ngay sau khi ông mất. Về sau, người con thứ Ethelred (con với người vợ sau) lại tiếp tục lên kế vị người anh cùng cha khác mẹ của mình. Edgar được an táng tại Tu viện Glastonbury. Ngoài ra, người ta còn cho rằng giữa hai đời vợ, Edgar từng kết hôn với một người thiếp tên là Wulfryth. Họ có một người con gái tên là Eadgyth, người sau này trở thành Nữ viện trưởng tại tu viện Wilton.
== Edward Tuẫn đạo (975 - 978) ==
Vua '''Edward Tuẫn đạo''' sinh vào khoảng năm 962 tại Wessex. Ông nối ngôi cha là Vua Edgar để trở thành Vua nước Anh vào năm 975, nhưng đã bị sát hại chỉ sau vài năm trị vì, cụ thể là vào năm 978. Do vụ ám sát được cho là do những kẻ đối lập "bất kính với Chúa" thực hiện, trong khi đó, bản thân Edward lại được coi là một tín đồ Công giáo thuần thành, ông đã được phong Thánh (Thánh Edward Tuẫn đạo) vào năm 1001. Ông chưa từng kết hôn.
Ngay từ khi lên ngôi, quyền lực của Edward đã bị thách thức bởi một phe quý tộc do người mẹ kế - Vương hậu Elfrida - dẫn đầu. Bà muốn đưa đứa con trai còn nhỏ của mình là Ethelred (người này sau đó trở thành vua và được biết đến với biệt danh Ethelred Bất tài) lên làm vua. Tuy nhiên, Edward nhận được nhiều sự ủng hộ hơn và ông đã được Hội đồng quý tộc Witan chính thức phê chuẩn ngôi vị.
Vào thời điểm đó, một trận đại hạn hán và nạn đói khủng khiếp đang hoành hành khắp đất nước. Nhiều quý tộc đã kích động các cuộc tấn công dữ dội vào các tu viện nhằm chiếm đoạt và giữ lại những phần đất đai mà Vua Edgar (cha của Edward) từng ban tặng cho Giáo hội trước đây. Hàng loạt tu viện bị tàn phá, các tu sĩ buộc phải bỏ chạy, nhưng nhà vua vẫn kiên quyết đứng về phía Tổng Giám mục Dunstan để bảo vệ Giáo hội và các tu viện. Chính vì điều này, một số quý tộc đã quyết định loại bỏ ông để đưa Ethelred lên thay thế.
=== Cái chết và di sản ===
Vào ngày 18 tháng 3 năm 978, khi đang đi săn cùng chó nghiệp vụ và kỵ binh tại một khu vực gần Wareham, Dorset, vua Edward quyết định tới thăm Ethelred, người em trai đang được nuôi dưỡng tại nhà của mẹ kế Elfrida ở Lâu đài Corfe gần đó. Nhà vua đi một mình. Trong lúc vẫn ngồi trên lưng ngựa ở khu vực sân dưới của lâu đài, ông được bà mẹ kế Elfrida dâng một ly rượu mead. Vừa lúc ông nâng ly uống, một kẻ thuộc phe Vương hậu đã đâm lén ông từ phía sau lưng. Bản thân Ethelred khi đó mới 10 tuổi nên không liên quan đến vụ ám sát này. Dù vậy, một nguồn ghi chép khác lại khẳng định chính Elfrida đã ra tay sát hại nhà vua.
Ngay sau khi bị đâm, thi thể của nhà vua rơi khỏi yên ngựa và bị kéo lê trên mặt đất. Cuối cùng, thi thể của ông được thả xuống một dòng suối dưới chân ngọn đồi nơi Lâu đài Corfe tọa lạc. Dòng suối này về sau được cho là có khả năng chữa bệnh, đặc biệt là mang lại ánh sáng cho người mù. Vương hậu sau đó ra lệnh giấu xác nhà vua trong một căn chòi gần đó. Trong căn chòi có một người phụ nữ bị mù bẩm sinh sinh sống, và ngay đêm hôm đó, bà bất ngờ sáng mắt trở lại. Ngày nay, Nhà thờ Thánh Edward tại Lâu đài Corfe chính là nơi dựng trên nền đất từng diễn ra phép lạ này.
Rạng sáng hôm sau, Vương hậu ra lệnh đem chôn Vua Edward tại một vùng đầm lầy gần Wareham. Tuy nhiên, đúng một năm sau vụ ám sát, một cột lửa bất ngờ xuất hiện chiếu sáng rực cả một vùng không gian ngay trên chỗ giấu xác. Dân chúng Wareham thấy vậy liền đào thi thể ông lên, và ngay tại vị trí đó lập tức phun trào một dòng nước mát lành có khả năng chữa lành bệnh tật. Trong sự đưa tiễn của dòng người tiếc thương đông đảo, thi thể nhà vua được rước về Nhà thờ Đức Mẹ ở Wareham và an táng tại phía đông nhà thờ vào ngày 13 tháng 2 năm 980. Nhiều phép lạ khác sau đó cũng được tin là do Vua Edward hiển linh.
Edward chính thức được Hội đồng Toàn Anh phong Thánh vào năm 1008 dưới sự chủ trì của Tổng Giám mục xứ Canterbury. Vua Ethelred sau đó ra lệnh cho toàn nước Anh phải làm lễ kỷ niệm ba ngày vía của Thánh Edward. Tu viện Shaftesbury cũng trở thành nơi để phụng thờ Đức Mẹ lẫn Thánh Edward; thậm chí thị trấn Shaftesbury còn được đổi tên thành "Edwardstowe" và chỉ dùng lại tên cũ sau thời kỳ Cải cách Tu viện dưới triều Vua Henry VIII nhiều thế kỷ sau đó. Rất nhiều phép lạ như chữa lành bệnh phong hay giúp người mù sáng mắt đã được ghi nhận tại ngôi mộ của Thánh Edward.
Đến thế kỷ 16, hài cốt của Thánh Edward được đem giấu đi để tránh bị mạo phạm trong thời kỳ Cải cách Tôn giáo. Mãi tới năm 1931, phần hài cốt này mới được khai quật trở lại. Ngày nay, hài cốt của ông được đặt tại một nhà thờ tại nghĩa trang Brookwood ở Woking, Surrey. Ngày nay, nhà thờ này có tên là Nhà thờ Công giáo Chính thống Edward Tuẫn Đạo.
== Ethelred Bất tài (978-1013, 1014-1016) ==
[[Image:EthelUn.jpg|right|150px|thumb|Ethelred Bất tài]]
'''Ethelred Bất tài''' (tiếng Anh: '''Ethelred the Unready''') sinh vào khoảng năm 968 tại Wessex và mất năm 1016.<ref>{{Cite web |date=2024-04-19 |title=Ethelred the Unready {{!}} Viking invasions, Wessex, Mercia {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Ethelred-the-Unready |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua nước Anh trong hai giai đoạn: từ năm 978 đến 1013, và sau đó từ năm 1014 đến 1016. Ông còn được biết đến với niên hiệu Vua Ethelred II.
Biệt danh "Unready" của ông trong tiếng Anh thực chất không mang nghĩa là "chưa chuẩn bị, chưa sẵn sàng", mà xuất phát từ từ unræd trong tiếng Anglo-Saxon, có nghĩa là "thiếu sự cố vấn" hoặc "do dự, thiếu sự quyết đoán". Đây cũng có thể xem là một trò chơi chữ dựa trên chính tên gọi của ông - Æðelræd - vốn mang ý nghĩa là "lời cố vấn cao quý". Ethelred lên ngôi vua khi mới khoảng 10 tuổi, sau cái chết của cha ông là Vua Edgar và vụ ám sát của Vua Edward, người anh cùng cha khác mẹ.
=== Xung đột với người Đan Mạch ===
Nước Anh đã trải qua một thời kỳ hòa bình kéo dài sau khi giành lại vùng Danelaw. Tuy nhiên, đến năm 991, Ethelred phải đối mặt với một hạm đội Viking có quy mô lớn chưa từng thấy kể từ thời Guthrum một thế kỷ trước. Hạm đội này do Olaf Trygvasson - một người Na Uy mang tham vọng giải phóng đất nước mình khỏi sự thống trị của Đan Mạch - dẫn đầu.
Sau những thất bại quân sự ban đầu, Ethelred đã đàm phán thành công với Olaf. Olaf trở về Na Uy để gây dựng lại cơ nghiệp nhưng chỉ đạt được những thành công nhất định. Mặc dù thỏa thuận này giúp nước Anh mua thêm được chút thời gian, đất nước vẫn sớm phải hứng chịu các cuộc tập kích tiếp theo từ người Viking. Ethelred đã nỗ lực đánh đuổi họ, nhưng trong nhiều trường hợp, ông lại chọn cách làm của các vị vua tiền nhiệm (bao gồm cả Alfred Đại đế) là cống nộp tiền để đổi lấy bình yên - khoản tiền này về sau được gọi là Danegeld. Tuy nhiên, vào ngày 13 tháng 11 năm 1012, Ethelred đã ra lệnh thảm sát toàn bộ người Đan Mạch đang sinh sống tại Anh. Hành động này đã kích động một làn sóng phẫn nộ dữ dội, khiến Sweyn Haraldsson mở một loạt chiến dịch sấm sét nhằm chinh phục nước Anh. Sweyn đã thành công và phế bỏ Ethelred. Ethelred sau đó phải cùng vợ cùng các con tháo chạy sang Normandy để tị nạn. Dù vậy, Sweyn qua đời không lâu sau đó và đến tháng 2 năm 1014, Ethelred đã trở lại tiếp quản ngôi vương.
=== Hôn nhân và con cái ===
Ethelred kết hôn lần đầu với bà Ælflaed, con gái của Thored - một quý tộc cấp cao vùng Northumbria. Bà là mẹ của bốn người con trai, trong đó có Edmund Ironside (người sau này trở thành Vua Edmund II). Đến năm 997, ông tái hôn với Ælfgifu, con gái của vị quý tộc cấp cao Aethelberht và có thêm hai người con trai. Cuộc hôn nhân thứ ba cũng là cuộc hôn nhân cuối cùng của ông, diễn ra vào năm 1002 với bà Emma xứ Normandy. Sau này, người cháu của bà là William I (William Kẻ Chinh Phục) đã dùng chính mối quan hệ họ hàng này làm cơ sở để lấy quyền thừa kế ngai vàng nước Anh.
=== Cái chết và di sản ===
Ethelred qua đời vào ngày 23 tháng 4 năm 1016 tại London và được an táng ngay tại đây. Người lên kế vị ông là con trai ông, Edmund Ironside.
Dù triều đại của Ethelred phải liên tục hứng chịu các cuộc tấn công từ người Viking, thời kỳ ông cai trị hoàn toàn không phải là một thảm họa tồi tệ như những gì các sử gia sau này mô tả. Ông đã đưa ra nhiều cải cách quan trọng cho bộ máy chính quyền thời Anglo-Saxon, đặc biệt là việc thành lập chức vụ Hạt trưởng. Bên cạnh đó, giá trị của đồng tiền - vốn luôn là thước đo chính xác cho tình hình kinh tế - dưới thời ông vẫn duy trì ở mức rất cao trong suốt triều đại.
== Edmund Ironside (1016) ==
[[Image:Edmond II d'Angleterre.jpg|thumb|right|150px|Edmund Ironside]]
Edmund II sinh trong khoảng từ năm 988 đến 993.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund II {{!}} Saxon ruler, Conqueror, Warrior {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-II |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua của nước Anh từ ngày 23 tháng 4 năm 1016 cho đến khi qua đời vào ngày 30 tháng 11 cùng năm. Ông nhận biệt danh "Ironside" (tạm dịch: Mình đồng thân sắt) nhờ những nỗ lực kiên cường nhằm đẩy lùi cuộc xâm lược của người Đan Mạch do Vua Canute dẫn đầu. Sau khi Ethelred Bất tài qua đời, Edmund lên nối ngôi nhưng ông nhận được rất ít sự ủng hộ từ giới quý tộc London, trong khi Canute lại có nhiều sự ủng hộ hơn, đặc biệt là sự hậu thuẫn từ quý tộc vùng Southampton.
Khi Edmund giành lại Wessex từ tay Canute sau đợt xâm lược năm 1015, Canute đã đáp trả bằng cách bao vây London, nhưng Edmund đã chiến thắng và giải tỏa được vòng vây. Dù thắng trận, xung đột vẫn tiếp diễn cho đến khi Edmund bị Canute đánh bại vào ngày 18 tháng 10 tại Ashingdon thuộc Essex.
Sau trận chiến, hai vị vua tiến hành đàm phán: Edmund tiếp tục giữ xứ Wessex, còn Canute nắm quyền cai trị các vùng đất phía bắc sông Thames. Bên cạnh đó, họ giao ước rằng khi một trong hai người qua đời, toàn bộ vương quốc sẽ được chuyển giao cho người còn sống. Vào ngày 30 tháng 11 năm 1016, Vua Edmund II qua đời do nguyên nhân tự nhiên tại Oxford hoặc London. Toàn bộ vương quốc vì vậy được nhượng lại cho Canute, giúp ông này chính thức trở thành Vua của nước Anh. Edmund được an táng tại Tu viện Glastonbury ở Somerset. Hai người con của Edmund với người vợ Ældgyth - là Edward và Edmund - đều trốn thoát sang Hungary.
== Tham khảo ==
1ovx9x8x04l49hz3grgk4xn04a32vgt
542811
542810
2026-08-20T07:00:34Z
DeutschMax
19700
542811
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|left|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edward {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edward-Anglo-Saxon-king |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
'''Ethelweard''' sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
'''Athelstan''' sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Người Cao Tuổi. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
== Edgar Hoà bình (959 - 975) ==
[[Image:King Edgar, c.943-75.jpg|left|thumb|100px|Vua Edgar]]
Vua '''Edgar''' sinh vào khoảng năm 942 tại Wessex. Ông là con trai thứ của vua Edmund I.<ref>{{Cite web |date=2024-04-25 |title=Edgar {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Coronation, Reforms {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edgar-king-of-England |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Nhờ có một thời kỳ cai trị hoà bình, ông được hậu thế xưng tụng là "Edgar Hòa Bình".
Ông là một quân vương bản lĩnh hơn hẳn người anh trai Edwy. Năm 958, được sự ủng hộ của giới quý tộc Mercia, Edgar được tôn làm vua vùng đất phía bắc sông Thames, chiếm được hai khu vực Northumbria và Mercia từ tay anh mình. Đến tháng 10 năm 959, khi Edwy qua đời, Edgar mới chính thức nối ngôi, thống nhất toàn bộ vương quốc.
Lễ đăng quang của Edgar được tổ chức tại Bath vào năm 973. Dù diễn ra khá muộn, sự kiện này lại được dàn dựng như một cột mốc hoàng kim đánh dấu đỉnh cao quyền lực của ông. Ngay sau nghi lễ mang tính biểu tượng đó, sáu vị vua khác trên đảo Anh (bao gồm cả các vua của Scotland và Strathclyde) đã tìm đến Chester để chính thức phục tùng và tuyên thệ trung thành với ông.
Về đời tư, Edgar trải qua hai lần kết hôn chính thức: đầu tiên với bà Ethelfled, và sau đó là bà Elfrida. Ông có nhiều người con. Khi ông qua đời vào ngày 8 tháng 7 năm 975 tại Winchester, ông để lại hai người con trai, cả hai người sau này đều trở thành vua của nước Anh. Người con cả Edward (con với người vợ đầu) lên ngôi ngay sau khi ông mất. Về sau, người con thứ Ethelred (con với người vợ sau) lại tiếp tục lên kế vị người anh cùng cha khác mẹ của mình. Edgar được an táng tại Tu viện Glastonbury. Ngoài ra, người ta còn cho rằng giữa hai đời vợ, Edgar từng kết hôn với một người thiếp tên là Wulfryth. Họ có một người con gái tên là Eadgyth, người sau này trở thành Nữ viện trưởng tại tu viện Wilton.
== Edward Tuẫn đạo (975 - 978) ==
Vua '''Edward Tuẫn đạo''' sinh vào khoảng năm 962 tại Wessex. Ông nối ngôi cha là Vua Edgar để trở thành Vua nước Anh vào năm 975, nhưng đã bị sát hại chỉ sau vài năm trị vì, cụ thể là vào năm 978. Do vụ ám sát được cho là do những kẻ đối lập "bất kính với Chúa" thực hiện, trong khi đó, bản thân Edward lại được coi là một tín đồ Công giáo thuần thành, ông đã được phong Thánh (Thánh Edward Tuẫn đạo) vào năm 1001. Ông chưa từng kết hôn.
Ngay từ khi lên ngôi, quyền lực của Edward đã bị thách thức bởi một phe quý tộc do người mẹ kế - Vương hậu Elfrida - dẫn đầu. Bà muốn đưa đứa con trai còn nhỏ của mình là Ethelred (người này sau đó trở thành vua và được biết đến với biệt danh Ethelred Bất tài) lên làm vua. Tuy nhiên, Edward nhận được nhiều sự ủng hộ hơn và ông đã được Hội đồng quý tộc Witan chính thức phê chuẩn ngôi vị.
Vào thời điểm đó, một trận đại hạn hán và nạn đói khủng khiếp đang hoành hành khắp đất nước. Nhiều quý tộc đã kích động các cuộc tấn công dữ dội vào các tu viện nhằm chiếm đoạt và giữ lại những phần đất đai mà Vua Edgar (cha của Edward) từng ban tặng cho Giáo hội trước đây. Hàng loạt tu viện bị tàn phá, các tu sĩ buộc phải bỏ chạy, nhưng nhà vua vẫn kiên quyết đứng về phía Tổng Giám mục Dunstan để bảo vệ Giáo hội và các tu viện. Chính vì điều này, một số quý tộc đã quyết định loại bỏ ông để đưa Ethelred lên thay thế.
=== Cái chết và di sản ===
Vào ngày 18 tháng 3 năm 978, khi đang đi săn cùng chó nghiệp vụ và kỵ binh tại một khu vực gần Wareham, Dorset, vua Edward quyết định tới thăm Ethelred, người em trai đang được nuôi dưỡng tại nhà của mẹ kế Elfrida ở Lâu đài Corfe gần đó. Nhà vua đi một mình. Trong lúc vẫn ngồi trên lưng ngựa ở khu vực sân dưới của lâu đài, ông được bà mẹ kế Elfrida dâng một ly rượu mead. Vừa lúc ông nâng ly uống, một kẻ thuộc phe Vương hậu đã đâm lén ông từ phía sau lưng. Bản thân Ethelred khi đó mới 10 tuổi nên không liên quan đến vụ ám sát này. Dù vậy, một nguồn ghi chép khác lại khẳng định chính Elfrida đã ra tay sát hại nhà vua.
Ngay sau khi bị đâm, thi thể của nhà vua rơi khỏi yên ngựa và bị kéo lê trên mặt đất. Cuối cùng, thi thể của ông được thả xuống một dòng suối dưới chân ngọn đồi nơi Lâu đài Corfe tọa lạc. Dòng suối này về sau được cho là có khả năng chữa bệnh, đặc biệt là mang lại ánh sáng cho người mù. Vương hậu sau đó ra lệnh giấu xác nhà vua trong một căn chòi gần đó. Trong căn chòi có một người phụ nữ bị mù bẩm sinh sinh sống, và ngay đêm hôm đó, bà bất ngờ sáng mắt trở lại. Ngày nay, Nhà thờ Thánh Edward tại Lâu đài Corfe chính là nơi dựng trên nền đất từng diễn ra phép lạ này.
Rạng sáng hôm sau, Vương hậu ra lệnh đem chôn Vua Edward tại một vùng đầm lầy gần Wareham. Tuy nhiên, đúng một năm sau vụ ám sát, một cột lửa bất ngờ xuất hiện chiếu sáng rực cả một vùng không gian ngay trên chỗ giấu xác. Dân chúng Wareham thấy vậy liền đào thi thể ông lên, và ngay tại vị trí đó lập tức phun trào một dòng nước mát lành có khả năng chữa lành bệnh tật. Trong sự đưa tiễn của dòng người tiếc thương đông đảo, thi thể nhà vua được rước về Nhà thờ Đức Mẹ ở Wareham và an táng tại phía đông nhà thờ vào ngày 13 tháng 2 năm 980. Nhiều phép lạ khác sau đó cũng được tin là do Vua Edward hiển linh.
Edward chính thức được Hội đồng Toàn Anh phong Thánh vào năm 1008 dưới sự chủ trì của Tổng Giám mục xứ Canterbury. Vua Ethelred sau đó ra lệnh cho toàn nước Anh phải làm lễ kỷ niệm ba ngày vía của Thánh Edward. Tu viện Shaftesbury cũng trở thành nơi để phụng thờ Đức Mẹ lẫn Thánh Edward; thậm chí thị trấn Shaftesbury còn được đổi tên thành "Edwardstowe" và chỉ dùng lại tên cũ sau thời kỳ Cải cách Tu viện dưới triều Vua Henry VIII nhiều thế kỷ sau đó. Rất nhiều phép lạ như chữa lành bệnh phong hay giúp người mù sáng mắt đã được ghi nhận tại ngôi mộ của Thánh Edward.
Đến thế kỷ 16, hài cốt của Thánh Edward được đem giấu đi để tránh bị mạo phạm trong thời kỳ Cải cách Tôn giáo. Mãi tới năm 1931, phần hài cốt này mới được khai quật trở lại. Ngày nay, hài cốt của ông được đặt tại một nhà thờ tại nghĩa trang Brookwood ở Woking, Surrey. Ngày nay, nhà thờ này có tên là Nhà thờ Công giáo Chính thống Edward Tuẫn Đạo.
== Ethelred Bất tài (978-1013, 1014-1016) ==
[[Image:EthelUn.jpg|right|150px|thumb|Ethelred Bất tài]]
'''Ethelred Bất tài''' (tiếng Anh: '''Ethelred the Unready''') sinh vào khoảng năm 968 tại Wessex và mất năm 1016.<ref>{{Cite web |date=2024-04-19 |title=Ethelred the Unready {{!}} Viking invasions, Wessex, Mercia {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Ethelred-the-Unready |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua nước Anh trong hai giai đoạn: từ năm 978 đến 1013, và sau đó từ năm 1014 đến 1016. Ông còn được biết đến với niên hiệu Vua Ethelred II.
Biệt danh "Unready" của ông trong tiếng Anh thực chất không mang nghĩa là "chưa chuẩn bị, chưa sẵn sàng", mà xuất phát từ từ unræd trong tiếng Anglo-Saxon, có nghĩa là "thiếu sự cố vấn" hoặc "do dự, thiếu sự quyết đoán". Đây cũng có thể xem là một trò chơi chữ dựa trên chính tên gọi của ông - Æðelræd - vốn mang ý nghĩa là "lời cố vấn cao quý". Ethelred lên ngôi vua khi mới khoảng 10 tuổi, sau cái chết của cha ông là Vua Edgar và vụ ám sát của Vua Edward, người anh cùng cha khác mẹ.
=== Xung đột với người Đan Mạch ===
Nước Anh đã trải qua một thời kỳ hòa bình kéo dài sau khi giành lại vùng Danelaw. Tuy nhiên, đến năm 991, Ethelred phải đối mặt với một hạm đội Viking có quy mô lớn chưa từng thấy kể từ thời Guthrum một thế kỷ trước. Hạm đội này do Olaf Trygvasson - một người Na Uy mang tham vọng giải phóng đất nước mình khỏi sự thống trị của Đan Mạch - dẫn đầu.
Sau những thất bại quân sự ban đầu, Ethelred đã đàm phán thành công với Olaf. Olaf trở về Na Uy để gây dựng lại cơ nghiệp nhưng chỉ đạt được những thành công nhất định. Mặc dù thỏa thuận này giúp nước Anh mua thêm được chút thời gian, đất nước vẫn sớm phải hứng chịu các cuộc tập kích tiếp theo từ người Viking. Ethelred đã nỗ lực đánh đuổi họ, nhưng trong nhiều trường hợp, ông lại chọn cách làm của các vị vua tiền nhiệm (bao gồm cả Alfred Đại đế) là cống nộp tiền để đổi lấy bình yên - khoản tiền này về sau được gọi là Danegeld. Tuy nhiên, vào ngày 13 tháng 11 năm 1012, Ethelred đã ra lệnh thảm sát toàn bộ người Đan Mạch đang sinh sống tại Anh. Hành động này đã kích động một làn sóng phẫn nộ dữ dội, khiến Sweyn Haraldsson mở một loạt chiến dịch sấm sét nhằm chinh phục nước Anh. Sweyn đã thành công và phế bỏ Ethelred. Ethelred sau đó phải cùng vợ cùng các con tháo chạy sang Normandy để tị nạn. Dù vậy, Sweyn qua đời không lâu sau đó và đến tháng 2 năm 1014, Ethelred đã trở lại tiếp quản ngôi vương.
=== Hôn nhân và con cái ===
Ethelred kết hôn lần đầu với bà Ælflaed, con gái của Thored - một quý tộc cấp cao vùng Northumbria. Bà là mẹ của bốn người con trai, trong đó có Edmund Ironside (người sau này trở thành Vua Edmund II). Đến năm 997, ông tái hôn với Ælfgifu, con gái của vị quý tộc cấp cao Aethelberht và có thêm hai người con trai. Cuộc hôn nhân thứ ba cũng là cuộc hôn nhân cuối cùng của ông, diễn ra vào năm 1002 với bà Emma xứ Normandy. Sau này, người cháu của bà là William I (William Kẻ Chinh Phục) đã dùng chính mối quan hệ họ hàng này làm cơ sở để lấy quyền thừa kế ngai vàng nước Anh.
=== Cái chết và di sản ===
Ethelred qua đời vào ngày 23 tháng 4 năm 1016 tại London và được an táng ngay tại đây. Người lên kế vị ông là con trai ông, Edmund Ironside.
Dù triều đại của Ethelred phải liên tục hứng chịu các cuộc tấn công từ người Viking, thời kỳ ông cai trị hoàn toàn không phải là một thảm họa tồi tệ như những gì các sử gia sau này mô tả. Ông đã đưa ra nhiều cải cách quan trọng cho bộ máy chính quyền thời Anglo-Saxon, đặc biệt là việc thành lập chức vụ Hạt trưởng. Bên cạnh đó, giá trị của đồng tiền - vốn luôn là thước đo chính xác cho tình hình kinh tế - dưới thời ông vẫn duy trì ở mức rất cao trong suốt triều đại.
== Edmund Ironside (1016) ==
[[Image:Edmond II d'Angleterre.jpg|thumb|right|150px|Edmund Ironside]]
Edmund II sinh trong khoảng từ năm 988 đến 993.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund II {{!}} Saxon ruler, Conqueror, Warrior {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-II |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua của nước Anh từ ngày 23 tháng 4 năm 1016 cho đến khi qua đời vào ngày 30 tháng 11 cùng năm. Ông nhận biệt danh "Ironside" (tạm dịch: Mình đồng thân sắt) nhờ những nỗ lực kiên cường nhằm đẩy lùi cuộc xâm lược của người Đan Mạch do Vua Canute dẫn đầu. Sau khi Ethelred Bất tài qua đời, Edmund lên nối ngôi nhưng ông nhận được rất ít sự ủng hộ từ giới quý tộc London, trong khi Canute lại có nhiều sự ủng hộ hơn, đặc biệt là sự hậu thuẫn từ quý tộc vùng Southampton.
Khi Edmund giành lại Wessex từ tay Canute sau đợt xâm lược năm 1015, Canute đã đáp trả bằng cách bao vây London, nhưng Edmund đã chiến thắng và giải tỏa được vòng vây. Dù thắng trận, xung đột vẫn tiếp diễn cho đến khi Edmund bị Canute đánh bại vào ngày 18 tháng 10 tại Ashingdon thuộc Essex.
Sau trận chiến, hai vị vua tiến hành đàm phán: Edmund tiếp tục giữ xứ Wessex, còn Canute nắm quyền cai trị các vùng đất phía bắc sông Thames. Bên cạnh đó, họ giao ước rằng khi một trong hai người qua đời, toàn bộ vương quốc sẽ được chuyển giao cho người còn sống. Vào ngày 30 tháng 11 năm 1016, Vua Edmund II qua đời do nguyên nhân tự nhiên tại Oxford hoặc London. Toàn bộ vương quốc vì vậy được nhượng lại cho Canute, giúp ông này chính thức trở thành Vua của nước Anh. Edmund được an táng tại Tu viện Glastonbury ở Somerset. Hai người con của Edmund với người vợ Ældgyth - là Edward và Edmund - đều trốn thoát sang Hungary.
== Tham khảo ==
qqivgl4t7um50ey46180ma1wuskc2hv
542812
542811
2026-08-20T07:02:21Z
DeutschMax
19700
/* Edred (946-955) */
542812
wikitext
text/x-wiki
Lịch sử về các vị vua nước Anh bắt đầu từ thời của người Anglo-Saxon, vào đầu thế kỷ thứ 9. Vì chuyện xảy ra đã quá lâu nên các mốc ngày, và thậm chí là cả các mốc năm, đều chưa thực sự chắc chắn. Vào thời điểm đó, một đất nước Anh trọn vẹn như chúng ta biết ngày nay vẫn chưa hề tồn tại. Vùng đất này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ và những người sống ở đó được gọi là người Anglo-Saxon.
Chính trong giai đoạn này, khoảng năm 830, cướp biển Viking đã nhận ra Anh là một vùng đất tuyệt vời để cướp phá. Từ năm 830 đến 865, chúng kéo đến ngày một thường xuyên hơn trong sự khiếp sợ của người dân bản địa. Đến năm 865, những tên cướp biển Viking này đã hợp lại thành một "Đại quân". Nếu như các cuộc tấn công trước đây chỉ nhằm mục đích cướp bóc, thì Đại quân này được gửi đến để thực sự xâm chiếm nước Anh. Chúng giỏi đến mức đáng kinh ngạc - chỉ trong vòng 3 năm, chúng đã đánh chiếm toàn bộ miền bắc và miền đông nước Anh. Ngay cả ở miền tây, các vương quốc nhỏ cũng lần lượt sụp đổ cho đến khi chỉ còn duy nhất một vương quốc giữ được độc lập. Đó chính là vương quốc Wessex.
Và chính tại nơi đây, chúng ta sẽ gặp Alfred Đại đế - vị vua đầu tiên trong chuỗi câu chuyện về các Vị Vua và Nữ Hoàng của nước Anh.
==Alfred Đại đế (871-899)==
[[Image:Alfred the Great.jpg|200px|right|thumb|King Alfred the Great]]
'''Alfred Đại đế''' sinh khoảng năm 850 tại Wantage, thuộc vùng Oxfordshire ngày nay.<ref>{{Cite web |date=2024-03-15 |title=Alfred {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Alfred-king-of-Wessex |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai thứ tư của Vua Ethelwulf vùng Wessex. Năm 871, khi người anh trai Ethelred I qua đời, Alfred lên ngôi kế vị, trở thành vua của vương quốc Wessex thuộc phía nam vùng đất Anglo-Saxon.
Sau khi xâm chiếm phần lớn nước Anh, cướp biển Viking Đan Mạch cuối cùng cũng tiến đánh Wessex. Vừa mới lên ngôi, Alfred đã phải lập tức đối mặt với kẻ thù ngay tại biên giới. Trải qua một loạt trận chiến nảy lửa, ông đã thành công đánh đuổi chúng khỏi Wessex. Thất bại, quân Viking đành phải rút lui. Tuy nhiên, 7 năm sau, chúng quay trở lại với lực lượng đông đảo hơn. Vào tháng 5 năm 878, Alfred một lần nữa phải đối đầu với kẻ thù và đã đè bẹp chúng tại trận Edington ở Wiltshire. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại cho ông danh hiệu "Đại đế", biến ông thành vị quốc vương Anh duy nhất được tôn vinh bằng tên gọi đó.
Sau khi đánh bại người Đan Mạch, con đường thống nhất nước Anh đã được mở ra. Bằng cách xây dựng một hệ thống pháo đài phòng thủ kiên cố, vương quốc Wessex đã mở rộng được bờ cõi của mình. Bản thân là một người có học thức, Alfred rất chú trọng khuyến khích giáo dục và hoàn thiện hệ thống luật pháp của đất nước. Dưới sự dẫn dắt của ông, vương quốc bắt đầu đi vào thời kỳ hưng thịnh.
=== Đời sống công khai ===
Có rất ít thông tin về những việc Alfred đã làm trong khoảng thời gian trị vị ngắn ngủi của hai người anh cả, nhưng khi người anh thứ ba là Ethelred lên làm vua vào năm 866, Alfred bắt đầu tham gia tích cực vào các công việc chính trị. Ông đặc biệt nỗ lực để giải phóng nước Anh khỏi ảnh hưởng của người Đan Mạch và nhờ đó ông được chỉ định làm người kế vị của Ethelred.
Năm 868, Alfred cố gắng giải cứu vương quốc Mercia ở miền trung nước Anh khỏi sự tác động của người Đan Mạch nhưng không thành. Dù vậy, trong suốt gần hai năm sau đó, quân Đan Mạch không hề tấn công vào vùng đất Wessex quê hương ông. Cuối năm 870, thời kỳ hòa bình này kết thúc, mở ra giai đoạn được lịch sử gọi là "năm chiến trận của Alfred". Vương quốc Wessex đã trải qua 9 trận chiến liên tiếp trong hai năm 870 và 871, với cả những chiến thắng lẫn thất bại. Tháng 4 năm 871, Ethelred qua đời và Alfred lên ngôi vua. Ngay sau đó, quân Đan Mạch đã đánh bại quân Anh trong một trận chiến diễn ra đúng lúc Alfred đang đi an táng cho người anh quá cố. Đến tháng 5, quân Anh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Alfred lại tiếp tục chịu thêm một thất bại nữa.
Sau thất bại này, Alfred chấp nhận giảng hòa. Trong 5 năm tiếp theo, quân Đan Mạch bận rộn chinh phạt các khu vực khác của nước Anh. Nhưng đến năm 876, dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh mới tên là Guthrum, chúng bất ngờ tấn công Wareham rồi tiến về Exeter. Tại đây, Alfred đã bao vây quân địch. Sau khi quân Đan Mạch bị mất nhiều tàu chiến do một trận bão lớn, chúng buộc phải rút lui về Mercia. Thế nhưng, đến tháng 1 năm 878, chúng lại bất ngờ tập kích vào Chippenham - nơi Alfred đang trú ngụ. Bản thân Alfred phải rút lui và ẩn nấp tại vùng đầm lầy Athelney thuộc bang Somerset.
Trong thời gian ẩn nấp tại đây, một câu chuyện nổi tiếng đã xảy ra: Alfred được một bà lão nông dân cho ở nhờ nhưng bà không hề nhận ra ông là ai. Bà nhờ ông trông giúp mấy chiếc bánh đang nướng trên bếp lửa. Vì quá mải mê trăn trở về vận mệnh vương quốc và cuộc chiến với quân Viking, Alfred vô tình để bánh bị cháy đen. Khi trở về, bà lão đã mắng và thậm chí còn đánh ông. Chỉ đến khi các hiệp sĩ của ông quay lại và gọi ông là "Bệ hạ", bà lão mới bàng hoàng nhận ra danh tính của vua và cuống quýt xin lỗi. Tuy nhiên, Alfred quả quyết rằng chính ông mới là người phải nhận lỗi. Câu chuyện này cho thấy Alfred không chỉ là một anh hùng, mà còn là một con người khiêm tốn, cũng có những sai lầm và thiếu sót như bất kỳ ai.
Đến giữa tháng 5, Alfred và quân Đan Mạch đụng độ trong Trận Edington lịch sử tại Wiltshire. Kết quả, phần thắng đã thuộc về Alfred. Nước Anh sau đó bị chia làm hai phần: vùng đất phía tây nam do người Saxon dưới quyền Vua Alfred kiểm soát, còn phần còn lại của nước Anh (bao gồm cả Luân Đôn) thuộc quyền cai trị của người Đan Mạch - vùng đất này được gọi là Danelaw. Đến năm 879, quân Đan Mạch bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Wessex và phần lớn vùng Mercia.
Những năm sau đó diễn ra trong hòa bình, một phần vì quân Đan Mạch phải tập trung chiến đấu ở châu Âu. Sau khi dập tắt một cuộc nổi dậy của người Đan Mạch ở Đông Anglia, Alfred thừa thắng xông lên chiếm lại Luân Đôn vào năm 885 hoặc 886. Đến khoảng năm 892 hoặc 893, quân Đan Mạch lại tấn công nước Anh một lần nữa, nhưng cuối cùng đã bị đánh đuổi hoàn toàn vào năm 896 hoặc 897. Chỉ còn những người Đan Mạch có mối liên hệ thân thiết với nước Anh mới được phép ở lại vùng Đông Anglia và Northumberland.
=== Hôn nhân và con cái ===
Năm 868, Alfred kết hôn với bà Ealhswith, con gái của Aethelred Mucill - một quý tộc lãnh đạo vùng đất của người Gaini - đây là tộc người sống ở khu vực Lincolnshire xung quanh thị trấn Gainsborough. Bà là cháu gái của một vị từng là quốc vương của vùng Mercia. Cả hai có với nhau 5 hoặc 6 người con, một trong số đó bao gồm Ethelfleda (Aethelflaed) - người sau này trở thành nữ vương của Mercia.
=== Cái chết và di sản ===
[[File:Statue of King Alfred in Wantage Market Square.jpg|thumb|upright|Tượng của Alfred Đại đế tại Wantage, Oxfordshire]]
Sau khi quân Đan Mạch rút lui, Alfred tập trung sự chú ý vào việc xây dựng hạm đội hải quân hoàng gia, với những con tàu được đóng theo chính thiết kế của nhà vua. Mặc dù Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ đều coi Alfred là người đặt nền móng cho truyền thống hải quân của họ, nhưng đây không phải là thời điểm khởi nguồn của hải quân Anh như một số người vẫn thường nói. Alfred qua đời khoảng năm 899, dù năm chính xác vẫn chưa được xác định rõ, và nguyên nhân cái chết của ông cũng không ai rõ. Ban đầu, ông được an táng tại nhà thờ Old Minster, sau đó được chuyển sang New Minster và cuối cùng được di dời đến Tu viện Hyde vào năm 1110.
== Edward Trưởng giả (899-924) ==
[[Image:Edward_the_Elder.jpg|left|100px|thumb|Chân dung của Edward Trưởng giả do hoạ sĩ vẽ]]
'''Edward Trưởng giả''' là vị vua tiếp theo của nước Anh sau thời Alfred. Ông trị vị từ năm 899 cho đến khi qua đời vào năm 924.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edward {{!}} Biography, Reign, & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edward-Anglo-Saxon-king |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông chính là con trai của Alfred Đại đế.
Edward sinh trong khoảng giai đoạn từ năm 868 đến 877. Ông kết hôn với bà Ecgwynn vào khoảng năm 893 và họ có một người con trai tên là Athelstan cùng một người con gái (người con gái sau này kết hôn với Sihtric, vị vua Đan Mạch cai trị vùng York). Tuy nhiên, địa vị và gia thế của Ecgwynn không đủ cao quý đối với hoàng gia, nên khi lên ngôi vào năm 899, Edward đã phế bỏ bà và cưới Elflaed, con gái của một thủ lĩnh vùng Wiltshire. Con trai của hai người chính là Vua Ethelweard sau này. Họ có với nhau sáu người con gái và có lẽ có thêm một con trai tên là Eadwine (người này bị chết đuối vào năm 933). Trong số các con gái, hai người trở thành nữ tu, còn những người còn lại đều gả vào các gia đình rất quyền quý: Eadgifu kết hôn với Vua Charles III của Pháp (còn được biết với cái tên Charles Đơn Sơ); Eadhild kết hôn với Hugh "Đại đế", Công tước xứ Paris; Eadgyth kết hôn với Hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh Otto I; còn Aelfgifu trở thành vợ của Conrad, Vua xứ Burgundy.
Đến khoảng năm 919, Edward kết hôn lần thứ ba với bà Eadgifu, con gái của một thủ lĩnh vùng Kent. Họ sinh được ba con trai và hai con gái. Tổng cộng qua ba đời vợ, Edward có khoảng 15 người con và ông cũng có thể có thêm một người con ngoài giá thú (con ngoài giá thú tức con sinh ra có cha mẹ ruột không phải là vợ chồng chính thức).
Trong những năm đầu cai trị, Vua Edward dành phần lớn thời gian để chinh chiến chống lại người anh em họ Aethelwald (con trai của Vua Ethelred I). Ông cũng đã xóa bỏ hoàn toàn vùng đất Danelaw do người Đan Mạch kiểm soát. Ông qua đời vào năm 924 và được an táng tại Winchester.
== Ethelweard (924) ==
'''Ethelweard''' sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 904. Ông có thời gian trị vị vô cùng ngắn ngủi. Theo một bản ghi chép trong biên niên sử Anglo-Saxon, Ethelweard được chỉ định làm vua vào ngày 17 tháng 7 năm 924 sau khi cha ông là Edward Người Cao Tuổi qua đời. Nhưng ông đã mất chỉ 16 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 8 năm 924. Một số lời đồn cho rằng ông đã bị sát hại theo lệnh của người anh cùng cha khác mẹ là Athelstan - người sau đó trở thành vị vua tiếp theo. Ethelweard chưa từng kết hôn và ông được an táng tại Winchester.
== Athelstan (924-939) ==
[[image:king.athelstan.tomb.arp.jpg|thumb|right|250px|Mộ của Vua Athelstan trong Tu viện Malmesbury. Phía dưới bức tượng hoàn toàn trống rỗng, vì hài cốt cùng các di vật của nhà vua đã bị thất lạc trong thời kỳ Giải thể các Tu viện vào năm 1539.]]
'''Athelstan''' sinh khoảng năm 895. Ông trước hết trở thành vua của Mercia vào năm 924 và sau đó là vua của Wessex vào năm 925.<ref>{{Cite web |title=Athelstan {{!}} Anglo-Saxon King, Wessex Ruler, First King of England {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Athelstan |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả.
Việc thiết lập các liên minh chính trị là ưu tiên hàng đầu của Athelstan. Một năm sau khi lên ngôi, ông đã gả người em gái cho Sihtric, vị vua Viking cai trị vùng York. Sihtric qua đời vào một năm sau đó và Athelstan đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội để chiếm lĩnh Northumbria. Đây là một bước đi táo bạo, giúp ông trở thành vị vua cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ vị vua Anglo-Saxon nào trước đó. Lãnh thổ ông cai quản tương đương với diện tích nước Anh hiện đại ngày nay, trừ vùng Cornwall.
Các thủ lĩnh của những vùng lãnh thổ lân cận sau đó đã đến Bamburgh để phục tùng Athelstan. Biên niên sử Anglo-Saxon ghi nhận rằng những người này bao gồm: Hywel (Vua xứ Tây Welsh, tức người xứ Cornwall), Constantine II (Vua người Scotland), Owain (Vua của người dân xứ Gwent) và Ealdred (thủ lĩnh vùng Bamburgh). Owain, Vua xứ Strathclyde, có lẽ cũng đã xuất hiện ở đó. Những sự kiện tương tự cũng diễn ra dọc theo khu vực phía tây thuộc lãnh địa của Athelstan. Vì vương quốc của ông đã bao phủ hầu hết nước Anh ngày nay (trừ vùng Cornwall), Athelstan thường được xem là vị vua đầu tiên của nước Anh.
Ông đã đạt được những chiến công quân sự ấn tượng trước các đối thủ, bao gồm cả quân Viking, đồng thời mở rộng quyền kiểm soát sang một số khu vực của xứ Wales và Cornwall. Mặc dù tạo dựng nhiều liên minh thông qua người thân trong gia đình, Athelstan chưa từng kết hôn và không có con cái. Ông đã nhận nuôi Hakon, người sau này được biết đến với tên gọi Hakon Tốt Bụng, Vua nước Na Uy.
Athelstan là một người sùng đạo và luôn rộng lượng đóng góp cho Giáo hội. Khi qua đời vào năm 939 tại Gloucester, ông được an táng tại Tu viện Malmesbury thay vì chôn cất cùng gia đình ở Winchester. Người lên kế vị ông là người em cùng cha khác mẹ, Vua Edmund I.
== Edmund I (939-946) ==
'''Edmund I''', hay còn được biết đến với biệt danh "Edmund Hùng Cường" hoặc "Edmund Người Thực Thi", sinh năm 921 tại Wessex.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund I {{!}} Anglo-Saxon, 939-946, Reformer {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-I |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là con trai của Vua Edward Trưởng giả, đồng thời là em cùng cha khác mẹ của Athelstan. Ông lên ngôi kế vị khi Athelstan qua đời vào ngày 27 tháng 10 năm 939.
Ngay sau khi lên ngôi vua, ông đã phải đối mặt với nhiều mối đe dọa quân sự. Vua Olaf I (xứ Dublin) đã đánh chiếm vùng Northumbria và xâm lược khu vực Midlands. Tuy nhiên, khi Olaf qua đời vào năm 942, Edmund đã giành lại được Midlands, rồi tiếp tục thu hồi Northumbria vào năm 944. Đến năm 945, Edmund đánh chiếm Strathclyde ở Scotland, nhưng ông đã nhượng lại quyền kiểm soát vùng đất này cho Vua Malcolm I của Scotland để đổi lấy một hiệp ước hỗ trợ quân sự lẫn nhau. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho khu vực biên giới phía bắc. Thời kỳ trị vị của Edmund cũng ghi nhận sự khôi phục và phát triển trở lại của các tu viện tại Anh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 946, Edmund bị sát hại bởi Leofa - một tên trộm đang bị lưu đày. Khi đang dự một bữa tiệc ở Pucklechurch, nhà vua vô tình phát hiện ra Leofa trong đám đông. Khi tên này phản đối và không chịu rời đi, nhà vua cùng các cận thần đã xông vào ẩu đả với hắn. Cả Edmund lẫn Leofa đều bỏ mạng trong cuộc xô xát này. Ông được an táng tại Glastonbury. Người lên kế vị Edmund là em trai ông, Vua Edred. Sau này, hai người con trai của Edmund cũng trở thành vua của nước Anh - đó là Edwy và Edgar, những vị vua mà các bạn sẽ được tìm hiểu ở phần bên dưới.
== Edred (946-955)==
[[Image:Eadred.jpg|left|thumb|100px|Vua Edred]]
Vua '''Edred''' (hay '''Eadred''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 923 và trở thành Vua của nước Anh vào năm 946.<ref>{{Cite web |date=2024-04-05 |title=Eadred {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Saxon Dynasty, Wessex King {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadred |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là một người con trai của Vua Edward Trưởng giả. Cũng giống như hai người anh trai của mình, Edred đạt được nhiều chiến công quân sự vang dội trước quân Viking. Ông là một người rất sùng đạo, nhưng sức khỏe lại vô cùng yếu ớt, thậm chí đến mức khó có thể ăn uống bình thường. Ông qua đời vào ngày 23 tháng 11 năm 955 tại Frome thuộc Somerset và được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester. Ông chưa từng kết hôn và người lên kế vị ông là cháu trai của ông, Vua Edwy.
== Edwy Công chính (955-959) ==
[[Image:Eadwig.jpg|right|thumb|100px|Edwy Công chính]]
'''Edwy Công chính''' (hay '''Eadwig''') sinh ra tại Wessex vào khoảng năm 941 và trở thành Vua nước Anh vào năm 955 khi các quý tộc bầu chọn ông lên kế vị người bác là Vua Edred.<ref>{{Cite web |title=Eadwig {{!}} Biography & Facts {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Eadwig |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Edwy là con trai trưởng của Vua Edmund I. Vương triều ngắn ngủi của ông trải qua nhiều xung đột gay gắt với gia đình, các quý tộc và Giáo hội Công giáo La Mã. Bất mãn trước những áp lực mà nhà vua áp đặt, cùng với sự hậu thuẫn từ Odo — Tổng Giám mục xứ Canterbury, các quý tộc ở Mercia và Northumbria đã quay sang ủng hộ em trai của Edwy là Edgar vào năm 957.
Edwy bị đánh bại trong một trận chiến tại Gloucester, nhưng để tránh cho đất nước rơi vào cảnh nội chiến tàn khốc, các nhà quý tộc đã đạt được một thỏa thuận chia đôi vương quốc: Edwy tiếp tục giữ miền nam gồm Wessex và Kent, còn Edgar cai trị miền bắc. Trong những năm cuối đời, Edwy đã cai trị tốt hơn và có nhiều đóng góp lớn cho Giáo hội. Tuy nhiên, ông qua đời khi mới chỉ 18 hoặc 19 tuổi vào ngày 1 tháng 10 năm 959. Ông từng kết hôn với Elgiva, nhưng cuộc hôn nhân này sau đó đã bị hủy bỏ. Người lên kế vị Edwy chính là người em trai kiêm đối thủ cũ của ông - Vua Edgar; Edgar sau đó là người thống nhất lại đất nước. Sau khi chết, ông được an táng tại Nhà thờ lớn Winchester.
== Edgar Hoà bình (959 - 975) ==
[[Image:King Edgar, c.943-75.jpg|left|thumb|100px|Vua Edgar]]
Vua '''Edgar''' sinh vào khoảng năm 942 tại Wessex. Ông là con trai thứ của vua Edmund I.<ref>{{Cite web |date=2024-04-25 |title=Edgar {{!}} Anglo-Saxon Ruler, Coronation, Reforms {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edgar-king-of-England |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Nhờ có một thời kỳ cai trị hoà bình, ông được hậu thế xưng tụng là "Edgar Hòa Bình".
Ông là một quân vương bản lĩnh hơn hẳn người anh trai Edwy. Năm 958, được sự ủng hộ của giới quý tộc Mercia, Edgar được tôn làm vua vùng đất phía bắc sông Thames, chiếm được hai khu vực Northumbria và Mercia từ tay anh mình. Đến tháng 10 năm 959, khi Edwy qua đời, Edgar mới chính thức nối ngôi, thống nhất toàn bộ vương quốc.
Lễ đăng quang của Edgar được tổ chức tại Bath vào năm 973. Dù diễn ra khá muộn, sự kiện này lại được dàn dựng như một cột mốc hoàng kim đánh dấu đỉnh cao quyền lực của ông. Ngay sau nghi lễ mang tính biểu tượng đó, sáu vị vua khác trên đảo Anh (bao gồm cả các vua của Scotland và Strathclyde) đã tìm đến Chester để chính thức phục tùng và tuyên thệ trung thành với ông.
Về đời tư, Edgar trải qua hai lần kết hôn chính thức: đầu tiên với bà Ethelfled, và sau đó là bà Elfrida. Ông có nhiều người con. Khi ông qua đời vào ngày 8 tháng 7 năm 975 tại Winchester, ông để lại hai người con trai, cả hai người sau này đều trở thành vua của nước Anh. Người con cả Edward (con với người vợ đầu) lên ngôi ngay sau khi ông mất. Về sau, người con thứ Ethelred (con với người vợ sau) lại tiếp tục lên kế vị người anh cùng cha khác mẹ của mình. Edgar được an táng tại Tu viện Glastonbury. Ngoài ra, người ta còn cho rằng giữa hai đời vợ, Edgar từng kết hôn với một người thiếp tên là Wulfryth. Họ có một người con gái tên là Eadgyth, người sau này trở thành Nữ viện trưởng tại tu viện Wilton.
== Edward Tuẫn đạo (975 - 978) ==
Vua '''Edward Tuẫn đạo''' sinh vào khoảng năm 962 tại Wessex. Ông nối ngôi cha là Vua Edgar để trở thành Vua nước Anh vào năm 975, nhưng đã bị sát hại chỉ sau vài năm trị vì, cụ thể là vào năm 978. Do vụ ám sát được cho là do những kẻ đối lập "bất kính với Chúa" thực hiện, trong khi đó, bản thân Edward lại được coi là một tín đồ Công giáo thuần thành, ông đã được phong Thánh (Thánh Edward Tuẫn đạo) vào năm 1001. Ông chưa từng kết hôn.
Ngay từ khi lên ngôi, quyền lực của Edward đã bị thách thức bởi một phe quý tộc do người mẹ kế - Vương hậu Elfrida - dẫn đầu. Bà muốn đưa đứa con trai còn nhỏ của mình là Ethelred (người này sau đó trở thành vua và được biết đến với biệt danh Ethelred Bất tài) lên làm vua. Tuy nhiên, Edward nhận được nhiều sự ủng hộ hơn và ông đã được Hội đồng quý tộc Witan chính thức phê chuẩn ngôi vị.
Vào thời điểm đó, một trận đại hạn hán và nạn đói khủng khiếp đang hoành hành khắp đất nước. Nhiều quý tộc đã kích động các cuộc tấn công dữ dội vào các tu viện nhằm chiếm đoạt và giữ lại những phần đất đai mà Vua Edgar (cha của Edward) từng ban tặng cho Giáo hội trước đây. Hàng loạt tu viện bị tàn phá, các tu sĩ buộc phải bỏ chạy, nhưng nhà vua vẫn kiên quyết đứng về phía Tổng Giám mục Dunstan để bảo vệ Giáo hội và các tu viện. Chính vì điều này, một số quý tộc đã quyết định loại bỏ ông để đưa Ethelred lên thay thế.
=== Cái chết và di sản ===
Vào ngày 18 tháng 3 năm 978, khi đang đi săn cùng chó nghiệp vụ và kỵ binh tại một khu vực gần Wareham, Dorset, vua Edward quyết định tới thăm Ethelred, người em trai đang được nuôi dưỡng tại nhà của mẹ kế Elfrida ở Lâu đài Corfe gần đó. Nhà vua đi một mình. Trong lúc vẫn ngồi trên lưng ngựa ở khu vực sân dưới của lâu đài, ông được bà mẹ kế Elfrida dâng một ly rượu mead. Vừa lúc ông nâng ly uống, một kẻ thuộc phe Vương hậu đã đâm lén ông từ phía sau lưng. Bản thân Ethelred khi đó mới 10 tuổi nên không liên quan đến vụ ám sát này. Dù vậy, một nguồn ghi chép khác lại khẳng định chính Elfrida đã ra tay sát hại nhà vua.
Ngay sau khi bị đâm, thi thể của nhà vua rơi khỏi yên ngựa và bị kéo lê trên mặt đất. Cuối cùng, thi thể của ông được thả xuống một dòng suối dưới chân ngọn đồi nơi Lâu đài Corfe tọa lạc. Dòng suối này về sau được cho là có khả năng chữa bệnh, đặc biệt là mang lại ánh sáng cho người mù. Vương hậu sau đó ra lệnh giấu xác nhà vua trong một căn chòi gần đó. Trong căn chòi có một người phụ nữ bị mù bẩm sinh sinh sống, và ngay đêm hôm đó, bà bất ngờ sáng mắt trở lại. Ngày nay, Nhà thờ Thánh Edward tại Lâu đài Corfe chính là nơi dựng trên nền đất từng diễn ra phép lạ này.
Rạng sáng hôm sau, Vương hậu ra lệnh đem chôn Vua Edward tại một vùng đầm lầy gần Wareham. Tuy nhiên, đúng một năm sau vụ ám sát, một cột lửa bất ngờ xuất hiện chiếu sáng rực cả một vùng không gian ngay trên chỗ giấu xác. Dân chúng Wareham thấy vậy liền đào thi thể ông lên, và ngay tại vị trí đó lập tức phun trào một dòng nước mát lành có khả năng chữa lành bệnh tật. Trong sự đưa tiễn của dòng người tiếc thương đông đảo, thi thể nhà vua được rước về Nhà thờ Đức Mẹ ở Wareham và an táng tại phía đông nhà thờ vào ngày 13 tháng 2 năm 980. Nhiều phép lạ khác sau đó cũng được tin là do Vua Edward hiển linh.
Edward chính thức được Hội đồng Toàn Anh phong Thánh vào năm 1008 dưới sự chủ trì của Tổng Giám mục xứ Canterbury. Vua Ethelred sau đó ra lệnh cho toàn nước Anh phải làm lễ kỷ niệm ba ngày vía của Thánh Edward. Tu viện Shaftesbury cũng trở thành nơi để phụng thờ Đức Mẹ lẫn Thánh Edward; thậm chí thị trấn Shaftesbury còn được đổi tên thành "Edwardstowe" và chỉ dùng lại tên cũ sau thời kỳ Cải cách Tu viện dưới triều Vua Henry VIII nhiều thế kỷ sau đó. Rất nhiều phép lạ như chữa lành bệnh phong hay giúp người mù sáng mắt đã được ghi nhận tại ngôi mộ của Thánh Edward.
Đến thế kỷ 16, hài cốt của Thánh Edward được đem giấu đi để tránh bị mạo phạm trong thời kỳ Cải cách Tôn giáo. Mãi tới năm 1931, phần hài cốt này mới được khai quật trở lại. Ngày nay, hài cốt của ông được đặt tại một nhà thờ tại nghĩa trang Brookwood ở Woking, Surrey. Ngày nay, nhà thờ này có tên là Nhà thờ Công giáo Chính thống Edward Tuẫn Đạo.
== Ethelred Bất tài (978-1013, 1014-1016) ==
[[Image:EthelUn.jpg|right|150px|thumb|Ethelred Bất tài]]
'''Ethelred Bất tài''' (tiếng Anh: '''Ethelred the Unready''') sinh vào khoảng năm 968 tại Wessex và mất năm 1016.<ref>{{Cite web |date=2024-04-19 |title=Ethelred the Unready {{!}} Viking invasions, Wessex, Mercia {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Ethelred-the-Unready |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua nước Anh trong hai giai đoạn: từ năm 978 đến 1013, và sau đó từ năm 1014 đến 1016. Ông còn được biết đến với niên hiệu Vua Ethelred II.
Biệt danh "Unready" của ông trong tiếng Anh thực chất không mang nghĩa là "chưa chuẩn bị, chưa sẵn sàng", mà xuất phát từ từ unræd trong tiếng Anglo-Saxon, có nghĩa là "thiếu sự cố vấn" hoặc "do dự, thiếu sự quyết đoán". Đây cũng có thể xem là một trò chơi chữ dựa trên chính tên gọi của ông - Æðelræd - vốn mang ý nghĩa là "lời cố vấn cao quý". Ethelred lên ngôi vua khi mới khoảng 10 tuổi, sau cái chết của cha ông là Vua Edgar và vụ ám sát của Vua Edward, người anh cùng cha khác mẹ.
=== Xung đột với người Đan Mạch ===
Nước Anh đã trải qua một thời kỳ hòa bình kéo dài sau khi giành lại vùng Danelaw. Tuy nhiên, đến năm 991, Ethelred phải đối mặt với một hạm đội Viking có quy mô lớn chưa từng thấy kể từ thời Guthrum một thế kỷ trước. Hạm đội này do Olaf Trygvasson - một người Na Uy mang tham vọng giải phóng đất nước mình khỏi sự thống trị của Đan Mạch - dẫn đầu.
Sau những thất bại quân sự ban đầu, Ethelred đã đàm phán thành công với Olaf. Olaf trở về Na Uy để gây dựng lại cơ nghiệp nhưng chỉ đạt được những thành công nhất định. Mặc dù thỏa thuận này giúp nước Anh mua thêm được chút thời gian, đất nước vẫn sớm phải hứng chịu các cuộc tập kích tiếp theo từ người Viking. Ethelred đã nỗ lực đánh đuổi họ, nhưng trong nhiều trường hợp, ông lại chọn cách làm của các vị vua tiền nhiệm (bao gồm cả Alfred Đại đế) là cống nộp tiền để đổi lấy bình yên - khoản tiền này về sau được gọi là Danegeld. Tuy nhiên, vào ngày 13 tháng 11 năm 1012, Ethelred đã ra lệnh thảm sát toàn bộ người Đan Mạch đang sinh sống tại Anh. Hành động này đã kích động một làn sóng phẫn nộ dữ dội, khiến Sweyn Haraldsson mở một loạt chiến dịch sấm sét nhằm chinh phục nước Anh. Sweyn đã thành công và phế bỏ Ethelred. Ethelred sau đó phải cùng vợ cùng các con tháo chạy sang Normandy để tị nạn. Dù vậy, Sweyn qua đời không lâu sau đó và đến tháng 2 năm 1014, Ethelred đã trở lại tiếp quản ngôi vương.
=== Hôn nhân và con cái ===
Ethelred kết hôn lần đầu với bà Ælflaed, con gái của Thored - một quý tộc cấp cao vùng Northumbria. Bà là mẹ của bốn người con trai, trong đó có Edmund Ironside (người sau này trở thành Vua Edmund II). Đến năm 997, ông tái hôn với Ælfgifu, con gái của vị quý tộc cấp cao Aethelberht và có thêm hai người con trai. Cuộc hôn nhân thứ ba cũng là cuộc hôn nhân cuối cùng của ông, diễn ra vào năm 1002 với bà Emma xứ Normandy. Sau này, người cháu của bà là William I (William Kẻ Chinh Phục) đã dùng chính mối quan hệ họ hàng này làm cơ sở để lấy quyền thừa kế ngai vàng nước Anh.
=== Cái chết và di sản ===
Ethelred qua đời vào ngày 23 tháng 4 năm 1016 tại London và được an táng ngay tại đây. Người lên kế vị ông là con trai ông, Edmund Ironside.
Dù triều đại của Ethelred phải liên tục hứng chịu các cuộc tấn công từ người Viking, thời kỳ ông cai trị hoàn toàn không phải là một thảm họa tồi tệ như những gì các sử gia sau này mô tả. Ông đã đưa ra nhiều cải cách quan trọng cho bộ máy chính quyền thời Anglo-Saxon, đặc biệt là việc thành lập chức vụ Hạt trưởng. Bên cạnh đó, giá trị của đồng tiền - vốn luôn là thước đo chính xác cho tình hình kinh tế - dưới thời ông vẫn duy trì ở mức rất cao trong suốt triều đại.
== Edmund Ironside (1016) ==
[[Image:Edmond II d'Angleterre.jpg|thumb|right|150px|Edmund Ironside]]
Edmund II sinh trong khoảng từ năm 988 đến 993.<ref>{{Cite web |date=2024-02-29 |title=Edmund II {{!}} Saxon ruler, Conqueror, Warrior {{!}} Britannica |url=https://www.britannica.com/biography/Edmund-II |access-date=2024-04-28 |website=www.britannica.com |language=en}}</ref> Ông là Vua của nước Anh từ ngày 23 tháng 4 năm 1016 cho đến khi qua đời vào ngày 30 tháng 11 cùng năm. Ông nhận biệt danh "Ironside" (tạm dịch: Mình đồng thân sắt) nhờ những nỗ lực kiên cường nhằm đẩy lùi cuộc xâm lược của người Đan Mạch do Vua Canute dẫn đầu. Sau khi Ethelred Bất tài qua đời, Edmund lên nối ngôi nhưng ông nhận được rất ít sự ủng hộ từ giới quý tộc London, trong khi Canute lại có nhiều sự ủng hộ hơn, đặc biệt là sự hậu thuẫn từ quý tộc vùng Southampton.
Khi Edmund giành lại Wessex từ tay Canute sau đợt xâm lược năm 1015, Canute đã đáp trả bằng cách bao vây London, nhưng Edmund đã chiến thắng và giải tỏa được vòng vây. Dù thắng trận, xung đột vẫn tiếp diễn cho đến khi Edmund bị Canute đánh bại vào ngày 18 tháng 10 tại Ashingdon thuộc Essex.
Sau trận chiến, hai vị vua tiến hành đàm phán: Edmund tiếp tục giữ xứ Wessex, còn Canute nắm quyền cai trị các vùng đất phía bắc sông Thames. Bên cạnh đó, họ giao ước rằng khi một trong hai người qua đời, toàn bộ vương quốc sẽ được chuyển giao cho người còn sống. Vào ngày 30 tháng 11 năm 1016, Vua Edmund II qua đời do nguyên nhân tự nhiên tại Oxford hoặc London. Toàn bộ vương quốc vì vậy được nhượng lại cho Canute, giúp ông này chính thức trở thành Vua của nước Anh. Edmund được an táng tại Tu viện Glastonbury ở Somerset. Hai người con của Edmund với người vợ Ældgyth - là Edward và Edmund - đều trốn thoát sang Hungary.
== Tham khảo ==
h4s3fghwmfpkg7pu335xubp3qi9dpne