Wikiquote viwikiquote https://vi.wikiquote.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.47.0-wmf.23 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikiquote Thảo luận Wikiquote Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Sự kiện Thảo luận Sự kiện Trang Chính 0 1 63662 63646 2026-10-07T15:47:30Z Làm Việc Thiện 13742 63662 wikitext text/x-wiki {| style="width: 100%; height: 130px; text-align: center;" |- | id="mf-intro" style="width: 40%; vertical-align: bottom;" | <div style="font-size: 162%; color: #222;">Chào mừng bạn đến [[Wikiquote:Giới thiệu|Wikiquote]]</div> <div style="font-size: 95%;">Bộ sưu tập danh ngôn mở mà ai cũng có thể sửa đổi.<br />Hiện nay, Wikiquote tiếng Việt có '''[[Đặc biệt:Thống kê|{{NUMBEROFARTICLES}}]]''' bài viết.</div> | id="mf-cats" style="vertical-align: bottom;" | {{Trang Chính/Chủ đề}} |} {| align=center style="width: 95%; padding-top: 75px; padding-bottom: 75px; margin-top: 50px; margin-bottom: 50px; vertical-align: middle; {{border-radius|4px}}; {{Linear-gradient|left top|#6699cc, #336699, #003366}};" | {| style="width: 100%;" |- | style="width: 60%; min-width: 350px;" | <div style="position: absolute; margin-left: 100px; margin-top: 130px; font-family: Linux Libertine, serif; color: white; font-size: 350px; line-height: 0;">“</div> <div style="color: white;">{{Trang Chính/Trích dẫn}}</div> | style="text-align: center;" | <span style="color: white;">'''Tạo bài viết mới'''</span> <inputbox> type = create width = 30 buttonlabel = Tạo break = no </inputbox> </div> |} |} </div> <div class="mainpage-column"> {{Trang Chính/Trang mới}} {{Liên quan Wikiquote}} </div> </div> <!-- Wikiquote ngôn ngữ --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #036e66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Wikiquote ngôn ngữ</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Wikiquotelang}} </div> </div> [[Thể loại:Trang Chính| ]] cp791igzxmr474jw5d1876wbzjejbk6 63666 63662 2026-10-07T15:55:24Z Làm Việc Thiện 13742 Đã lùi lại sửa đổi [[Special:Diff/63662|63662]] của [[Special:Contributions/Làm Việc Thiện|Làm Việc Thiện]] ([[User talk:Làm Việc Thiện|thảo luận]]) 63666 wikitext text/x-wiki {| style="width: 100%; height: 130px; text-align: center;" |- | id="mf-intro" style="width: 40%; vertical-align: bottom;" | <div style="font-size: 162%; color: #222;">Chào mừng bạn đến [[Wikiquote:Giới thiệu|Wikiquote]]</div> <div style="font-size: 95%;">Bộ sưu tập danh ngôn mở mà ai cũng có thể sửa đổi.<br />Hiện nay, Wikiquote tiếng Việt có '''[[Đặc biệt:Thống kê|{{NUMBEROFARTICLES}}]]''' bài viết.</div> | id="mf-cats" style="vertical-align: bottom;" | {{Trang Chính/Chủ đề}} |} {| align=center style="width: 95%; padding-top: 75px; padding-bottom: 75px; margin-top: 50px; margin-bottom: 50px; vertical-align: middle; {{border-radius|4px}}; {{Linear-gradient|left top|#6699cc, #336699, #003366}};" | {| style="width: 100%;" |- | style="width: 60%; min-width: 350px;" | <div style="position: absolute; margin-left: 100px; margin-top: 130px; font-family: Linux Libertine, serif; color: white; font-size: 350px; line-height: 0;">“</div> <div style="color: white;">{{Trang Chính/Trích dẫn}}</div> | style="text-align: center;" | <span style="color: white;">'''Tạo bài viết mới'''</span> <inputbox> type = create width = 30 buttonlabel = Tạo break = no </inputbox> </div> |} |} </div> <div class="mainpage-column"> {{Trang Chính/Trang mới}} {{Trang Chính/Dự án}} </div> </div> <!-- Wikiquote ngôn ngữ --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #036e66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Wikiquote ngôn ngữ</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Wikiquotelang}} </div> </div> [[Thể loại:Trang Chính| ]] hnozeghb0z17vq45y0jts8pp2pfn7qm 63678 63666 2026-10-08T00:37:08Z Làm Việc Thiện 13742 63678 wikitext text/x-wiki {| style="width: 100%; height: 130px; text-align: center;" |- | id="mf-intro" style="width: 40%; vertical-align: bottom;" | <div style="font-size: 162%; color: #222;">Chào mừng bạn đến [[Wikiquote:Giới thiệu|Wikiquote]]</div> <div style="font-size: 95%;">Bộ sưu tập danh ngôn mở mà ai cũng có thể sửa đổi.<br />Hiện nay, Wikiquote tiếng Việt có '''[[Đặc biệt:Thống kê|{{NUMBEROFARTICLES}}]]''' bài viết.</div> | id="mf-cats" style="vertical-align: bottom;" | {{Trang Chính/Chủ đề}} |} {| align=center style="width: 95%; padding-top: 75px; padding-bottom: 75px; margin-top: 50px; margin-bottom: 50px; vertical-align: middle; {{border-radius|4px}}; {{Linear-gradient|left top|#6699cc, #336699, #003366}};" | {| style="width: 100%;" |- | style="width: 60%; min-width: 350px;" | <div style="position: absolute; margin-left: 100px; margin-top: 130px; font-family: Linux Libertine, serif; color: white; font-size: 350px; line-height: 0;">“</div> <div style="color: white;">{{Trang Chính/Trích dẫn}}</div> | style="text-align: center;" | <span style="color: white;">'''Tạo bài viết mới'''</span> <inputbox> type = create width = 30 buttonlabel = Tạo break = no </inputbox> </div> |} |} </div> <div class="mainpage-column"> {{Trang Chính/Trang mới}} </div> </div> <!-- Sister projects --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #15610a; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các dự án chị em của Wikiquote</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Trang Chính/Dự án}} </div> </div> <!-- Wikiquote ngôn ngữ --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #036e66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Wikiquote ngôn ngữ</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Wikiquotelang}} </div> </div> [[Thể loại:Trang Chính| ]] 62mpx4c58x12qzj3olmr6dj2p8pu5ix 63692 63678 2026-10-08T07:30:18Z Làm Việc Thiện 13742 63692 wikitext text/x-wiki {| style="width: 100%; height: 130px; text-align: center;" |- | id="mf-intro" style="width: 40%; vertical-align: bottom;" | <div style="font-size: 162%; color: #222;">Chào mừng bạn đến [[Wikiquote:Giới thiệu|Wikiquote]]</div> <div style="font-size: 95%;">Bộ sưu tập danh ngôn mở mà ai cũng có thể sửa đổi.<br />Hiện nay, Wikiquote tiếng Việt có '''[[Đặc biệt:Thống kê|{{NUMBEROFARTICLES}}]]''' bài viết.</div> | id="mf-cats" style="vertical-align: bottom;" | {{Trang Chính/Chủ đề}} |} {| align=center style="width: 95%; padding-top: 75px; padding-bottom: 75px; margin-top: 50px; margin-bottom: 50px; vertical-align: middle; {{border-radius|4px}}; {{Linear-gradient|left top|#6699cc, #336699, #003366}};" | {| style="width: 100%;" |- | style="width: 60%; min-width: 350px;" | <div style="position: absolute; margin-left: 100px; margin-top: 130px; font-family: Linux Libertine, serif; color: white; font-size: 350px; line-height: 0;">“</div> <div style="color: white;">{{Trang Chính/Trích dẫn}}</div> | style="text-align: center;" | <span style="color: white;">'''Tạo bài viết mới'''</span> <inputbox> type = create width = 30 buttonlabel = Tạo break = no </inputbox> </div> |} |} </div> <div class="mainpage-column"> {{Trang Chính/Trang mới}} {{Cổng chủ đề}} </div> </div> <!-- Sister projects --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #15610a; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các dự án chị em của Wikiquote</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Trang Chính/Dự án}} </div> </div> <!-- Wikiquote ngôn ngữ --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #036e66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Wikiquote ngôn ngữ</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Wikiquotelang}} </div> </div> [[Thể loại:Trang Chính| ]] mvuq7qqs4967bn9kc6cxnjpnpeaveu3 63695 63692 2026-10-08T08:37:55Z Làm Việc Thiện 13742 63695 wikitext text/x-wiki {| style="width: 100%; height: 130px; text-align: center;" |- | id="mf-intro" style="width: 40%; vertical-align: bottom;" | <div style="font-size: 162%; color: #222;">Chào mừng bạn đến [[Wikiquote:Giới thiệu|Wikiquote]]</div> <div style="font-size: 95%;">Bộ sưu tập danh ngôn mở mà ai cũng có thể sửa đổi.<br />Hiện nay, Wikiquote tiếng Việt có '''[[Đặc biệt:Thống kê|{{NUMBEROFARTICLES}}]]''' bài viết.</div> | id="mf-cats" style="vertical-align: bottom;" | {{Trang Chính/Chủ đề}} |} {| align=center style="width: 95%; padding-top: 75px; padding-bottom: 75px; margin-top: 50px; margin-bottom: 50px; vertical-align: middle; {{border-radius|4px}}; {{Linear-gradient|left top|#6699cc, #336699, #003366}};" | {| style="width: 100%;" |- | style="width: 60%; min-width: 350px;" | <div style="position: absolute; margin-left: 100px; margin-top: 130px; font-family: Linux Libertine, serif; color: white; font-size: 350px; line-height: 0;">“</div> <div style="color: white;">{{Trang Chính/Trích dẫn}}</div> | style="text-align: center;" | <span style="color: white;">'''Tạo bài viết mới'''</span> <inputbox> type = create width = 30 buttonlabel = Tạo break = no </inputbox> </div> |} |} </div> <div class="mainpage-column"> {{Trang chính/Các trang đã chọn}} <div class="mainpage-column"> {{Trang Chính/Trang mới}} </div> <div class="mainpage-column"> {{Cổng chủ đề}} </div> <!-- Sister projects --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #15610a; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các dự án chị em của Wikiquote</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Trang Chính/Dự án}} </div> </div> <!-- Wikiquote ngôn ngữ --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #036e66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Wikiquote ngôn ngữ</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Wikiquotelang}} </div> </div> [[Thể loại:Trang Chính| ]] hhiqpmiawhisdvuzczxp5qskcs26b6a 63698 63695 2026-10-08T08:41:52Z Làm Việc Thiện 13742 63698 wikitext text/x-wiki <templatestyles src=":Trang chính/styles.css"/> {| style="width: 100%; height: 130px; text-align: center;" |- | id="mf-intro" style="width: 40%; vertical-align: bottom;" | <div style="font-size: 162%; color: #222;">Chào mừng bạn đến [[Wikiquote:Giới thiệu|Wikiquote]]</div> <div style="font-size: 95%;">Bộ sưu tập danh ngôn mở mà ai cũng có thể sửa đổi.<br />Hiện nay, Wikiquote tiếng Việt có '''[[Đặc biệt:Thống kê|{{NUMBEROFARTICLES}}]]''' bài viết.</div> | id="mf-cats" style="vertical-align: bottom;" | {{Trang Chính/Chủ đề}} |} {| align=center style="width: 95%; padding-top: 75px; padding-bottom: 75px; margin-top: 50px; margin-bottom: 50px; vertical-align: middle; {{border-radius|4px}}; {{Linear-gradient|left top|#6699cc, #336699, #003366}};" | {| style="width: 100%;" |- | style="width: 60%; min-width: 350px;" | <div style="position: absolute; margin-left: 100px; margin-top: 130px; font-family: Linux Libertine, serif; color: white; font-size: 350px; line-height: 0;">“</div> <div style="color: white;">{{Trang Chính/Trích dẫn}}</div> | style="text-align: center;" | <span style="color: white;">'''Tạo bài viết mới'''</span> <inputbox> type = create width = 30 buttonlabel = Tạo break = no </inputbox> </div> |} |} </div> <div class="mainpage-column"> {{Trang chính/Các trang đã chọn}} <div class="mainpage-column"> {{Trang Chính/Trang mới}} </div> <div class="mainpage-column"> {{Cổng chủ đề}} </div> <!-- Sister projects --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #15610a; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các dự án chị em của Wikiquote</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Trang Chính/Dự án}} </div> </div> <!-- Wikiquote ngôn ngữ --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #036e66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Wikiquote ngôn ngữ</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Wikiquotelang}} </div> </div> [[Thể loại:Trang Chính| ]] qzjlgdhgssmk6qt8be4wtyffzxz3q6y 63699 63698 2026-10-08T08:47:45Z Làm Việc Thiện 13742 63699 wikitext text/x-wiki <templatestyles src=":Bản mẫu:Trang chính/styles.css"/> {| style="width: 100%; height: 130px; text-align: center;" |- | id="mf-intro" style="width: 40%; vertical-align: bottom;" | <div style="font-size: 162%; color: #222;">Chào mừng bạn đến [[Wikiquote:Giới thiệu|Wikiquote]]</div> <div style="font-size: 95%;">Bộ sưu tập danh ngôn mở mà ai cũng có thể sửa đổi.<br />Hiện nay, Wikiquote tiếng Việt có '''[[Đặc biệt:Thống kê|{{NUMBEROFARTICLES}}]]''' bài viết.</div> | id="mf-cats" style="vertical-align: bottom;" | {{Trang Chính/Chủ đề}} |} {| align=center style="width: 95%; padding-top: 75px; padding-bottom: 75px; margin-top: 50px; margin-bottom: 50px; vertical-align: middle; {{border-radius|4px}}; {{Linear-gradient|left top|#6699cc, #336699, #003366}};" | {| style="width: 100%;" |- | style="width: 60%; min-width: 350px;" | <div style="position: absolute; margin-left: 100px; margin-top: 130px; font-family: Linux Libertine, serif; color: white; font-size: 350px; line-height: 0;">“</div> <div style="color: white;">{{Trang Chính/Trích dẫn}}</div> | style="text-align: center;" | <span style="color: white;">'''Tạo bài viết mới'''</span> <inputbox> type = create width = 30 buttonlabel = Tạo break = no </inputbox> </div> |} |} <div class="mainpage-column"> {{Trang chính/Các trang đã chọn}} </div> <div class="mainpage-column"> {{Trang Chính/Trang mới}} </div> {{clear}} {{Cổng chủ đề}} <!-- Sister projects --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #15610a; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các dự án chị em của Wikiquote</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Trang Chính/Dự án}} </div> </div> <!-- Wikiquote ngôn ngữ --> <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #036e66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Wikiquote ngôn ngữ</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> {{Wikiquotelang}} </div> </div> [[Thể loại:Trang Chính| ]] oi80pcp55xx1u15iq5cdihsptu83nc8 Wikiquote:Giới thiệu 4 1488 63680 63258 2026-10-08T01:11:52Z Làm Việc Thiện 13742 Đã lùi lại sửa đổi của [[Special:Contributions/Architectureglobal|Architectureglobal]] ([[User talk:Architectureglobal|thảo luận]]) quay về phiên bản cuối của [[User:Cát trắng|Cát trắng]] 59638 wikitext text/x-wiki <div style="font-size: larger; font-style: italic"> <center>Hãy mường tượng khi tất cả mọi người trên thế giới được tự do tiếp cận với nguồn trí tuệ của toàn nhân loại. Đó là điều mà tập đoàn Wikimedia chúng tôi đang nhắm tới.</center> <div align="right" style="font-size: smaller; font-style: normal">&nbsp;—&nbsp;[[w:en:User:Jimbo Wales|Jimmy Wales]], người sáng lập Wikipedia</div> </div> '''Wikiquote''' là một bộ sưu tập danh ngôn có liên quan đến [[w:Trang Chính|Wikipedia]]. Nó là kết quả của sự cộng tác của chính những người đọc từ khắp nơi trên thế giới. Trang mạng này có tính chất [[w:Wiki|wiki]], có nghĩa là ''tất cả mọi người'' đều có thể sửa đổi ''bất cứ trang nào'' cũng được, bằng cách bấm vào các liên kết "sửa đổi" (hoặc "Sửa đổi trang này") ở trên hầu như tất cả mọi trang. (Ngoại trừ các cá nhân bị tước quyền sửa đổi và những trang bị khóa.) Dự án Wikiquote nói chung được bắt đầu ngày 27 tháng 6 năm 2003, và dự án Wikiquote tiếng Việt được bắt đầu ngày 5 tháng 2 năm 2005. Hiện tại dự án có {{NUMBEROFARTICLES}} hạng mục và có người đang phát triển một số phiên bản ngôn ngữ khác. [[Thể loại:Wikiquote| ]] [[Thể loại:Trợ giúp|{{PAGENAME}}]] [[fr:Wikiquote:Wikiquote]] [[hu:Wikidézet:About]] bqax827guey8und892zn9nyikuo1irg Bản mẫu:Cổng chủ đề 10 2164 63691 39903 2026-10-08T07:29:10Z Làm Việc Thiện 13742 63691 wikitext text/x-wiki <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #b7ba02; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Cổng tri thức Wikiquote theo chủ đề</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> <div style="border-top: none; padding: 0.6em; padding-top: none;"> {| width=100%| |- | colspan ="4" style="border:2px solid #0084ff; background-color: #fffaf5; padding: 5px 5px 5px 5px;"| {| border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width="100%" style="line-height: 125%;" |- style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" |- height="20%" | width="50%" style="background-color: #fff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Sociologielogo.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Con người|Con người và Xã hội]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Danh vọng|Danh vọng]] • [[:Thể loại:Gia đình|Gia đình]] • [[:Thể loại:Hôn nhân|Hôn nhân]] • [[:Thể loại:Lễ hội |Lễ hội]] • [[:Thể loại:Lời trăn trối|Lời trăn trối]] • [[:Thể loại:Người già|Người già]] • [[:Thể loại:Trích dẫn sai |Trích dẫn sai]] • [[:Thể loại:Văn bia|Văn bia]] </div> | width="50%" style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:P_religion-lightblue.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Tôn giáo|Tôn giáo]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Thiên chúa giáo|Thiên chúa giáo]] • [[:Thể loại: Kinh Phật|Kinh Phật]] • [[:Thể loại:Hồi giáo |Hồi giáo]] • [[:Thể loại:Bà la môn|Bà la môn]] </div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Socrates.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nhân vật|Nhân vật]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Danh nhân thế giới|Danh nhân thế giới]] • [[:Thể loại:Danh nhân Việt Nam| Danh nhân Việt Nam]]<br /> [[:Thể loại:Nhân vật lịch sử|Nhân vật lịch sử]]</div> | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Exquisite-opera.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Văn chương Thế giới|Văn chương Thế giới]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Thần thoại Trung Quốc|Thần thoại Trung Quốc]] • [[:Thể loại:Thần thoại Hy Lạp và La Mã| Thần thoại Hy Lạp và La Mã]] • [[:Thể loại:Thần thoại Ấn Độ| Thần thoại Ấn Độ]] • [[:Thể loại:Tục ngữ Nhật Bản]] </div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Soci%C3%A9t%C3%A9.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Tất cả|Đề tài khác]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại: Trí khôn| Trí khôn]] • [[:Thể loại: Nghệ thuật| Nghệ thuật]] • [[:Thể loại:Giáo dục|Giáo dục]] • [[:Thể loại:Tình bạn|Tình bạn]] • [[:Thể loại:Tình yêu|Tình yêu]] • [[:Thể loại:Cuộc sống|Cuộc sống]] • [[:Thể loại:Lao động|Lao động]] • [[:Thể loại:Kỷ niệm|Kỷ niệm]] • [[:Thể loại:Tôn giáo|Tôn giáo]] • [[:Thể loại:Học tập|Học tập]] • [[:Thể loại:Khoa học|Khoa học]] • [[:Thể loại:Chính trị|Chính trị]] • [[:Thể loại:Chiến tranh|Chiến tranh]] • [[:Thể loại:Hy vọng|Hy vọng]] • [[:Thể loại:Bệnh tật|Bệnh tật]] </div> | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Artalt.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Phim ảnh và Truyền hình|Phim ảnh và Truyền hình]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Phim truyền hình |Phim truyền hình]] • [[:Thể loại:Phim Việt Nam|Phim Việt Nam]] • [[:Thể loại:Phim bom tấn thế giới|Phim bom tấn thế giới]] • [[:Thể loại:Phim tài liệu|Phim tài liệu]]</div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Sciences_exactes.svg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Khoa học|Khoa học]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Toán học|Toán học]] • [[:Thể loại:Vật lý|Vật lý]] • [[:Thể loại:Vũ trụ và Khoa học Thiên văn|Vũ trụ và Khoa học Thiên văn]] </div> | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:P_culture.svg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nghệ thuật dân gian Việt Nam|Nghệ thuật dân gian Việt Nam]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Tuồng|Tuồng]] • [[:Thể loại:Chèo|Chèo]] • [[:Thể loại:Cải lương|Cải lương]] • [[:Thể loại:Chầu văn|Chầu văn]] • [[:Hát dặm và Hát nói|Hát dặm và Hát nói]] • [[:Thể loại:Hò vè|Hò vè]] • [[:Thể loại:Quan họ Bắc Ninh|Quan họ Bắc Ninh]]</div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:The_Thinker_close.jpg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nhân cách và Đạo đức|Nhân cách và Đạo đức]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Học trò|Học trò]] • [[:Thể loại:Người thầy|Người thầy]] • [[:Thể loại:Quan niệm sống|Quan niệm sống]] </div> | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:P_social_sciences.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nghệ thuật sống|Nghệ thuật sống]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Lòng dũng cảm|Lòng dũng cảm]] • [[:Thể loại:Hy sinh|Hy sinh]] </div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Flag_of_Vietnam.svg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Văn chương dân gian Việt Nam|Văn chương dân gian Việt Nam]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Ca dao Việt Nam|Ca dao]] • [[:Thể loại:Tục ngữ Việt Nam|Tục ngữ]] • [[:Thể loại:Thành ngữ Việt Nam|Thành ngữ]] • [[:Thể loại:Phương ngôn Việt Nam|Phương ngôn]] • [[:Thể loại:Hát nói Việt Nam|Hát nói]] • [[:Thể loại:Dân ca Việt Nam|Dân ca]] • [[:Thể loại:Hoành phi và Câu đối|Hoành phi – Câu đối]]</div> | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:BahnarRong.jpg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Văn chương dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam|Văn chương dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[Trường ca Đẻ đất đẻ nước]]</div> |} |} <noinclude>[[Thể loại:Bản mẫu Trang Chính]]</noinclude> rhcxrjagw31b9p1gvebfp55va1yfl1z 63693 63691 2026-10-08T07:33:38Z Làm Việc Thiện 13742 63693 wikitext text/x-wiki <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #b7ba02; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Cổng tri thức Wikiquote theo chủ đề</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> <div style="border-top: none; padding: 0.6em; padding-top: none;"> {| width=100%| |- | colspan ="4" style="border:2px solid #0084ff; background-color: #fffaf5; padding: 5px 5px 5px 5px;"| {| border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width="100%" style="line-height: 125%;" |- style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" |- height="20%" | width="50%" style="background-color: #fff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Sociologielogo.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Con người|Con người và Xã hội]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Danh vọng|Danh vọng]] • [[:Thể loại:Gia đình|Gia đình]] • [[:Thể loại:Hôn nhân|Hôn nhân]] • [[:Thể loại:Lễ hội |Lễ hội]] • [[:Thể loại:Lời trăn trối|Lời trăn trối]] • [[:Thể loại:Người già|Người già]] • [[:Thể loại:Trích dẫn sai |Trích dẫn sai]] • [[:Thể loại:Văn bia|Văn bia]] </div> | width="50%" style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:P_religion-lightblue.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Tôn giáo|Tôn giáo]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Thiên chúa giáo|Thiên chúa giáo]] • [[:Thể loại: Kinh Phật|Kinh Phật]] • [[:Thể loại:Hồi giáo |Hồi giáo]] • [[:Thể loại:Bà la môn|Bà la môn]] </div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Socrates.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nhân vật|Nhân vật]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Danh nhân thế giới|Danh nhân thế giới]] • [[:Thể loại:Danh nhân Việt Nam| Danh nhân Việt Nam]]<br /> [[:Thể loại:Nhân vật lịch sử|Nhân vật lịch sử]]</div> | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Exquisite-opera.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Văn chương Thế giới|Văn chương Thế giới]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Thần thoại Trung Quốc|Thần thoại Trung Quốc]] • [[:Thể loại:Thần thoại Hy Lạp và La Mã| Thần thoại Hy Lạp và La Mã]] • [[:Thể loại:Thần thoại Ấn Độ| Thần thoại Ấn Độ]] • [[:Thể loại:Tục ngữ Nhật Bản|Tục ngữ Nhật Bản]] </div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Soci%C3%A9t%C3%A9.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Tất cả|Đề tài khác]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại: Trí khôn| Trí khôn]] • [[:Thể loại: Nghệ thuật| Nghệ thuật]] • [[:Thể loại:Giáo dục|Giáo dục]] • [[:Thể loại:Tình bạn|Tình bạn]] • [[:Thể loại:Tình yêu|Tình yêu]] • [[:Thể loại:Cuộc sống|Cuộc sống]] • [[:Thể loại:Lao động|Lao động]] • [[:Thể loại:Kỷ niệm|Kỷ niệm]] • [[:Thể loại:Tôn giáo|Tôn giáo]] • [[:Thể loại:Học tập|Học tập]] • [[:Thể loại:Khoa học|Khoa học]] • [[:Thể loại:Chính trị|Chính trị]] • [[:Thể loại:Chiến tranh|Chiến tranh]] • [[:Thể loại:Hy vọng|Hy vọng]] • [[:Thể loại:Bệnh tật|Bệnh tật]] </div> | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Artalt.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Phim ảnh và Truyền hình|Phim ảnh và Truyền hình]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Phim truyền hình |Phim truyền hình]] • [[:Thể loại:Phim Việt Nam|Phim Việt Nam]] • [[:Thể loại:Phim bom tấn thế giới|Phim bom tấn thế giới]] • [[:Thể loại:Phim tài liệu|Phim tài liệu]]</div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Sciences_exactes.svg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Khoa học|Khoa học]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Toán học|Toán học]] • [[:Thể loại:Vật lý|Vật lý]] • [[:Thể loại:Vũ trụ và Khoa học Thiên văn|Vũ trụ và Khoa học Thiên văn]] </div> | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:P_culture.svg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nghệ thuật dân gian Việt Nam|Nghệ thuật dân gian Việt Nam]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Tuồng|Tuồng]] • [[:Thể loại:Chèo|Chèo]] • [[:Thể loại:Cải lương|Cải lương]] • [[:Thể loại:Chầu văn|Chầu văn]] • [[:Hát dặm và Hát nói|Hát dặm và Hát nói]] • [[:Thể loại:Hò vè|Hò vè]] • [[:Thể loại:Quan họ Bắc Ninh|Quan họ Bắc Ninh]]</div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:The_Thinker_close.jpg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nhân cách và Đạo đức|Nhân cách và Đạo đức]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Học trò|Học trò]] • [[:Thể loại:Người thầy|Người thầy]] • [[:Thể loại:Quan niệm sống|Quan niệm sống]] </div> | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:P_social_sciences.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nghệ thuật sống|Nghệ thuật sống]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Lòng dũng cảm|Lòng dũng cảm]] • [[:Thể loại:Hy sinh|Hy sinh]] </div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Flag_of_Vietnam.svg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Văn chương dân gian Việt Nam|Văn chương dân gian Việt Nam]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Ca dao Việt Nam|Ca dao]] • [[:Thể loại:Tục ngữ Việt Nam|Tục ngữ]] • [[:Thể loại:Thành ngữ Việt Nam|Thành ngữ]] • [[:Thể loại:Phương ngôn Việt Nam|Phương ngôn]] • [[:Thể loại:Hát nói Việt Nam|Hát nói]] • [[:Thể loại:Dân ca Việt Nam|Dân ca]] • [[:Thể loại:Hoành phi và Câu đối|Hoành phi – Câu đối]]</div> | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:BahnarRong.jpg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Văn chương dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam|Văn chương dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[Trường ca Đẻ đất đẻ nước]]</div> |} |} <noinclude>[[Thể loại:Bản mẫu Trang Chính]]</noinclude> jk6yhhco8xg7t4031yc5gbta1ij0vw5 63702 63693 2026-10-08T09:03:04Z Làm Việc Thiện 13742 Đã khóa “[[Bản mẫu:Cổng chủ đề]]”: Trang quan trọng có lượng truy cập lớn ([Sửa đổi=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn) [Di chuyển=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn)) 63693 wikitext text/x-wiki <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #b7ba02; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Cổng tri thức Wikiquote theo chủ đề</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> <div style="border-top: none; padding: 0.6em; padding-top: none;"> {| width=100%| |- | colspan ="4" style="border:2px solid #0084ff; background-color: #fffaf5; padding: 5px 5px 5px 5px;"| {| border=0 cellspacing=0 cellpadding=0 width="100%" style="line-height: 125%;" |- style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" |- height="20%" | width="50%" style="background-color: #fff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Sociologielogo.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Con người|Con người và Xã hội]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Danh vọng|Danh vọng]] • [[:Thể loại:Gia đình|Gia đình]] • [[:Thể loại:Hôn nhân|Hôn nhân]] • [[:Thể loại:Lễ hội |Lễ hội]] • [[:Thể loại:Lời trăn trối|Lời trăn trối]] • [[:Thể loại:Người già|Người già]] • [[:Thể loại:Trích dẫn sai |Trích dẫn sai]] • [[:Thể loại:Văn bia|Văn bia]] </div> | width="50%" style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:P_religion-lightblue.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Tôn giáo|Tôn giáo]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Thiên chúa giáo|Thiên chúa giáo]] • [[:Thể loại: Kinh Phật|Kinh Phật]] • [[:Thể loại:Hồi giáo |Hồi giáo]] • [[:Thể loại:Bà la môn|Bà la môn]] </div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Socrates.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nhân vật|Nhân vật]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Danh nhân thế giới|Danh nhân thế giới]] • [[:Thể loại:Danh nhân Việt Nam| Danh nhân Việt Nam]]<br /> [[:Thể loại:Nhân vật lịch sử|Nhân vật lịch sử]]</div> | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Exquisite-opera.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Văn chương Thế giới|Văn chương Thế giới]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Thần thoại Trung Quốc|Thần thoại Trung Quốc]] • [[:Thể loại:Thần thoại Hy Lạp và La Mã| Thần thoại Hy Lạp và La Mã]] • [[:Thể loại:Thần thoại Ấn Độ| Thần thoại Ấn Độ]] • [[:Thể loại:Tục ngữ Nhật Bản|Tục ngữ Nhật Bản]] </div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Soci%C3%A9t%C3%A9.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Tất cả|Đề tài khác]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại: Trí khôn| Trí khôn]] • [[:Thể loại: Nghệ thuật| Nghệ thuật]] • [[:Thể loại:Giáo dục|Giáo dục]] • [[:Thể loại:Tình bạn|Tình bạn]] • [[:Thể loại:Tình yêu|Tình yêu]] • [[:Thể loại:Cuộc sống|Cuộc sống]] • [[:Thể loại:Lao động|Lao động]] • [[:Thể loại:Kỷ niệm|Kỷ niệm]] • [[:Thể loại:Tôn giáo|Tôn giáo]] • [[:Thể loại:Học tập|Học tập]] • [[:Thể loại:Khoa học|Khoa học]] • [[:Thể loại:Chính trị|Chính trị]] • [[:Thể loại:Chiến tranh|Chiến tranh]] • [[:Thể loại:Hy vọng|Hy vọng]] • [[:Thể loại:Bệnh tật|Bệnh tật]] </div> | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Artalt.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Phim ảnh và Truyền hình|Phim ảnh và Truyền hình]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Phim truyền hình |Phim truyền hình]] • [[:Thể loại:Phim Việt Nam|Phim Việt Nam]] • [[:Thể loại:Phim bom tấn thế giới|Phim bom tấn thế giới]] • [[:Thể loại:Phim tài liệu|Phim tài liệu]]</div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Sciences_exactes.svg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Khoa học|Khoa học]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Toán học|Toán học]] • [[:Thể loại:Vật lý|Vật lý]] • [[:Thể loại:Vũ trụ và Khoa học Thiên văn|Vũ trụ và Khoa học Thiên văn]] </div> | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:P_culture.svg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nghệ thuật dân gian Việt Nam|Nghệ thuật dân gian Việt Nam]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Tuồng|Tuồng]] • [[:Thể loại:Chèo|Chèo]] • [[:Thể loại:Cải lương|Cải lương]] • [[:Thể loại:Chầu văn|Chầu văn]] • [[:Hát dặm và Hát nói|Hát dặm và Hát nói]] • [[:Thể loại:Hò vè|Hò vè]] • [[:Thể loại:Quan họ Bắc Ninh|Quan họ Bắc Ninh]]</div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:The_Thinker_close.jpg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nhân cách và Đạo đức|Nhân cách và Đạo đức]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Học trò|Học trò]] • [[:Thể loại:Người thầy|Người thầy]] • [[:Thể loại:Quan niệm sống|Quan niệm sống]] </div> | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:P_social_sciences.png|left|32px]]'''[[:Thể loại:Nghệ thuật sống|Nghệ thuật sống]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Lòng dũng cảm|Lòng dũng cảm]] • [[:Thể loại:Hy sinh|Hy sinh]] </div> |- height="20%" style="border: 0px solid #88a; vertical-align: top;" | style="background-color: #E9E9F0; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:Flag_of_Vietnam.svg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Văn chương dân gian Việt Nam|Văn chương dân gian Việt Nam]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[:Thể loại:Ca dao Việt Nam|Ca dao]] • [[:Thể loại:Tục ngữ Việt Nam|Tục ngữ]] • [[:Thể loại:Thành ngữ Việt Nam|Thành ngữ]] • [[:Thể loại:Phương ngôn Việt Nam|Phương ngôn]] • [[:Thể loại:Hát nói Việt Nam|Hát nói]] • [[:Thể loại:Dân ca Việt Nam|Dân ca]] • [[:Thể loại:Hoành phi và Câu đối|Hoành phi – Câu đối]]</div> | style="background-color: #f7f8ff; padding: 5px 5px 5px 5px;" | [[Hình:BahnarRong.jpg|left|32px]]'''[[:Thể loại:Văn chương dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam|Văn chương dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam]]'''<div style="font-size: 94%; margin-top: 1%; margin-left: 37px;">[[Trường ca Đẻ đất đẻ nước]]</div> |} |} <noinclude>[[Thể loại:Bản mẫu Trang Chính]]</noinclude> jk6yhhco8xg7t4031yc5gbta1ij0vw5 MediaWiki:Gadgets-definition 8 2451 63679 63309 2026-10-08T00:56:55Z Làm Việc Thiện 13742 /* appearance */ 63679 wikitext text/x-wiki == browsing == * navpop[dependencies=mediawiki.user,mediawiki.util]|navpop.js|navpop.css * revisionjumper|revisionjumper.js == editing == * AVIM[default]|AVIM.js * AVIM_portlet[default|dependencies=ext.gadget.AVIM]|AVIM portlet.js|AVIM portlet.css * charinsert[default]|charinsert.js * charinsert-core[hidden|dependencies=mediawiki.toolbar,jquery.textSelection]|charinsert-core.js|charinsert-core.css * CharOff|CharOff.css * HotCat[rights=edit]|HotCat.js * wiked|wiked.js == appearance == * addsection-plus|addsection-plus.js * edittop[dependencies=user.options]|edittop.js|edittop.css * JustifyParagraphs|JustifyParagraphs.css * removeAccessKeys[dependencies=mediawiki.util]|removeAccessKeys.js * purgetab[dependencies=mediawiki.util|default]|purgetab.js * UTCLiveClock|UTCLiveClock.js * contribsrange[dependencies=mediawiki.util,jquery.spinner]|contribsrange.js * markblocked[dependencies=mediawiki.util]|markblocked.js * HighlightAdmins|HighlightAdmins.js * sysopdectector|sysopdectector.js * userMessages|UserMessages.js == administration == * CleanDeleteReasons[rights=delete]|CleanDeleteReasons.js * confirmationRollback[rights=rollback|dependencies=mediawiki.util]|confirmationRollback.js 4jujx5lki7llxecwab1xb24tiufjff0 MediaWiki:Gadget-HighlightAdmins.js 8 2946 63689 52110 2026-10-08T02:38:55Z Làm Việc Thiện 13742 63689 javascript text/javascript var adminrights=new Array(); //Start of section to update adminrights['Làm Việc Thiện']=1; //End of section to update //Updating script $(function(){ if(location.href.indexOf('//vi.wikiquote.org/w/index.php?title=Special:ListUsers&limit=5000&group=sysop&adminupdate=y') !== -1) { var h=document.getElementById('bodyContent').innerHTML; var a=new Array(); h=h.split(/\< *li *\>/i); var i=0; while(++i<h.length) { a[h[i].split(">")[1].split("<")[0]]=h[i].split(/\< *\/ *li *\>/i)[0]; } for(i in a) { document.write("adminrights['"+ encodeURIComponent(i).split("\\").join("\\\\").split("'").join("%27") .split("(").join("%28").split(")").join("%29") .split("!").join("%21").split(",").join("%2C") .split("%3A").join(":")+"']=1;<BR/>"); } } }); //Highlighting script. Based on [[:en:User:ais523/highlightmyname.js]]. function highlightadmins(n,p) //node, parent node { while(n!=null) { if(n.nodeType==1&&n.tagName.toLowerCase()=="a") //anchor { if(n.href.indexOf("//vi.wikiquote.org/wiki/User:")!=-1) { var u=n.href.split("//vi.wikiquote.org/wiki/User:")[1]; if(adminrights[u.split("_").join("%20")]==1) { n.style.backgroundColor="#FFFFFF"; if(n.className==null||n.className=="") n.className="adminrights_admin"; else n.className+="adminrights_admin"; } n=n.nextSibling; } else if(n.href.indexOf("//vi.wikiquote.org/wiki/User_talk:")!=-1) { var u=n.href.split("//vi.wikiquote.org/wiki/User_talk:")[1]; if(adminrights[u.split("_").join("%20")]==1) { n.style.backgroundColor="#BBFFFF"; if(n.className==null||n.className=="") n.className="adminrights_admin"; else n.className+="adminrights_admin"; } n=n.nextSibling; } else { if(n.firstChild!=null) highlightadmins(n.firstChild,n); n=n.nextSibling; } } else { if(n.firstChild!=null) highlightadmins(n.firstChild,n); n=n.nextSibling; } } } $(function() { if(location.href.indexOf("?adminupdate")==-1&&location.href.indexOf("&adminupdate")==-1&& location.href.indexOf("?action=edit")==-1&&location.href.indexOf("?action=submit")==-1&& location.href.indexOf("&action=edit")==-1&&location.href.indexOf("&action=submit")==-1&& mw.config.get('wgPageName')!="Special:Preferences") { highlightadmins(document.getElementById('bodyContent').firstChild, document.getElementById('bodyContent')); } }); o8kjd11t95rdx83llry8hfsukx9q274 63690 63689 2026-10-08T02:41:58Z Làm Việc Thiện 13742 63690 javascript text/javascript var adminrights = {}; //Start of section to update adminrights['Làm Việc Thiện'] = 1; //End of section to update //Updating script $( function() { if(location.href==mw.config.get( 'wgServer' )+ mw.config.get( 'wgScript') + "?title=Special:ListUsers&limit=5000&"+ "group=sysop&adminupdate=y") { var h=document.getElementById('bodyContent').innerHTML; var a= []; h=h.split(/\< *li *\>/i); var i=0; while(++i<h.length) { a[h[i].split(">")[1].split("<")[0]]=h[i].split(/\< *\/ *li *\>/i)[0]; } for(i in a) { document.write("adminrights['"+ encodeURIComponent(i).split("\\").join("\\\\").split("'").join("%27") .split("(").join("%28").split(")").join("%29") .split("!").join("%21").split(",").join("%2C") .split("%3A").join(":")+"']=1;<BR/>"); } } }); $( function() { if( location.href.indexOf("?adminupdate") == -1 && location.href.indexOf("&adminupdate")==-1 && mw.config.get( 'wgAction') != 'edit' && mw.config.get( 'wgAction') != 'submit' && mw.config.get( 'wgPageName')!="Special:Preferences") { $("#bodyContent a").each(function() { linkTarget = $(this).attr("href"); if(linkTarget !== undefined && linkTarget.startsWith("/wiki/User_talk:")) { pageTitle = linkTarget.split("/wiki/User_talk:"); if(adminrights[pageTitle[1].replace("_", " ")]==1) { $(this).addClass("adminrights_admin"); $(this).css("background-color", "#BBFFFF"); } } }); } }); 98mnzm98u53cc3kw1z0f2lh6j5pkvp7 Wikiquote:KT 4 3400 63673 13392 2026-10-07T17:42:37Z EmausBot 7143 Giải quyết đổi hướng kép từ [[Wikiquote:Khóa trang]] đến [[Wikiquote:Quy định khóa trang]] 63673 wikitext text/x-wiki #đổi [[Wikiquote:Quy định khóa trang]] 2o3wunuqzciu0cgatnjnml74idzg9ja Bản mẫu:Welcome 10 3537 63687 13860 2026-10-08T02:26:23Z Làm Việc Thiện 13742 Xóa đổi hướng đến trang [[Bản mẫu:Hoan nghênh]] 63687 wikitext text/x-wiki ==Chào mừng== Xin chào, {{<includeonly>safesubst:</includeonly>BASEPAGENAME}}, và chào mừng bạn đến với [[Wikiquote:About|Wikiquote tiếng việt]], một tuyển tập các câu trích dẫn miễn phí được biên soạn cộng tác bởi những người giống như bạn! * Để có cái nhìn tổng quan nhanh về Wikiquote, hãy đọc [[Wikiquote:Wikiquote]]. ** Xem thêm [[Wikiquote:Những gì không phải là Wikiquote|Những gì không phải là Wikiquote]] để biết về các hoạt động phổ biến mà Wikiquote không hỗ trợ. * Để duyệt Wikiquote, hãy xem [[Wikiquote:Browse|trang chủ duyệt web]]. * Trước khi tạo bài viết mới, hãy tham khảo [[Wikiquote:Hướng dẫn về bố cục|Hướng dẫn về bố cục]]. Bạn có thể thực hành [[Wikiquote:Cách chỉnh sửa một trang|Cách chỉnh sửa một trang]] tại [[Wikiquote:Sandbox|Chỗ thử]]. * Vui lòng nhớ sử dụng [[Help:Edit summary|tóm lược sửa đổi]] khi chỉnh sửa các trang. * Khi đăng bài trong một cuộc thảo luận, [[Wikiquote:Chữ ký|vui lòng ký tên kèm ngày tháng]] bằng cách viết bốn dấu ngã (~&#126;~~) rồi lưu lại. * [[w:vi:Wikipedia:Hãy táo bạo|Hãy mạnh dạn]]. Nếu bạn muốn xin lời khuyên hoặc trợ giúp, hãy ghé qua [[WQ:VP|Bàn giúp đỡ]] hoặc đặt câu hỏi trên trang thảo luận của tôi. Chúc bạn chỉnh sửa vui vẻ! Và một lần nữa, chào mừng bạn! <noinclude> <!-- CATEGORIES AND INTERWIKIS HERE, THANKS --> [[Category:Các mẫu lời chào mừng người dùng|{{PAGENAME}}]] [[es:Template:Welcome]] [[eu:Txantiloi:Ongietorria]] [[fi:Malline:Tervetuloa Wikisitaatteihin]] </noinclude> 47y441itl5uihw57fiangvmlasztapc 63688 63687 2026-10-08T02:27:13Z Làm Việc Thiện 13742 Đã lùi lại sửa đổi của [[Special:Contributions/Làm Việc Thiện|Làm Việc Thiện]] ([[User talk:Làm Việc Thiện|thảo luận]]) quay về phiên bản cuối của [[User:Prenn|Prenn]] 13860 wikitext text/x-wiki #đổi[[Bản mẫu:Hoan nghênh]] jv4pll6548umtoq0ul4cnenit2a68cj Bản mẫu:Trang Chính/Dự án 10 4458 63651 58681 2026-10-07T15:25:18Z Làm Việc Thiện 13742 63651 wikitext text/x-wiki <templatestyles src="Otherwiki/styles.css" /> '''Wikiquote''' được điều hành bởi tổ chức phi lợi nhuận '''[[w:Wikimedia Foundation|Wikimedia Foundation]]''', tổ chức vận hành một số dự án [[Wikipedia:Multilingual coordination|đa ngôn ngữ]] và [[Wikipedia:Copyrights|nội dung tự do]] khác: {{plainlist}} <ul id="sister-projects-list"> <li> <div>[[File:Wiktionary-logo-v2.svg|41px|link=wikt:|Wiktionary]]</div> <div>'''[[wikt:|Wiktionary]]'''<br />Từ điển và từ đồng nghĩa</div> </li> <li> <div>[[File:Wikibooks-logo.svg|41px|link=b:|Wikibooks]]</div> <div><span>[[:b:|Wikibooks]]</span><br/>Sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn miễn phí.</div> </li> <li> <div>[[File:Wikipedia-logo-v2.svg|41px|link=w:|Wikipedia]]</div> <div>'''[[w:|Wikipedia]]'''<br />Bách khoa toàn thư</div> </li> <li> <div>[[File:Wikisource-logo.svg|35px|link=s:|Wikisource]]</div> <div>'''[[s:|Wikisource]]'''<br />Thư viện miễn phí</div> </li> <li> <div>[[File:Wikispecies-logo.svg|35px|link=wikispecies:|Wikispecies]]</div> <div>'''[[wikispecies:|Wikispecies]]'''<br />Danh mục loài</div> </li> <li> <div>[[File:Wikimedia Community Logo.svg|35px|link=m:|Meta-Wiki]]</div> <div>'''[[m:|Meta-Wiki]]'''<br />Điều phối dự án Wikimedia</div> </li> <li> <div>[[File:Commons-logo.svg|31px|link=commons:|Wikimedia Commons]]</div> <div>'''[[commons:|Commons]]'''<br />Kho lưu trữ phương tiện dùng chung</div> </li> <li> <div>[[File:Wikiversity logo 2017.svg|41px|link=v:|Wikiversity]]</div> <div>'''[[v:|Wikiversity]]'''<br />Tài nguyên học tập miễn phí</div> </li> <li> <div>[[File:Wikidata-logo.svg|47px|link=wikidata:|Wikidata]]</div> <div>'''[[wikidata:|Wikidata]]'''<br />Cơ sở tri thức miễn phí</div> </li> <li> <div>[[File:Wikivoyage-Logo-v3-icon.svg|35px|link=voy:|Wikivoyage]]</div> <div>'''[[wikivoyage:|Wikivoyage]]'''<br />Hướng dẫn du lịch mở</div> </li> <li> <div>[[File:Wikifunctions-logo.svg|31px|link=f:|Wikifunctions]]</div> <div>'''[[f:|Wikifunctions]]'''<br />Danh sách các hàm</div> </li> <li> <div>[[File:MediaWiki-2020-icon.svg|35px|link=mw:|MediaWiki]]</div> <div>'''[[mw:|MediaWiki]]'''<br />Phát triển phần mềm Wiki</div> </li> </ul> {{endplainlist}}<noinclude> {{documentation}} </noinclude> 45vq1j5lrvjmadvj2xd9lh0w1exzer4 63663 63651 2026-10-07T15:48:40Z Làm Việc Thiện 13742 Đã lùi lại sửa đổi của [[Special:Contributions/Làm Việc Thiện|Làm Việc Thiện]] ([[User talk:Làm Việc Thiện|thảo luận]]) quay về phiên bản cuối của [[User:Minorax|Minorax]] 58681 wikitext text/x-wiki <div class="center"><div id="qvi-mp-projects" style="margin: 2em;"> <ul class="qvi-inline-list"> [[Tập tin:Wikipedia-logo.svg|35px|link=w:Trang Chính|Wikipedia – Bách khoa toàn thư mở]] [[Tập tin:Wiktsister en.png|35px|link=wikt:Trang Chính|Wiktionary – Từ điển mở]] [[Tập tin:Wikisource-logo.svg|35px|link=s:vi:Trang Chính|Wikisource – Văn thư lưu trữ mở]] [[Tập tin:Wikibooks-logo.svg|35px|link=b:Trang Chính|Wikibooks – Tủ sách mở]] [[Tập tin:Wikispecies-logo.svg|35px|link={{fullurle:species:Wikispecies:Trang Chính|uselang=vi}}|Wikispecies – Danh mục các loài]] [[Tập tin:Wikinews-logo.svg|58px|link={{fullurle:n:vi:Trang Chính|uselang=vi}}|Wikinews – Nguồn tin tức mở]] [[Tập tin:Wikiversity_logo_2017.svg|35px|link={{fullurle:BetaWikiversity:Trang Chính|uselang=vi}}|Wikiversity – Học liệu mở]] [[Tập tin:Wikivoyage-Logo-v3-icon.svg|35px|link=voy:Trang Chính|Wikivoyage – Cẩm nang du lịch mở]] [[Tập tin:Commons-logo.svg|32px|link={{fullurle:Commons:Trang Chính|uselang=vi}}|Commons – Kho tư liệu chung]] [[Tập tin:Wikidata-logo.svg|58px|link=//www.wikidata.org/wiki/Wikidata:Trang_Chính?setlang=vi|Wikidata – Cơ sở kiến thức chung]] [[Tập tin:MediaWiki-2020-icon.svg|40px|link=mw:|MediaWiki]] [[Tập tin:Wikimedia Community Logo optimized.svg|35px|link={{fullurle:m:Trang Chính|uselang=vi}}|Meta-Wiki – Cộng đồng Wikimedia]] </ul> </div></div><noinclude> [[Thể loại:Bản mẫu Trang Chính]] </noinclude> tm7peprbio31wl4cdz33c4ptbx1qg3j 63664 63663 2026-10-07T15:54:02Z Làm Việc Thiện 13742 Restored revision 63651 by [[Special:Contributions/Làm Việc Thiện|Làm Việc Thiện]] ([[User talk:Làm Việc Thiện|talk]]) (TwinkleGlobal) 63664 wikitext text/x-wiki <templatestyles src="Otherwiki/styles.css" /> '''Wikiquote''' được điều hành bởi tổ chức phi lợi nhuận '''[[w:Wikimedia Foundation|Wikimedia Foundation]]''', tổ chức vận hành một số dự án [[Wikipedia:Multilingual coordination|đa ngôn ngữ]] và [[Wikipedia:Copyrights|nội dung tự do]] khác: {{plainlist}} <ul id="sister-projects-list"> <li> <div>[[File:Wiktionary-logo-v2.svg|41px|link=wikt:|Wiktionary]]</div> <div>'''[[wikt:|Wiktionary]]'''<br />Từ điển và từ đồng nghĩa</div> </li> <li> <div>[[File:Wikibooks-logo.svg|41px|link=b:|Wikibooks]]</div> <div><span>[[:b:|Wikibooks]]</span><br/>Sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn miễn phí.</div> </li> <li> <div>[[File:Wikipedia-logo-v2.svg|41px|link=w:|Wikipedia]]</div> <div>'''[[w:|Wikipedia]]'''<br />Bách khoa toàn thư</div> </li> <li> <div>[[File:Wikisource-logo.svg|35px|link=s:|Wikisource]]</div> <div>'''[[s:|Wikisource]]'''<br />Thư viện miễn phí</div> </li> <li> <div>[[File:Wikispecies-logo.svg|35px|link=wikispecies:|Wikispecies]]</div> <div>'''[[wikispecies:|Wikispecies]]'''<br />Danh mục loài</div> </li> <li> <div>[[File:Wikimedia Community Logo.svg|35px|link=m:|Meta-Wiki]]</div> <div>'''[[m:|Meta-Wiki]]'''<br />Điều phối dự án Wikimedia</div> </li> <li> <div>[[File:Commons-logo.svg|31px|link=commons:|Wikimedia Commons]]</div> <div>'''[[commons:|Commons]]'''<br />Kho lưu trữ phương tiện dùng chung</div> </li> <li> <div>[[File:Wikiversity logo 2017.svg|41px|link=v:|Wikiversity]]</div> <div>'''[[v:|Wikiversity]]'''<br />Tài nguyên học tập miễn phí</div> </li> <li> <div>[[File:Wikidata-logo.svg|47px|link=wikidata:|Wikidata]]</div> <div>'''[[wikidata:|Wikidata]]'''<br />Cơ sở tri thức miễn phí</div> </li> <li> <div>[[File:Wikivoyage-Logo-v3-icon.svg|35px|link=voy:|Wikivoyage]]</div> <div>'''[[wikivoyage:|Wikivoyage]]'''<br />Hướng dẫn du lịch mở</div> </li> <li> <div>[[File:Wikifunctions-logo.svg|31px|link=f:|Wikifunctions]]</div> <div>'''[[f:|Wikifunctions]]'''<br />Danh sách các hàm</div> </li> <li> <div>[[File:MediaWiki-2020-icon.svg|35px|link=mw:|MediaWiki]]</div> <div>'''[[mw:|MediaWiki]]'''<br />Phát triển phần mềm Wiki</div> </li> </ul> {{endplainlist}}<noinclude> {{documentation}} </noinclude> 45vq1j5lrvjmadvj2xd9lh0w1exzer4 63665 63664 2026-10-07T15:54:52Z Làm Việc Thiện 13742 63665 wikitext text/x-wiki <templatestyles src="Otherwiki/styles.css" /> '''Wikiquote''' được điều hành bởi tổ chức phi lợi nhuận '''[[w:Wikimedia Foundation|Wikimedia Foundation]]''', tổ chức vận hành một số dự án [[Wikipedia:Multilingual coordination|đa ngôn ngữ]] và [[Wikipedia:Copyrights|nội dung tự do]] khác: {{plainlist}} <ul id="sister-projects-list"> <li> <div>[[Tập tin:Wiktionary-logo-v2.svg|41px|link=wikt:|Wiktionary]]</div> <div>'''[[wikt:|Wiktionary]]'''<br />Từ điển và từ đồng nghĩa</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikibooks-logo.svg|41px|link=b:|Wikibooks]]</div> <div><span>[[:b:|Wikibooks]]</span><br/>Sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn miễn phí.</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikipedia-logo-v2.svg|41px|link=w:|Wikipedia]]</div> <div>'''[[w:|Wikipedia]]'''<br />Bách khoa toàn thư</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikisource-logo.svg|35px|link=s:|Wikisource]]</div> <div>'''[[s:|Wikisource]]'''<br />Thư viện miễn phí</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikispecies-logo.svg|35px|link=wikispecies:|Wikispecies]]</div> <div>'''[[wikispecies:|Wikispecies]]'''<br />Danh mục loài</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikimedia Community Logo.svg|35px|link=m:|Meta-Wiki]]</div> <div>'''[[m:|Meta-Wiki]]'''<br />Điều phối dự án Wikimedia</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Commons-logo.svg|31px|link=commons:|Wikimedia Commons]]</div> <div>'''[[commons:|Commons]]'''<br />Kho lưu trữ phương tiện dùng chung</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikiversity logo 2017.svg|41px|link=v:|Wikiversity]]</div> <div>'''[[v:|Wikiversity]]'''<br />Tài nguyên học tập miễn phí</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikidata-logo.svg|47px|link=wikidata:|Wikidata]]</div> <div>'''[[wikidata:|Wikidata]]'''<br />Cơ sở tri thức miễn phí</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikivoyage-Logo-v3-icon.svg|35px|link=voy:|Wikivoyage]]</div> <div>'''[[wikivoyage:|Wikivoyage]]'''<br />Hướng dẫn du lịch mở</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikifunctions-logo.svg|31px|link=f:|Wikifunctions]]</div> <div>'''[[f:|Wikifunctions]]'''<br />Danh sách các hàm</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:MediaWiki-2020-icon.svg|35px|link=mw:|MediaWiki]]</div> <div>'''[[mw:|MediaWiki]]'''<br />Phát triển phần mềm Wiki</div> </li> </ul> {{endplainlist}}<noinclude> {{documentation}} </noinclude> ab6kynt72ywc6fchyczfqrz2rji0prz 63704 63665 2026-10-08T09:04:54Z Làm Việc Thiện 13742 Đã khóa “[[Bản mẫu:Trang Chính/Dự án]]”: Trang quan trọng có lượng truy cập lớn ([Sửa đổi=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn) [Di chuyển=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn)) 63665 wikitext text/x-wiki <templatestyles src="Otherwiki/styles.css" /> '''Wikiquote''' được điều hành bởi tổ chức phi lợi nhuận '''[[w:Wikimedia Foundation|Wikimedia Foundation]]''', tổ chức vận hành một số dự án [[Wikipedia:Multilingual coordination|đa ngôn ngữ]] và [[Wikipedia:Copyrights|nội dung tự do]] khác: {{plainlist}} <ul id="sister-projects-list"> <li> <div>[[Tập tin:Wiktionary-logo-v2.svg|41px|link=wikt:|Wiktionary]]</div> <div>'''[[wikt:|Wiktionary]]'''<br />Từ điển và từ đồng nghĩa</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikibooks-logo.svg|41px|link=b:|Wikibooks]]</div> <div><span>[[:b:|Wikibooks]]</span><br/>Sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn miễn phí.</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikipedia-logo-v2.svg|41px|link=w:|Wikipedia]]</div> <div>'''[[w:|Wikipedia]]'''<br />Bách khoa toàn thư</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikisource-logo.svg|35px|link=s:|Wikisource]]</div> <div>'''[[s:|Wikisource]]'''<br />Thư viện miễn phí</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikispecies-logo.svg|35px|link=wikispecies:|Wikispecies]]</div> <div>'''[[wikispecies:|Wikispecies]]'''<br />Danh mục loài</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikimedia Community Logo.svg|35px|link=m:|Meta-Wiki]]</div> <div>'''[[m:|Meta-Wiki]]'''<br />Điều phối dự án Wikimedia</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Commons-logo.svg|31px|link=commons:|Wikimedia Commons]]</div> <div>'''[[commons:|Commons]]'''<br />Kho lưu trữ phương tiện dùng chung</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikiversity logo 2017.svg|41px|link=v:|Wikiversity]]</div> <div>'''[[v:|Wikiversity]]'''<br />Tài nguyên học tập miễn phí</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikidata-logo.svg|47px|link=wikidata:|Wikidata]]</div> <div>'''[[wikidata:|Wikidata]]'''<br />Cơ sở tri thức miễn phí</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikivoyage-Logo-v3-icon.svg|35px|link=voy:|Wikivoyage]]</div> <div>'''[[wikivoyage:|Wikivoyage]]'''<br />Hướng dẫn du lịch mở</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:Wikifunctions-logo.svg|31px|link=f:|Wikifunctions]]</div> <div>'''[[f:|Wikifunctions]]'''<br />Danh sách các hàm</div> </li> <li> <div>[[Tập tin:MediaWiki-2020-icon.svg|35px|link=mw:|MediaWiki]]</div> <div>'''[[mw:|MediaWiki]]'''<br />Phát triển phần mềm Wiki</div> </li> </ul> {{endplainlist}}<noinclude> {{documentation}} </noinclude> ab6kynt72ywc6fchyczfqrz2rji0prz Bản mẫu:Trang Chính/Trích dẫn 10 5044 63655 63605 2026-10-07T15:36:22Z Làm Việc Thiện 13742 63655 wikitext text/x-wiki <includeonly>{{Trang Chính/Trích dẫn/nguồn | 1 = Chúng ta kiếm sống bằng những gì mình nhận được, nhưng ta tạo nên một cuộc đời bằng những gì mình cho đi. | 2 = Winston Churchill | 3 = }}</includeonly><noinclude> [[Thể loại:Bản mẫu Trang Chính]] </noinclude> fhhwgtzgbdkqm7bam2gele6wpu9ofj4 63667 63655 2026-10-07T16:05:21Z Làm Việc Thiện 13742 63667 wikitext text/x-wiki <includeonly>{{Trang Chính/Trích dẫn/nguồn | 1 = Ta sống bằng thứ ta thu được, nhưng ta tạo ra cuộc đời bằng thứ ta cho đi. | 2 = Winston Churchill | 3 = }}</includeonly><noinclude> [[Thể loại:Bản mẫu Trang Chính]] </noinclude> d2tmyhtsi2s7uxif2au7d4anfp1180p Võ Nguyên Giáp 0 8155 63709 55802 2026-10-08T09:26:54Z Làm Việc Thiện 13742 /* Trích dẫn */ 63709 wikitext text/x-wiki '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} kr8qw6titx0lsnt9yudpw4mm8i0agce 63711 63709 2026-10-08T09:28:04Z Làm Việc Thiện 13742 63711 wikitext text/x-wiki '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} 24aco88x7atsx5serrredeeyhq66ctm 63712 63711 2026-10-08T09:33:48Z Làm Việc Thiện 13742 63712 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng [[w:Israel Defense Forces|Lực lượng Phòng vệ Israel]] đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==External links== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Death and state funeral of Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Vo Nguyen Giap}} 0zp9mkm77lffiivjj6tem4hsmsw3fw9 63713 63712 2026-10-08T09:34:03Z Làm Việc Thiện 13742 /* External links */ 63713 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng [[w:Israel Defense Forces|Lực lượng Phòng vệ Israel]] đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Death and state funeral of Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Vo Nguyen Giap}} jo2c6t6bqm83yrtpc0ylvqaln880xx9 63714 63713 2026-10-08T09:37:29Z Làm Việc Thiện 13742 /* Thập niên 1990 */ 63714 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng [[w:Israel Defense Forces|Lực lượng Phòng vệ Israel]] đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Death and state funeral of Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Vo Nguyen Giap}} st4vtjpuwn3ago0v17wnas70zjdt7j8 63715 63714 2026-10-08T09:37:52Z Làm Việc Thiện 13742 /* Trích dẫn */ 63715 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng [[w:Israel Defense Forces|Lực lượng Phòng vệ Israel]] đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Death and state funeral of Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Vo Nguyen Giap}} lw1vg0avwqw5gi87bpmg1ppnphgipkc 63716 63715 2026-10-08T09:39:58Z Làm Việc Thiện 13742 63716 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng [[w:Israel Defense Forces|Lực lượng Phòng vệ Israel]] đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Vo Nguyen Giap}} 3zsqfw782fiagin25zm90q505h9k3aq 63717 63716 2026-10-08T09:40:27Z Làm Việc Thiện 13742 /* Liên kết ngoài */ 63717 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng [[w:Israel Defense Forces|Lực lượng Phòng vệ Israel]] đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} oe15nk6fp8onezfm9v6bcqmp6zqud6r 63718 63717 2026-10-08T09:41:51Z Làm Việc Thiện 13742 /* Trích dẫn */ 63718 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có [[chủ nghĩa anh hùng]] vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng [[w:Israel Defense Forces|Lực lượng Phòng vệ Israel]] đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} g5mb2ok94hdzxauprv2t774wowx4bvo 63719 63718 2026-10-08T09:42:25Z Làm Việc Thiện 13742 /* Trích dẫn */ 63719 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng [[w:Israel Defense Forces|Lực lượng Phòng vệ Israel]] đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} i32l1qnkkzkmle3aunmi97p9jzntmp8 63720 63719 2026-10-08T09:44:02Z Làm Việc Thiện 13742 63720 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc [[chiến tranh nhân dân]], à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} 9ijkavafi56ibwq092c2nvfqz1yfd3d 63721 63720 2026-10-08T09:44:27Z Làm Việc Thiện 13742 63721 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc {w|chiến tranh nhân dân}}, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} 3kyf5or03onalszgewsy9sknpok1qnh 63722 63721 2026-10-08T09:44:50Z Làm Việc Thiện 13742 63722 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc {{w|chiến tranh nhân dân}}, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} 1rq38rkzhr66ermeao1p59ord8m5c4y 63723 63722 2026-10-08T09:45:08Z Làm Việc Thiện 13742 /* Thập niên 1990 */ 63723 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Surrender of Japan|quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Allies of World War II|lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[w:End of World War II in Asia|chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:People's democracy (Marxism–Leninism)|dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {{w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc {{w|chiến tranh nhân dân}}, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} no1dka0fe855ci2htmaof2eyf9q2gkg 63724 63723 2026-10-08T09:46:22Z Làm Việc Thiện 13742 /* Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962) */ 63724 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, [[w:Quân đội Nhật Bản đầu hàng]] trước {{w|Quân đội Liên Xô}} và [[w:Lực lượng Đồng Minh]], chấm dứt [[Chiến tranh thế giới]]. Sự thất bại của [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống [[chủ nghĩa tư bản|tư bản chủ nghĩa]]. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền [[w:dân chủ nhân dân]] ra đời. Hệ thống [[chủ nghĩa xã hội|xã hội chủ nghĩa]] không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, [[w:Indochinese Communist Party|Đảng Cộng sản Đông Dương]] và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, [[w:August Revolution|Cách mạng]] bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu [[chủ nghĩa đế quốc|xâm lược của chủ nghĩa đế quốc]]. [[w:North Vietnam|Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, [[w:French Far East Expeditionary Corps|Quân viễn chinh Pháp]] nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {{w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc {{w|chiến tranh nhân dân}}, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} lr2xc9hrzeqvo1qmk8y78ydreimjats 63725 63724 2026-10-08T09:48:07Z Làm Việc Thiện 13742 /* Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962) */ 63725 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, Quân đội Nhật Bản đầu hàng trước Quân đội Liên Xô và Lực lượng Đồng Minh, chấm dứt Chiến tranh thế giới. Sự thất bại của phát xít Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền dân chủ nhân dân ra đời. Hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, Cách mạng bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, Quân viễn chinh Pháp nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {{w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc {{w|chiến tranh nhân dân}}, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} lleoluaazt2jlumy5y5s4rinyppwgeu 63726 63725 2026-10-08T09:49:27Z Làm Việc Thiện 13742 /* Trích dẫn */ 63726 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, Quân đội Nhật Bản đầu hàng trước Quân đội Liên Xô và Lực lượng Đồng Minh, chấm dứt Chiến tranh thế giới. Sự thất bại của phát xít Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền dân chủ nhân dân ra đời. Hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, Cách mạng bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, Quân viễn chinh Pháp nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {{w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc {{w|chiến tranh nhân dân}}, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng kết: ::''"Dân tộc ta có thể tự hào rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] kính yêu, chúng ta đã chứng minh một chân lý vĩ đại. Chân lý đó là trong thời đại ngày nay một dân tộc [[thuộc địa]] bị áp bức, khi đã biết đứng dậy đoàn kết đấu tranh, kiên quyết chiến đấu cho độc lập, [[tự do]] và chủ nghĩa xã hội thì có đầy đủ khả năng để chiến thắng quân đội [[xâm lược]] hùng mạnh của một nước [[chủ nghĩa đế quốc|đế quốc chủ nghĩa]]"''.<ref>[http://www.vietnamplus.vn/vi-tong-chi-huy-chien-dich-dien-bien-phu-lich-su/103726.vnp Vị Tổng chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử | Vietnam+ (VietnamPlus)<!-- Bot generated title -->] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210524012230/https://www.vietnamplus.vn/vi-tong-chi-huy-chien-dich-dien-bien-phu-lich-su/103726.vnp |date=2021-05-24 }} Mạnh Thường, Vietnam+, 13/08/11 08:00</ref> ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} gn33wo7ymyrgudvv353gyypzhylkpwm 63727 63726 2026-10-08T09:50:51Z Làm Việc Thiện 13742 /* Trích dẫn */ 63727 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, Quân đội Nhật Bản đầu hàng trước Quân đội Liên Xô và Lực lượng Đồng Minh, chấm dứt Chiến tranh thế giới. Sự thất bại của phát xít Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền dân chủ nhân dân ra đời. Hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, Cách mạng bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, Quân viễn chinh Pháp nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 ==Giai đoạn làm Phó Thủ tướng phụ trách các lĩnh vực dân sự== {{cquote|''"Kế hoạch hóa gia đình cũng như vấn đề dân số là rất quan trọng với toàn thế giới chứ không riêng đất nước mình. Nhiều nước Thủ tướng phụ trách việc này. Hồi đó, Thủ tướng [[Phạm Văn Đồng]] bận nhiều việc nên vừa là phân công vừa là nhờ cậy tôi đảm nhận. Mà đã là nhiệm vụ thì nhiệm vụ nào cũng phải vượt qua như truyền thống của bộ đội cụ Hồ"''|}} === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {{w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc {{w|chiến tranh nhân dân}}, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng kết: ::''"Dân tộc ta có thể tự hào rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] kính yêu, chúng ta đã chứng minh một chân lý vĩ đại. Chân lý đó là trong thời đại ngày nay một dân tộc [[thuộc địa]] bị áp bức, khi đã biết đứng dậy đoàn kết đấu tranh, kiên quyết chiến đấu cho độc lập, [[tự do]] và chủ nghĩa xã hội thì có đầy đủ khả năng để chiến thắng quân đội [[xâm lược]] hùng mạnh của một nước [[chủ nghĩa đế quốc|đế quốc chủ nghĩa]]"''.<ref>[http://www.vietnamplus.vn/vi-tong-chi-huy-chien-dich-dien-bien-phu-lich-su/103726.vnp Vị Tổng chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử | Vietnam+ (VietnamPlus)<!-- Bot generated title -->] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210524012230/https://www.vietnamplus.vn/vi-tong-chi-huy-chien-dich-dien-bien-phu-lich-su/103726.vnp |date=2021-05-24 }} Mạnh Thường, Vietnam+, 13/08/11 08:00</ref> ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} dnendviuein5ydu64znvnzqmgf3ur74 63728 63727 2026-10-08T09:52:42Z Làm Việc Thiện 13742 /* Trích dẫn */ 63728 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == ::"''Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (tức [[Lê Duẩn]]) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc... Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói với tôi: "Anh (tức Võ Nguyên Giáp) là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo''"."<ref>{{Harvnb|Nguyễn Khoa Điềm|2002}}</ref> {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, Quân đội Nhật Bản đầu hàng trước Quân đội Liên Xô và Lực lượng Đồng Minh, chấm dứt Chiến tranh thế giới. Sự thất bại của phát xít Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền dân chủ nhân dân ra đời. Hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, Cách mạng bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, Quân viễn chinh Pháp nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 ==Giai đoạn làm Phó Thủ tướng phụ trách các lĩnh vực dân sự== {{cquote|''"Kế hoạch hóa gia đình cũng như vấn đề dân số là rất quan trọng với toàn thế giới chứ không riêng đất nước mình. Nhiều nước Thủ tướng phụ trách việc này. Hồi đó, Thủ tướng [[Phạm Văn Đồng]] bận nhiều việc nên vừa là phân công vừa là nhờ cậy tôi đảm nhận. Mà đã là nhiệm vụ thì nhiệm vụ nào cũng phải vượt qua như truyền thống của bộ đội cụ Hồ"''|}} === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {{w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc {{w|chiến tranh nhân dân}}, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng kết: ::''"Dân tộc ta có thể tự hào rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] kính yêu, chúng ta đã chứng minh một chân lý vĩ đại. Chân lý đó là trong thời đại ngày nay một dân tộc [[thuộc địa]] bị áp bức, khi đã biết đứng dậy đoàn kết đấu tranh, kiên quyết chiến đấu cho độc lập, [[tự do]] và chủ nghĩa xã hội thì có đầy đủ khả năng để chiến thắng quân đội [[xâm lược]] hùng mạnh của một nước [[chủ nghĩa đế quốc|đế quốc chủ nghĩa]]"''.<ref>[http://www.vietnamplus.vn/vi-tong-chi-huy-chien-dich-dien-bien-phu-lich-su/103726.vnp Vị Tổng chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử | Vietnam+ (VietnamPlus)<!-- Bot generated title -->] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210524012230/https://www.vietnamplus.vn/vi-tong-chi-huy-chien-dich-dien-bien-phu-lich-su/103726.vnp |date=2021-05-24 }} Mạnh Thường, Vietnam+, 13/08/11 08:00</ref> ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} 9yuzejokcj649fil2u89p45med116wu 63748 63728 2026-10-08T10:47:05Z Làm Việc Thiện 13742 /* Giai đoạn làm Phó Thủ tướng phụ trách các lĩnh vực dân sự */ 63748 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp(cropped).jpg|thumb|{{w|Võ Nguyên Giáp}}]] '''Võ Nguyên Giáp''' (25 tháng 8 năm 1911 - 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị gia người Việt Nam. Ông là {{w|Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam|Đại tướng đầu tiên}}, Tổng Tư lệnh tối cao của {{w|Quân đội nhân dân Việt Nam}}, một trong những người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và là chỉ huy trưởng của các chiến dịch trong {{w|Chiến tranh Đông Dương}} (1946–1954), {{w|Chiến tranh Việt Nam}} (1955–1975) và {{w|Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|Chiến tranh biên giới Việt – Trung}} (1979). == Trích dẫn == ::"''Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (tức [[Lê Duẩn]]) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc... Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói với tôi: "Anh (tức Võ Nguyên Giáp) là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo''"."<ref>{{Harvnb|Nguyễn Khoa Điềm|2002}}</ref> {{cquote| ''Kẻ địch mạnh thì ta tránh chúng. Kẻ địch yếu thì ta đánh chúng. Nơi nào có du kích là có mặt trận, kể cả sau phòng tuyến địch. Đối phó với trang bị tối tân của chúng, chúng ta có {{w|chủ nghĩa anh hùng}} vô bờ bến''<ref>Jame Fox. The Sunday Times Magazine, 7-1972</ref>}} {{cquote| ''Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng.''<ref>Phim tài liệu: Indochina People's War in Colour. History Channel, tập 2</ref>}} * Nghệ thuật quân sự của chúng ta, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng ta đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng. === ''Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân (1962)'' === :<small>[https://www.marxists.org/archive/giap/1961-pwpa.pdf Văn bản trực tuyến].</small> * Tháng 8 năm 1945, Quân đội Nhật Bản đầu hàng trước Quân đội Liên Xô và Lực lượng Đồng Minh, chấm dứt Chiến tranh thế giới. Sự thất bại của phát xít Đức và Nhật Bản là khởi đầu cho sự suy yếu mạnh mẽ của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Sau thắng lợi lớn của [[Liên Xô]], nhiều nền dân chủ nhân dân ra đời. Hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn giới hạn trong biên giới của một quốc gia duy nhất. Một kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu trên thế giới. Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh đã kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa. Khắp nơi, nhân dân đồng loạt đứng lên. Các cuộc biểu tình và những hoạt động biểu dương lực lượng diễn ra liên tiếp. Tháng 8, Cách mạng bùng nổ, vô hiệu hóa quân Nhật đang hoang mang, lật đổ chính quyền phong kiến thân Nhật và thiết lập chính quyền nhân dân tại Hà Nội cũng như trên toàn quốc, ở cả thành thị và nông thôn, từ Bắc Bộ đến Nam Bộ. Tại Hà Nội, thủ đô, ngày 2 tháng 9, chính phủ lâm thời được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]]; chính phủ ra mắt quốc dân, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam và kêu gọi toàn dân đoàn kết, sẵn sàng bảo vệ đất nước và chống lại mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trở thành nền dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, các thế lực đế quốc tìm cách bóp chết chế độ cộng hòa ngay từ trong trứng nước và một lần nữa biến [[Việt Nam]] thành thuộc địa. Chưa đầy ba tuần sau, ngày 23 tháng 9 năm 1945, Quân viễn chinh Pháp nổ súng tại Sài Gòn. Cuộc chiến kéo dài trong chín năm, với tinh thần anh hùng chưa từng có và giữa những khó khăn không thể tưởng tượng nổi, kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta và thất bại nặng nề của lực lượng đế quốc xâm lược tại Điện Biên Phủ. ... '''Chưa bao giờ có nhiều quân đội nước ngoài như vậy trên đất Việt Nam. Nhưng cũng chưa bao giờ nhân dân Việt Nam quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ đất nước đến như vậy.''' ** tr. 4–5 ===Giai đoạn làm Phó Thủ tướng phụ trách các lĩnh vực dân sự=== {{cquote|''"Kế hoạch hóa gia đình cũng như vấn đề dân số là rất quan trọng với toàn thế giới chứ không riêng đất nước mình. Nhiều nước Thủ tướng phụ trách việc này. Hồi đó, Thủ tướng [[Phạm Văn Đồng]] bận nhiều việc nên vừa là phân công vừa là nhờ cậy tôi đảm nhận. Mà đã là nhiệm vụ thì nhiệm vụ nào cũng phải vượt qua như truyền thống của bộ đội cụ Hồ"''|}} === Thập niên 1990 === * Hãy nghe này, người Palestine luôn đến đây và nói với tôi: 'Các ông đã đuổi người Pháp và người Mỹ. Làm thế nào chúng tôi đuổi được người Do Thái?' Tôi nói với họ rằng người Pháp đã trở về Pháp và người Mỹ trở về Mỹ. Nhưng người Do Thái không có nơi nào để đi. Các bạn sẽ không thể đuổi họ đi. ** Được [https://www.timesofisrael.com/hamass-forever-war-against-israel-has-a-glitch-and-it-isnt-iron-dome/ Haviv Rettig Gur của The Times of Israel] dẫn lại; ông cho biết đã nghe câu nói này từ Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Eran Lerman vào năm 2021. Lerman được cho là đã nghe câu nói này từ Thiếu tướng {{w|Lực lượng Phòng vệ Israel}} đã nghỉ hưu Yossi Ben Hanan, người được cho là đã nghe nó từ Giáp trong một cuộc trò chuyện vào thập niên 1990. Võ Nguyên Giáp giải thích chiến lược đánh Mỹ của ông: {{cquote|''Chúng tôi không đủ mạnh để đuổi nửa triệu quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng đó không phải là mục đích của chúng tôi. Chúng tôi tìm cách bẻ gãy ý chí kéo dài chiến tranh của chính phủ Mỹ. Westmoreland đã sai lầm khi dựa vào sức mạnh hỏa lực vượt trội của ông ta để nghiền nát chúng tôi. Các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc của chúng tôi cũng không nắm bắt được cách giải quyết của chúng tôi khi họ cật vấn rằng, chúng tôi có bao nhiêu sư đoàn, ít hay nhiều so với quân Mỹ, làm thế nào chúng tôi đối phó nổi kỹ thuật của Mỹ, pháo binh Mỹ hoặc các cuộc tấn công của người Mỹ. Chúng tôi đang tiến hành cuộc {{w|chiến tranh nhân dân}}, à la manière vietnamienne (theo kiểu Việt Nam) – một cuộc chiến tranh toàn diện, tổng lực trong đó mỗi người đàn ông, mỗi người phụ nữ, mỗi đơn vị, dù lớn hay nhỏ, đều được duy trì từ toàn dân đã được động viên. Cho nên, những vũ khí tinh vi của người Mỹ, những thiết bị điện tử và những thứ đại loại như vậy đều vô dụng. Cho dù có sức mạnh quân sự, người Mỹ đã tính toán sai những hạn chế trong sức mạnh của mình. Trong chiến tranh chỉ có hai yếu tố - con người và vũ khí. Dù vậy, cuối cùng con người vẫn là nhân tố quyết định. Con người! Con người!''|}} {{cquote|''Lính Mỹ rất dũng cảm, nhưng can đảm chưa đủ. David không giết được Goliath chỉ bằng dũng cảm. Anh ta nhìn lên Goliath và nhận ra nếu anh đấu kiếm với hắn, Goliath sẽ giết chết anh nhưng nếu David nhặt một hòn đá và đặt vào cái súng cao su của mình, anh có thể bắn trúng đầu Goliath, khiến Goliath ngã xuống và giết Goliath. David đã sử dụng cái đầu khi chiến đấu với Goliath. Người Việt Nam chúng tôi cũng làm như thế khi phải chiến đấu với người Mỹ.''<ref>{{Chú thích báo | tác giả=Neil Sheehan | url=https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0 | tên bài=David and Goliath in Vietnam | nhà xuất bản=The New York Times | ngày=2017-05-26 | ngôn ngữ=en | access-date = ngày 15 tháng 6 năm 2017 | archive-date = ngày 25 tháng 6 năm 2018 | archive-url=https://web.archive.org/web/20180625185934/https://www.nytimes.com/2017/05/26/opinion/sunday/david-and-goliath-in-vietnam.html?_r=0}}</ref>}} Đại tướng Võ Nguyên Giáp tổng kết: ::''"Dân tộc ta có thể tự hào rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] kính yêu, chúng ta đã chứng minh một chân lý vĩ đại. Chân lý đó là trong thời đại ngày nay một dân tộc [[thuộc địa]] bị áp bức, khi đã biết đứng dậy đoàn kết đấu tranh, kiên quyết chiến đấu cho độc lập, [[tự do]] và chủ nghĩa xã hội thì có đầy đủ khả năng để chiến thắng quân đội [[xâm lược]] hùng mạnh của một nước [[chủ nghĩa đế quốc|đế quốc chủ nghĩa]]"''.<ref>[http://www.vietnamplus.vn/vi-tong-chi-huy-chien-dich-dien-bien-phu-lich-su/103726.vnp Vị Tổng chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử | Vietnam+ (VietnamPlus)<!-- Bot generated title -->] {{Webarchive|url=https://web.archive.org/web/20210524012230/https://www.vietnamplus.vn/vi-tong-chi-huy-chien-dich-dien-bien-phu-lich-su/103726.vnp |date=2021-05-24 }} Mạnh Thường, Vietnam+, 13/08/11 08:00</ref> ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{Wikipedia}} {{Wikipedia|Cái chết và quốc tang Võ Nguyên Giáp}} {{Commons category|Võ Nguyên Giáp}} 0xaywvx72aee2x1hi5rqew3b0jmjrpr Bản mẫu:Wikiquotelang 10 8212 63668 63603 2026-10-07T16:24:07Z Làm Việc Thiện 13742 63668 wikitext text/x-wiki {{#switch:{{FULLPAGENAME}}|Special:Statistics=|Wikiquote Tiếng Việt hiện tại có [[Special:Statistics|{{NUMBEROFARTICLES}}]] bài viết.&#32;}}[[Wikiquote:Wikiquote bằng các ngôn ngữ khác#Wikiquote đang hoạt động|Nhiều dự án Wikiquote khác]] có sẵn: <div id="lang-4"> [[:en:|Tiếng Anh]]&nbsp;&ndash; [[:af:|Tiếng Afrikaans]]&nbsp;&ndash; [[:sq:|Tiếng Albania]]&nbsp;&ndash; [[:ar:|Tiếng Ả Rập]]&nbsp;&ndash; [[:hy:|Tiếng Armenian]]&nbsp;&ndash; [[:az:|Tiếng Azerbaijan]]&nbsp;&ndash; [[:eu:|Tiếng Basque]]&nbsp;&ndash; [[:bs:|Tiếng Bosnian]]&nbsp;&ndash; [[:bg:|Tiếng Bulgarian]]&nbsp;&ndash; [[:ca:|Tiếng Catalan]]&nbsp;&ndash; [[:zh:|Tiếng Trung]]&nbsp;&ndash; [[:hr:|Tiếng Croatian]]&nbsp;&ndash; [[:cs:|Tiếng Séc]]&nbsp;&ndash; [[:da:|Tiếng Đan Mạch]]&nbsp;&ndash; [[:nl:|Tiếng Hà Lan]]&nbsp;&ndash; [[:eo:|Tiếng Esperanto]]&nbsp;&ndash; [[:et:|Tiếng Estonian]]&nbsp;&ndash; [[:fi:|Tiếng Phần Lan]]&nbsp;&ndash; [[:fr:|Tiếng Pháp]]&nbsp;&ndash; [[:gl:|Tiếng Galician]]&nbsp;&ndash; [[:ka:|Tiếng Georgian]]&nbsp;&ndash; [[:de:|Tiếng Đức]]&nbsp;&ndash; [[:el:|Tiếng Hy Lạp]]&nbsp;&ndash; [[:he:|Tiếng Do Thái]]&nbsp;&ndash; [[:hu:|Tiếng Hungarian]]&nbsp;&ndash; [[:is:|Tiếng Icelandic]]&nbsp;&ndash; [[:id:|Tiếng Indonesia]]&nbsp;&ndash; [[:it:|Tiếng Ý]]&nbsp;&ndash; [[:ja:|Tiếng Nhật]]&nbsp;&ndash; [[:ko:|Tiếng Hàn]]&nbsp;&ndash; [[:ku:|Tiếng Kurdish]]&nbsp;&ndash; [[:li:|Tiếng Limburgian]]&nbsp;&ndash; [[:lt:|Tiếng Lithuanian]]&nbsp;&ndash; [[:ml:|Tiếng Malayalam]]&nbsp;&ndash; [[:no:|Tiếng Na Uy]]&nbsp;&ndash; [[:nn:|Tiếng Na Uy (Nynorsk)]]&nbsp;&ndash; [[:fa:|Tiếng Ba Tư]]&nbsp;&ndash; [[:pl:|Tiếng Polish]]&nbsp;&ndash; [[:pt:|Tiếng Bồ Đào Nha]]&nbsp;&ndash; [[:ro:|Tiếng Romanian]]&nbsp;&ndash; [[:ru:|Tiếng Nga]]&nbsp;&ndash; [[:sr:|Tiếng Serbian]]&nbsp;&ndash; [[:sk:|Tiếng Slovak]]&nbsp;&ndash; [[:sl:|Tiếng Slovenian]]&nbsp;&ndash; [[:es:|Tiếng Tây Ban Nha]]&nbsp;&ndash; [[:sv:|Tiếng Thụy Điển]]&nbsp;&ndash; [[:ta:|Tiếng Tamil]]&nbsp;&ndash; [[:te:|Tiếng Telugu]]&nbsp;&ndash; [[:th:|Tiếng Thái Lan]]&nbsp;&ndash; [[:tr:|Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ]]&nbsp;&ndash; [[:uk:|Tiếng Ukrainian]]&nbsp;&ndash; [[:vi:Trang Chính|Tiếng Việt]]&nbsp;&ndash; [[:cy:|Tiếng Welsh]] </div><noinclude> [[Category:Bản mẫu Trang Chính|{{PAGENAME}}]]</noinclude> 1vgwq55tdf71i9r2xelihvw25xxe7qj 63700 63668 2026-10-08T08:52:07Z Làm Việc Thiện 13742 63700 wikitext text/x-wiki {{#switch:{{FULLPAGENAME}}|Special:Statistics=|Wikiquote Tiếng Việt hiện tại có [[Special:Statistics|{{NUMBEROFARTICLES}}]] bài viết.&#32;}} Nhiều dự án Wikiquote khác có sẵn: <div id="lang-4"> [[:en:|Tiếng Anh]]&nbsp;&ndash; [[:af:|Tiếng Afrikaans]]&nbsp;&ndash; [[:sq:|Tiếng Albania]]&nbsp;&ndash; [[:ar:|Tiếng Ả Rập]]&nbsp;&ndash; [[:hy:|Tiếng Armenian]]&nbsp;&ndash; [[:az:|Tiếng Azerbaijan]]&nbsp;&ndash; [[:eu:|Tiếng Basque]]&nbsp;&ndash; [[:bs:|Tiếng Bosnian]]&nbsp;&ndash; [[:bg:|Tiếng Bulgarian]]&nbsp;&ndash; [[:ca:|Tiếng Catalan]]&nbsp;&ndash; [[:zh:|Tiếng Trung]]&nbsp;&ndash; [[:hr:|Tiếng Croatian]]&nbsp;&ndash; [[:cs:|Tiếng Séc]]&nbsp;&ndash; [[:da:|Tiếng Đan Mạch]]&nbsp;&ndash; [[:nl:|Tiếng Hà Lan]]&nbsp;&ndash; [[:eo:|Tiếng Esperanto]]&nbsp;&ndash; [[:et:|Tiếng Estonian]]&nbsp;&ndash; [[:fi:|Tiếng Phần Lan]]&nbsp;&ndash; [[:fr:|Tiếng Pháp]]&nbsp;&ndash; [[:gl:|Tiếng Galician]]&nbsp;&ndash; [[:ka:|Tiếng Georgian]]&nbsp;&ndash; [[:de:|Tiếng Đức]]&nbsp;&ndash; [[:el:|Tiếng Hy Lạp]]&nbsp;&ndash; [[:he:|Tiếng Do Thái]]&nbsp;&ndash; [[:hu:|Tiếng Hungarian]]&nbsp;&ndash; [[:is:|Tiếng Icelandic]]&nbsp;&ndash; [[:id:|Tiếng Indonesia]]&nbsp;&ndash; [[:it:|Tiếng Ý]]&nbsp;&ndash; [[:ja:|Tiếng Nhật]]&nbsp;&ndash; [[:ko:|Tiếng Hàn]]&nbsp;&ndash; [[:ku:|Tiếng Kurdish]]&nbsp;&ndash; [[:li:|Tiếng Limburgian]]&nbsp;&ndash; [[:lt:|Tiếng Lithuanian]]&nbsp;&ndash; [[:ml:|Tiếng Malayalam]]&nbsp;&ndash; [[:no:|Tiếng Na Uy]]&nbsp;&ndash; [[:nn:|Tiếng Na Uy (Nynorsk)]]&nbsp;&ndash; [[:fa:|Tiếng Ba Tư]]&nbsp;&ndash; [[:pl:|Tiếng Polish]]&nbsp;&ndash; [[:pt:|Tiếng Bồ Đào Nha]]&nbsp;&ndash; [[:ro:|Tiếng Romanian]]&nbsp;&ndash; [[:ru:|Tiếng Nga]]&nbsp;&ndash; [[:sr:|Tiếng Serbian]]&nbsp;&ndash; [[:sk:|Tiếng Slovak]]&nbsp;&ndash; [[:sl:|Tiếng Slovenian]]&nbsp;&ndash; [[:es:|Tiếng Tây Ban Nha]]&nbsp;&ndash; [[:sv:|Tiếng Thụy Điển]]&nbsp;&ndash; [[:ta:|Tiếng Tamil]]&nbsp;&ndash; [[:te:|Tiếng Telugu]]&nbsp;&ndash; [[:th:|Tiếng Thái Lan]]&nbsp;&ndash; [[:tr:|Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ]]&nbsp;&ndash; [[:uk:|Tiếng Ukrainian]]&nbsp;&ndash; [[:vi:Trang Chính|Tiếng Việt]]&nbsp;&ndash; [[:cy:|Tiếng Welsh]] </div><noinclude> [[Category:Bản mẫu Trang Chính|{{PAGENAME}}]]</noinclude> st57w3s7lwm4a4ilr0dp3mrkq0a2zdq 63703 63700 2026-10-08T09:04:06Z Làm Việc Thiện 13742 Đã khóa “[[Bản mẫu:Wikiquotelang]]”: Trang quan trọng có lượng truy cập lớn ([Sửa đổi=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn) [Di chuyển=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn)) 63700 wikitext text/x-wiki {{#switch:{{FULLPAGENAME}}|Special:Statistics=|Wikiquote Tiếng Việt hiện tại có [[Special:Statistics|{{NUMBEROFARTICLES}}]] bài viết.&#32;}} Nhiều dự án Wikiquote khác có sẵn: <div id="lang-4"> [[:en:|Tiếng Anh]]&nbsp;&ndash; [[:af:|Tiếng Afrikaans]]&nbsp;&ndash; [[:sq:|Tiếng Albania]]&nbsp;&ndash; [[:ar:|Tiếng Ả Rập]]&nbsp;&ndash; [[:hy:|Tiếng Armenian]]&nbsp;&ndash; [[:az:|Tiếng Azerbaijan]]&nbsp;&ndash; [[:eu:|Tiếng Basque]]&nbsp;&ndash; [[:bs:|Tiếng Bosnian]]&nbsp;&ndash; [[:bg:|Tiếng Bulgarian]]&nbsp;&ndash; [[:ca:|Tiếng Catalan]]&nbsp;&ndash; [[:zh:|Tiếng Trung]]&nbsp;&ndash; [[:hr:|Tiếng Croatian]]&nbsp;&ndash; [[:cs:|Tiếng Séc]]&nbsp;&ndash; [[:da:|Tiếng Đan Mạch]]&nbsp;&ndash; [[:nl:|Tiếng Hà Lan]]&nbsp;&ndash; [[:eo:|Tiếng Esperanto]]&nbsp;&ndash; [[:et:|Tiếng Estonian]]&nbsp;&ndash; [[:fi:|Tiếng Phần Lan]]&nbsp;&ndash; [[:fr:|Tiếng Pháp]]&nbsp;&ndash; [[:gl:|Tiếng Galician]]&nbsp;&ndash; [[:ka:|Tiếng Georgian]]&nbsp;&ndash; [[:de:|Tiếng Đức]]&nbsp;&ndash; [[:el:|Tiếng Hy Lạp]]&nbsp;&ndash; [[:he:|Tiếng Do Thái]]&nbsp;&ndash; [[:hu:|Tiếng Hungarian]]&nbsp;&ndash; [[:is:|Tiếng Icelandic]]&nbsp;&ndash; [[:id:|Tiếng Indonesia]]&nbsp;&ndash; [[:it:|Tiếng Ý]]&nbsp;&ndash; [[:ja:|Tiếng Nhật]]&nbsp;&ndash; [[:ko:|Tiếng Hàn]]&nbsp;&ndash; [[:ku:|Tiếng Kurdish]]&nbsp;&ndash; [[:li:|Tiếng Limburgian]]&nbsp;&ndash; [[:lt:|Tiếng Lithuanian]]&nbsp;&ndash; [[:ml:|Tiếng Malayalam]]&nbsp;&ndash; [[:no:|Tiếng Na Uy]]&nbsp;&ndash; [[:nn:|Tiếng Na Uy (Nynorsk)]]&nbsp;&ndash; [[:fa:|Tiếng Ba Tư]]&nbsp;&ndash; [[:pl:|Tiếng Polish]]&nbsp;&ndash; [[:pt:|Tiếng Bồ Đào Nha]]&nbsp;&ndash; [[:ro:|Tiếng Romanian]]&nbsp;&ndash; [[:ru:|Tiếng Nga]]&nbsp;&ndash; [[:sr:|Tiếng Serbian]]&nbsp;&ndash; [[:sk:|Tiếng Slovak]]&nbsp;&ndash; [[:sl:|Tiếng Slovenian]]&nbsp;&ndash; [[:es:|Tiếng Tây Ban Nha]]&nbsp;&ndash; [[:sv:|Tiếng Thụy Điển]]&nbsp;&ndash; [[:ta:|Tiếng Tamil]]&nbsp;&ndash; [[:te:|Tiếng Telugu]]&nbsp;&ndash; [[:th:|Tiếng Thái Lan]]&nbsp;&ndash; [[:tr:|Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ]]&nbsp;&ndash; [[:uk:|Tiếng Ukrainian]]&nbsp;&ndash; [[:vi:Trang Chính|Tiếng Việt]]&nbsp;&ndash; [[:cy:|Tiếng Welsh]] </div><noinclude> [[Category:Bản mẫu Trang Chính|{{PAGENAME}}]]</noinclude> st57w3s7lwm4a4ilr0dp3mrkq0a2zdq Bản mẫu:Chào mừng 10 10528 63686 63335 2026-10-08T02:26:11Z Làm Việc Thiện 13742 63686 wikitext text/x-wiki ==Chào mừng== Xin chào, {{<includeonly>safesubst:</includeonly>BASEPAGENAME}}, và chào mừng bạn đến với [[Wikiquote:About|Wikiquote tiếng việt]], một tuyển tập các câu trích dẫn miễn phí được biên soạn cộng tác bởi những người giống như bạn! * Để có cái nhìn tổng quan nhanh về Wikiquote, hãy đọc [[Wikiquote:Wikiquote]]. ** Xem thêm [[Wikiquote:Những gì không phải là Wikiquote|Những gì không phải là Wikiquote]] để biết về các hoạt động phổ biến mà Wikiquote không hỗ trợ. * Để duyệt Wikiquote, hãy xem [[Wikiquote:Browse|trang chủ duyệt web]]. * Trước khi tạo bài viết mới, hãy tham khảo [[Wikiquote:Hướng dẫn về bố cục|Hướng dẫn về bố cục]]. Bạn có thể thực hành [[Wikiquote:Cách chỉnh sửa một trang|Cách chỉnh sửa một trang]] tại [[Wikiquote:Sandbox|Chỗ thử]]. * Vui lòng nhớ sử dụng [[Help:Edit summary|tóm lược sửa đổi]] khi chỉnh sửa các trang. * Khi đăng bài trong một cuộc thảo luận, [[Wikiquote:Chữ ký|vui lòng ký tên kèm ngày tháng]] bằng cách viết bốn dấu ngã (~&#126;~~) rồi lưu lại. * [[w:vi:Wikipedia:Hãy táo bạo|Hãy mạnh dạn]]. Nếu bạn muốn xin lời khuyên hoặc trợ giúp, hãy ghé qua [[WQ:VP|Bàn giúp đỡ]] hoặc đặt câu hỏi trên trang thảo luận của tôi. Chúc bạn chỉnh sửa vui vẻ! Và một lần nữa, chào mừng bạn! <noinclude> <!-- CATEGORIES AND INTERWIKIS HERE, THANKS --> [[Category:Các mẫu lời chào mừng người dùng|{{PAGENAME}}]] [[es:Template:Welcome]] [[eu:Txantiloi:Ongietorria]] [[fi:Malline:Tervetuloa Wikisitaatteihin]] </noinclude> 47y441itl5uihw57fiangvmlasztapc Wikiquote:Người có quyền xem IP của tài khoản tạm thời 4 10673 63672 63566 2026-10-07T16:35:32Z Làm Việc Thiện 13742 /* Ghi chú */ 63672 wikitext text/x-wiki {{Quy định Wikiquote|WP:XEMIPTKTT|WP:CUTEMPACC|WP:TAIV|WP:CUTAV|WP:TEMPACCVIEWER}} {{nutshell| * Quyền xem địa chỉ IP của tài khoản tạm thời cho phép bạn xem địa chỉ IP mà một [[WP:TKTT|tài khoản tạm thời]] sử dụng. * Quyền này do bảo quản viên trao cho các thành viên đáng tin cậy và đáp ứng một số tiêu chí nhất định. Công cụ này chỉ được dùng để chống phá hoại và các hành vi vi phạm quy định. Mọi hoạt động sử dụng đều được ghi lại.}} [[File:TAIV Wikiquote.svg|right|150px|alt=Biểu trưng người có quyền xem IP của tài khoản tạm thời]] '''Người có quyền xem IP của tài khoản tạm thời''' (<code>checkuser-temporary-account-viewer</code>) là nhóm người dùng cho phép thành viên xem một số thông tin IP nhất định của một [[Wikiquote:TKTT|tài khoản tạm thời]]. Quyền này được trao tự động cho bảo quản viên, sau khi họ chấp nhận [[foundation:Special:MyLanguage/Policy:Wikimedia Access to Temporary Account IP Addresses Policy|quy định truy cập thông tin IP của tài khoản tạm thời]] trong [[Special:Preferences|tùy chọn cá nhân]]. Người dùng đủ điều kiện nhưng không phải bảo quản viên có thể [[Wikiquote:Yêu cầu cấp quyền/Người được xem địa chỉ IP của tài khoản tạm thời|yêu cầu cấp quyền này]]. Hoạt động truy cập thông tin địa chỉ IP tài khoản tạm thời đều được ghi lại trong [[Special:Log/checkuser-temporary-account|nhật trình]]. Nhật trình này chỉ hiển thị cho các [[WP:CheckUser|kiểm định viên]]. Hiện tại trên Wikiquote tiếng Việt có [[Special:ListUsers/temporary-account-viewer|{{NUMBERINGROUP:temporary-account-viewer}} thành viên]] sở hữu quyền này. Nếu tính cả bảo quản viên{{efn|[[Wikiquote:CheckUser|Kiểm định viên]] và [[WP:HCV|Hành chính viên]] cũng có quyền này, nhưng hầu như họ đều là bảo quản viên.}} thì tổng cộng có {{formatnum:{{#expr:{{NUMBEROFADMINS:R}}+{{NUMBERINGROUP:temporary-account-viewer|R}}}}}} người dùng có quyền này, chưa kể [[Special:GlobalUsers/global-temporary-account-viewer|người có quyền xem toàn cục IP của tài khoản tạm thời]] và [[Special:GlobalUsers/global-rollbacker|người lùi sửa toàn cục]] (những người được cấp quyền này trên tất cả các dự án Wikimedia). == Tiêu chí cấp quyền == {{shortcut|WP:TAIVGRANT}} Để được cấp quyền, thành viên cần: * Chủ động gửi yêu cầu cấp quyền (bảo quản viên '''không được''' tự ý cấp quyền nếu thành viên không có yêu cầu).{{efn|name=WMF}} Có thể gửi yêu cầu cấp quyền tại [[Wikiquote:Yêu cầu cấp quyền#Người được xem địa chỉ IP của tài khoản tạm thời]].{{efn|Tuy nhiên, việc đặt yêu cầu tại trang này [[:en:Special:Diff/1308311575|không phải là yêu cầu bắt buộc từ WMF]]. Bảo quản viên có thể khuyến khích các thành viên đủ điều kiện yêu cầu cấp quyền.}} * Có tài khoản đã đăng ký ít nhất 6 tháng.{{efn|name=WMF}} * Đã thực hiện ít nhất 1500 sửa đổi tại không gian tên (Chính) trên Wikiquote tiếng Việt.{{efn|Theo [[Wikiquote:Thảo luận cộng đồng/Quyền xem địa chỉ IP của tài khoản tạm thời|đồng thuận của cộng đồng]].}} * Đồng ý tuân thủ [[wmf:Special: MyLanguage/Policy:Wikimedia Access to Temporary Account IP Addresses Policy|quy định của WMF]] khi truy cập vào thông tin IP. Dữ liệu chỉ được dùng để tuần tra và chống phá hoại, lạm dụng hoặc các hành vi vi phạm quy định khác; đồng thời thành viên phải hiểu rõ các rủi ro và trách nhiệm đi kèm đặc quyền này.{{efn|name=WMF}}{{efn|Yêu cầu này được đáp ứng khi thành viên xác nhận trong trang [[Đặc biệt:Tùy chọn]].}} * Chứng minh được nhu cầu truy cập. Ví dụ: có kinh nghiệm trong việc [[Wikiquote:Tuần tra trang mới|tuần tra trang mới]], [[Wikiquote:Ủy ban phòng chống phá hoại|chống phá hoại]], hoặc [[Wikiquote:Yêu cầu kiểm định tài khoản|điều tra rối]]. Việc đánh giá tiêu chí này thuộc thẩm quyền của bảo quản viên xử lý. Bảo quản viên là người xem xét cấp quyền và có quyền từ chối ứng viên dù đã đáp ứng các tiêu chí trên, nếu xét thấy họ không phù hợp để nắm giữ công cụ vì lý do khác. Các thành viên đều được nêu ý kiến về các vấn đề của một thành viên, cũng như lợi và hại nếu thành viên đó được cấp quyền. Trong trường hợp một cá nhân cần quyền truy cập để phục vụ một mục đích cụ thể, mà những người đã có quyền lại không thể đáp ứng được mục đích đó, thì các [[m:Stewards|tiếp viên]] có thẩm quyền cho phép ngoại lệ đối với các yêu cầu từ WMF (tiêu chí 1–4). Sau khi được cấp quyền, thành viên cần vào trang <span style="font-family: Georgia, serif;">[[Special:Preferences|{{int:mypreferences}}]] → [[Special:Preferences#mw-prefsection-personal|{{int:prefs-personal}}]] → {{nowrap|[[File:MediaWiki checkbox ticked.svg|20px|alt=Tick]] {{wrap|{{int:checkuser-tempaccount-enable-preference}}}}}}</span>. == Tiêu chí sử dụng == Việc sử dụng công cụ xem IP của tài khoản tạm thời phải tuân thủ [[wmf:Special:MyLanguage/Policy:Wikimedia Access to Temporary Account IP Addresses Policy|Quy định về quyền truy cập thông tin Địa chỉ IP của Tài khoản tạm thời của Wikimedia]]. Mọi hoạt động sử dụng công cụ này đều được ghi lại tại [[Special:Log/checkuser-temporary-account|nhật trình]].{{efn|name=WMF|Đây là yêu cầu bắt buộc từ [[wmf:Special:MyLanguage/Policy:Wikimedia Access to Temporary Account IP Addresses Policy|quy định truy cập địa chỉ IP của tài khoản tạm thời của Wikimedia]], và [[Wikiquote:CONEXCEPT|không áp dụng đồng thuận cộng đồng]].}} Người dùng phải hết sức cẩn trọng khi thảo luận công khai về các thông tin thu được từ công cụ này. === Nội dung được phép và không được phép tiết lộ === <noinclude>{{shortcut|WP:TAIVDISCLOSE}} {{notice|Đây là bản tóm tắt [[foundation:Special:MyLanguage/Policy:Wikimedia_Access_to_Temporary_Account_IP_Addresses_Policy|quy định của Wikimedia]], không phải là kết quả từ một [[WP:Đồng thuận|đồng thuận]] cụ thể nào trên Wikiquote tiếng Việt. Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa phần này và quy định của Wikimedia, thì quy định của Wikimedia [[Wikiquote:CONEXCEPT|sẽ được ưu tiên áp dụng.]]}} </noinclude> * Các kết luận không dựa trên công cụ xem IP: Việc đưa ra một kết luận mà không dựa vào công cụ xem IP sẽ không bao giờ bị coi là vi phạm quy định tiết lộ. Cụ thể, điều này áp dụng cho các so sánh thuần túy dựa trên hành vi giữa các tài khoản tạm thời (TKTT) với địa chỉ IP cũ (khi chưa có chức năng tài khoản tạm thời), hoặc giữa TKTT với tài khoản có tên không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này. (Ví dụ: "{{tq|Các sửa đổi tại bài [[Mặt Trời]] và [[Mặt Trăng]] do ~{{CURRENTYEAR}}-12345-67, 192.0.2.1 và [[Thành viên:Example]] thực hiện dường như là của cùng một người.}}") ** Tuy nhiên, người dùng có quyền xem IP TKTT cần tránh gây hiểu lầm rằng họ đang tiết lộ thông tin một cách không phù hợp. Đặc biệt, khi so sánh hành vi giữa TKTT và IP cũ, nên nói rõ rằng bạn không sử dụng công cụ xem IP. * Mối liên hệ công khai giữa các TKTT: Được phép tiết lộ nếu "được xem là thực sự cần thiết và hợp lý". (Ví dụ: "{{tq|~{{CURRENTYEAR}}-12345-67 và ~{{CURRENTYEAR}}-12345-68 dùng chung một IP, vì vậy tôi sẽ tính gộp số lần lùi sửa của họ theo quy tắc [[WP:3RR|3RR]]}}", nhưng không được phép nói: "{{!tq|Này ~{{CURRENTYEAR}}-12345-68, bạn đã từng sửa đổi bằng ~{{CURRENTYEAR}}-12345-67}}".) ** Điều này cũng thường áp dụng cho siêu dữ liệu của một địa chỉ IP, chẳng hạn như [[ISP]], việc IP đó có phải là proxy{{efn|name=proxy|Tuy nhiên, xem {{slink|foundation:Legal:Wikimedia IP Information Tool Policy/vi#Sử dụng và tiết lộ thông tin IP}}: Bạn chỉ được phép công khai thông tin liên quan đến proxy {{tq|ở mức độ được xem là cần thiết và hợp lý}}.}} hay không, hoặc vị trí địa lý chung chung; trừ khi thông tin này quá chi tiết, giúp nhận dạng người dùng rõ hơn nhiều so với những gì họ tự công khai. Cần lưu ý rằng một số ISP có quy mô rất nhỏ hoặc thuộc sở hữu cá nhân, và [[Danh sách quốc gia theo dân số|một số quốc gia]] có rất ít dân cư hoặc <span class="plainlinks">[https://stats.wikimedia.org/#/vi.Wikiquote.org/contributing/active-editors-by-country/normal%7Cmap%7Clast-month%7C(activity-level)~100..-edits%7Cmonthly ít biên tập viên Wikiquote tiếng Việt]</span>. Hãy tránh tiết lộ nhiều thông tin hơn mức cần thiết; khi có thể, hãy dùng cách diễn đạt khái quát như: "~{{tq|~{{CURRENTYEAR}}-12345-67 và ~{{CURRENTYEAR}}-12345-68 dùng cùng một ISP và ở cùng một khu vực}}".{{efn|name=legal|Ghi chú phụ này không dựa trên quy định tiết lộ thông tin IP, mà dựa trên thảo luận với WMF Legal, những người đã [[:en:Special:Diff/1321835823|xác nhận rõ ràng]] cách diễn giải quy định này.}} * Tiết lộ địa chỉ IP: Về cơ bản, bạn [[:foundation:Policy:Wikimedia Access to Temporary Account IP Addresses Policy/vi#Tiết lộ|không được phép]] công khai địa chỉ IP của TKTT thu được qua công cụ xem IP (Ví dụ: "{{!tq|~{{CURRENTYEAR}}-12345-67 trước đây đã sửa đổi bằng IP 192.0.2.1}}" hoặc "{{!tq|Địa chỉ IP của ~2025-12345-67 là 192.0.2.1}}"). ** Tuy nhiên, bảo quản viên được phép thực hiện các lệnh cấm mà qua đó ngụ ý mối liên hệ giữa tài khoản tạm thời và IP (ví dụ: cấm vô hạn ~{{CURRENTYEAR}}-12345-67 và ~{{CURRENTYEAR}}-12345-68, rồi ngay sau đó cấm IP 192.0.2.1 trong một tuần). Các hạn chế khác được đề cập tại đây vẫn áp dụng cho lý do cấm và mọi bình luận công khai khác của bảo quản viên về lệnh cấm đó. Điều này có nghĩa là các bảo quản viên phải mô tả lệnh cấm IP một cách mơ hồ; chẳng hạn, nếu một người dùng có quyền xem IP TKTT yêu cầu cấm IP của tài khoản tạm thời, bảo quản viên thực hiện nên trả lời là "{{tq|Đã xử lý}}" thay vì "{{!tq|Đã cấm IP gốc}}". ** Ngoài ra, khi "được xem là thực sự cần thiết và hợp lý", có thể áp dụng ngoại lệ tại các khu vực thực thi quy định phù hợp. Đối với các hành vi phá hoại gần đây, việc yêu cầu một người dùng có quyền xem IP TKTT hoặc bảo quản viên khác tự mình kiểm tra IP thường là đủ, nên ngoại lệ này hiếm khi áp dụng cho các trường hợp ngắn hạn. Tuy nhiên, nó có thể cần thiết cho các trang như [[Wikiquote:Rối phá hoại dai dẳng]] hoặc các [[Wikiquote:Yêu cầu kiểm định tài khoản|yêu cầu kiểm định tài khoản]] phức tạp. Dù vậy, phải xóa thông tin tiết lộ và [[WP:Xóa phiên bản|xóa phiên bản]] ngay khi không còn cần thiết nữa.{{efn|name=disclosure|Vì mục đích thuận tiện, có thể ưu tiên việc [[:en:help:transclusion|tích hợp]] thông tin tiết lộ từ một trang phụ nào đó, ví dụ: ''Wikiquote:Yêu cầu kiểm định tài khoản/Ví dụ/Tiết lộ IP TKTT'', để khi nó sau đó bị [[template:redacted|sửa lại]] và xóa khỏi lịch sử sửa đổi thì sẽ không ảnh hưởng đến một số lượng lớn các sửa đổi khác.}} * Tuyên bố phủ định: Việc nói rằng một TKTT không sử dụng một IP hoặc dải IP cụ thể (ví dụ: "{{xtn|IP của ~{{CURRENTYEAR}}-12345-67 ở rất xa 192.0.2.1}}") về cơ bản không vi phạm quy định tiết lộ. Tuy nhiên, nếu người dùng có quyền xem IP TKTT lúc thì nói, lúc thì không, thì có thể khiến người khác suy đoán về mối liên hệ trong trường hợp họ im lặng. Tốt hơn hết là dùng [[:en:User:MZMcBride/8-ball|các cách diễn đạt chung chung hơn]] như: "{{tq|Tôi không thấy có bằng chứng cho rằng ~2025-12345-67 đang cố tình lách lệnh cấm}}". * Kiểm định viên: Các kiểm định viên về cơ bản sẽ không công khai mối liên hệ giữa các tài khoản người dùng với các tài khoản tạm thời, vì điều này thực tế sẽ [[Wikiquote:CheckUser#Tiết lộ thông tin địa chỉ IP|làm lộ địa chỉ IP]] của tài khoản đó cho bất kỳ người dùng nào có quyền xem IP TKTT hoặc bảo quản viên. == Tiêu chí thu hồi == {{shortcut|WP:TAIVREVOKE}} Bảo quản viên được phép thu hồi quyền xem IP TKTT trong trường hợp quyền này bị lạm dụng, khi việc tiết lộ địa chỉ IP của tài khoản tạm thời vi phạm [[wmf:Policy:Wikimedia Access to Temporary Account IP Addresses Policy/vi#Tiết lộ|Quy định về quyền truy cập thông tin IP của tài khoản tạm thời]]. Ngoài ra, quyền này cũng cần được gỡ bỏ khỏi các thành viên đã không hoạt động quá một năm.{{efn|name=WMF}} == Bản mẫu == Người dùng có quyền xem địa chỉ IP của tài khoản tạm thời có thể thêm bản mẫu sau vào trang [[Wikiquote:Trang thành viên|trang thành viên]] của mình: {{usbktop}} {{usbk|Thành viên Wikiquote/Người được xem địa chỉ IP của tài khoản tạm thời}} {{usbkbottom}} ==Xem thêm== * [[foundation:Special: MyLanguage/Policy:Wikimedia Access to Temporary Account IP Addresses Policy|Quy định về quyền truy cập thông tin địa chỉ IP của tài khoản tạm thời]] của Wikimedia * [[foundation:Special:MyLanguage/Legal:Wikimedia IP Information Tool Policy|Nguyên tắc sử dụng công cụ thông tin IP]] của Wikimedia *[[m:Special:MyLanguage/Meta:Temporary account IP viewers|Người có quyền xem IP của tài khoản tạm thời]] tại Meta-Wiki *[[m:Special:MyLanguage/Global temporary account IP viewers|Người có quyền xem toàn cục IP của tài khoản tạm thời]] tại Meta-Wiki *[[Wikiquote:Thảo luận cộng đồng/Quyền xem địa chỉ IP của tài khoản tạm thời]] == Ghi chú == {{notelist}} [[Thể loại:Tài khoản tạm thời Wikiquote]] odw319svh4wxpics30vtrvidcy8sbpx Bản mẫu:Trang Chính/Trang mới 10 10701 63656 63644 2026-10-07T15:38:44Z Làm Việc Thiện 13742 63656 wikitext text/x-wiki <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #b7ba02; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các trang mới</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> <div style="border-top: none; padding: 0.6em; padding-top: none;"> <!-- The image *must not* exceed 175 pixels. --> [[Tập tin:Whoopi Goldberg (2011).jpg|thumb|175px|Bài mới trên Wikiquote: ''[[Whoopi Goldberg]]'']] <!-- NOTE BEFORE ADDING: Total of fourteen (14) only, in chronological order: add to top, remove from bottom --> {{plainlist| * [[Gregory Peck]] * [[Himalaya ở Nepal]] * [[Jack Nicholson]] * [[Krasnoyarsk]] * [[Krasnoyarsk (vùng)]] * ''[[Anh em nhà Marx]]'' * [[Liza Minnelli]] * [[Grace Kelly]] * ''[[Gene Kelly]]'' * [[Buster Keaton]] * [[Katharine Hepburn]] * [[Tom Hanks]] * ''[[Henri Barbusse]]'' * ''[[Cary Grant]]'' }} {{break}} <div class="plainlinks" style="text-align:center">Danh sách một phần của một số [[Special:NewPages|các trang mới]] ([https://vi.wikiquote.org/w/index.php?title=B%E1%BA%A3n_m%E1%BA%ABu:Trang_Ch%C3%ADnh/Trang_m%E1%BB%9Bi&action=edit thêm])</div> </div> </div> </div><noinclude> [[Category:Các bản mẫu trang chính|{{PAGENAME}}]] </noinclude> 2our0w6sd3xtg64f60snusxe79gikt3 63661 63656 2026-10-07T15:43:40Z Làm Việc Thiện 13742 63661 wikitext text/x-wiki <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #b7ba02; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các trang mới</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> <div style="border-top: none; padding: 0.6em; padding-top: none;"> <!-- The image *must not* exceed 175 pixels. --> [[Tập tin:Whoopi Goldberg (2011).jpg|thumb|175px|Bài mới trên Wikiquote: ''[[Whoopi Goldberg]]'']] <!-- NOTE BEFORE ADDING: Total of fourteen (14) only, in chronological order: add to top, remove from bottom --> {{plainlist| * [[Gregory Peck]] * [[Himalaya ở Nepal]] * [[Jack Nicholson]] * [[Krasnoyarsk]] * [[Krasnoyarsk (vùng)]] * ''[[Anh em nhà Marx]]'' * [[Liza Minnelli]] * [[Grace Kelly]] * ''[[Gene Kelly]]'' * [[Buster Keaton]] * [[Katharine Hepburn]] * [[Tom Hanks]] * ''[[Henri Barbusse]]'' * ''[[Cary Grant]]'' }} {{break}} <div class="plainlinks" style="text-align:center">Danh sách một phần của một số [[Special:NewPages|các trang mới]] ([https://vi.wikiquote.org/w/index.php?title=B%E1%BA%A3n_m%E1%BA%ABu:Trang_Ch%C3%ADnh/Trang_m%E1%BB%9Bi&action=edit thêm])</div> </div> </div> </div><noinclude> [[Category:Bản mẫu Trang Chính|{{PAGENAME}}]] </noinclude> eqpv15viinthse5yy9y9437xpx2esjm Bản mẫu:Endplainlist 10 10703 63652 2026-10-07T15:25:56Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “<includeonly></div></includeonly><noinclude> {{documentation|Template:Plainlist/doc}} </noinclude>” 63652 wikitext text/x-wiki <includeonly></div></includeonly><noinclude> {{documentation|Template:Plainlist/doc}} </noinclude> owuqpy73m48jricqo7bykll5w0j3c2o Bản mẫu:Otherwiki/styles.css 10 10704 63653 2026-10-07T15:27:12Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “/* {{pp-template}} */ #sister-projects-list { display: flex; flex-wrap: wrap; } #sister-projects-list li { display: inline-block; } #sister-projects-list li span { font-weight: bold; } #sister-projects-list li > div { display: inline-block; vertical-align: middle; padding: 6px 4px; } #sister-projects-list li > div:first-child { text-align: center; } /* don't want to display this unless we're in dark mode and on screen */ .sister-projects-wi…” 63653 sanitized-css text/css /* {{pp-template}} */ #sister-projects-list { display: flex; flex-wrap: wrap; } #sister-projects-list li { display: inline-block; } #sister-projects-list li span { font-weight: bold; } #sister-projects-list li > div { display: inline-block; vertical-align: middle; padding: 6px 4px; } #sister-projects-list li > div:first-child { text-align: center; } /* don't want to display this unless we're in dark mode and on screen */ .sister-projects-wikt-icon-dark { display: none; } @media screen { html.skin-theme-clientpref-night .sister-projects-wikt-icon-dark { display: inline; } html.skin-theme-clientpref-night .sister-projects-wikt-icon-light { display: none; } } @media screen and ( prefers-color-scheme: dark) { html.skin-theme-clientpref-os .sister-projects-wikt-icon-dark { display: inline; } html.skin-theme-clientpref-os .sister-projects-wikt-icon-light { display: none; } } @media (min-width: 360px) { #sister-projects-list li { width: 33%; min-width: 20em; white-space: nowrap; flex: 1 0 25%; } #sister-projects-list li > div:first-child { min-width: 50px; } } bd8procuzfqo1agjth25zs1fdtvkd11 63654 63653 2026-10-07T15:31:30Z Làm Việc Thiện 13742 Đã khóa “[[Bản mẫu:Otherwiki/styles.css]]”: Bản mẫu được sử dụng trên nhiều trang ([Sửa đổi=Chỉ cho phép bảo quản viên] (vô thời hạn) [Di chuyển=Chỉ cho phép bảo quản viên] (vô thời hạn)) 63653 sanitized-css text/css /* {{pp-template}} */ #sister-projects-list { display: flex; flex-wrap: wrap; } #sister-projects-list li { display: inline-block; } #sister-projects-list li span { font-weight: bold; } #sister-projects-list li > div { display: inline-block; vertical-align: middle; padding: 6px 4px; } #sister-projects-list li > div:first-child { text-align: center; } /* don't want to display this unless we're in dark mode and on screen */ .sister-projects-wikt-icon-dark { display: none; } @media screen { html.skin-theme-clientpref-night .sister-projects-wikt-icon-dark { display: inline; } html.skin-theme-clientpref-night .sister-projects-wikt-icon-light { display: none; } } @media screen and ( prefers-color-scheme: dark) { html.skin-theme-clientpref-os .sister-projects-wikt-icon-dark { display: inline; } html.skin-theme-clientpref-os .sister-projects-wikt-icon-light { display: none; } } @media (min-width: 360px) { #sister-projects-list li { width: 33%; min-width: 20em; white-space: nowrap; flex: 1 0 25%; } #sister-projects-list li > div:first-child { min-width: 50px; } } bd8procuzfqo1agjth25zs1fdtvkd11 Bản mẫu:Danh sách ghi chú 10 10708 63669 2026-10-07T16:32:54Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{Tham khảo |{{{1|{{{colwidth|}}}}}}|refs={{{refs|{{{notes|}}}}}}|group={{#switch: {{{group|}}} | note | upper-alpha | upper-roman | lower-alpha | lower-greek | lower-roman = {{{group|}}} | #default = lower-alpha }}}}{{#invoke:Check for unknown parameters|check|unknown={{main other|[[Thể loại:Trang sử dụng danh sách ghi chú có các tham số không rõ|_VALUE_{{PAGENAME}}]]}}|preview=Page using Bản mẫu:N…” 63669 wikitext text/x-wiki {{Tham khảo |{{{1|{{{colwidth|}}}}}}|refs={{{refs|{{{notes|}}}}}}|group={{#switch: {{{group|}}} | note | upper-alpha | upper-roman | lower-alpha | lower-greek | lower-roman = {{{group|}}} | #default = lower-alpha }}}}{{#invoke:Check for unknown parameters|check|unknown={{main other|[[Thể loại:Trang sử dụng danh sách ghi chú có các tham số không rõ|_VALUE_{{PAGENAME}}]]}}|preview=Page using [[Bản mẫu:Notelist]] with unknown parameter "_VALUE_"|ignoreblank=y| 1 | colwidth | group | notes | refs }}<noinclude> {{tài liệu}}</noinclude> iesye8u7bowaz5p93dp64v2wugt5lef Bản mẫu:Danh sách ghi chú/doc 10 10709 63670 2026-10-07T16:33:08Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{Trang con tài liệu}} {{Transwiki guide |small=yes |text=See [[Bản mẫu:Notelist/Hướng dẫn dịch wiki|'''this information''']] on copying this template and modifying it for use on another wiki.}} <!-- Categories and interwikis go at the bottom of this page. --> There are several predefined groups that can have a reference list styled so that the label (a character within square brackets with all superscripted, e.g., {{dummy ref|1}}) of a no…” 63670 wikitext text/x-wiki {{Trang con tài liệu}} {{Transwiki guide |small=yes |text=See [[Bản mẫu:Notelist/Hướng dẫn dịch wiki|'''this information''']] on copying this template and modifying it for use on another wiki.}} <!-- Categories and interwikis go at the bottom of this page. --> There are several predefined groups that can have a reference list styled so that the label (a character within square brackets with all superscripted, e.g., {{dummy ref|1}}) of a note or citation (aka footnote, reference) matches and links to the note marker label located in the main text and the label in front of the note's text in the appropriate group's list. There can be more than one of these groups' lists in the Notes, References and other similarly purposed sections. These predefined note and citation groups have templates that make the [[Mã wiki]] markup simpler. These templates also allow a standard reference to be inserted, so that an explanatory note can have a reference, or citations can be nested. '''Note:''' If the note's text has a reference name that is used more than once, the labels will still match, but the clickable alpha characters that toggle the note's display will be ''next to'' the note's label, with links to the multiple locations of its marker in the main text. See [[Trợ giúp:Cước chú#Footnotes: using a source more than once|WP:REFNAME]] and the first point below in [[#Vấn đề|§&nbsp;Issues]]. ===Bản mẫu sử dụng bằng cách loại nhóm tham khảo=== <section begin=pregrouptable /> {| class="wikitable" |- style="vertical-align:top;" ! Loại nhóm !! Bản mẫu đánh dấu ghi chú cuối trang<br/>hoặc mã !! Bản mẫu danh sách tham khảo !! Các nhãn mẫu |- | ''none'' || {{tag|ref}} || {{tlx|tham khảo}} || 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 |- | ''none'' || {{tlx|refn}} for nested references || {{tlx|tham khảo}} || 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 |- | lower-alpha || {{tlx|efn}} || {{tlx|notelist}} || a b c d e f g h i j |- | upper-alpha || {{tlx|efn-ua}} || {{tlx|notelist-ua}} || A B C D E F G H I J |- | lower-roman || {{tlx|efn-lr}} || {{tlx|notelist-lr}} || i ii iii iv v vi vii viii ix x |- | upper-roman || {{tlx|efn-ur}} || {{tlx|notelist-ur}} || I II III IV V VI VII VIII IX X |- | lower-greek{{efn|Not supported by Internet Explorer 7 and below}} || {{tlx|efn-lg}} || {{tlx|notelist-lg}} || α β γ δ ε ζ η θ ι κ |} {{notelist}}<section end=pregrouptable /> * {{tlx|efn}} supports {{para|name}} and {{para|group}}, which work the same as the parameters in {{tag|ref|o}}. Do not enclose values in quotes. * {{tlx|notelist}} supports the column parameter, {{para|refs}} and {{para|group}} which work the same as the parameters in {{tlx|tham khảo}}. Do not enclose values in quotes. In these examples, the footnote labels match between the footnote marker and the reference list: {{markup|title=Với nhãn lower-alpha |<nowiki>Lorem ipsum dolor sit amet.{{efn|Footnote 1}} Consectetur adipisicing elit.{{efn|Footnote 2}} Sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.{{efn|Footnote 3}} {{notelist}} </nowiki> |Lorem ipsum dolor sit amet.{{efn|Footnote 1}} Consectetur adipisicing elit.{{efn|Footnote 2}} Sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.{{efn|Footnote 3}} {{notelist}} }} {{markup|title=Với nhãn lower-roman |<nowiki>Lorem ipsum dolor sit amet.{{efn-lr|Footnote 1}} Consectetur adipisicing elit.{{efn-lr|Footnote 2}} Sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.{{efn-lr|Footnote 3}} {{notelist-lr}} </nowiki> |Lorem ipsum dolor sit amet.{{efn-lr|Footnote 1}} Consectetur adipisicing elit.{{efn-lr|Footnote 2}} Sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.{{efn-lr|Footnote 3}} {{notelist-lr}} }} {{markup|title=Với tham khảo đặt tên |<nowiki>Lorem ipsum dolor sit amet.{{efn|name=fn1|Footnote 1}} Consectetur adipisicing elit.{{efn|Footnote 2}} Sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.{{efn|name=fn1}} {{notelist}} </nowiki> |Lorem ipsum dolor sit amet.{{efn|name=fn1|Footnote 1}} Consectetur adipisicing elit.{{efn|Footnote 2}} Sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.{{efn|name=fn1}} {{notelist}} }} {{markup|title=Với tham khảo đặt tên, tham khảo được định nghĩa trong notelist |<nowiki>Lorem ipsum dolor sit amet.{{efn|name=fn1}} Consectetur adipisicing elit.{{efn|name=fn2}} Sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.{{efn|name=fn1}} {{notelist|refs= {{efn|name=fn1|Very long footnote 1}} {{efn|name=fn2|Very long footnote 2}} }} </nowiki> |Lorem ipsum dolor sit amet.{{efn|name=fn1}} Consectetur adipisicing elit.{{efn|name=fn2}} Sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.{{efn|name=fn1}} {{notelist|refs= {{efn|name=fn1|Very long footnote 1}} {{efn|name=fn2|Very long footnote 2}} }} }} ===Vấn đề=== * Multiple backlink labels (see [[WP:REFNAME]]) are always styled as lower-alpha. This can be confusing when {{tlx|efn}} is used. See the note in the introduction of [[#Footnotes: predefined groups|this section]], above. * The entries in the reference list will show the default decimal styling if: ** The value for {{para|group}} in {{tlx|tham khảo}} or {{tag|references|s}} does not exactly match one of the predefined values; use {{tlx|efn}} or variant as {{para|group}} will not be needed. ** The value for {{para|group}} in {{tlx|tham khảo}} or {{tag|references|s}} is enclosed by quotes; use {{tlx|efn}} or variant as {{para|group}} will not be needed. ** {{tlx|tham khảo}} is indented with the {{code|:}} markup. ** {{tag|references|s}} is used instead of {{tlx|tham khảo}} * The entries in the reference list will have no styling if: ** A reference is included in {{tlx|hộp điều hướng}} or one of the variants and the style is set to <code>bodyclass=hlist</code>; to resolve this, replace the style with <code>listclass=hlist</code>. *Including external link markup will result in an error. Use the {{tlx|URL}} template instead: <code><nowiki>{{URL|</nowiki>1=''url name''<nowiki>|</nowiki>2=''optional display text''<nowiki>}}</nowiki></code>. <includeonly> <!-- Categories and interwikis go here: --> [[Thể loại:Bản mẫu ghi chú cuối trang]] [[Thể loại:Bản mẫu danh sách tham khảo]] </includeonly> mkn4h7qbz76gap59tutmn7jrd00jbjz Bản mẫu:Notelist 10 10710 63671 2026-10-07T16:33:38Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Danh sách ghi chú]] 63671 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Danh sách ghi chú]] gfhsuwgfaap4c0has463cmcux2rs0zw Mary Pickford 0 10711 63674 2026-10-07T18:01:53Z Lcsnes 12183 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “Tập tin:Mary Pickford at the Oscars 1930.jpg|nhỏ|''Nếu bạn phạm sai lầm, thậm chí ngay cả sai lầm nghiêm trọng, bạn có thể bắt đầu lại bất cứ lúc nào bạn chọn, bởi cái mà ta gọi là "thất bại" không phải là ngã xuống, mà là ngã xuống rồi nằm bệt.''<ref>{{Chú thích|title=Danh ngôn về Thất bại - Mary Pickford|website=Từ điển danh ngôn|url=https://www.tudiendanhngon.vn…” 63674 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Mary Pickford at the Oscars 1930.jpg|nhỏ|''Nếu bạn phạm sai lầm, thậm chí ngay cả sai lầm nghiêm trọng, bạn có thể bắt đầu lại bất cứ lúc nào bạn chọn, bởi cái mà ta gọi là "thất bại" không phải là ngã xuống, mà là ngã xuống rồi nằm bệt.''<ref>{{Chú thích|title=Danh ngôn về Thất bại - Mary Pickford|website=Từ điển danh ngôn|url=https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/dn/itemid/11208|url-status=live|access-date=2026-10-05|archive-url=https://web.archive.org/web/20250521055240/https://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/dn/itemid/11208|archive-date=2025-05-21}}</ref>]] '''{{w|Mary Pickford}}''' (8 tháng 4 năm 1892 – 29 tháng 5 năm 1979) là nữ diễn viên và nhà sản xuất phim [[người]] [[Hoa Kỳ|Mỹ]] gốc [[Canada]] có sự nghiệp trải dài 5 thập kỷ. Bà là người tiên phong của ngành công nghiệp [[điện ảnh]] Mỹ cũng như là một trong 36 người sáng lập tổ chức Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ. ==Trích dẫn của Pickford== *'''1926''', trả lời phỏng vấn *:I was forced to live far beyond my years when just a child, now I have reversed the order and I intend to remain young indefinitely.<ref>{{Chú thích|title=Everybody's|volume=54|publisher=Ridgway Company|year=1926|language=en|page=37}}</ref> *::'''Khi còn trẻ con, tôi buộc phải sống già dặn hơn nhiều so với tuổi thực; giờ đây, tôi đảo ngược quy luật đó và dự định sẽ giữ được trẻ trung mãi mãi.''' *'''1968''' *:Make them laugh, make them cry, and back to laughter. What do people go to the theater for? An emotional exercise. And no preachment.<ref>{{Chú thích|author=[[w:en:Kevin Brownlow|Kevin Brownlow]]|title=The Parade's Gone By|publisher={{w|University of California Press}}|year=1968|language=en|page=[https://books.google.com/books?id=wCD5EH64Qw8C&pg=PA134 134]|isbn=9780520030688}}</ref> *::'''Khiến khán giả cười, khiến họ khóc, rồi lại đưa họ trở lại với tiếng cười. Người ta đến nhà hát để làm gì? Để trải nghiệm những cung bậc cảm xúc. Và tuyệt đối không giáo điều.''' ==Trích dẫn về Pickford== *'''1918''', {{w|D. W. Griffith}}, ''Mary Pickford and John D. Rockefeller'' *:It is said that John D. Rockefeller receives $50,000,000 annually from the American public. Mary Pickford’s weekly salary check is reported to be $20,000. If these statements are true, and I believe that they are, then Mary Pickford is greatly underpaid. A great writer has written that sincerity is the basis of all great things. Mary Pickford has endeared herself to millions of persons, particularly children, throughout the world, through her ability to bring sunshine, love and laughter into their lives. This at a minimum cost of time and money within reach of all. It is her sincerity that is the answer. If the income of the oil magnate is based on merit, then Mary Pickford’s salary, compared to what it should be, is like measuring a ray of light with the sun, or comparing a drop of water with the ocean. The public is willing to pay almost any price of admission for good pictures. Produce good pictures and the old law of supply and demand will settle the admission price.<ref>{{Chú thích|year=1918|title=Dramatic Mirror of Motion Pictures and the Stage|volume=78|publisher=Dramatic Mirror Company|page=[https://books.google.com/books?id=9e1DAQAAMAAJ&pg=PA231 231]}}</ref> *::'''Nghe nói mỗi năm John D. Rockefeller nhận được 50 triệu [[đô la Mỹ|đô la]] từ công chúng Mỹ. Mức lương hàng tuần của Mary Pickford được cho là 20.000 đô la. Nếu những thông tin này là [[chân lý|sự thật]] (mà tôi tin là vậy) thì Mary Pickford đang bị trả thù lao quá thấp so với giá trị thực của cô. Một nhà văn lỗi lạc từng viết rằng sự chân thành là nền tảng của mọi điều vĩ đại. Mary Pickford đã chiếm trọn cảm tình của hàng triệu người, đặc biệt là trẻ em trên khắp thế giới, nhờ khả năng mang lại nắng ấm, tình yêu và tiếng cười vào đời sống của chúng—những điều mà ai cũng có thể tiếp cận mà tốn rất ít thời gian lẫn [[tiền tệ|tiền bạc]]. Chính sự chân thành của cô là lời giải đáp cho tất cả. Nếu thu nhập ông trùm dầu mỏ dựa trên giá trị đóng góp, thì mức lương của Mary Pickford so với những gì lẽ ra cô phải nhận được chẳng khác nào việc dùng [[Mặt Trời|mặt trời]] để đo một tia sáng, hay so [[nước|giọt nước]] với cả [[đại dương]] bao la. Công chúng sẵn sàng chi trả bất cứ mức giá vé nào để được thưởng thức những bộ phim hay. Chỉ cần sản xuất ra những bộ phim chất lượng, quy luật cung cầu sẽ tự khắc định ra mức giá vé phù hợp.''' ==Xem thêm== * [[James Stewart]] * [[Meryl Streep]] * [[Barbara Stanwyck]] ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{wikipedia-inline}} [[Thể loại:Nữ diễn viên]] [[Thể loại:Sinh thế kỷ 19]] [[Thể loại:Mất thập niên 1970]] cynrzeqqwg3bpmvsn1e571e63wj0kce Barbara Stanwyck 0 10712 63675 2026-10-08T00:15:13Z Lcsnes 12183 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “[[Tập tin:Barbara Stanwyck - Whitey Schafer - October 1944.jpg|nhỏ|Barbara Stanwyck [[năm]] 1944]] '''{{w|Barbara Stanwyck}}''' (16 tháng 7 năm 1907 – 20 tháng 1 năm 1990) là nữ diễn viên [[điện ảnh]] và [[truyền hình]] [[Hoa Kỳ|Mỹ]]. Năm 1999, Viện phim Mỹ đã bầu chọn Barbara Stanwyck ở vị trí thứ 11 trong danh sách những nữ diễn viên xuất sắc nhất của Hollywood. ==Trích dẫn của Sta…” 63675 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Barbara Stanwyck - Whitey Schafer - October 1944.jpg|nhỏ|Barbara Stanwyck [[năm]] 1944]] '''{{w|Barbara Stanwyck}}''' (16 tháng 7 năm 1907 – 20 tháng 1 năm 1990) là nữ diễn viên [[điện ảnh]] và [[truyền hình]] [[Hoa Kỳ|Mỹ]]. Năm 1999, Viện phim Mỹ đã bầu chọn Barbara Stanwyck ở vị trí thứ 11 trong danh sách những nữ diễn viên xuất sắc nhất của Hollywood. ==Trích dẫn của Stanwyck== *'''1980''', trả lời phỏng vấn *:I never got a Oscar. I never had an acting lesson. Life was my only training.<ref>{{Chú thích|author=[[w:en:Rex Reed|Rex Reed]]|title=Barbara Stanwyck at Seventy-Four: 'Life Was My Only training'|journal=The New York Times Biographical Service|volume=11|publisher=University Microfilms|year=1981|language=en|page=443}}</ref> *::'''Tôi chưa bao giờ giành được giải Oscar. Tôi cũng chưa từng học diễn xuất. Trường đời là nơi duy nhất dạy tôi tất cả.''' *'''1981''', trả lời phỏng vấn *:People talk about 'my career,' but 'career' is too pompous a word. It was a job, and I have always felt very privileged to be paid for what I love doing.<ref>{{Chú thích|author=[[w:en:Aljean Harmetz|Aljean Harmetz]]|title=Barbara Stanwyck: 'I'm a Tomorrow Woman|journal=The New York Times Biographical Service|volume=12|publisher=University Microfilms|year=1981|language=en|page=380}}</ref> *::'''Người ta hay nói về "sự nghiệp của tôi", nhưng [[từ]] "sự nghiệp" nghe có vẻ quá to tát. Với tôi, đó chỉ là một công việc và tôi luôn cảm thấy vô cùng may mắn khi được trả thù lao cho những gì mình yêu thích.''' ==Trích dẫn về Stanwyck== *'''~''', [[Henry Fonda]] *:Everyone who is close to me knows I've been in love with Barbara Stanwyck since I met her. She's a delicious woman. We've never had an affair. She's never encouraged me, but dammit, my wife will verify it, my daughter and son will confirm it, and now you all can testify to the truth. Stanwyck can act the hell out of any part, and she can turn a chore into a challenge.<ref>{{Chú thích|author=[[w:en:Axel Madsen|Axel Madsen]]|year=2015|title=Stanwyck: A Biography|publisher=[[w:en:Open Road Integrated Media|Open Road Media]]|page=[https://books.google.com/books?id=KXHkBgAAQBAJ&pg=PT231 231]|isbn=9781504008617}}</ref> *::'''Những ai thân thiết đều biết tôi đã mê đắm Barbara Stanwyck kể từ lần đầu gặp gỡ. Cô ấy là người phụ nữ đầy cuốn hút. Chúng tôi chưa bao giờ có quan hệ yêu đương. Cô ấy chưa từng bật đèn xanh cho tôi, nhưng chết tiệt thật, vợ tôi sẽ làm chứng cho điều đó, [[Jane Fonda|con gái]] và con trai tôi cũng sẽ xác nhận, và giờ đây tất cả các bạn đều có thể làm chứng cho [[chân lý|sự thật]] này. Stanwyck có thể diễn xuất xuất thần trong bất cứ vai diễn nào, và cô ấy luôn biết cách biến công việc tẻ nhạt thành một thử thách đầy hứng khởi.''' ==Xem thêm== * [[James Stewart]] * [[Meryl Streep]] * [[Gloria Swanson]] ==Chú thích== {{tham khảo}} ==Liên kết ngoài== {{wikipedia-inline}} [[Thể loại:Nữ diễn viên Mỹ]] [[Thể loại:Sinh thập niên 1900]] [[Thể loại:Mất năm 1990]] o032z3awa6gz02kwwu1vs8vhtj7g4s9 Bản mẫu:Trang Chính/Dự án/doc 10 10713 63676 2026-10-08T00:30:53Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{Uses TemplateStyles|Template:Otherwiki/styles.css}} <includeonly>[[Category:Main Page templates|{{PAGENAME}}]]</includeonly>” 63676 wikitext text/x-wiki {{Uses TemplateStyles|Template:Otherwiki/styles.css}} <includeonly>[[Category:Main Page templates|{{PAGENAME}}]]</includeonly> mbes7t8nnuwtuwuxst2s4kcr0dtrojx 63677 63676 2026-10-08T00:32:00Z Làm Việc Thiện 13742 63677 wikitext text/x-wiki {{Uses TemplateStyles|Template:Otherwiki/styles.css}} <includeonly>[[Category:Bản mẫu Trang Chính|{{PAGENAME}}]]</includeonly> pg5hbq1qr7lhsxlklt2340mqfuic706 MediaWiki:Gadget-userMessages 8 10714 63681 2026-10-08T01:55:56Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “''UserMessages:'' Thêm một tập lệnh để gửi lời chào đến người dùng đã đăng ký và người dùng IP, sử dụng {{tl|Chào mừng}} và {{tl|Chào mừng ip}}. (Xem ở góc dưới bên trái, bên dưới ''hộp công cụ''.)” 63681 wikitext text/x-wiki ''UserMessages:'' Thêm một tập lệnh để gửi lời chào đến người dùng đã đăng ký và người dùng IP, sử dụng {{tl|Chào mừng}} và {{tl|Chào mừng ip}}. (Xem ở góc dưới bên trái, bên dưới ''hộp công cụ''.) 032o4ol81k4za7h0novnreltlyqprr0 63683 63681 2026-10-08T01:58:13Z Làm Việc Thiện 13742 63683 wikitext text/x-wiki ''UserMessages:'' Thêm một tập lệnh để gửi lời chào đến người dùng đã đăng ký và người dùng IP, sử dụng {{tl|Welcome}} và {{tl|Welcomeip}}. (Xem ở góc dưới bên trái, bên dưới ''hộp công cụ''.) mkh21bammszjs776k55ushuwytg0kly MediaWiki:Gadget-UserMessages.js 8 10715 63682 2026-10-08T01:57:24Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “/* ==Automatic user messages == Installing this script as described on the talk page will give you links in the toolbox for all pages in the User talk: namespace, that say 'Please tag', 'Please name', and 'Please link'. Clicking any of the buttons will add one of the following templates to the user's talk page, signed by you: *{{tl|Welcome}} Main code by [[User:Siebrand]], derived from [[MediaWiki:Quick-delete.js]] by [[:en:User:Jietse Niesen|Jietse…” 63682 javascript text/javascript /* ==Automatic user messages == Installing this script as described on the talk page will give you links in the toolbox for all pages in the User talk: namespace, that say 'Please tag', 'Please name', and 'Please link'. Clicking any of the buttons will add one of the following templates to the user's talk page, signed by you: *{{tl|Welcome}} Main code by [[User:Siebrand]], derived from [[MediaWiki:Quick-delete.js]] by [[:en:User:Jietse Niesen|Jietse Niesen]], [[User:pfctdayelise|pfctdayelise]] and [[User:Alphax|Alphax]]. Code stolen from Commons by [[User:ShakataGaNai]] for Wikinews (Fixed by Bawolff) * [[:Category:Block templates]] * [[:Category:User_talk_templates]] ===TODO=== * Do not add a trailing /<langcode> at the end of the subst'ed template, as they now (almost) all use the autotranslation mechanism (see [[Commons:Template_i18n/User_templates]]) */ // <source lang="javascript"> //moved here from commons function getParamValue(paramName, url) { if (typeof url == "undefined") { url = document.location.href; } var cmdRe = RegExp("[&?]" + paramName + "=([^&]*)"); var m = cmdRe.exec(url); if (m) { try { return decodeURIComponent(m[1]); } catch (someError) { } } return null; } //end moved here from commons // Configuration // Should the edits be saved automatically? if(window.template_autosave == false){}else{ template_autosave = true; } //List of templates. Order is important. uTemplate = [ 'Welcome', 'Welcomeip' ]; template_reason = "The reason?"; template_pagename = "The page name?"; template_who = "Who does this IP belong to?"; // From [[en:Wikipedia:WikiProject User scripts/Scripts/addLink]] function addLink(where, url1, name1, id, title, key, after, url2, name2) { //* where is the id of the toolbar where the button should be added; // i.e. one of "p-cactions", "p-personal", "p-navigation", or "p-tb". // //* url1 is the URL which will be called when the button is clicked. // javascript: urls can be used to do more complex things. // //* name1 is what will appear as the name of the button. // //* id is the id of the button; it's best to define one. // Use a prefix to make sure its unique. Optional. // //* title is the tooltip title that gives a longer description // of the button; if you define a accesskey, mention it here. Optional. // //* key is the char you want for the accesskey. Optional. // //* after is the id of the button you want to follow this one. Optional. // //* url2 is a second url to add. Optional // //*name2 is the name of the second url; defaults to name1. Optional var na = document.createElement('a'); na.href = url1; na.appendChild(document.createTextNode(name1)); var li = document.createElement('li'); if(id) li.id = id; li.appendChild(na); if (url2) { //Another link, brother of the previous. var na = document.createElement('a'); na.href = url2; na.appendChild(document.createTextNode(name2 ? name2 : name1)); li.appendChild(document.createTextNode(" · ")); //separate them a bit li.appendChild(na); } var tabs = document.getElementById(where).getElementsByTagName('ul')[0]; if(after) { tabs.insertBefore(li,document.getElementById(after)); } else { tabs.appendChild(li); } //akeytt is deprected and does nothing. who cares about access keys anyhow. /*if(id && ta) { //ta does not exist in vector? if(key && title) { ta[id] = [key, title]; } else if(key) { ta[id] = [key, '']; } else if(title) { ta[id] = ['', title];} } // re-render the title and accesskeys from existing code in wikibits.js akeytt();*/ return li; } // Add the template function template_mark(talkpage_fakeaction, message_lang) { //if (!message_lang) return; //User pressed cancel //Now we assume message templates to be properly autotranslated if (message_lang) langparam='&template_lang=' + message_lang; else langparam=''; var pagename = encodeURIComponent(mw.config.get('wgPageName')); var editlk = document.getElementById('ca-edit').getElementsByTagName('a')[0].href; document.location = editlk + '&fakeaction=' + talkpage_fakeaction + langparam + '&template_type=1'; } // Add template to user talk page function template_addTemplate(template) { if (getParamValue('template_lang')) { template = template + '/' + getParamValue('template_lang'); } var txt = '{{subst:' + template + '}}'; if (template.indexOf('Welcome') === 0) { //dirty hack, but that describes this script as a whole. txt = '==Welcome==\n' + txt; } document.editform.wpTextbox1.value = document.editform.wpTextbox1.value + '\n' + txt + '\n~~~~'; // the edit summary for when you mark the image. You can change it if you want. document.editform.wpSummary.value = 'Adding template \"' + template + '\" to inform user. ([[MediaWiki:Gadget-UserMessages.js|using js]])'; if (template_autosave) document.editform.wpSave.click(); } // Add the template function template_mark2(talkpage_fakeaction, media_name, can_handle_empty_parameter, add_namespace) { if (media_name == null) return; // User pressed cancel if (media_name == '' && can_handle_empty_parameter != 1) return; // User did not supply parameter and template cannot handle that // Parameter handling for special cases if (add_namespace && media_name.length > 0) media_name = 'File:' + media_name; var pagename = encodeURIComponent(mw.config.get('wgPageName')); var editlk = document.getElementById('ca-edit').getElementsByTagName('a')[0].href; document.location = editlk + '&fakeaction=' + talkpage_fakeaction + '&media_name=' + encodeURIComponent (media_name) + '&template_type=2'; } // Add template to user talk page function template_addTemplate2(template) { if (getParamValue('media_name')) { template = template + '|' + getParamValue('media_name'); } var txt = '{{subst:' + template + '}}'; document.editform.wpTextbox1.value = document.editform.wpTextbox1.value + '\n' + txt + '\n~~~~'; // the edit summary for when you mark the image. You can change it if you want. document.editform.wpSummary.value = 'Adding template \"' + template + '\" to inform user. ([[MediaWiki:Gadget-UserMessages.js|using js]])'; if (template_autosave) document.editform.wpSave.click(); } // Do the thing with the stuff here. function template_onload() { if (mw.config.get('wgNamespaceNumber') == 3) { //NS_USERTALK // new section try { if (skin === 'vector') { if (window.useFancyVectorDropdown || window.useFancyVectorDropdown === undefined) { try { makeVectorFancySection(); useFancyVectorDropdown = 'done'; //this is for debug. can remove } catch (e) { document.getElementById('panel').innerHTML += '<div id="p-Notify" class="portal"><h5 lang="en" xml:lang="en">Notify</h5><div class="body">\n <ul> </ul> </div> </div>'; } } else { document.getElementById('panel').innerHTML += '<div id="p-Notify" class="portal"><h5 lang="en" xml:lang="en">Notify</h5><div class="body">\n <ul> </ul> </div> </div>'; } } if (skin === 'monobook') { document.getElementById('column-one').innerHTML += '<div id="p-Notify" class="portlet"> <h5 lang="en" xml:lang="en">Notify</h5> <div class="pBody"> <ul></ul></div> </div>'; } } catch (e) {} //ignore errors and just use tb if they happen. var portlet = (document.getElementById('p-Notify') ? 'p-Notify' : 'p-tb'); /** Which templates TO add to the menu. See also uTemplate array up above. EDIT THIS PART */ addLink(portlet, 'javascript:template_mark(\'0\')', 'Welcome', 'mark-warn', 'For welcoming new users', null, null); addLink(portlet, 'javascript:template_mark(\'1\')', 'Anon welcome', 'mark-warn', 'For welcoming new IP users', null, null); // addLink(portlet, 'javascript:template_mark2(\'6\', prompt(\'' + template_pagename + '\', \'\'), 0, false)', uText[6], 'mark-warn', uHelp[6]); } // Important thing and stuff above. var fakeaction = getParamValue('fakeaction'); var template_type = getParamValue('template_type'); // Fetch what template to add var action_idx = -1; try { action_idx = parseInt (fakeaction, 10); } catch (some_error) { action_idx = -1; } var add_idx = -1; try { add_idx = parseInt (template_type, 10); } catch (some_error) { add_idx = -1; } if (add_idx >= 1 && add_idx <= 2 && action_idx >= 0 && action_idx < uTemplate.length) { //may i take this moment to mention, this script is very very confusing - bawolff if (mw.config.get('wgNamespaceNumber') !== 3) { alert("The user notify script has been disabled in this namespace for security reasons. If you see this message, please tell [[User:Bawolff]] what linked you clicked on to get here."); throw new Error("Security error: wrong namespace for user notify gadget."); } if (add_idx == 1) template_addTemplate (uTemplate[action_idx]); else template_addTemplate2 (uTemplate[action_idx]); } } $(template_onload); function makeVectorFancySection() { //wrap this in a try. this might be somewhat delicate at the moment. var pNotify = document.createElement('div'); pNotify.id = 'p-Notify' pNotify.className = 'vectorMenu' pNotify.innerHTML = ' <h5><span>Notify</span><a href="#" style="background-image:none;"/></h5> <div class="menu"> <ul lang="en" xml:lang="en"> </ul> </div>'; var rightNav = document.getElementById('right-navigation'); var pViews = document.getElementById('p-views'); pViewsCont = document.createElement('div'); pViewsCont.id = 'p-views-continued'; pViewsCont.className = 'vectorTabs'; var pViewsUL = document.createElement('ul'); pViewsCont.appendChild(pViewsUL); var pivot = (document.getElementById('ca-history') ? document.getElementById('ca-history') : document.getElementById('ca-addsection')); pivot = (pivot ? pivot : document.getElementById('ca-edit')); pViewsUL.appendChild(pivot); rightNav.insertBefore(pNotify, pViews.nextSibling) rightNav.insertBefore(pViewsCont, pNotify.nextSibling); } // </source> fr2lwzkud65f0dk9p1v10tmnhy1q5z5 Bản mẫu:Anon 10 10716 63684 2026-10-08T02:12:55Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “[[Wikiquote:Chào mừng người mới đến|Chào mừng]] đến với '''[[Wikiquote:Wikiquote|Wikiquote]]''', tuyển tập các câu trích dẫn miễn phí! Bạn không cần phải [[Special:Userlogin|đăng nhập]] để đọc hoặc chỉnh sửa các bài viết trên Wikiquote, nhưng việc tạo tài khoản rất nhanh chóng, miễn phí và không gây phiền hà, không yêu cầu bạn cung cấp bất kỳ thông tin cá nhân…” 63684 wikitext text/x-wiki [[Wikiquote:Chào mừng người mới đến|Chào mừng]] đến với '''[[Wikiquote:Wikiquote|Wikiquote]]''', tuyển tập các câu trích dẫn miễn phí! Bạn không cần phải [[Special:Userlogin|đăng nhập]] để đọc hoặc chỉnh sửa các bài viết trên Wikiquote, nhưng việc tạo tài khoản rất nhanh chóng, miễn phí và không gây phiền hà, không yêu cầu bạn cung cấp bất kỳ thông tin cá nhân nào, đồng thời mang lại cho bạn nhiều [[Wikiquote:Tại sao nên tạo một tài khoản?|lợi ích]], bao gồm: * Sử dụng [[Wikiquote:Quy định về tên người dùng|tên người dùng]] mà bạn lựa chọn * Khả năng xem [[Special:MyContributions|tất cả các đóng góp của bạn]] thông qua liên kết "Đóng góp của tôi" * ''[[Wikiquote:Trang cá nhân|Trang cá nhân]]'' của riêng bạn * ''Trang thảo luận'' của riêng bạn, nơi nếu bạn muốn, những người dùng khác có thể gửi tin nhắn cho bạn mà không cần biết địa chỉ email của bạn * Sử dụng '''[[m:Help:Watching pages|danh sách theo dõi]]''' cá nhân của riêng bạn, nơi bạn có thể thêm các bài viết mà mình quan tâm * Khả năng [[m:Help:Moving a page|đổi tên các trang]] * Khả năng tùy chỉnh giao diện và cách thức hoạt động của trang web * Đủ điều kiện để trở thành một [[Wikiquote:Bảo quản viên|Bảo quản viên]] * Quyền được tham gia ý kiến trong các cuộc bỏ phiếu và bầu cử chính thức, cũng như tại các trang như [[Wikiquote:Biểu quyết xóa bài|biểu quyết xóa]] Vui lòng xem thêm '''[[Wikiquote:Những gì không phải là Wikiquote|Những gì không phải là Wikiquote]]''' để biết về các hoạt động phổ biến mà Wikiquote không hỗ trợ. Nhấp <big>'''[[Special:Userlogin|vào đây]]'''</big> để tạo tài khoản. <noinclude> [[category:Bản mẫu chào mừng thành viên]] </noinclude> dh15en4mpz14tlrno77t914xintijho Bản mẫu:Welcomeip 10 10717 63685 2026-10-08T02:14:23Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Anon]] 63685 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Anon]] cg67kek5nb1h91fxojysl5qzzs5rbrw Bản mẫu:Trang chính/Các trang đã chọn 10 10718 63694 2026-10-08T08:33:37Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “<div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #111b66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các trang đã chọn</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> <div style="border-top: none; padding: 0.6em; padding-top: none;"> '''Những nhân…” 63694 wikitext text/x-wiki <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #111b66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các trang đã chọn</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> <div style="border-top: none; padding: 0.6em; padding-top: none;"> '''Những nhân vật nổi tiếng''' &mdash; [[Hồ Chí Minh]] &bull; [[Võ Nguyên Giáp]] &bull; [[Phạm Văn Đồng]] &bull; [[Lê Duẩn]] &bull; [[Trường Chinh]] '''Các tác phẩm văn học''' &mdash; ''[[Miếng ăn là miếng nhục]]'' &bull; ''[[Bốn cái ngu]]'' '''Phim ảnh''' &mdash; ''[[Thanh xuân]]'' &bull; ''[[Điện ảnh]]'' '''Các chương trình truyền hình''' &mdash; ''[[The Mummy Returns]]'' '''[[:Thể loại:Công nghệ|Công nghệ]]''' &mdash; [[Công nghệ nano]] &bull; [[Năng lượng hạt nhân]] &bull; [[Năng lượng tái tạo]] &bull; [[Cách mạng Công nghiệp]] &bull; [[Công nghệ thông tin]] &bull; [[Công nghiệp]] &bull; [[Công nghệ]] &bull; [[CPU]] &bull; [[Ổ đĩa cứng]] &bull; [[Ô tô]] &bull; [[Phần mềm]] &bull; [[Robot]] '''[[:Thể loại:Chủ đề|Chủ đề]]''' &mdash; [[Tri thức]] &bull; [[Tử hình]] &bull; [[Nghèo]] &bull; [[Chính quyền]] '''Địa điểm''' &mdash; [[Việt Nam]] &bull; [[Cuba]] &bull; [[Nga]] &bull; [[Trung Quốc]] &bull; [[Nhật Bản]] &bull; [[Pháp]] &bull; [[Thái Lan]] &bull; [[Singapore]] &bull; [[Indonesia]] &bull; [[Hàn Quốc]] &bull; [[Bangladesh]] &bull; [[Ấn Độ]] &bull; [[Afghanistan]] &bull; [[Pakistan]] &bull; [[Philippines]] &bull; [[Ai Cập]] &bull; [[Iran]] &bull; [[Israel]] &bull; [[Thổ Nhĩ Kỳ]] &bull; [[Ả Rập Xê Út]] &bull; [[Iraq]] &bull; [[Argentina]] &bull; [[Brasil]] &bull; [[Colombia]] &bull; [[Nam Phi]] &bull; [[Nigeria]] '''Các mục khác''' &mdash; [[:Thể loại:Tục ngữ|Tục ngữ]] &bull; [[:Thể loại:Ca dao|Ca dao]] </div> </div> </div><noinclude> [[Category:Bản mẫu Trang Chính|{{PAGENAME}}]] </noinclude> la48z9f6vjfrbsj3tchwugohpcu7z9b 63701 63694 2026-10-08T09:02:36Z Làm Việc Thiện 13742 Đã khóa “[[Bản mẫu:Trang chính/Các trang đã chọn]]”: Trang quan trọng có lượng truy cập lớn ([Sửa đổi=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn) [Di chuyển=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn)) 63694 wikitext text/x-wiki <div style="box-shadow:0 0 0.2em #999999; border-radius:0.2em; margin:0.5em 0.5em 1em;"> <div style="background-color: #111b66; color: var(--color-inverted-fixed, #fff); border-radius: 0.2em 0.2em 0 0; padding: 0.4em 0.5em 0.5em 0.8em; font-weight: bold; text-align: center;">&#32;Các trang đã chọn</div> <div style="padding:0.5em 1em; border-radius:0 0 0.2em 0.2em;"> <div style="border-top: none; padding: 0.6em; padding-top: none;"> '''Những nhân vật nổi tiếng''' &mdash; [[Hồ Chí Minh]] &bull; [[Võ Nguyên Giáp]] &bull; [[Phạm Văn Đồng]] &bull; [[Lê Duẩn]] &bull; [[Trường Chinh]] '''Các tác phẩm văn học''' &mdash; ''[[Miếng ăn là miếng nhục]]'' &bull; ''[[Bốn cái ngu]]'' '''Phim ảnh''' &mdash; ''[[Thanh xuân]]'' &bull; ''[[Điện ảnh]]'' '''Các chương trình truyền hình''' &mdash; ''[[The Mummy Returns]]'' '''[[:Thể loại:Công nghệ|Công nghệ]]''' &mdash; [[Công nghệ nano]] &bull; [[Năng lượng hạt nhân]] &bull; [[Năng lượng tái tạo]] &bull; [[Cách mạng Công nghiệp]] &bull; [[Công nghệ thông tin]] &bull; [[Công nghiệp]] &bull; [[Công nghệ]] &bull; [[CPU]] &bull; [[Ổ đĩa cứng]] &bull; [[Ô tô]] &bull; [[Phần mềm]] &bull; [[Robot]] '''[[:Thể loại:Chủ đề|Chủ đề]]''' &mdash; [[Tri thức]] &bull; [[Tử hình]] &bull; [[Nghèo]] &bull; [[Chính quyền]] '''Địa điểm''' &mdash; [[Việt Nam]] &bull; [[Cuba]] &bull; [[Nga]] &bull; [[Trung Quốc]] &bull; [[Nhật Bản]] &bull; [[Pháp]] &bull; [[Thái Lan]] &bull; [[Singapore]] &bull; [[Indonesia]] &bull; [[Hàn Quốc]] &bull; [[Bangladesh]] &bull; [[Ấn Độ]] &bull; [[Afghanistan]] &bull; [[Pakistan]] &bull; [[Philippines]] &bull; [[Ai Cập]] &bull; [[Iran]] &bull; [[Israel]] &bull; [[Thổ Nhĩ Kỳ]] &bull; [[Ả Rập Xê Út]] &bull; [[Iraq]] &bull; [[Argentina]] &bull; [[Brasil]] &bull; [[Colombia]] &bull; [[Nam Phi]] &bull; [[Nigeria]] '''Các mục khác''' &mdash; [[:Thể loại:Tục ngữ|Tục ngữ]] &bull; [[:Thể loại:Ca dao|Ca dao]] </div> </div> </div><noinclude> [[Category:Bản mẫu Trang Chính|{{PAGENAME}}]] </noinclude> la48z9f6vjfrbsj3tchwugohpcu7z9b Bản mẫu:Trang chính/styles.css 10 10720 63697 2026-10-08T08:39:36Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “@media all and (min-width: 768px) { .mainpage-column { /* this sometimes gets automatically flipped and sometimes doesn't, so disable the automatic flipping */ /* @noflip */ float: left; width: 50%; } }” 63697 sanitized-css text/css @media all and (min-width: 768px) { .mainpage-column { /* this sometimes gets automatically flipped and sometimes doesn't, so disable the automatic flipping */ /* @noflip */ float: left; width: 50%; } } p8zklipwpgfgot6t99gi2ogwwzl4o4p John Keats 0 10721 63705 2026-10-08T09:09:51Z Mai Thanh Bang 3613 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “[[Tập tin:John Keats by William Hilton.jpg|nhỏ|phải|Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong chính con người mình; nó không thể chín muồi bằng luật lệ và huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân.]] '''{{w|John Keats}}''' (31 tháng 10 năm 1795 – 23 tháng 2 năm 1821) là một trong những nhà thơ kiệt xuất nhất của phong trào {{w|Chủ nghĩa lãng m…” 63705 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:John Keats by William Hilton.jpg|nhỏ|phải|Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong chính con người mình; nó không thể chín muồi bằng luật lệ và huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân.]] '''{{w|John Keats}}''' (31 tháng 10 năm 1795 – 23 tháng 2 năm 1821) là một trong những nhà thơ kiệt xuất nhất của phong trào {{w|Chủ nghĩa lãng mạn|lãng mạn}} Anh. == Danh ngôn == [[Tập tin:John keats.jpg|nhỏ|phải|Từng đỉnh cao và dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh.]] * Ngọt ngào xiết bao những thú vui thuộc về thơ ca,<br />Và ngọt ngào gấp bội tình huynh đệ trong câu hát. ** "To George Felton Mathew" (tháng 11 năm 1815) * '''Tâm hồn ta quá đỗi yếu mềm – sự phù sinh<br />Đè nặng lên ta tựa giấc ngủ chẳng hề mong muốn''',<br />Và từng đỉnh cao cùng dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh. ** "[[s:On Seeing the Elgin Marbles|On Seeing the Elgin Marbles]]" (1817) * Giữa tháng Chạp đêm dài u tối,<br />Hỡi cái cây quá đỗi hạnh phúc kia,<br />Cành lá ngươi chẳng hề vương vấn<br />Niềm hoan lạc xanh tươi thuở nào. ** "In drear-nighted December", khổ 1 (1817) * Nhưng liệu đã từng có ai<br />Chẳng quằn quại trước niềm vui đã mất?<br />Cái cảm giác không còn cảm thấy,<br />Khi chẳng có điều chi hàn gắn,<br />Cũng không có giác quan tê dại để tôi rèn,<br />Chưa từng được cất lên thành vần điệu. ** "Stanzas", khổ 3 * Biển cất tiếng thì thầm muôn thuở quanh<br />Những bờ hoang vắng, và với ngọn triều cuộn dâng dũng mãnh<br />Nó vỗ ngập hai vạn hang sâu, cho tới khi phép thuật<br />Của Hecate trả lại cho chúng âm vang mờ ảo xưa cũ. ** "On the Sea" (1817) [[Tập tin:John Keats by Benjamin Robert Haydon.jpg|nhỏ|phải|Nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.]] * Khi ta lo sợ mình sẽ lìa đời<br />Trước lúc ngòi bút kịp gặt hái bộ não đang trào dâng ý niệm,<br />Trước khi những trang sách chất cao, bằng chữ nghĩa,<br />Chứa đựng tựa vựa lúa đầy hạt mẩy chín vàng;<br />Khi ta chiêm ngưỡng, trên gương mặt ngàn sao của màn đêm,<br />Những biểu tượng mây mờ kỳ vĩ của cõi diễm tình cao thượng,<br />Và nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ sống để lần theo<br />Bóng hình chúng bằng bàn tay nhiệm màu của cơ duyên;<br />Và khi ta cảm thấy, hỡi tạo vật kiều diễm của một thoáng giây!<br />Rằng ta sẽ không bao giờ được nhìn ngắm nàng thêm nữa,<br />Chẳng bao giờ còn được tận hưởng năng lực diệu kỳ<br />Của tình yêu thuần khiết vô tư! – '''thế rồi nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.''' ** "When I have fears that I may cease to be" (1817) * '''Chớ rơi lệ! Ôi đừng rơi lệ!<br />Đóa hoa kia sẽ nở lại vào năm sau.'''<br />Thôi đừng khóc! Ôi đừng khóc nữa!<br />Nụ non đang say ngủ nơi lõi trắng của cội rễ. ** "Faery Songs", I (1818) * Bàn tay sống động này, giờ đây ấm áp và đủ sức<br />Nắm chặt ân cần, nếu một mai lạnh ngắt<br />Trong cõi tĩnh lặng băng giá của nấm mồ,<br />Sẽ ám ảnh chuỗi ngày của em và làm tê buốt những đêm mơ<br />Đến mức em ước gì tim mình cạn máu<br />Để dòng đời đỏ thắm lại tuôn chảy trong huyết quản của anh,<br />Và lương tâm em được xoa dịu – nhìn xem này –<br />Anh đang chìa nó về phía em. ** "This living hand" (1819) * Hỡi vì sao sáng! Ước gì ta kiên định như người –<br />Chẳng phải treo lơ lửng giữa trời đêm trong vẻ tráng lệ cô đơn<br />Và dõi mắt trông với hàng mi muôn đời hé mở,<br />Tựa ẩn sĩ kiên nhẫn, thức thâu đêm của thiên nhiên,<br />Ngắm làn nước dạt dào thực hiện sứ mệnh tựa linh mục<br />Thanh tẩy thuần khiết quanh bờ cõi trần gian. ** "[[w:Bright star, would I were stedfast as thou art|Bright Star]]" (1819) * Không ai có thể chiếm đoạt đỉnh cao này...<br />Ngoại trừ những kẻ xem nỗi khốn cùng của thế gian<br />Chính là nỗi khốn cùng của mình, và điều đó không để họ được yên nghỉ. ** "The Fall of Hyperion: A Dream" (1819), Khúc I, dòng 147 * Ngày đã tàn, và mọi điều ngọt ngào cũng tan biến!<br />Giọng nói dịu dàng, làn môi êm ái, bàn tay mềm mại, và khuôn ngực càng êm ái hơn. ** Sonnet "The Day is Gone" (sáng tác 1819; xuất bản 1848) * Trước nhãn quan thi sĩ<br />Lớp vỏ của vạn vật tự nhiên mở toang<br />Tới tận cội lõi; và từng tinh túy thầm kín nơi đó<br />Đều hé lộ những yếu tố của cái thiện và cái mỹ;<br />Khiến người thấy được điều mà Học vấn chẳng rọi tới nguồn sáng nào. ** "The Poet", ''London Magazine'' (tháng 10 năm 1821) [[Tập tin:John Keats Tombstone in Rome 01.jpg|nhỏ|Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.]] * '''Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.''' ** Văn bia tự viết cho chính mình (1821) * Rương sách của tôi hãy chia đều cho những người bạn. ** Di chúc (1821) === Thư từ (1817–1820) === * Tôi không chắc chắn về điều gì ngoại trừ sự thiêng liêng của những rung cảm nơi con tim và chân lý của trí tưởng tượng – điều mà trí tưởng tượng nắm bắt như cái đẹp thì ắt phải là chân lý – bất kể nó từng tồn tại trước đó hay chưa. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Trí tưởng tượng có thể ví như giấc mơ của Adam – ông thức giấc và thấy đó là hiện thực. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Ôi, ước gì có được một cuộc đời ngập tràn Cảm giác hơn là đầy ắp Tư tưởng! ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Tôi khó lòng nhớ được việc mình từng trông đợi vào hạnh phúc – tôi không tìm kiếm nó nếu nó chẳng nằm trong hiện tại – chẳng điều gì làm tôi kinh ngạc vượt ngoài khoảnh khắc này. Mặt trời lặn sẽ luôn đưa tôi về trạng thái cân bằng, hoặc nếu một cánh chim sẻ bay đến đậu trước cửa sổ, tôi dự phần vào sự tồn tại của nó và cùng nhặt nhạnh quanh đám sỏi. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Sự xuất sắc của mọi nghệ thuật nằm ở cường độ của nó, có khả năng làm bốc hơi mọi điều khó chịu, bởi chúng gắn bó mật thiết với vẻ đẹp và chân lý. ** Gửi G. và F. Keats (21 tháng 12 năm 1817) * Bất chợt tôi nhận ra phẩm chất làm nên một con người thành tựu, đặc biệt trong văn học, và là điều Shakespeare sở hữu ở mức độ phi thường – ý tôi là ''năng lực tiêu cực'' (negative capability), tức là khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ. ** Gửi George và Thomas Keats (22 tháng 12 năm 1817) * Chúng sẽ tự giải thích cho chính mình – như mọi bài thơ đều nên làm mà chẳng cần tới bất kỳ lời bình giải nào. ** Gửi George Keats (1818) * Các tác phẩm thiên tài là những điều đứng hàng đầu trên thế gian này. ** Gửi G. và F. Keats (13 tháng 1 năm 1818) * Chẳng có gì tốt hơn cho mục đích tạo ra các trước tác vĩ đại bằng sự chín muồi dần dần của các năng lực trí tuệ. ** Gửi em trai George Keats (23 tháng 1 năm 1818) * '''Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một điều gì đó đi sâu vào tâm hồn con người, không làm nó giật mình hay sửng sốt bởi chính bản thân bài thơ, mà bởi chủ đề của nó.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * Chúng ta ghét thứ thơ ca có mưu toan lộ liễu nhắm vào mình – và nếu ta không đồng thuận, nó dường như đút tay vào túi quần quay đi. Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một thứ bước vào tâm hồn, không làm người ta giật mình hay choáng ngợp bởi chính hình thức của nó, mà bởi điều nó chuyển tải. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * '''Nhiều người sở hữu tâm trí độc đáo mà không hề hay biết – họ bị thói quen dẫn dụ đi lạc – Giờ đây đối với tôi, dường như bất kỳ ai cũng có thể như loài nhện, tự rút từ nội tâm mình ra tòa thành quách của riêng mình.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (19 tháng 2 năm 1818) [[Tập tin:John Keats, portrait by Joseph Severn.jpg|nhỏ|Nếu [[thơ ca]] không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn.]] * Trong Thi ca tôi có một vài định đề, và bạn sẽ thấy tôi còn cách xa tâm điểm của chúng dường nào. Tôi nghĩ Thơ ca nên gây ngạc nhiên bằng sự dồi dào tinh tế chứ không phải bằng sự lập dị kỳ quặc – nó phải tác động tới độc giả như cách diễn đạt những suy nghĩ cao quý nhất của chính họ, và hiện lên gần như một miền hồi ức – Những nét chấm phá của Cái đẹp không bao giờ được dừng ở nửa chừng khiến độc giả hụt hơi thay vì thỏa nguyện: sự khởi phát, diễn tiến, và lắng đọng của hình ảnh phải đến tự nhiên với họ như vầng Thái dương – chiếu rọi và lặn xuống bình dị dù trong vẻ huy hoàng, để họ lại trong sự êm đềm của ánh hoàng hôn – nhưng nghĩ xem Thơ ca nên là gì thì dễ hơn viết ra nó nhiều – và điều này dẫn tôi tới một định đề khác: Rằng nếu Thơ ca không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn. ** Gửi John Taylor (27 tháng 2 năm 1818) * Cảnh sắc thật tuyệt mỹ – nhưng bản tính con người còn tuyệt mỹ hơn. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Mọi sự theo đuổi tinh thần đều nhận lấy tính hiện thực và giá trị từ lòng nhiệt thành của người theo đuổi. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Các định đề trong triết học không phải là định đề cho đến khi chúng được kiểm chứng qua từng nhịp đập nơi mạch máu của chúng ta: ta đọc những điều hay nhưng chẳng bao giờ cảm nhận trọn vẹn cho tới khi đã trải qua những bước đi hệt như tác giả. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi so sánh đời người với một dinh thự lớn có nhiều gian phòng, trong đó tôi mới chỉ có thể mô tả được hai gian, những cánh cửa của các phòng còn lại hiện vẫn đóng chặt trước mắt tôi. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi chắc chắn rằng mình không có cảm nhận đúng mực về phụ nữ – lúc này tôi đang nỗ lực đối xử công bằng với họ, nhưng không thể. Phải chăng bởi họ cách quá xa trí tưởng tượng thời niên thiếu của tôi? Khi còn là cậu học trò, tôi ngỡ người phụ nữ đẹp là Nữ thần thuần khiết; tâm trí tôi là tổ ấm êm đềm nơi một người trong số họ ngả lưng say ngủ, dẫu nàng chẳng hề hay biết. ** Gửi Benjamin Bailey (18 tháng 7 năm 1818) * Có một sự ấm áp thiêng liêng quanh trái tim tôi tựa hồ gánh nặng của sự bất tử. ** Gửi John Hamilton Reynolds (22 tháng 9 năm 1818) * Tôi bắt đầu thấu hiểu đôi chút về sức mạnh và điểm yếu của chính mình. Lời khen hay tiếng chê chỉ có tác động thoáng qua đối với người mà tình yêu cái đẹp trừu tượng đã biến anh ta thành kẻ phê bình khắt khe nhất đối với chính tác phẩm của mình. ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi từng viết một cách độc lập ''khi chưa có sự phán xét''. Về sau tôi có thể viết một cách độc lập, và ''kèm theo sự phán xét''. '''Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong một con người: Nó không thể chín muồi nhờ luật lệ hay huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân''' – Thứ gì mang tính sáng tạo phải tự tạo ra chính nó – Trong Endymion, tôi đã lao đầu xuống biển, và nhờ đó hiểu rõ hơn về các phép dò độ sâu, bãi cát lún và rạn đá ngầm, hơn là cứ quanh quẩn trên bờ cỏ xanh, thổi chiếc sáo ngớ ngẩn, uống trà và đón nhận những lời khuyên dễ chịu. '''Tôi chưa bao giờ sợ thất bại; bởi tôi thà thất bại còn hơn không đứng vào hàng ngũ những người vĩ đại nhất.''' ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi nghĩ rằng sau khi qua đời, tôi sẽ có một chỗ đứng giữa những Nhà thơ Anh quốc. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 10 năm 1818) * '''Phẩm chất thi sĩ'''... không phải là chính nó – nó không có bản ngã riêng – nó là tất cả và không là gì cả – Nó không có cá tính – nó tận hưởng cả ánh sáng lẫn bóng tối; nó sống trong sự say mê tột cùng, dù thanh cao hay nhơ bẩn, cao sang hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó, hèn mọn hay tôn quý. – Nó tìm thấy niềm thích thú khi hoài thai một Iago cũng nhiều ngang như một Imogen. Điều làm triết gia đạo đức kinh sợ lại là niềm hân hoan của nhà thơ tắc kè hoa. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Nhà thơ là thực thể phi-thi-vị nhất trong vạn vật tồn tại; bởi vì người đó không có bản sắc cố định''' – anh ta liên tục truyền nhận – và lấp đầy một thân xác khác. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Cuộc đời của một con người có giá trị là một câu chuyện phúng dụ liên tục – và rất ít đôi mắt nhìn thấy được sự mầu nhiệm của đời sống''' – một cuộc đời tựa Kinh Thánh mang tính tượng trưng... Lãnh chúa Byron tạo ra một hình bóng nổi bật, nhưng ông ấy không mang tính tượng trưng. '''[[William Shakespeare|Shakespeare]] đã sống một cuộc đời phúng dụ: các tác phẩm của ông chính là những lời chú giải cho cuộc đời đó.''' ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * '''Chẳng điều gì trở nên có thực cho đến khi nó được trải nghiệm''' – Ngay cả một câu cách ngôn cũng chẳng là cách ngôn với bạn cho đến khi Đời bạn minh chứng cho nó. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * Bản thân tôi đang theo đuổi tiến trình bản năng hệt như sinh vật trần tục nhất mà bạn có thể nghĩ tới – dẫu còn trẻ, tôi đang viết trong ngẫu hứng – gồng mình tìm kiếm những hạt ánh sáng giữa bóng tối mịt mùng – mà chẳng hay biết sức nặng của bất kỳ khẳng định hay định kiến nào. Nhưng liệu trong điều này tôi có thể thoát khỏi tội lỗi chăng? ** Gửi George và Georgiana Keats (19 tháng 3 năm 1819) * Nếu bạn muốn, hãy gọi thế gian này là "Thung lũng tôi luyện linh hồn." ** Gửi George và Georgiana Keats (21 tháng 4 năm 1819) * Tôi có hai điều xa xỉ để trầm ngâm trong những chuyến dạo bước: vẻ kiều diễm của em và giờ phút lìa đời của tôi. Ôi ước gì tôi có thể sở hữu cả hai điều ấy trong cùng một phút giây. ** Gửi Fanny Brawne (25 tháng 7 năm 1819) * Tôi chẳng có gì để nói ngoại trừ về bản thân mình – và tôi có thể nói gì ngoài những gì tôi cảm nhận? ** Gửi John Hamilton Reynolds (24 tháng 8 năm 1819) * '''Một số người nghĩ tôi đã đánh mất ngọn lửa thi ca nồng nhiệt thuở nào – thực tế có lẽ đúng là vậy; nhưng bù lại, tôi hy vọng sẽ thay thế nó bằng một sức mạnh trầm tĩnh và sâu sắc hơn.''' ** Gửi George Keats (21 tháng 9 năm 1819) * Tôi từng kinh ngạc khi thấy người ta có thể tử vì đạo cho tôn giáo – tôi từng rùng mình vì điều đó – nhưng giờ không còn rùng mình nữa – tôi có thể tử đạo vì Tôn giáo của mình – Tình yêu là tôn giáo của tôi – tôi có thể chết vì điều đó – tôi có thể chết vì em. Giáo lý của tôi là Tình yêu và em là tín điều duy nhất. ** Gửi Fanny Brawne (13 tháng 10 năm 1820) * "Nếu phải chết," tôi tự nhủ, "ta chẳng để lại tác phẩm bất hủ nào – chẳng có gì để bạn bè tự hào về ký ức của ta – nhưng '''ta đã yêu nguyên lý của cái đẹp trong vạn vật, và nếu có thời gian, ta đã khiến người đời phải nhớ đến mình.'''" ** Gửi Fanny Brawne (khoảng tháng 2 năm 1820) * Em luôn luôn mới mẻ. Nụ hôn cuối cùng của em bao giờ cũng ngọt ngào nhất; nụ cười sau cùng luôn rạng rỡ nhất; cử chỉ sau cùng luôn duyên dáng nhất. ** Gửi Fanny Brawne (tháng 3 năm 1820) * Bạn có thể kiềm chế sự hào phóng của mình lại, để trở thành một nghệ sĩ đúng nghĩa hơn, và lấp đầy mọi kẽ hở của chủ đề bằng quặng quý. ** Gửi [[Percy Bysshe Shelley]] (tháng 8 năm 1820) * Tôi khó lòng nói lời từ biệt với anh, ngay cả trong một bức thư. Tôi luôn vụng về khi cúi chào. Cầu Chúa ban phúc cho anh! ** Gửi Charles Armitage Brown (30 tháng 11 năm 1820) === ''Poems'' (1817) === * Ta nhón chân đứng trên ngọn đồi nhỏ,<br />Không khí mát lành và tĩnh lặng xiết bao,<br />Đến nỗi những nụ hoa e ấp khiêm nhường<br />Nghiêng nghiêng rủ xuống theo đường cong thoai thoải,<br />Thân mảnh khảnh, lơ thơ đôi nhánh lá,<br />Vẫn chưa làm rơi những vương miện ngàn sao<br />Đón lấy từ tiếng thổn thức ban mai. ** "I Stood Tiptoe", dòng 1 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và rồi len lỏi khẽ khàng<br />Một thanh âm không tiếng động giữa vòm lá xôn xao,<br />Sinh ra từ chính tiếng thở dài mà tĩnh lặng trút ra. ** "I Stood Tiptoe", dòng 10 * Hãy mở toang lần nữa vòng cánh hoa ngàn sao,<br />Hỡi những bông cúc vạn thọ nồng nàn! ** "I Stood Tiptoe", dòng 47 * Kìa, bạn có thể đọc xong hai bài sonnet, trước khi chúng bơi tới<br />Nơi dòng nước mát lành hối hả luôn cất lời giảng giải<br />Một bài thuyết pháp tự nhiên qua những đáy sỏi gập ghềnh;<br />'''Nơi bầy cá nhỏ nhô những cái đầu bé xíu,<br />Giữ thân mình lượn sóng ngược dòng trôi''',<br />Để nếm trải cảm giác xa hoa của những tia nắng ấm<br />Được xoa dịu bởi làn nước mát lành. ** "I Stood Tiptoe", dòng 72 * Đôi khi những chú chim sẻ vàng sà xuống từng con một<br />Từ những cành cây la đà thấp thoáng; chỉ dừng lại một thoáng giây;<br />Nhấp chút nước, ríu rít, rỉa mượt bộ lông mềm;<br />Rồi vụt bay đi ngay, như trong cơn bốc đồng nghịch ngợm:<br />Hoặc có lẽ để khoe đôi cánh đen điểm ánh vàng<br />Chao lượn ngập ngừng trong sắc vàng óng ả. ** "I Stood Tiptoe", dòng 87 * Chẳng có gì ngoài tiếng thở dài êm dịu của làn gió<br />Dọc theo dòng suối đầy lau sậy; một giai điệu vẳng nghe mờ nhạt,<br />Tràn ngập nỗi tiêu điều ngọt ngào – niềm đau dịu dàng. ** "I Stood Tip-toe" * Hỡi phụ nữ! Khi ta thấy nàng nông nổi, phù phiếm,<br />Thất thường, trẻ con, kiêu kỳ và đầy rẫy những đỏng đảnh. ** "When I Behold Thee Flippant, Vain", khổ 1 * Với kẻ đã bị giam hãm quá lâu chốn thị thành,<br />Thật ngọt ngào biết bao khi được ngắm nhìn gương mặt thanh tú<br />Và rộng mở của bầu trời. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * Tựa hồ như giọt nước mắt thiên thần rơi xuống<br />Lướt qua tầng không trong vắt giữa thinh lặng. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * '''Ta đã chu du nhiều nơi trong cõi hoàng kim,<br />Từng thấy biết bao vương quốc và lãnh địa tráng lệ;<br />Đã từng qua nhiều hải đảo phía tây<br />Nơi các thi sĩ giữ lòng trung thành với thần Apollo.'''<br />Thường nghe kể về một miền rộng lớn bao la<br />Mà thi hào Homer trán rộng cai quản tựa lãnh địa của mình,<br />Song ta chưa từng hít thở bầu thanh khí thuần khiết ấy<br />Cho tới khi nghe Chapman cất tiếng sang sảng và can trường:<br />'''Khi ấy ta cảm thấy mình như kẻ dõi mắt ngắm bầu trời<br />Lúc một hành tinh mới bơi vào tầm ngắm;<br />Hoặc như Cortez quả cảm khi với đôi mắt chim ưng<br />Ông nhìn đăm đăm ra Thái Bình Dương, và toàn thể thuộc hạ<br />Nhìn nhau với nỗi hoài nghi hoang dại,<br />Lặng câm, trên đỉnh núi chót vót ở Darien.''' ** "On First Looking into Chapman's Homer" * Và những tâm hồn khác đang đứng riêng biệt<br />Nơi vầng trán của thời đại tương lai;<br />Họ, chính họ sẽ ban cho thế gian một trái tim khác,<br />Và những nhịp đập khác. Các ngươi không nghe thấy tiếng rì rầm<br />Của những chuyển dịch vĩ đại nơi thương trường xa xôi ư?<br />Hãy lắng nghe trong giây lát hỡi các dân tộc, và hãy lặng im. ** "Sonnet. Addressed to the Same" (Benjamin Robert Haydon) * Thi ca của đất trời chẳng bao giờ lụi tàn. ** "Sonnet. On the Grasshopper and the Cricket" * Hãy dừng lại và ngẫm suy! Cuộc đời chỉ tựa một ngày;<br />Một giọt sương mong manh trên hành trình hiểm trở<br />Rơi từ ngọn cây cao. ** "Sleep and Poetry", khổ 5 * Ôi ước gì có được mười năm, để ta có thể đắm chìm<br />Bản thân vào thi ca; ngõ hầu ta thực hiện được kỳ tích<br />Mà chính tâm hồn ta đã tự định đoạt cho mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 6 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một cơn mưa ánh sáng<br />Bất tận chính là thi ca; đó là quyền năng tối thượng;<br />Là sức mạnh tựa nửa say ngủ trên cánh tay phải của chính mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Nhưng sức mạnh đơn độc dẫu sinh ra từ các Nàng Thơ<br />Cũng tựa như thiên thần sa ngã: những thân cây bật gốc,<br />Bóng tối, sâu bọ, vải liệm và mồ mả<br />Lại làm nó thích thú; bởi nó nuôi mình bằng những gai góc,<br />Và chông gai của cuộc đời; quên mất mục đích lớn lao<br />Của thi ca, là phải trở thành người bạn<br />Xoa dịu những âu lo và nâng đỡ tâm tư con người. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Cuộc trò chuyện ngọt ngào của một tâm hồn thơ ngây. ** Sonnet: "Solitude" === ''{{w|Endymion (thơ)|Endymion}}'' (1818) === [[Tập tin:Endymion.JPG|nhỏ|Một điều [[cái đẹp|xinh đẹp]] là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không.]] [[Tập tin:Girodet - Sommeil Endymion.jpg|nhỏ|Ôi [[giấc ngủ]] diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng!]] * '''Chẳng có địa ngục nào khốc liệt hơn sự thất bại trong một mục tiêu vĩ đại.''' ** Lời tựa * Trí tưởng tượng của một cậu bé thì lành mạnh, và trí tưởng tượng chín chắn của một người đàn ông cũng lành mạnh; nhưng có một khoảng đời ở giữa, khi tâm hồn đang lên men, tính cách chưa định hình, lối sống còn bấp bênh, tham vọng còn mờ mịt: từ đó nảy sinh sự ủy mị, cùng hàng ngàn vị đắng cay mà những người tôi nói tới ắt phải nếm trải khi lật qua những trang sau. ** Lời tựa * '''Một điều xinh đẹp là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không'''; mà vẫn luôn giữ cho ta<br />Một chòi lá thanh bình, và một giấc nồng<br />Đầy những giấc mơ êm ái, sức khỏe và hơi thở an yên. ** Quyển I, dòng 1 * '''Bất chấp tất cả,<br />Một hình bóng của cái đẹp sẽ xua tan tấm màn che<br />Khỏi tâm hồn u tối của chúng ta.''' ** Quyển I, dòng 11 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vẻ bi tráng của định mệnh<br />Mà chúng ta tưởng tượng về những người đã khuất lẫy lừng;<br />Mọi câu chuyện đáng yêu ta từng nghe hay đọc:<br />Là dòng suối bất tận của thức uống trường sinh,<br />Rót xuống chúng ta từ bờ cõi thiên đường. ** Quyển I, dòng 20 * Ta đâu chỉ cảm nhận những tinh túy ấy<br />Trong một giờ ngắn ngủi; không, cũng như những hàng cây<br />Thì thầm quanh ngôi đền sẽ sớm trở nên<br />Thân thương như chính ngôi đền, vầng trăng cũng vậy,<br />Niềm đam mê thi ca, những vinh quang vô tận,<br />Ám ảnh ta cho đến khi chúng trở thành nguồn sáng reo vui<br />Chiếu rọi tâm hồn, và gắn kết với ta chặt chẽ,<br />Đến mức, '''dù trời rạng rỡ hay u ám mây mờ,<br />Chúng luôn phải ở bên ta, bằng không ta sẽ chết.''' ** Quyển I, dòng 25 * Ôi giấc ngủ diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng! ** Quyển I, dòng 453 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thời gian, bà vú già nua ấy,<br />Đã ru ta vào sự nhẫn nại. ** Quyển I, dòng 705 * '''Hạnh phúc nằm ở đâu? Nằm ở điều vẫy gọi<br />Tâm trí sẵn sàng của ta bước vào mối giao hảo thần thánh,<br />Mối giao cảm với bản thể; cho đến khi ta tỏa sáng,<br />Được biến đổi hoàn toàn, và tự do ngoài không gian. Kìa trông<br />Tín ngưỡng quang đãng của cõi trời!''' ** Quyển I, dòng 777 * '''Những bóng ma của lời tiên tri du dương gào thét<br />Quanh mọi dấu chân nơi Apollo từng bước qua''';<br />Những chiếc tù và đồng thức giấc, và khẽ vang lên,<br />Nơi xưa kia từng diễn ra trận chiến khổng lồ;<br />Và, từ thảm cỏ, một khúc hát ru lướt qua<br />Khắp mọi nơi Orpheus thuở ấu thơ từng yên giấc.<br />'''Ta có cảm nhận được những điều này chăng? – khoảnh khắc đó ta đã bước<br />Vào một trạng thái duy nhất, và tâm thế của ta<br />Tựa hồ một linh hồn đang trôi nổi.''' Nhưng còn có<br />Những vướng bận phong phú hơn, những say mê<br />Tự hủy diệt hơn nhiều, từng bước dẫn lối<br />Tới cường độ tột đỉnh: '''chiếc vương miện của những điều này<br />Được kết bằng tình yêu và tình bạn, ngự trị uy nghi<br />Trên vầng trán của nhân loại.''' ** Quyển I, dòng 789 * Tâm hồn không ngơi nghỉ của ta chẳng bao giờ chịu đựng nổi<br />Việc chìm đắm quá lâu vào một nỗi xa hoa duy nhất,<br />Trừ phi, dù trong âu lo, nó thoáng nhận ra<br />'''Một niềm hy vọng vượt lên trên bóng hình của một giấc mơ.''' ** Quyển I, dòng 854 * Khoái lạc thường chỉ là khách qua đường; nhưng nỗi đau<br />Lại bám riết lấy ta một cách tàn nhẫn. ** Quyển I, dòng 906 * '''Kẻ nào e sợ dấn bước theo<br />Nơi những tiếng nói hư không dẫn đường<br />Sẽ chẳng bao giờ được đội vương miện bất tử.''' ** Quyển II, dòng 211 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đó là tai ương<br />Của ái tình: những niềm vui đẹp đẽ nhất lại đem đến nhiều bất an nhất. ** Quyển II, dòng 365 * &nbsp;&nbsp; Với Nỗi Sầu Đau<br />&nbsp;&nbsp;Ta cất lời chào buổi sớm,<br />Tưởng rằng đã bỏ nàng lại phía sau xa xôi;<br />&nbsp;&nbsp;Nhưng vui vẻ thay, rạng rỡ thay,<br />&nbsp;&nbsp;Nàng yêu ta tha thiết;<br />Nàng son sắt với ta dường bao, và quá đỗi ân cần:<br />Ta toan dối lừa nàng<br />Và bỏ nàng ra đi,<br />Nhưng ôi! Nàng quá đỗi thủy chung và ân cần. ** Quyển IV, dòng 173 * Thật nhiều, thật nhiều, và hân hoan xiết bao. ** Quyển IV === ''{{w|La Belle Dame sans Merci}}'' (1819) === [[Tập tin:La Belle Dame Sans Merci, by John William Waterhouse, 1893, oil on canvas - Hessisches Landesmuseum Darmstadt - Darmstadt, Germany - DSC01228.jpg|nhỏ|Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang.]] * Ôi, điều gì làm chàng phiền muộn, hỡi hiệp sĩ mang giáp phục,<br />Đơn độc và tha thẩn với gương mặt nhợt nhạt?<br />Cỏ lác đã héo tàn nơi bờ hồ,<br />Và chẳng còn tiếng chim ca. ** Khổ I * Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang. ** Khổ IV * Ta kết cho nàng một vòng hoa cài đầu,<br />Cả những chuỗi vòng tay, và chiếc thắt lưng hương ngát;<br />Nàng nhìn ta tựa hồ trao trọn yêu thương,<br />Và khẽ buông tiếng than êm ái. ** Khổ V * Ta thấy những vị vua cùng hoàng tử tái nhợt,<br />Những chiến binh nhợt nhạt, tất cả đều mang sắc mặt tái mét như tử thi;<br />Họ gào thét: "La Belle Dame sans Merci<br />Đã giam cầm ngươi trong bùa mê!" ** Khổ X === ''{{w|Hyperion (thơ)|Hyperion: Đoạn thơ dang dở}}'' (1819) === * Sâu trong nỗi u sầu râm mát của thung lũng<br />Chìm khuất xa khỏi hơi thở trong lành của ban mai,<br />Xa buổi trưa rực lửa, và ánh sao hôm lẻ loi,<br />Saturn tóc hoa râm ngồi đó, lặng lẽ như phiến đá,<br />Bất động tựa cõi tĩnh mịch vây quanh hang ổ của mình;<br />Rừng tiếp rừng trĩu nặng trên đầu ông<br />Như mây tầng mây. ** Quyển I, dòng 1 * Lời phán truyền uy nghiêm của những vị thần thuở sơ khai! ** Quyển I * Tựa như, trong đêm hè mê đắm,<br />Những vị nghị viên áo xanh của đại ngàn hùng vĩ,<br />Những cây sồi sừng sững, được những vì sao ân cần ru ngủ cành lá,<br />Mơ màng, và mơ màng suốt đêm chẳng hề lay động,<br />Ngoại trừ một luồng gió cô đơn thoảng qua<br />Chợt đến giữa thinh không rồi vụt tắt,<br />Như thể làn không khí thoái trào chỉ có một gợn sóng duy nhất. ** Quyển I, dòng 72 * Những ngày tháng thanh bình và tĩnh lặng êm đềm đã qua đi. ** Quyển II * '''Giờ đây nỗi đau của [[chân lý]] đã đến, với kẻ xem đó là nỗi đau;<br />Ôi điên rồ thay! Bởi gánh chịu mọi chân lý trần trụi,<br />Và điềm nhiên đối diện cảnh ngộ,<br />Đó mới là đỉnh cao của quyền uy tối thượng.''' Hãy ghi nhớ lấy. ** Quyển II, dòng 202 * Tri thức bao la biến ta thành một vị Thần. ** Quyển III, dòng 113 === ''Poems'' (1820) === * Còn về đôi mắt nàng: đôi mắt ấy có thể làm gì nơi đó<br />Ngoài tuôn rơi, tuôn rơi dòng lệ, vì sinh ra quá đỗi kiều diễm? ** "Lamia", Phần I, dòng 61 * Tình yêu trong túp lều tranh, với mẩu bánh mì và ngụm nước lã,<br />Chỉ là – Tình yêu ơi xin thứ tha! – tro tàn, xỉ rác, bụi mờ. ** "Lamia", Phần II, dòng 1 * Đã từng có một cầu vồng uy nghiêm ngự nơi thiên giới:<br />Chúng ta biết đường dệt, cấu trúc của nó; nó bị đưa vào<br />Danh mục tẻ nhạt của những vật tầm thường.<br />'''Triết học sẽ xén bớt đôi cánh của Thiên thần''',<br />Chinh phục mọi điều huyền bí bằng thước dây và quy tắc,<br />Làm trống rỗng bầu không khí ma mị, và những mỏ thần lùn –<br />Tháo gỡ một chiếc cầu vồng, như cách nó từng khiến<br />Nàng Lamia dịu dàng tan biến vào bóng hư vô. ** "Lamia", Phần II, dòng 229 [[Tập tin:William Holman Hunt - Isabella and the Pot of Basil, 1867.jpg|nhỏ|“Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.”]] * “Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.” ** "Isabella; or, The Pot of Basil", khổ 62 * Vậy hãy để ta làm dàn hợp xướng của nàng, và cất tiếng thở than<br />Trong những giờ khắc nửa đêm ** "Ode to Psyche", khổ 3 * Và nơi đó sẽ dành cho nàng mọi niềm hoan lạc êm dịu<br />Mà ý nghĩ mông lung có thể đạt tới,<br />Một ngọn đuốc sáng, và khung cửa sổ mở toang trong đêm,<br />Để đón Tình Yêu nồng ấm bước vào! ** "Ode to Psyche", khổ 5 * Cứ để Trí Tưởng Tượng mặc sức rong chơi,<br />Khoái lạc chẳng bao giờ chịu ở yên trong nhà. ** "Fancy", dòng 1 * Những thi sĩ của Đam mê và Hoan lạc,<br />Các người đã để lại linh hồn mình nơi trần thế!<br />Liệu các người có linh hồn nơi thiên đường chăng,<br />Sống cuộc đời nhân đôi ở những cõi giới mới mẻ? ** "Ode: The Fair Maid of the Inn" * Hỡi linh hồn của những Thi sĩ đã khuất bóng,<br />Cõi Elysium nào các người từng hay biết,<br />Cánh đồng hạnh phúc hay hang động phủ rêu phong,<br />Có tuyệt diệu hơn Quán trọ Nàng tiên cá? ** "Lines on the Mermaid Tavern", dòng 1–4 [[Tập tin:Autumn-slovakia.JPG|nhỏ|Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh.]] * '''Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh''';<br />Uốn cong những thân cây quanh mái nhà rêu phong bằng trĩu nặng táo thơm,<br />Và làm căng tràn mọi quả ngọt đến tận cội lõi;<br />Làm nứt đất ngầm, vỗ béo những hạt phỉ<br />Bằng nhân ngọt ngào; giục giã đâm chồi thêm nữa,<br />Thêm nữa những đóa hoa muộn màng cho bầy ong,<br />Cho tới khi chúng ngỡ những ngày ấm áp sẽ chẳng bao giờ ngưng nghỉ,<br />Bởi Mùa Hè đã rót tràn trề vào những tầng tổ dính sánh. ** "[[s:To Autumn (Keats)|To Autumn]]", khổ 1 * '''Ai từng chẳng thường thấy bóng ngươi giữa kho lúa của mình?'''<br />Đôi khi kẻ nào cất bước tìm kiếm có thể thấy<br />Ngươi ngồi thảnh thơi trên sàn kho thóc,<br />Mái tóc khẽ bay trong làn gió sảy;<br />Hoặc ngủ say sưa trên luống cày gặt dở,<br />Mê man trong hương thuốc phiện, khi lưỡi liềm của ngươi<br />Dung tha vạt lúa kế bên cùng muôn hoa đan cài. ** "To Autumn", khổ 2 * Rồi trong dàn đồng ca than vãn, bầy muỗi nhỏ cất tiếng sầu<br />Giữa rặng liễu ven sông, bay bổng lên cao<br />Hay chìm xuống theo từng hơi thở tàn hay sống của ngọn gió thoảng. ** "To Autumn", khổ 3 * '''Không, đừng, chớ tìm đến [[sông Lethe]],''' cũng đừng vặn xoắn<br />Rễ cây phụ tử bám chặt, để chưng cất thứ rượu độc;<br />Cũng đừng để vầng trán nhợt nhạt của ngươi bị hôn lấy<br />Bởi hoa cà độc dược. ** "Ode on Melancholy", khổ 1 * Nhưng khi cơn u sầu chợt đổ ập xuống<br />Bất ngờ từ trời cao tựa đám mây tuôn lệ,<br />Nuôi dưỡng muôn hoa đang ủ rũ gục đầu,<br />Và giấu ngọn đồi xanh trong tấm khăn liệm tháng Tư;<br />Thì hãy thỏa mãn nỗi đau buồn của ngươi nơi đóa hồng sớm mai. ** "Ode on Melancholy", khổ 2 * Nàng ngự cùng Cái Đẹp – Cái Đẹp phải tàn phai;<br />Và Niềm Vui, kẻ luôn đặt tay lên môi<br />Để cất lời từ biệt; cùng Khoái Lạc nhức nhối cận kề,<br />Hóa thành độc dược ngay lúc miệng ong hút nhụy.<br />Phải, ngay trong đền thờ của Lạc Thú<br />Nàng U Sầu che mạng có thánh điện tối cao của mình,<br />Dẫu chẳng ai thấy ngoại trừ kẻ có chiếc lưỡi dũng mãnh<br />Dám nghiền nát trái nho Hoan Lạc nơi vòm họng tinh tế;<br />Linh hồn người đó sẽ nếm trải nỗi buồn từ quyền năng của nàng,<br />Và bị treo lơ lửng giữa những chiến tích mây mờ của nàng. ** "Ode on Melancholy", khổ 3 ==== ''{{w|The Eve of St. Agnes}}'' ==== * Đêm trước ngày Thánh Agnes – Ôi, buốt giá đắng cay làm sao!<br />Cú vọ, dù mang đủ lông vũ, vẫn run rẩy vì giá rét;<br />Thỏ rừng khập khiễng rụt rè bước qua thảm cỏ đóng băng,<br />Và bầy cừu im lìm cuộn mình trong chuồng len ấm. ** Khổ 1 * Giọng lưỡi hoàng kim của âm nhạc<br />Đã dỗ dành người đàn ông già nua nghèo khó này đến trào nước mắt. ** Khổ 3 * Tiếng kèn bạc gắt gỏng bắt đầu cất lời quở trách. ** Khổ 4 * Khúc nhạc khắc khoải tựa một vị Thần trong cơn đau đớn. ** Khổ 7 * Nàng thở dài mong ngóng những giấc mơ ngày lễ Agnes, giấc mơ ngọt ngào nhất trong năm. ** Khổ 7 * Say ngủ trong lòng những truyền thuyết xa xưa. ** Khổ 15 * Chợt một ý nghĩ hiện về tựa đóa hồng nở rộ,<br />Làm bừng đỏ vầng trán chàng, và trong trái tim đau đớn<br />Dấy lên một cơn bạo loạn sắc tía. ** Khổ 16 * Một sinh linh già yếu, bất lực, run rẩy nơi nghĩa địa. ** Khổ 18 * Như thể chú chim sơn ca không lưỡi cố phồng căng<br />Cuống họng trong vô vọng, rồi chết vì nghẹn thở nơi khe núi hẻo lánh. ** Khổ 23 * Trăng mùa đông chiếu rọi thẳng vào ô cửa sổ này,<br />'''Và hắt sắc đỏ ấm áp lên khuôn ngực trắng ngần của Madeline''',<br />Khi nàng quỳ gối cầu xin ân huệ và phước lành của thiên đường;<br />Sắc hồng rơi trên đôi bàn tay nàng đang chắp lại. ** Khổ 25 * Nàng tháo từng món trang sức ấm áp của mình;<br />Nới lỏng vạt áo ngực ngát hương; dần dà<br />Tấm xiêm y lộng lẫy trượt sột soạt xuống đầu gối nàng. ** Khổ 26 * Tựa như đóa hồng khép cánh lại để trở về làm nụ non. ** Khổ 27 * Và nàng vẫn chìm trong giấc ngủ mi mắt biếc xanh,<br />Trên tấm vải lanh trắng tinh, êm ái và thoang thoảng hương hoa oải hương. ** Khổ 30 * Cùng những thứ siro trong vắt, đượm hương quế. ** Khổ 30 * Chàng tấu lên một khúc dân ca cổ từ lâu đã im tiếng,<br />Xứ Provence gọi là "La belle dame sans mercy." ** Khổ 33 * Nàng vội vã theo lời chàng, lòng đầy sợ hãi,<br />Bởi quanh đây muôn loài rồng đang say ngủ,<br />Có lẽ đang trừng mắt canh chừng với những ngọn giáo sẵn sàng –<br />Họ lần tìm lối đi trong bóng tối bước xuống cầu thang rộng. –<br />Khắp ngôi nhà chẳng nghe thấy một tiếng động nhân gian.<br />Ngọn đèn treo dây xích chập chờn bên mỗi cánh cửa;<br />Tấm thảm thêu cảnh kỵ sĩ, chim ưng và chó săn,<br />Phấp phới trong tiếng gầm gào của cơn gió bủa vây;<br />'''Và những tấm thảm dài phập phồng dọc sàn nhà lộng gió.''' ** Khổ 40 * Và họ đã ra đi: phải, từ muôn vàn năm trước<br />Đôi tình nhân ấy đã trốn chạy vào cơn bão tố. ** Khổ 42 ==== ''{{w|Ode to a Nightingale}}'' ==== :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> [[Tập tin:W. J. Neatby - Keats - Nightingale.jpg|nhỏ|Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề.]] * Tim ta đau nhói, và cơn tê dại mơ màng làm buốt giá<br />Các giác quan, như thể ta vừa uống cạn chén độc cần,<br />Hay vừa nốc cạn liều thuốc phiện đắng ngắt<br />Chỉ một phút trước, rồi chìm dần về phía dòng sông Quên: <br />Chẳng phải vì ghen tị với số phận hạnh phúc của ngươi,<br />Mà bởi quá đỗi hân hoan trong niềm hạnh phúc của ngươi, –<br />Rằng ngươi, nàng Dryad cánh nhẹ của cây rừng,<br />Nơi vạt đất du dương<br />Của sắc xanh cây dẻ gai và bóng râm vô tận,<br />Đang cất cao tiếng hát ngợi ca mùa hè bằng tất cả sự thảnh thơi. ** Khổ 1 * '''Ôi, ước gì có một ngụm rượu nho cổ kính! Từng được<br />Làm mát qua bao niên kỷ trong lòng đất sâu thẳm.'''<br />Mang hương vị của Nữ thần Hoa và màu xanh đồng nội,<br />Điệu vũ khúc, câu hò xứ Provence, và niềm vui rám nắng!<br />Ôi ước gì có một chén đầy ắp phương Nam ấm áp,<br />Tràn đầy dòng suối nguồn Hippocrene chân thật, ửng hồng,<br />Với những bọt tăm lấp lánh chớp mắt nơi miệng chén,<br />Và bờ môi nhuốm sắc tím nồng nàn. ** Khổ 2 * Hãy tan biến thật xa, hòa tan, và quên lãng hoàn toàn<br />Điều mà ngươi giữa vòm lá chưa từng hay biết,<br />Sự mệt mỏi, cơn sốt và nỗi bồn chồn<br />Nơi chốn này, nơi con người ngồi nghe tiếng rên xiết của nhau;<br />Nơi chứng bại liệt làm rung rinh vài sợi tóc bạc buồn bã cuối cùng,<br />Nơi tuổi trẻ tái nhợt, gầy guộc như bóng ma rồi chết mòn;<br />Nơi chỉ cần suy nghĩ thôi cũng đã ngập tràn phiền muộn<br />Và những nỗi tuyệt vọng với đôi mắt màu chì. ** Khổ 3 * '''Đã ở bên ngươi rồi! Đêm thật dịu dàng.''' ** Khổ 4 * Ta chẳng thể nhìn thấy những đóa hoa nào dưới chân mình,<br />Cũng không thấy làn hương êm dịu nào vương trên cành biếc,<br />Nhưng giữa bóng tối ướp hương, ta đoán từng vị ngọt ngào. ** Khổ 5 * Và đứa con đầu lòng của giữa tháng Năm,<br />Đóa hồng xạ hương sắp nở, đượm đầy men rượu sương đêm,<br />'''Chốn lui tới vo ve của bầy ruồi trong những chiều hè.''' ** Khổ 5 [[Tập tin:Portrait of Keats - HH.jpg|nhỏ|Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?]] * '''Trong bóng tối ta lắng nghe; và đã biết bao lần<br />Ta gần như phải lòng cái [[Chết]] thanh thản''',<br />Gọi tên Người bằng những danh xưng êm ái trong bao vần thơ ngẫm ngợi,<br />Để gửi gắm vào không trung hơi thở bình yên của mình;<br />Giờ đây hơn bao giờ hết, chết đi dường như là điều phong phú xiết bao,<br />Để chấm dứt giữa đêm trường mà không một chút đớn đau,<br />Khi ngươi đang trút trọn linh hồn mình ra ngoài<br />Trong cơn xuất thần cuồng nhiệt dường ấy!<br />Ngươi vẫn sẽ hót, còn tai ta hóa thành vô ích –<br />Trước khúc chiêu hồn cao cả của ngươi, ta chỉ còn là một mảnh đất cằn. ** Khổ 6 * '''Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề''':<br />Có lẽ chính khúc ca ấy đã tìm được lối đi<br />Qua trái tim sầu muộn của nàng Ruth, khi nhớ nhà quay quắt,<br />Nàng đứng rơi lệ giữa ruộng ngô xa lạ;<br />Cũng chính khúc ca ấy đã biết bao lần<br />Quyến rũ những ô cửa sổ ma thuật, mở ra đầu ngọn sóng<br />Của những vùng biển hiểm nguy, nơi xứ sở thần tiên hoang phế. ** Khổ 7 * Hoang phế! Chính từ ngữ ấy như một hồi chuông<br />Kéo giật ta từ ngươi trở về với cái tôi cô độc! ** Khổ 8 * '''Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?''' ** Khổ 8 ==== ''[[w:Ode on a Grecian Urn|Ode on a Grecian Urn]]'' ==== [[Tập tin:keats urn.jpg|nhỏ|"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.]] :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> * Hỡi cô dâu chưa vấy bụi trần của sự tĩnh lặng,<br />Hỡi đứa con nuôi của thinh lặng và thời gian chậm rãi,<br />Sử gia của chốn rừng già, kẻ có thể diễn bày<br />Một tích truyện ngát hoa ngọt ngào hơn vần thơ chúng ta:<br />Truyền thuyết viền lá nào đang ám ảnh quanh dáng hình ngươi?<br />Của thần linh hay người phàm, hay của cả hai,<br />Nơi thung lũng Tempe hay những hẻm núi xứ Arcady?<br />'''Họ là những người phàm hay thần thánh nào đây? Những thiếu nữ ngập ngừng nào kia?<br />Cuộc rượt đuổi điên cuồng nào? Nỗ lực trốn thoát nào?<br />Tiếng sáo và tiếng trống lục lạc nào? Cơn ngây ngất hoang dại nào?''' ** Khổ 1 * '''Những giai điệu nghe thấy thì ngọt ngào, nhưng những giai điệu không nghe thấy<br />Còn ngọt ngào hơn: vì thế, hỡi những chiếc sáo êm dịu, hãy tấu tiếp đi;<br />Không phải cho đôi tai trần tục, mà đáng trân quý hơn,<br />Hãy thổi cho tâm linh những khúc ca không thành tiếng.'''<br />Chàng trai trẻ khôi ngô, dưới bóng cây, ngươi không thể dứt khỏi<br />Bài ca của mình, và những tán cây kia cũng chẳng bao giờ trơ trụi;<br />Hỡi Tình Nhân táo bạo, chẳng bao giờ, chẳng bao giờ ngươi hôn được nàng,<br />Dẫu đã cận kề đích đến – nhưng, chớ đau buồn;<br />Nàng không thể phai tàn, dẫu ngươi chưa chạm tới niềm hoan lạc,<br />Ngươi sẽ mãi yêu thương, và nàng sẽ mãi vẹn toàn nét xuân thì! ** Khổ 2 * Những ai đang tiến đến buổi hiến tế kia?<br />Tới bàn thờ xanh tươi nào, hỡi vị tư tế huyền bí,<br />Ngươi đang dắt theo con bò cái tơ rống lên trời xanh,<br />Và toàn bộ mạn sườn mượt mà của nó được kết đầy vòng hoa? ** Khổ 4 * Hỡi hình hài câm lặng, ngươi trêu ngươi tư tưởng chúng ta<br />Tựa hồ cõi vĩnh hằng: Khúc Điền Viên Lạnh Giá!<br />Khi tuổi già tàn phá thế hệ này,<br />Ngươi sẽ vẫn ở lại, giữa những nỗi đau khác<br />Không phải của chúng ta, như một người bạn của con người, người mà ngươi nhắn nhủ,<br />'''"[[Cái đẹp]] là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.''' ** Khổ 5 == Nhận định về Keats == * Nhóm người khác mà tôi sinh ra để dành trọn tâm hồn là các nhà thơ Lãng mạn. Đặc biệt là Shelley, và Keats. ** Paula Gunn Allen, phỏng vấn trong ''Survival This Way: Interviews with American Indian Poets'' của Joseph Bruchac (1987) * Ông ấy đã gây ra tổn hại dường nào cho Thi ca Anh quốc. Giống như Robert Browning là người có tài năng vừa phải nhưng khát khao mãnh liệt sự chuyển động và viên mãn, để rồi chỉ thu về một sự bề bộn hỗn loạn, thì Keats với tài năng xuất chúng tột bậc, cũng bị thiêu đốt bởi khát vọng này; và không thể tạo ra những tác phẩm thực sự sống động và lay động, như lương tâm ông vẫn không ngừng mách bảo. Họ không chịu kiên nhẫn cũng chẳng hiểu rằng họ phải bắt đầu bằng một Ý niệm về thế giới để không bị sự bề bộn của thế giới đè bẹp: hoặc nếu không đạt được điều đó, thì ít nhất phải bằng những ý niệm độc lập; và mọi thứ khác rồi (có lẽ) sẽ được thêm vào cho họ. ** Matthew Arnold, thư gửi Arthur Clough, 1848/9, trong ''John Keats: The Critical Heritage'', G.M. Matthews chủ biên (1995) * Tôi nghĩ mình thưởng thức những bức thư của ông ấy còn nhiều hơn cả thơ ca. Ông ấy có một bộ óc tuyệt vời và một cá tính rất kiên cường. ** Elizabeth Bishop, phỏng vấn năm 1966 trong ''Conversations with Elizabeth Bishop'', George Monteiro chủ biên (1996) * [Về cuốn ''Cuộc đời Keats'' của Monckton Milne] Một nỗ lực bắt chúng ta ăn thịt chó chết bằng cách nêm nếm gia vị và nấu nướng tinh vi [...] Kiểu người như Keats ngày càng trở nên kinh tởm đối với tôi. Cơn đói khát mọi thứ khoái lạc thuộc mọi thể loại, kết hợp với sự thiếu hụt mọi sức mạnh khác – quả là một sự kết hợp! Một cấu trúc tâm hồn như vậy, thời xưa hẳn đã quá rõ ràng, là một 'Chiếc bình được chọn của Địa ngục' [...] ** Thomas Carlyle, trong cuốn ''Thomas Carlyle: A History of His Life in London, 1834 - 1881'' của J.A. Froude (1884) * Đây là thứ thơ ca đái dầm của thằng nhóc Johnny Keats [...] Trên bàn của tôi la liệt thứ rác rưởi của Keats và những kẻ tương tự, đến nỗi tôi xấu hổ khi phải nhìn vào chúng [...] Tôi van xin đấy, đừng đưa Keats ra nữa: hãy lột da sống hắn đi; nếu mấy người không làm thì chính tôi sẽ tự tay lột da hắn: không thể nào chịu nổi thói ngớ ngẩn lảm nhảm của cái thằng người lùn ấy. :Tờ ''Edinburgh'' ca ngợi Jack Keats hay Ketch, hay bất kể tên hắn là gì [...] trời ạ, thơ của hắn là thứ Thủ dâm Thi ca – tương tự như khoái lạc mà một gã kéo vĩ cầm người Ý tìm thấy khi bị một ả gái điếm treo lơ lửng mỗi ngày ở phố Drury Lane. Chuyện này diễn ra vài tuần: cuối cùng ả đi mua một panh rượu Gin – gặp một ả khác, tán gẫu quá lâu, và Cornelli bị treo cổ chết thẳng cẳng trước khi ả quay về. Đó chính là thứ rác rưởi mà họ ca tụng, và đó sẽ là hồi kết cho thứ thơ ca vươn dài của kẻ Tự làm ô uế tâm trí con người một cách khốn khổ này. :Ông Keats, người mà anh hỏi thăm thơ phú, đối với tôi hiện lên đúng như những gì tôi đã nói: lối viết như vậy là một kiểu thủ dâm tinh thần – hắn luôn tự kích thích Trí tưởng tượng của mình. Ý tôi không phải hắn khiêu dâm, mà là hắn mồi chài các ý niệm của mình vào một trạng thái suy đồi, thứ chẳng phải thơ ca cũng chẳng phải điều gì khác ngoài ảo ảnh nhà thương điên sinh ra từ thịt lợn sống và thuốc phiện. :* [[Lord Byron]], thư gửi John Murray, 12 tháng 8 – 9 tháng 9 năm 1820, trong ''The Routledge Literary Sourcebook on the Poems of John Keats'', J. Strachan chủ biên (2003) * Sự phẫn nộ của tôi trước việc ông Keats đánh giá thấp Pope khó lòng cho phép tôi đánh giá công bằng thiên tài của ông ấy, người mà bất chấp mọi sự hào nhoáng kỳ quặc trong phong cách, chắc chắn là một tài năng đầy hứa hẹn. Đoạn thơ dang dở Hyperion của ông dường như thực sự được truyền cảm hứng từ các thần Titan, và tráng lệ tựa như tác phẩm của Aeschylus. Ông là một mất mát lớn cho nền văn học của chúng ta. ** Lord Byron, 12 tháng 11 năm 1821 * '''Keats, một người hoàn toàn xa lạ với sự nhầm lẫn, có thể tin rằng con chim sơn ca mê hoặc ông chính là con chim mà nàng Ruth từng nghe thấy giữa ruộng ngô xa lạ ở xứ Bethlehem thuộc Judah'''; Stevenson đưa ra giả thuyết về một cánh chim duy nhất nuốt chửng nhiều thế kỷ: "con chim sơn ca nuốt chửng thời gian." Arthur Schopenhauer – một Schopenhauer nồng nhiệt và sáng suốt – đưa ra lý do: sự trực tiếp thuần túy thuộc về thể xác mà loài vật sinh sống, không hề bận tâm đến cái chết và ký ức. Sau đó ông nói thêm, không giấu nổi một nụ cười: Bất cứ ai nghe tôi quả quyết rằng con mèo xám đang chơi đùa ngoài sân lúc này chính là con mèo từng nhảy nhót và làm trò ở đó năm trăm năm trước sẽ nghĩ bất cứ điều gì họ thích về tôi, nhưng sẽ là một dạng điên rồ kỳ lạ hơn nếu hình dung rằng con mèo ngày nay về cơ bản là một con mèo hoàn toàn khác. ** Jorge Luis Borges, trong "A History of Eternity", dịch trong ''Selected Non-Fictions'' Tập 1 (1999), Eliot Weinberger chủ biên * Vào phần sau của mùa hè năm ấy [1817], lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông. Chúng tôi được giới thiệu với nhau trên đường Hampstead.... ...trong cuộc gặp gỡ kéo dài một phút ấy, tự đáy lòng tôi đã khao khát được làm quen, nếu không muốn nói là làm bạn với ông... Ông có vóc dáng nhỏ bé, cân đối, thân hình gọn gàng, và tuy gầy nhưng khá săn chắc; – một trong số nhiều người chứng minh rằng khí phách nam nhi khác biệt với chiều cao và thể xác vạm vỡ. '''Không có ma thuật nào sánh bằng một gương mặt chân thành, và tôi chưa từng thấy gương mặt của sinh linh nào chân thành như của ông.''' Đôi mắt to đẹp của ông ánh lên vẻ trí tuệ rạng rỡ, và ngời sáng (vào thời điểm đó!) niềm hy vọng cùng niềm vui. Người ta từng nhận xét rằng nét khiếm khuyết nhất là khuôn miệng của ông; và đôi khi đúng là như vậy. Nhưng bất cứ khi nào ông cất lời, hoặc hào hứng về điều gì, biểu cảm của làn môi lại biến đổi và tinh tế đến mức có thể gọi là khôi ngô. ** Charles Armitage Brown, ''Life of John Keats'', tr. 44 * '''Một chàng trai trẻ rất kỳ lạ, nhưng tính tình hòa nhã, tốt bụng, và thực sự rất thông minh.''' ** Bà Maria Dilke, dẫn trong ‘Papers of a Critic’, Sir Charles Dilke, I, tr. 8 * Tôi cũng thích các nhà thơ Lãng mạn. Wordsworth, Keats, Burns và Blake là một vài trong số những tác giả yêu thích của tôi. Có điều gì đó trong tinh thần nổi loạn của họ chống lại những tệ nạn của quá trình công nghiệp hóa đã làm tôi xúc động. Dĩ nhiên giờ đây, một phần sự bi quan, chủ nghĩa thần bí và nhãn quan hiện thực phê phán hạn hẹp của họ khiến tôi cảm thấy khá khó chịu. ** Micere Githae Mugo, trong ''Talking with African Writers'', Jane Wilkinson chủ biên * '''Thời thơ ấu Keats chẳng hề gắn bó với sách vở. Sở thích của cậu là đánh nhau. Cậu sẵn sàng đấm nhau với bất kỳ ai – sáng, trưa và tối, kể cả với em trai mình. Đó là cơm ăn nước uống của cậu.''' Người họ hàng thủy thủ Jennings luôn ngự trị trong suy nghĩ của mấy anh em, và họ quyết tâm giữ vững danh tiếng dũng cảm của gia đình; George theo cách thụ động; John và Tom thì dữ dội hơn. Những người bạn thân của John rất ít; sau khi được biết đến là kẻ sẵn sàng ẩu đả, cậu dường như thích họ vì một thứ tính cách hài hước kệch cỡm và hề hước. Lúc này tôi nhớ lại niềm thích thú của cậu trước những cử chỉ và trò nghịch ngợm phi thường của một cậu bé tên Wade vốn nổi tiếng vì điều này.... Cậu là một đứa trẻ mà bất kỳ ai nhìn vào sự hoạt bát phi thường và vẻ đẹp ngoại hình đều có thể dễ dàng hình dung sẽ trở thành một vĩ nhân – nhưng là trong quân sự hơn là văn học. ** Edward Holmes, bạn học tại Trường Clarke ở Enfield * Cậu ấy được các bạn đồng môn gọi là 'Keats bé nhỏ', khi trưởng thành tối đa cũng không cao quá một mét rưỡi.... Trong phòng, cậu luôn đứng bên cửa sổ, nhìn đăm đăm vào không gian, đến mức chỗ ngồi bên cửa sổ được các bạn gọi là chỗ của Keats.... Trong giảng đường, cậu dường như ngồi tách biệt và mải mê với điều gì khác, như thể chủ đề bài giảng gợi cho cậu những suy nghĩ không liên quan thực tế đến nó. Cậu thường lúc thì nhập tâm, lúc thì lơ đễnh trôi dạt ra ngoài theo một cách mơ màng. <br />Cậu chưa từng đặt nhiều tầm quan trọng vào việc học y của mình, và thực sự coi nghề y là nghề để mưu sinh trong một thế giới bận rộn, mà không chắc liệu mình có thể chịu đựng nổi áp lực của nó hay không. Tuy nhiên, cậu có ý thức về năng lực của chính mình, và thậm chí về sự vĩ đại của mình, dẫu nó có thể không bao giờ được công nhận.... '''Thi ca trong tâm trí cậu là đỉnh cao của mọi khát vọng: điều duy nhất xứng đáng với sự chú ý của những bộ óc siêu việt: cậu nghĩ như vậy: mọi mưu cầu khác đều tầm thường và tẻ nhạt.''' Cậu không có khái niệm nào về danh vọng hay sự vĩ đại ngoại trừ việc nó gắn liền với sự theo đuổi thi ca, hoặc việc đạt tới sự xuất sắc trong thơ ca.... Cậu có phong thái lịch thiệp và khi hạ mình nói về các chủ đề khác, cậu tỏ ra dễ mến và thông minh. Cậu tiếp thu rất nhanh và nhạy bén khi chọn chú tâm vào bất kỳ chủ đề nào. Cậu là một người điềm tĩnh, trầm lặng và cư xử đúng mực, không bao giờ hướng tới những thú vui thấp hèn hay đồi bại. ** Henry Stephens, bạn học tại Bệnh viện Guy * Ông thấp hơn chiều cao trung bình; phần chi dưới nhỏ nhắn so với phần thân trên, nhưng gọn gàng và cân đối. Vai ông rất rộng so với tầm vóc; ông có một gương mặt nơi năng lượng và sự nhạy cảm hòa quyện một cách đáng kinh ngạc, một sức mạnh hăm hở bị kìm hãm và nhẫn nại bởi bệnh tật. Từng đường nét vừa sắc sảo rõ ràng lại vừa sống động tinh tế. Nếu có nét biểu cảm nào khiếm khuyết thì đó là ở khuôn miệng, nơi phảng phất đôi chút tính hiếu chiến... Đầu ông là một câu đố kỳ lạ đối với các nhà [[nhân tướng học]], với hộp sọ nhỏ khác thường; một nét kỳ dị mà ông có điểm chung với Lãnh chúa Byron và ông Shelley, không chiếc mũ nào của họ mà tôi có thể đội vừa. ** Leigh Hunt, "Mr. Keats" * Và anh không nhớ chuyện Keats từng đề nghị nâng ly 'Chúc cho ký ức về Newton bị đảo lộn' và khi anh nài nỉ đòi giải thích trước khi uống, ông ấy đã nói: 'Bởi vì ông ta đã phá hủy chất thơ của chiếc cầu vồng khi quy nó về một lăng kính'? Ôi, người bạn già thân mến của tôi, anh và tôi sẽ chẳng bao giờ còn thấy lại những ngày tháng như thế nữa! ** Benjamin Haydon, Hồi ký và Tự truyện * Tôi nhớ... lần đầu tiên ông được giới thiệu với ông Haydon; và khi trong cuộc trò chuyện, người nghệ sĩ vĩ đại ấy hỏi ông "liệu ông có yêu đất nước mình không", máu đã dồn lên má và nước mắt trào ra nơi khóe mắt ông trước câu trả lời đầy nhiệt huyết. '''Tình yêu tự do của ông thật nồng nàn và cao cả.''' ** Charles Cowden Clarke, bài viết trên tờ ''Morning Chronicle'' (27 tháng 7 năm 1821) * Cậu ấy đang chăm chỉ học tập, ôn lại tiếng Latinh, chuẩn bị học tiếng Hy Lạp, và dường như nhìn chung có lý trí hơn bình thường – nhưng '''cậu ấy là một kẻ bốc đồng thất thường, không thể trông cậy được nhiều. Song cậu ấy chẳng nghĩ tới điều gì ngoài thi ca như mục đích và cùng đích của đời mình, và rồi lúc này hay lúc khác, tôi không nghi ngờ rằng cậu ấy sẽ làm nên điều gì đó có giá trị.''' ** James Augustus Hessey gửi John Taylor (16 tháng 9 năm 1818), dẫn lại bởi Edmund Blunden trong ''Keats's Publisher'', tr. 56 * Người đã khuất là một trong những người bạn ân cần nhất mà tôi từng có, ấy vậy mà có lẽ ông đối với tôi cũng chẳng ân cần hơn đối với những người khác. Trí tuệ mãnh liệt và cảm xúc mạnh mẽ của ông, tôi thực sự tin rằng, lẽ ra đã cống hiến được điều gì đó cho đời nếu cuộc đời dung tha cho ông – nhưng ông mang bản tính quá đỗi nhạy cảm – và vì thế ông đã bị hủy hoại! ** John Hamilton Reynolds * [Keats] chính là linh hồn của lòng dũng cảm và khí phách trượng phu, và giống như ''Đức Thánh Linh'' nhiều ngang như ''chú nhóc Johnny Keats''. ** George Keats * Khi có người bày tỏ sự kinh ngạc với Shelley rằng Keats, người vốn không thông thạo tiếng Hy Lạp, lại có thể viết một cách tao nhã và chuẩn mực cổ điển về các vị thần và nữ thần của họ đến thế, Shelley đã đáp: “Anh ấy ''chính là'' một người Hy Lạp.” ** Richard H. Horne, ''A New Spirit of the Age'' (1844) * hãy nghĩ xem: những vần thơ đã gắn chặt cảnh quan này: Blake, Donne, Keats ** Tuyển tập thơ của Muriel Rukeyser * Với Wordsworth, cõi chết thường ẩn hiện ngay dưới bề mặt, và với Keats cũng vậy, một đứa con khác của thời đại mình, người tin rằng – chịu ảnh hưởng từ [[Thời kỳ Khai sáng]] – chúng ta là những thực thể vật chất trong một vũ trụ vật chất và ta buộc phải chấp nhận số phận đó. Chúng ta phải chết, nhưng không có bờ vai thần thánh nào để tựa vào, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được những chân lý sâu xa nhất, những điều mà trái ngược với mọi tuyên bố của Thời kỳ Khai sáng, cả lý trí lẫn khoa học đều không thể chạm tới. Keats mang một nhãn quan bi kịch về cuộc đời. Ông rõ ràng là một người thuộc [[Chủ nghĩa lãng mạn]]; chẳng có Miền đất hứa Khai sáng nào chờ đợi ông cả. ** Brian L. Silver, ''The Ascent of Science'' (1998) * Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu chỉ là một người mà văn bia của Keats mô tả: “Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.” ** Rebecca Solnit, phỏng vấn trên tạp chí New York Times (2018) * Tôi dành một tình yêu trọn đời cho John Keats, nhà thơ vĩ đại nhất trong số các nhà thơ Lãng mạn Anh sống vào thế kỷ thứ mười chín. Khả năng kỳ diệu trong việc tạo ra cái đẹp bằng ngôn từ của ông đã chạm thấu tâm hồn tôi. Tôi vẫn còn rất trẻ khi đọc bức thư Keats gửi cho em trai mình năm 1817. Trong đó, ông viết về "năng lực tiêu cực", điều mà ông giải thích là phẩm chất "khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ." Tôi bị cuốn hút bởi ý tưởng này vì rất nhiều điều tôi từng trải qua khi còn là một đứa trẻ, thiếu niên và chàng trai trẻ dường như đều bị bao phủ trong bức màn huyền bí. ** Cornel West, ''Brother West: Living and Loving Out Loud, A Memoir'' (2009) == Xem thêm == * {{w|Văn học lãng mạn}} * {{w|Percy Bysshe Shelley}} * {{w|Lord Byron}} * {{w|William Wordsworth}} == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} * [http://bartleby.com/126/ Toàn tập tác phẩm thi ca] * [http://www.john-keats.com/ John Keats.com] * [http://englishhistory.net/keats/contents.html Cuộc đời và tác phẩm của John Keats] * [http://keatsian.com/ Keatsian.com] [[Thể loại:Sinh năm 1795]] [[Thể loại:Mất năm 1821]] [[Thể loại:Nhà thơ Anh]] meyzajiz68gb9c90glr7ljkc4z2pfp7 63706 63705 2026-10-08T09:22:42Z Mai Thanh Bang 3613 /* Danh ngôn */ 63706 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:John Keats by William Hilton.jpg|nhỏ|phải|Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong chính con người mình; nó không thể chín muồi bằng luật lệ và huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân.]] '''{{w|John Keats}}''' (31 tháng 10 năm 1795 – 23 tháng 2 năm 1821) là một trong những nhà thơ kiệt xuất nhất của phong trào {{w|Chủ nghĩa lãng mạn|lãng mạn}} Anh. == Danh ngôn == [[Tập tin:John keats.jpg|nhỏ|phải|Từng đỉnh cao và dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh.]] * Ngọt ngào xiết bao những thú vui thuộc về thơ ca,<br />Và ngọt ngào gấp bội tình huynh đệ trong câu hát. ** "To George Felton Mathew" (tháng 11 năm 1815) * '''Tâm hồn ta quá đỗi yếu mềm – sự phù sinh<br />Đè nặng lên ta tựa giấc ngủ chẳng hề mong muốn''',<br />Và từng đỉnh cao cùng dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh. ** "On Seeing the Elgin Marbles|On Seeing the Elgin Marbles" (1817) * Giữa tháng Chạp đêm dài u tối,<br />Hỡi cái cây quá đỗi hạnh phúc kia,<br />Cành lá ngươi chẳng hề vương vấn<br />Niềm hoan lạc xanh tươi thuở nào. ** "In drear-nighted December", khổ 1 (1817) * Nhưng liệu đã từng có ai<br />Chẳng quằn quại trước niềm vui đã mất?<br />Cái cảm giác không còn cảm thấy,<br />Khi chẳng có điều chi hàn gắn,<br />Cũng không có giác quan tê dại để tôi rèn,<br />Chưa từng được cất lên thành vần điệu. ** "Stanzas", khổ 3 * Biển cất tiếng thì thầm muôn thuở quanh<br />Những bờ hoang vắng, và với ngọn triều cuộn dâng dũng mãnh<br />Nó vỗ ngập hai vạn hang sâu, cho tới khi phép thuật<br />Của Hecate trả lại cho chúng âm vang mờ ảo xưa cũ. ** "On the Sea" (1817) [[Tập tin:John Keats by Benjamin Robert Haydon.jpg|nhỏ|phải|Nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.]] * Khi ta lo sợ mình sẽ lìa đời<br />Trước lúc ngòi bút kịp gặt hái bộ não đang trào dâng ý niệm,<br />Trước khi những trang sách chất cao, bằng chữ nghĩa,<br />Chứa đựng tựa vựa lúa đầy hạt mẩy chín vàng;<br />Khi ta chiêm ngưỡng, trên gương mặt ngàn sao của màn đêm,<br />Những biểu tượng mây mờ kỳ vĩ của cõi diễm tình cao thượng,<br />Và nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ sống để lần theo<br />Bóng hình chúng bằng bàn tay nhiệm màu của cơ duyên;<br />Và khi ta cảm thấy, hỡi tạo vật kiều diễm của một thoáng giây!<br />Rằng ta sẽ không bao giờ được nhìn ngắm nàng thêm nữa,<br />Chẳng bao giờ còn được tận hưởng năng lực diệu kỳ<br />Của tình yêu thuần khiết vô tư! – '''thế rồi nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.''' ** "When I have fears that I may cease to be" (1817) * '''Chớ rơi lệ! Ôi đừng rơi lệ!<br />Đóa hoa kia sẽ nở lại vào năm sau.'''<br />Thôi đừng khóc! Ôi đừng khóc nữa!<br />Nụ non đang say ngủ nơi lõi trắng của cội rễ. ** "Faery Songs", I (1818) * Bàn tay sống động này, giờ đây ấm áp và đủ sức<br />Nắm chặt ân cần, nếu một mai lạnh ngắt<br />Trong cõi tĩnh lặng băng giá của nấm mồ,<br />Sẽ ám ảnh chuỗi ngày của em và làm tê buốt những đêm mơ<br />Đến mức em ước gì tim mình cạn máu<br />Để dòng đời đỏ thắm lại tuôn chảy trong huyết quản của anh,<br />Và lương tâm em được xoa dịu – nhìn xem này –<br />Anh đang chìa nó về phía em. ** "This living hand" (1819) * Hỡi vì sao sáng! Ước gì ta kiên định như người –<br />Chẳng phải treo lơ lửng giữa trời đêm trong vẻ tráng lệ cô đơn<br />Và dõi mắt trông với hàng mi muôn đời hé mở,<br />Tựa ẩn sĩ kiên nhẫn, thức thâu đêm của thiên nhiên,<br />Ngắm làn nước dạt dào thực hiện sứ mệnh tựa linh mục<br />Thanh tẩy thuần khiết quanh bờ cõi trần gian. ** "Bright star, would I were stedfast as thou art" (1819) * Không ai có thể chiếm đoạt đỉnh cao này...<br />Ngoại trừ những kẻ xem nỗi khốn cùng của thế gian<br />Chính là nỗi khốn cùng của mình, và điều đó không để họ được yên nghỉ. ** "The Fall of Hyperion: A Dream" (1819), Khúc I, dòng 147 * Ngày đã tàn, và mọi điều ngọt ngào cũng tan biến!<br />Giọng nói dịu dàng, làn môi êm ái, bàn tay mềm mại, và khuôn ngực càng êm ái hơn. ** Sonnet "The Day is Gone" (sáng tác 1819; xuất bản 1848) * Trước nhãn quan thi sĩ<br />Lớp vỏ của vạn vật tự nhiên mở toang<br />Tới tận cội lõi; và từng tinh túy thầm kín nơi đó<br />Đều hé lộ những yếu tố của cái thiện và cái mỹ;<br />Khiến người thấy được điều mà Học vấn chẳng rọi tới nguồn sáng nào. ** "The Poet", ''London Magazine'' (tháng 10 năm 1821) [[Tập tin:John Keats Tombstone in Rome 01.jpg|nhỏ|Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.]] * '''Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.''' ** Văn bia tự viết cho chính mình (1821) * Rương sách của tôi hãy chia đều cho những người bạn. ** Di chúc (1821) === Thư từ (1817–1820) === * Tôi không chắc chắn về điều gì ngoại trừ sự thiêng liêng của những rung cảm nơi con tim và chân lý của trí tưởng tượng – điều mà trí tưởng tượng nắm bắt như cái đẹp thì ắt phải là chân lý – bất kể nó từng tồn tại trước đó hay chưa. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Trí tưởng tượng có thể ví như giấc mơ của Adam – ông thức giấc và thấy đó là hiện thực. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Ôi, ước gì có được một cuộc đời ngập tràn Cảm giác hơn là đầy ắp Tư tưởng! ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Tôi khó lòng nhớ được việc mình từng trông đợi vào hạnh phúc – tôi không tìm kiếm nó nếu nó chẳng nằm trong hiện tại – chẳng điều gì làm tôi kinh ngạc vượt ngoài khoảnh khắc này. Mặt trời lặn sẽ luôn đưa tôi về trạng thái cân bằng, hoặc nếu một cánh chim sẻ bay đến đậu trước cửa sổ, tôi dự phần vào sự tồn tại của nó và cùng nhặt nhạnh quanh đám sỏi. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Sự xuất sắc của mọi nghệ thuật nằm ở cường độ của nó, có khả năng làm bốc hơi mọi điều khó chịu, bởi chúng gắn bó mật thiết với vẻ đẹp và chân lý. ** Gửi G. và F. Keats (21 tháng 12 năm 1817) * Bất chợt tôi nhận ra phẩm chất làm nên một con người thành tựu, đặc biệt trong văn học, và là điều Shakespeare sở hữu ở mức độ phi thường – ý tôi là ''năng lực tiêu cực'' (negative capability), tức là khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ. ** Gửi George và Thomas Keats (22 tháng 12 năm 1817) * Chúng sẽ tự giải thích cho chính mình – như mọi bài thơ đều nên làm mà chẳng cần tới bất kỳ lời bình giải nào. ** Gửi George Keats (1818) * Các tác phẩm thiên tài là những điều đứng hàng đầu trên thế gian này. ** Gửi G. và F. Keats (13 tháng 1 năm 1818) * Chẳng có gì tốt hơn cho mục đích tạo ra các trước tác vĩ đại bằng sự chín muồi dần dần của các năng lực trí tuệ. ** Gửi em trai George Keats (23 tháng 1 năm 1818) * '''Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một điều gì đó đi sâu vào tâm hồn con người, không làm nó giật mình hay sửng sốt bởi chính bản thân bài thơ, mà bởi chủ đề của nó.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * Chúng ta ghét thứ thơ ca có mưu toan lộ liễu nhắm vào mình – và nếu ta không đồng thuận, nó dường như đút tay vào túi quần quay đi. Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một thứ bước vào tâm hồn, không làm người ta giật mình hay choáng ngợp bởi chính hình thức của nó, mà bởi điều nó chuyển tải. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * '''Nhiều người sở hữu tâm trí độc đáo mà không hề hay biết – họ bị thói quen dẫn dụ đi lạc – Giờ đây đối với tôi, dường như bất kỳ ai cũng có thể như loài nhện, tự rút từ nội tâm mình ra tòa thành quách của riêng mình.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (19 tháng 2 năm 1818) [[Tập tin:John Keats, portrait by Joseph Severn.jpg|nhỏ|Nếu [[thơ ca]] không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn.]] * Trong Thi ca tôi có một vài định đề, và bạn sẽ thấy tôi còn cách xa tâm điểm của chúng dường nào. Tôi nghĩ Thơ ca nên gây ngạc nhiên bằng sự dồi dào tinh tế chứ không phải bằng sự lập dị kỳ quặc – nó phải tác động tới độc giả như cách diễn đạt những suy nghĩ cao quý nhất của chính họ, và hiện lên gần như một miền hồi ức – Những nét chấm phá của Cái đẹp không bao giờ được dừng ở nửa chừng khiến độc giả hụt hơi thay vì thỏa nguyện: sự khởi phát, diễn tiến, và lắng đọng của hình ảnh phải đến tự nhiên với họ như vầng Thái dương – chiếu rọi và lặn xuống bình dị dù trong vẻ huy hoàng, để họ lại trong sự êm đềm của ánh hoàng hôn – nhưng nghĩ xem Thơ ca nên là gì thì dễ hơn viết ra nó nhiều – và điều này dẫn tôi tới một định đề khác: Rằng nếu Thơ ca không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn. ** Gửi John Taylor (27 tháng 2 năm 1818) * Cảnh sắc thật tuyệt mỹ – nhưng bản tính con người còn tuyệt mỹ hơn. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Mọi sự theo đuổi tinh thần đều nhận lấy tính hiện thực và giá trị từ lòng nhiệt thành của người theo đuổi. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Các định đề trong triết học không phải là định đề cho đến khi chúng được kiểm chứng qua từng nhịp đập nơi mạch máu của chúng ta: ta đọc những điều hay nhưng chẳng bao giờ cảm nhận trọn vẹn cho tới khi đã trải qua những bước đi hệt như tác giả. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi so sánh đời người với một dinh thự lớn có nhiều gian phòng, trong đó tôi mới chỉ có thể mô tả được hai gian, những cánh cửa của các phòng còn lại hiện vẫn đóng chặt trước mắt tôi. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi chắc chắn rằng mình không có cảm nhận đúng mực về phụ nữ – lúc này tôi đang nỗ lực đối xử công bằng với họ, nhưng không thể. Phải chăng bởi họ cách quá xa trí tưởng tượng thời niên thiếu của tôi? Khi còn là cậu học trò, tôi ngỡ người phụ nữ đẹp là Nữ thần thuần khiết; tâm trí tôi là tổ ấm êm đềm nơi một người trong số họ ngả lưng say ngủ, dẫu nàng chẳng hề hay biết. ** Gửi Benjamin Bailey (18 tháng 7 năm 1818) * Có một sự ấm áp thiêng liêng quanh trái tim tôi tựa hồ gánh nặng của sự bất tử. ** Gửi John Hamilton Reynolds (22 tháng 9 năm 1818) * Tôi bắt đầu thấu hiểu đôi chút về sức mạnh và điểm yếu của chính mình. Lời khen hay tiếng chê chỉ có tác động thoáng qua đối với người mà tình yêu cái đẹp trừu tượng đã biến anh ta thành kẻ phê bình khắt khe nhất đối với chính tác phẩm của mình. ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi từng viết một cách độc lập ''khi chưa có sự phán xét''. Về sau tôi có thể viết một cách độc lập, và ''kèm theo sự phán xét''. '''Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong một con người: Nó không thể chín muồi nhờ luật lệ hay huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân''' – Thứ gì mang tính sáng tạo phải tự tạo ra chính nó – Trong Endymion, tôi đã lao đầu xuống biển, và nhờ đó hiểu rõ hơn về các phép dò độ sâu, bãi cát lún và rạn đá ngầm, hơn là cứ quanh quẩn trên bờ cỏ xanh, thổi chiếc sáo ngớ ngẩn, uống trà và đón nhận những lời khuyên dễ chịu. '''Tôi chưa bao giờ sợ thất bại; bởi tôi thà thất bại còn hơn không đứng vào hàng ngũ những người vĩ đại nhất.''' ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi nghĩ rằng sau khi qua đời, tôi sẽ có một chỗ đứng giữa những Nhà thơ Anh quốc. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 10 năm 1818) * '''Phẩm chất thi sĩ'''... không phải là chính nó – nó không có bản ngã riêng – nó là tất cả và không là gì cả – Nó không có cá tính – nó tận hưởng cả ánh sáng lẫn bóng tối; nó sống trong sự say mê tột cùng, dù thanh cao hay nhơ bẩn, cao sang hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó, hèn mọn hay tôn quý. – Nó tìm thấy niềm thích thú khi hoài thai một Iago cũng nhiều ngang như một Imogen. Điều làm triết gia đạo đức kinh sợ lại là niềm hân hoan của nhà thơ tắc kè hoa. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Nhà thơ là thực thể phi-thi-vị nhất trong vạn vật tồn tại; bởi vì người đó không có bản sắc cố định''' – anh ta liên tục truyền nhận – và lấp đầy một thân xác khác. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Cuộc đời của một con người có giá trị là một câu chuyện phúng dụ liên tục – và rất ít đôi mắt nhìn thấy được sự mầu nhiệm của đời sống''' – một cuộc đời tựa Kinh Thánh mang tính tượng trưng... Lãnh chúa Byron tạo ra một hình bóng nổi bật, nhưng ông ấy không mang tính tượng trưng. '''[[William Shakespeare|Shakespeare]] đã sống một cuộc đời phúng dụ: các tác phẩm của ông chính là những lời chú giải cho cuộc đời đó.''' ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * '''Chẳng điều gì trở nên có thực cho đến khi nó được trải nghiệm''' – Ngay cả một câu cách ngôn cũng chẳng là cách ngôn với bạn cho đến khi Đời bạn minh chứng cho nó. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * Bản thân tôi đang theo đuổi tiến trình bản năng hệt như sinh vật trần tục nhất mà bạn có thể nghĩ tới – dẫu còn trẻ, tôi đang viết trong ngẫu hứng – gồng mình tìm kiếm những hạt ánh sáng giữa bóng tối mịt mùng – mà chẳng hay biết sức nặng của bất kỳ khẳng định hay định kiến nào. Nhưng liệu trong điều này tôi có thể thoát khỏi tội lỗi chăng? ** Gửi George và Georgiana Keats (19 tháng 3 năm 1819) * Nếu bạn muốn, hãy gọi thế gian này là "Thung lũng tôi luyện linh hồn." ** Gửi George và Georgiana Keats (21 tháng 4 năm 1819) * Tôi có hai điều xa xỉ để trầm ngâm trong những chuyến dạo bước: vẻ kiều diễm của em và giờ phút lìa đời của tôi. Ôi ước gì tôi có thể sở hữu cả hai điều ấy trong cùng một phút giây. ** Gửi Fanny Brawne (25 tháng 7 năm 1819) * Tôi chẳng có gì để nói ngoại trừ về bản thân mình – và tôi có thể nói gì ngoài những gì tôi cảm nhận? ** Gửi John Hamilton Reynolds (24 tháng 8 năm 1819) * '''Một số người nghĩ tôi đã đánh mất ngọn lửa thi ca nồng nhiệt thuở nào – thực tế có lẽ đúng là vậy; nhưng bù lại, tôi hy vọng sẽ thay thế nó bằng một sức mạnh trầm tĩnh và sâu sắc hơn.''' ** Gửi George Keats (21 tháng 9 năm 1819) * Tôi từng kinh ngạc khi thấy người ta có thể tử vì đạo cho tôn giáo – tôi từng rùng mình vì điều đó – nhưng giờ không còn rùng mình nữa – tôi có thể tử đạo vì Tôn giáo của mình – Tình yêu là tôn giáo của tôi – tôi có thể chết vì điều đó – tôi có thể chết vì em. Giáo lý của tôi là Tình yêu và em là tín điều duy nhất. ** Gửi Fanny Brawne (13 tháng 10 năm 1820) * "Nếu phải chết," tôi tự nhủ, "ta chẳng để lại tác phẩm bất hủ nào – chẳng có gì để bạn bè tự hào về ký ức của ta – nhưng '''ta đã yêu nguyên lý của cái đẹp trong vạn vật, và nếu có thời gian, ta đã khiến người đời phải nhớ đến mình.'''" ** Gửi Fanny Brawne (khoảng tháng 2 năm 1820) * Em luôn luôn mới mẻ. Nụ hôn cuối cùng của em bao giờ cũng ngọt ngào nhất; nụ cười sau cùng luôn rạng rỡ nhất; cử chỉ sau cùng luôn duyên dáng nhất. ** Gửi Fanny Brawne (tháng 3 năm 1820) * Bạn có thể kiềm chế sự hào phóng của mình lại, để trở thành một nghệ sĩ đúng nghĩa hơn, và lấp đầy mọi kẽ hở của chủ đề bằng quặng quý. ** Gửi [[Percy Bysshe Shelley]] (tháng 8 năm 1820) * Tôi khó lòng nói lời từ biệt với anh, ngay cả trong một bức thư. Tôi luôn vụng về khi cúi chào. Cầu Chúa ban phúc cho anh! ** Gửi Charles Armitage Brown (30 tháng 11 năm 1820) === ''Poems'' (1817) === * Ta nhón chân đứng trên ngọn đồi nhỏ,<br />Không khí mát lành và tĩnh lặng xiết bao,<br />Đến nỗi những nụ hoa e ấp khiêm nhường<br />Nghiêng nghiêng rủ xuống theo đường cong thoai thoải,<br />Thân mảnh khảnh, lơ thơ đôi nhánh lá,<br />Vẫn chưa làm rơi những vương miện ngàn sao<br />Đón lấy từ tiếng thổn thức ban mai. ** "I Stood Tiptoe", dòng 1 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và rồi len lỏi khẽ khàng<br />Một thanh âm không tiếng động giữa vòm lá xôn xao,<br />Sinh ra từ chính tiếng thở dài mà tĩnh lặng trút ra. ** "I Stood Tiptoe", dòng 10 * Hãy mở toang lần nữa vòng cánh hoa ngàn sao,<br />Hỡi những bông cúc vạn thọ nồng nàn! ** "I Stood Tiptoe", dòng 47 * Kìa, bạn có thể đọc xong hai bài sonnet, trước khi chúng bơi tới<br />Nơi dòng nước mát lành hối hả luôn cất lời giảng giải<br />Một bài thuyết pháp tự nhiên qua những đáy sỏi gập ghềnh;<br />'''Nơi bầy cá nhỏ nhô những cái đầu bé xíu,<br />Giữ thân mình lượn sóng ngược dòng trôi''',<br />Để nếm trải cảm giác xa hoa của những tia nắng ấm<br />Được xoa dịu bởi làn nước mát lành. ** "I Stood Tiptoe", dòng 72 * Đôi khi những chú chim sẻ vàng sà xuống từng con một<br />Từ những cành cây la đà thấp thoáng; chỉ dừng lại một thoáng giây;<br />Nhấp chút nước, ríu rít, rỉa mượt bộ lông mềm;<br />Rồi vụt bay đi ngay, như trong cơn bốc đồng nghịch ngợm:<br />Hoặc có lẽ để khoe đôi cánh đen điểm ánh vàng<br />Chao lượn ngập ngừng trong sắc vàng óng ả. ** "I Stood Tiptoe", dòng 87 * Chẳng có gì ngoài tiếng thở dài êm dịu của làn gió<br />Dọc theo dòng suối đầy lau sậy; một giai điệu vẳng nghe mờ nhạt,<br />Tràn ngập nỗi tiêu điều ngọt ngào – niềm đau dịu dàng. ** "I Stood Tip-toe" * Hỡi phụ nữ! Khi ta thấy nàng nông nổi, phù phiếm,<br />Thất thường, trẻ con, kiêu kỳ và đầy rẫy những đỏng đảnh. ** "When I Behold Thee Flippant, Vain", khổ 1 * Với kẻ đã bị giam hãm quá lâu chốn thị thành,<br />Thật ngọt ngào biết bao khi được ngắm nhìn gương mặt thanh tú<br />Và rộng mở của bầu trời. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * Tựa hồ như giọt nước mắt thiên thần rơi xuống<br />Lướt qua tầng không trong vắt giữa thinh lặng. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * '''Ta đã chu du nhiều nơi trong cõi hoàng kim,<br />Từng thấy biết bao vương quốc và lãnh địa tráng lệ;<br />Đã từng qua nhiều hải đảo phía tây<br />Nơi các thi sĩ giữ lòng trung thành với thần Apollo.'''<br />Thường nghe kể về một miền rộng lớn bao la<br />Mà thi hào Homer trán rộng cai quản tựa lãnh địa của mình,<br />Song ta chưa từng hít thở bầu thanh khí thuần khiết ấy<br />Cho tới khi nghe Chapman cất tiếng sang sảng và can trường:<br />'''Khi ấy ta cảm thấy mình như kẻ dõi mắt ngắm bầu trời<br />Lúc một hành tinh mới bơi vào tầm ngắm;<br />Hoặc như Cortez quả cảm khi với đôi mắt chim ưng<br />Ông nhìn đăm đăm ra Thái Bình Dương, và toàn thể thuộc hạ<br />Nhìn nhau với nỗi hoài nghi hoang dại,<br />Lặng câm, trên đỉnh núi chót vót ở Darien.''' ** "On First Looking into Chapman's Homer" * Và những tâm hồn khác đang đứng riêng biệt<br />Nơi vầng trán của thời đại tương lai;<br />Họ, chính họ sẽ ban cho thế gian một trái tim khác,<br />Và những nhịp đập khác. Các ngươi không nghe thấy tiếng rì rầm<br />Của những chuyển dịch vĩ đại nơi thương trường xa xôi ư?<br />Hãy lắng nghe trong giây lát hỡi các dân tộc, và hãy lặng im. ** "Sonnet. Addressed to the Same" (Benjamin Robert Haydon) * Thi ca của đất trời chẳng bao giờ lụi tàn. ** "Sonnet. On the Grasshopper and the Cricket" * Hãy dừng lại và ngẫm suy! Cuộc đời chỉ tựa một ngày;<br />Một giọt sương mong manh trên hành trình hiểm trở<br />Rơi từ ngọn cây cao. ** "Sleep and Poetry", khổ 5 * Ôi ước gì có được mười năm, để ta có thể đắm chìm<br />Bản thân vào thi ca; ngõ hầu ta thực hiện được kỳ tích<br />Mà chính tâm hồn ta đã tự định đoạt cho mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 6 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một cơn mưa ánh sáng<br />Bất tận chính là thi ca; đó là quyền năng tối thượng;<br />Là sức mạnh tựa nửa say ngủ trên cánh tay phải của chính mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Nhưng sức mạnh đơn độc dẫu sinh ra từ các Nàng Thơ<br />Cũng tựa như thiên thần sa ngã: những thân cây bật gốc,<br />Bóng tối, sâu bọ, vải liệm và mồ mả<br />Lại làm nó thích thú; bởi nó nuôi mình bằng những gai góc,<br />Và chông gai của cuộc đời; quên mất mục đích lớn lao<br />Của thi ca, là phải trở thành người bạn<br />Xoa dịu những âu lo và nâng đỡ tâm tư con người. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Cuộc trò chuyện ngọt ngào của một tâm hồn thơ ngây. ** Sonnet: "Solitude" === ''{{w|Endymion (thơ)|Endymion}}'' (1818) === [[Tập tin:Endymion.JPG|nhỏ|Một điều [[cái đẹp|xinh đẹp]] là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không.]] [[Tập tin:Girodet - Sommeil Endymion.jpg|nhỏ|Ôi [[giấc ngủ]] diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng!]] * '''Chẳng có địa ngục nào khốc liệt hơn sự thất bại trong một mục tiêu vĩ đại.''' ** Lời tựa * Trí tưởng tượng của một cậu bé thì lành mạnh, và trí tưởng tượng chín chắn của một người đàn ông cũng lành mạnh; nhưng có một khoảng đời ở giữa, khi tâm hồn đang lên men, tính cách chưa định hình, lối sống còn bấp bênh, tham vọng còn mờ mịt: từ đó nảy sinh sự ủy mị, cùng hàng ngàn vị đắng cay mà những người tôi nói tới ắt phải nếm trải khi lật qua những trang sau. ** Lời tựa * '''Một điều xinh đẹp là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không'''; mà vẫn luôn giữ cho ta<br />Một chòi lá thanh bình, và một giấc nồng<br />Đầy những giấc mơ êm ái, sức khỏe và hơi thở an yên. ** Quyển I, dòng 1 * '''Bất chấp tất cả,<br />Một hình bóng của cái đẹp sẽ xua tan tấm màn che<br />Khỏi tâm hồn u tối của chúng ta.''' ** Quyển I, dòng 11 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vẻ bi tráng của định mệnh<br />Mà chúng ta tưởng tượng về những người đã khuất lẫy lừng;<br />Mọi câu chuyện đáng yêu ta từng nghe hay đọc:<br />Là dòng suối bất tận của thức uống trường sinh,<br />Rót xuống chúng ta từ bờ cõi thiên đường. ** Quyển I, dòng 20 * Ta đâu chỉ cảm nhận những tinh túy ấy<br />Trong một giờ ngắn ngủi; không, cũng như những hàng cây<br />Thì thầm quanh ngôi đền sẽ sớm trở nên<br />Thân thương như chính ngôi đền, vầng trăng cũng vậy,<br />Niềm đam mê thi ca, những vinh quang vô tận,<br />Ám ảnh ta cho đến khi chúng trở thành nguồn sáng reo vui<br />Chiếu rọi tâm hồn, và gắn kết với ta chặt chẽ,<br />Đến mức, '''dù trời rạng rỡ hay u ám mây mờ,<br />Chúng luôn phải ở bên ta, bằng không ta sẽ chết.''' ** Quyển I, dòng 25 * Ôi giấc ngủ diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng! ** Quyển I, dòng 453 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thời gian, bà vú già nua ấy,<br />Đã ru ta vào sự nhẫn nại. ** Quyển I, dòng 705 * '''Hạnh phúc nằm ở đâu? Nằm ở điều vẫy gọi<br />Tâm trí sẵn sàng của ta bước vào mối giao hảo thần thánh,<br />Mối giao cảm với bản thể; cho đến khi ta tỏa sáng,<br />Được biến đổi hoàn toàn, và tự do ngoài không gian. Kìa trông<br />Tín ngưỡng quang đãng của cõi trời!''' ** Quyển I, dòng 777 * '''Những bóng ma của lời tiên tri du dương gào thét<br />Quanh mọi dấu chân nơi Apollo từng bước qua''';<br />Những chiếc tù và đồng thức giấc, và khẽ vang lên,<br />Nơi xưa kia từng diễn ra trận chiến khổng lồ;<br />Và, từ thảm cỏ, một khúc hát ru lướt qua<br />Khắp mọi nơi Orpheus thuở ấu thơ từng yên giấc.<br />'''Ta có cảm nhận được những điều này chăng? – khoảnh khắc đó ta đã bước<br />Vào một trạng thái duy nhất, và tâm thế của ta<br />Tựa hồ một linh hồn đang trôi nổi.''' Nhưng còn có<br />Những vướng bận phong phú hơn, những say mê<br />Tự hủy diệt hơn nhiều, từng bước dẫn lối<br />Tới cường độ tột đỉnh: '''chiếc vương miện của những điều này<br />Được kết bằng tình yêu và tình bạn, ngự trị uy nghi<br />Trên vầng trán của nhân loại.''' ** Quyển I, dòng 789 * Tâm hồn không ngơi nghỉ của ta chẳng bao giờ chịu đựng nổi<br />Việc chìm đắm quá lâu vào một nỗi xa hoa duy nhất,<br />Trừ phi, dù trong âu lo, nó thoáng nhận ra<br />'''Một niềm hy vọng vượt lên trên bóng hình của một giấc mơ.''' ** Quyển I, dòng 854 * Khoái lạc thường chỉ là khách qua đường; nhưng nỗi đau<br />Lại bám riết lấy ta một cách tàn nhẫn. ** Quyển I, dòng 906 * '''Kẻ nào e sợ dấn bước theo<br />Nơi những tiếng nói hư không dẫn đường<br />Sẽ chẳng bao giờ được đội vương miện bất tử.''' ** Quyển II, dòng 211 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đó là tai ương<br />Của ái tình: những niềm vui đẹp đẽ nhất lại đem đến nhiều bất an nhất. ** Quyển II, dòng 365 * &nbsp;&nbsp; Với Nỗi Sầu Đau<br />&nbsp;&nbsp;Ta cất lời chào buổi sớm,<br />Tưởng rằng đã bỏ nàng lại phía sau xa xôi;<br />&nbsp;&nbsp;Nhưng vui vẻ thay, rạng rỡ thay,<br />&nbsp;&nbsp;Nàng yêu ta tha thiết;<br />Nàng son sắt với ta dường bao, và quá đỗi ân cần:<br />Ta toan dối lừa nàng<br />Và bỏ nàng ra đi,<br />Nhưng ôi! Nàng quá đỗi thủy chung và ân cần. ** Quyển IV, dòng 173 * Thật nhiều, thật nhiều, và hân hoan xiết bao. ** Quyển IV === ''{{w|La Belle Dame sans Merci}}'' (1819) === [[Tập tin:La Belle Dame Sans Merci, by John William Waterhouse, 1893, oil on canvas - Hessisches Landesmuseum Darmstadt - Darmstadt, Germany - DSC01228.jpg|nhỏ|Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang.]] * Ôi, điều gì làm chàng phiền muộn, hỡi hiệp sĩ mang giáp phục,<br />Đơn độc và tha thẩn với gương mặt nhợt nhạt?<br />Cỏ lác đã héo tàn nơi bờ hồ,<br />Và chẳng còn tiếng chim ca. ** Khổ I * Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang. ** Khổ IV * Ta kết cho nàng một vòng hoa cài đầu,<br />Cả những chuỗi vòng tay, và chiếc thắt lưng hương ngát;<br />Nàng nhìn ta tựa hồ trao trọn yêu thương,<br />Và khẽ buông tiếng than êm ái. ** Khổ V * Ta thấy những vị vua cùng hoàng tử tái nhợt,<br />Những chiến binh nhợt nhạt, tất cả đều mang sắc mặt tái mét như tử thi;<br />Họ gào thét: "La Belle Dame sans Merci<br />Đã giam cầm ngươi trong bùa mê!" ** Khổ X === ''{{w|Hyperion (thơ)|Hyperion: Đoạn thơ dang dở}}'' (1819) === * Sâu trong nỗi u sầu râm mát của thung lũng<br />Chìm khuất xa khỏi hơi thở trong lành của ban mai,<br />Xa buổi trưa rực lửa, và ánh sao hôm lẻ loi,<br />Saturn tóc hoa râm ngồi đó, lặng lẽ như phiến đá,<br />Bất động tựa cõi tĩnh mịch vây quanh hang ổ của mình;<br />Rừng tiếp rừng trĩu nặng trên đầu ông<br />Như mây tầng mây. ** Quyển I, dòng 1 * Lời phán truyền uy nghiêm của những vị thần thuở sơ khai! ** Quyển I * Tựa như, trong đêm hè mê đắm,<br />Những vị nghị viên áo xanh của đại ngàn hùng vĩ,<br />Những cây sồi sừng sững, được những vì sao ân cần ru ngủ cành lá,<br />Mơ màng, và mơ màng suốt đêm chẳng hề lay động,<br />Ngoại trừ một luồng gió cô đơn thoảng qua<br />Chợt đến giữa thinh không rồi vụt tắt,<br />Như thể làn không khí thoái trào chỉ có một gợn sóng duy nhất. ** Quyển I, dòng 72 * Những ngày tháng thanh bình và tĩnh lặng êm đềm đã qua đi. ** Quyển II * '''Giờ đây nỗi đau của [[chân lý]] đã đến, với kẻ xem đó là nỗi đau;<br />Ôi điên rồ thay! Bởi gánh chịu mọi chân lý trần trụi,<br />Và điềm nhiên đối diện cảnh ngộ,<br />Đó mới là đỉnh cao của quyền uy tối thượng.''' Hãy ghi nhớ lấy. ** Quyển II, dòng 202 * Tri thức bao la biến ta thành một vị Thần. ** Quyển III, dòng 113 === ''Poems'' (1820) === * Còn về đôi mắt nàng: đôi mắt ấy có thể làm gì nơi đó<br />Ngoài tuôn rơi, tuôn rơi dòng lệ, vì sinh ra quá đỗi kiều diễm? ** "Lamia", Phần I, dòng 61 * Tình yêu trong túp lều tranh, với mẩu bánh mì và ngụm nước lã,<br />Chỉ là – Tình yêu ơi xin thứ tha! – tro tàn, xỉ rác, bụi mờ. ** "Lamia", Phần II, dòng 1 * Đã từng có một cầu vồng uy nghiêm ngự nơi thiên giới:<br />Chúng ta biết đường dệt, cấu trúc của nó; nó bị đưa vào<br />Danh mục tẻ nhạt của những vật tầm thường.<br />'''Triết học sẽ xén bớt đôi cánh của Thiên thần''',<br />Chinh phục mọi điều huyền bí bằng thước dây và quy tắc,<br />Làm trống rỗng bầu không khí ma mị, và những mỏ thần lùn –<br />Tháo gỡ một chiếc cầu vồng, như cách nó từng khiến<br />Nàng Lamia dịu dàng tan biến vào bóng hư vô. ** "Lamia", Phần II, dòng 229 [[Tập tin:William Holman Hunt - Isabella and the Pot of Basil, 1867.jpg|nhỏ|“Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.”]] * “Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.” ** "Isabella; or, The Pot of Basil", khổ 62 * Vậy hãy để ta làm dàn hợp xướng của nàng, và cất tiếng thở than<br />Trong những giờ khắc nửa đêm ** "Ode to Psyche", khổ 3 * Và nơi đó sẽ dành cho nàng mọi niềm hoan lạc êm dịu<br />Mà ý nghĩ mông lung có thể đạt tới,<br />Một ngọn đuốc sáng, và khung cửa sổ mở toang trong đêm,<br />Để đón Tình Yêu nồng ấm bước vào! ** "Ode to Psyche", khổ 5 * Cứ để Trí Tưởng Tượng mặc sức rong chơi,<br />Khoái lạc chẳng bao giờ chịu ở yên trong nhà. ** "Fancy", dòng 1 * Những thi sĩ của Đam mê và Hoan lạc,<br />Các người đã để lại linh hồn mình nơi trần thế!<br />Liệu các người có linh hồn nơi thiên đường chăng,<br />Sống cuộc đời nhân đôi ở những cõi giới mới mẻ? ** "Ode: The Fair Maid of the Inn" * Hỡi linh hồn của những Thi sĩ đã khuất bóng,<br />Cõi Elysium nào các người từng hay biết,<br />Cánh đồng hạnh phúc hay hang động phủ rêu phong,<br />Có tuyệt diệu hơn Quán trọ Nàng tiên cá? ** "Lines on the Mermaid Tavern", dòng 1–4 [[Tập tin:Autumn-slovakia.JPG|nhỏ|Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh.]] * '''Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh''';<br />Uốn cong những thân cây quanh mái nhà rêu phong bằng trĩu nặng táo thơm,<br />Và làm căng tràn mọi quả ngọt đến tận cội lõi;<br />Làm nứt đất ngầm, vỗ béo những hạt phỉ<br />Bằng nhân ngọt ngào; giục giã đâm chồi thêm nữa,<br />Thêm nữa những đóa hoa muộn màng cho bầy ong,<br />Cho tới khi chúng ngỡ những ngày ấm áp sẽ chẳng bao giờ ngưng nghỉ,<br />Bởi Mùa Hè đã rót tràn trề vào những tầng tổ dính sánh. ** "[[s:To Autumn (Keats)|To Autumn]]", khổ 1 * '''Ai từng chẳng thường thấy bóng ngươi giữa kho lúa của mình?'''<br />Đôi khi kẻ nào cất bước tìm kiếm có thể thấy<br />Ngươi ngồi thảnh thơi trên sàn kho thóc,<br />Mái tóc khẽ bay trong làn gió sảy;<br />Hoặc ngủ say sưa trên luống cày gặt dở,<br />Mê man trong hương thuốc phiện, khi lưỡi liềm của ngươi<br />Dung tha vạt lúa kế bên cùng muôn hoa đan cài. ** "To Autumn", khổ 2 * Rồi trong dàn đồng ca than vãn, bầy muỗi nhỏ cất tiếng sầu<br />Giữa rặng liễu ven sông, bay bổng lên cao<br />Hay chìm xuống theo từng hơi thở tàn hay sống của ngọn gió thoảng. ** "To Autumn", khổ 3 * '''Không, đừng, chớ tìm đến [[sông Lethe]],''' cũng đừng vặn xoắn<br />Rễ cây phụ tử bám chặt, để chưng cất thứ rượu độc;<br />Cũng đừng để vầng trán nhợt nhạt của ngươi bị hôn lấy<br />Bởi hoa cà độc dược. ** "Ode on Melancholy", khổ 1 * Nhưng khi cơn u sầu chợt đổ ập xuống<br />Bất ngờ từ trời cao tựa đám mây tuôn lệ,<br />Nuôi dưỡng muôn hoa đang ủ rũ gục đầu,<br />Và giấu ngọn đồi xanh trong tấm khăn liệm tháng Tư;<br />Thì hãy thỏa mãn nỗi đau buồn của ngươi nơi đóa hồng sớm mai. ** "Ode on Melancholy", khổ 2 * Nàng ngự cùng Cái Đẹp – Cái Đẹp phải tàn phai;<br />Và Niềm Vui, kẻ luôn đặt tay lên môi<br />Để cất lời từ biệt; cùng Khoái Lạc nhức nhối cận kề,<br />Hóa thành độc dược ngay lúc miệng ong hút nhụy.<br />Phải, ngay trong đền thờ của Lạc Thú<br />Nàng U Sầu che mạng có thánh điện tối cao của mình,<br />Dẫu chẳng ai thấy ngoại trừ kẻ có chiếc lưỡi dũng mãnh<br />Dám nghiền nát trái nho Hoan Lạc nơi vòm họng tinh tế;<br />Linh hồn người đó sẽ nếm trải nỗi buồn từ quyền năng của nàng,<br />Và bị treo lơ lửng giữa những chiến tích mây mờ của nàng. ** "Ode on Melancholy", khổ 3 ==== ''{{w|The Eve of St. Agnes}}'' ==== * Đêm trước ngày Thánh Agnes – Ôi, buốt giá đắng cay làm sao!<br />Cú vọ, dù mang đủ lông vũ, vẫn run rẩy vì giá rét;<br />Thỏ rừng khập khiễng rụt rè bước qua thảm cỏ đóng băng,<br />Và bầy cừu im lìm cuộn mình trong chuồng len ấm. ** Khổ 1 * Giọng lưỡi hoàng kim của âm nhạc<br />Đã dỗ dành người đàn ông già nua nghèo khó này đến trào nước mắt. ** Khổ 3 * Tiếng kèn bạc gắt gỏng bắt đầu cất lời quở trách. ** Khổ 4 * Khúc nhạc khắc khoải tựa một vị Thần trong cơn đau đớn. ** Khổ 7 * Nàng thở dài mong ngóng những giấc mơ ngày lễ Agnes, giấc mơ ngọt ngào nhất trong năm. ** Khổ 7 * Say ngủ trong lòng những truyền thuyết xa xưa. ** Khổ 15 * Chợt một ý nghĩ hiện về tựa đóa hồng nở rộ,<br />Làm bừng đỏ vầng trán chàng, và trong trái tim đau đớn<br />Dấy lên một cơn bạo loạn sắc tía. ** Khổ 16 * Một sinh linh già yếu, bất lực, run rẩy nơi nghĩa địa. ** Khổ 18 * Như thể chú chim sơn ca không lưỡi cố phồng căng<br />Cuống họng trong vô vọng, rồi chết vì nghẹn thở nơi khe núi hẻo lánh. ** Khổ 23 * Trăng mùa đông chiếu rọi thẳng vào ô cửa sổ này,<br />'''Và hắt sắc đỏ ấm áp lên khuôn ngực trắng ngần của Madeline''',<br />Khi nàng quỳ gối cầu xin ân huệ và phước lành của thiên đường;<br />Sắc hồng rơi trên đôi bàn tay nàng đang chắp lại. ** Khổ 25 * Nàng tháo từng món trang sức ấm áp của mình;<br />Nới lỏng vạt áo ngực ngát hương; dần dà<br />Tấm xiêm y lộng lẫy trượt sột soạt xuống đầu gối nàng. ** Khổ 26 * Tựa như đóa hồng khép cánh lại để trở về làm nụ non. ** Khổ 27 * Và nàng vẫn chìm trong giấc ngủ mi mắt biếc xanh,<br />Trên tấm vải lanh trắng tinh, êm ái và thoang thoảng hương hoa oải hương. ** Khổ 30 * Cùng những thứ siro trong vắt, đượm hương quế. ** Khổ 30 * Chàng tấu lên một khúc dân ca cổ từ lâu đã im tiếng,<br />Xứ Provence gọi là "La belle dame sans mercy." ** Khổ 33 * Nàng vội vã theo lời chàng, lòng đầy sợ hãi,<br />Bởi quanh đây muôn loài rồng đang say ngủ,<br />Có lẽ đang trừng mắt canh chừng với những ngọn giáo sẵn sàng –<br />Họ lần tìm lối đi trong bóng tối bước xuống cầu thang rộng. –<br />Khắp ngôi nhà chẳng nghe thấy một tiếng động nhân gian.<br />Ngọn đèn treo dây xích chập chờn bên mỗi cánh cửa;<br />Tấm thảm thêu cảnh kỵ sĩ, chim ưng và chó săn,<br />Phấp phới trong tiếng gầm gào của cơn gió bủa vây;<br />'''Và những tấm thảm dài phập phồng dọc sàn nhà lộng gió.''' ** Khổ 40 * Và họ đã ra đi: phải, từ muôn vàn năm trước<br />Đôi tình nhân ấy đã trốn chạy vào cơn bão tố. ** Khổ 42 ==== ''{{w|Ode to a Nightingale}}'' ==== :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> [[Tập tin:W. J. Neatby - Keats - Nightingale.jpg|nhỏ|Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề.]] * Tim ta đau nhói, và cơn tê dại mơ màng làm buốt giá<br />Các giác quan, như thể ta vừa uống cạn chén độc cần,<br />Hay vừa nốc cạn liều thuốc phiện đắng ngắt<br />Chỉ một phút trước, rồi chìm dần về phía dòng sông Quên: <br />Chẳng phải vì ghen tị với số phận hạnh phúc của ngươi,<br />Mà bởi quá đỗi hân hoan trong niềm hạnh phúc của ngươi, –<br />Rằng ngươi, nàng Dryad cánh nhẹ của cây rừng,<br />Nơi vạt đất du dương<br />Của sắc xanh cây dẻ gai và bóng râm vô tận,<br />Đang cất cao tiếng hát ngợi ca mùa hè bằng tất cả sự thảnh thơi. ** Khổ 1 * '''Ôi, ước gì có một ngụm rượu nho cổ kính! Từng được<br />Làm mát qua bao niên kỷ trong lòng đất sâu thẳm.'''<br />Mang hương vị của Nữ thần Hoa và màu xanh đồng nội,<br />Điệu vũ khúc, câu hò xứ Provence, và niềm vui rám nắng!<br />Ôi ước gì có một chén đầy ắp phương Nam ấm áp,<br />Tràn đầy dòng suối nguồn Hippocrene chân thật, ửng hồng,<br />Với những bọt tăm lấp lánh chớp mắt nơi miệng chén,<br />Và bờ môi nhuốm sắc tím nồng nàn. ** Khổ 2 * Hãy tan biến thật xa, hòa tan, và quên lãng hoàn toàn<br />Điều mà ngươi giữa vòm lá chưa từng hay biết,<br />Sự mệt mỏi, cơn sốt và nỗi bồn chồn<br />Nơi chốn này, nơi con người ngồi nghe tiếng rên xiết của nhau;<br />Nơi chứng bại liệt làm rung rinh vài sợi tóc bạc buồn bã cuối cùng,<br />Nơi tuổi trẻ tái nhợt, gầy guộc như bóng ma rồi chết mòn;<br />Nơi chỉ cần suy nghĩ thôi cũng đã ngập tràn phiền muộn<br />Và những nỗi tuyệt vọng với đôi mắt màu chì. ** Khổ 3 * '''Đã ở bên ngươi rồi! Đêm thật dịu dàng.''' ** Khổ 4 * Ta chẳng thể nhìn thấy những đóa hoa nào dưới chân mình,<br />Cũng không thấy làn hương êm dịu nào vương trên cành biếc,<br />Nhưng giữa bóng tối ướp hương, ta đoán từng vị ngọt ngào. ** Khổ 5 * Và đứa con đầu lòng của giữa tháng Năm,<br />Đóa hồng xạ hương sắp nở, đượm đầy men rượu sương đêm,<br />'''Chốn lui tới vo ve của bầy ruồi trong những chiều hè.''' ** Khổ 5 [[Tập tin:Portrait of Keats - HH.jpg|nhỏ|Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?]] * '''Trong bóng tối ta lắng nghe; và đã biết bao lần<br />Ta gần như phải lòng cái [[Chết]] thanh thản''',<br />Gọi tên Người bằng những danh xưng êm ái trong bao vần thơ ngẫm ngợi,<br />Để gửi gắm vào không trung hơi thở bình yên của mình;<br />Giờ đây hơn bao giờ hết, chết đi dường như là điều phong phú xiết bao,<br />Để chấm dứt giữa đêm trường mà không một chút đớn đau,<br />Khi ngươi đang trút trọn linh hồn mình ra ngoài<br />Trong cơn xuất thần cuồng nhiệt dường ấy!<br />Ngươi vẫn sẽ hót, còn tai ta hóa thành vô ích –<br />Trước khúc chiêu hồn cao cả của ngươi, ta chỉ còn là một mảnh đất cằn. ** Khổ 6 * '''Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề''':<br />Có lẽ chính khúc ca ấy đã tìm được lối đi<br />Qua trái tim sầu muộn của nàng Ruth, khi nhớ nhà quay quắt,<br />Nàng đứng rơi lệ giữa ruộng ngô xa lạ;<br />Cũng chính khúc ca ấy đã biết bao lần<br />Quyến rũ những ô cửa sổ ma thuật, mở ra đầu ngọn sóng<br />Của những vùng biển hiểm nguy, nơi xứ sở thần tiên hoang phế. ** Khổ 7 * Hoang phế! Chính từ ngữ ấy như một hồi chuông<br />Kéo giật ta từ ngươi trở về với cái tôi cô độc! ** Khổ 8 * '''Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?''' ** Khổ 8 ==== ''[[w:Ode on a Grecian Urn|Ode on a Grecian Urn]]'' ==== [[Tập tin:keats urn.jpg|nhỏ|"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.]] :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> * Hỡi cô dâu chưa vấy bụi trần của sự tĩnh lặng,<br />Hỡi đứa con nuôi của thinh lặng và thời gian chậm rãi,<br />Sử gia của chốn rừng già, kẻ có thể diễn bày<br />Một tích truyện ngát hoa ngọt ngào hơn vần thơ chúng ta:<br />Truyền thuyết viền lá nào đang ám ảnh quanh dáng hình ngươi?<br />Của thần linh hay người phàm, hay của cả hai,<br />Nơi thung lũng Tempe hay những hẻm núi xứ Arcady?<br />'''Họ là những người phàm hay thần thánh nào đây? Những thiếu nữ ngập ngừng nào kia?<br />Cuộc rượt đuổi điên cuồng nào? Nỗ lực trốn thoát nào?<br />Tiếng sáo và tiếng trống lục lạc nào? Cơn ngây ngất hoang dại nào?''' ** Khổ 1 * '''Những giai điệu nghe thấy thì ngọt ngào, nhưng những giai điệu không nghe thấy<br />Còn ngọt ngào hơn: vì thế, hỡi những chiếc sáo êm dịu, hãy tấu tiếp đi;<br />Không phải cho đôi tai trần tục, mà đáng trân quý hơn,<br />Hãy thổi cho tâm linh những khúc ca không thành tiếng.'''<br />Chàng trai trẻ khôi ngô, dưới bóng cây, ngươi không thể dứt khỏi<br />Bài ca của mình, và những tán cây kia cũng chẳng bao giờ trơ trụi;<br />Hỡi Tình Nhân táo bạo, chẳng bao giờ, chẳng bao giờ ngươi hôn được nàng,<br />Dẫu đã cận kề đích đến – nhưng, chớ đau buồn;<br />Nàng không thể phai tàn, dẫu ngươi chưa chạm tới niềm hoan lạc,<br />Ngươi sẽ mãi yêu thương, và nàng sẽ mãi vẹn toàn nét xuân thì! ** Khổ 2 * Những ai đang tiến đến buổi hiến tế kia?<br />Tới bàn thờ xanh tươi nào, hỡi vị tư tế huyền bí,<br />Ngươi đang dắt theo con bò cái tơ rống lên trời xanh,<br />Và toàn bộ mạn sườn mượt mà của nó được kết đầy vòng hoa? ** Khổ 4 * Hỡi hình hài câm lặng, ngươi trêu ngươi tư tưởng chúng ta<br />Tựa hồ cõi vĩnh hằng: Khúc Điền Viên Lạnh Giá!<br />Khi tuổi già tàn phá thế hệ này,<br />Ngươi sẽ vẫn ở lại, giữa những nỗi đau khác<br />Không phải của chúng ta, như một người bạn của con người, người mà ngươi nhắn nhủ,<br />'''"[[Cái đẹp]] là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.''' ** Khổ 5 == Nhận định về Keats == * Nhóm người khác mà tôi sinh ra để dành trọn tâm hồn là các nhà thơ Lãng mạn. Đặc biệt là Shelley, và Keats. ** Paula Gunn Allen, phỏng vấn trong ''Survival This Way: Interviews with American Indian Poets'' của Joseph Bruchac (1987) * Ông ấy đã gây ra tổn hại dường nào cho Thi ca Anh quốc. Giống như Robert Browning là người có tài năng vừa phải nhưng khát khao mãnh liệt sự chuyển động và viên mãn, để rồi chỉ thu về một sự bề bộn hỗn loạn, thì Keats với tài năng xuất chúng tột bậc, cũng bị thiêu đốt bởi khát vọng này; và không thể tạo ra những tác phẩm thực sự sống động và lay động, như lương tâm ông vẫn không ngừng mách bảo. Họ không chịu kiên nhẫn cũng chẳng hiểu rằng họ phải bắt đầu bằng một Ý niệm về thế giới để không bị sự bề bộn của thế giới đè bẹp: hoặc nếu không đạt được điều đó, thì ít nhất phải bằng những ý niệm độc lập; và mọi thứ khác rồi (có lẽ) sẽ được thêm vào cho họ. ** Matthew Arnold, thư gửi Arthur Clough, 1848/9, trong ''John Keats: The Critical Heritage'', G.M. Matthews chủ biên (1995) * Tôi nghĩ mình thưởng thức những bức thư của ông ấy còn nhiều hơn cả thơ ca. Ông ấy có một bộ óc tuyệt vời và một cá tính rất kiên cường. ** Elizabeth Bishop, phỏng vấn năm 1966 trong ''Conversations with Elizabeth Bishop'', George Monteiro chủ biên (1996) * [Về cuốn ''Cuộc đời Keats'' của Monckton Milne] Một nỗ lực bắt chúng ta ăn thịt chó chết bằng cách nêm nếm gia vị và nấu nướng tinh vi [...] Kiểu người như Keats ngày càng trở nên kinh tởm đối với tôi. Cơn đói khát mọi thứ khoái lạc thuộc mọi thể loại, kết hợp với sự thiếu hụt mọi sức mạnh khác – quả là một sự kết hợp! Một cấu trúc tâm hồn như vậy, thời xưa hẳn đã quá rõ ràng, là một 'Chiếc bình được chọn của Địa ngục' [...] ** Thomas Carlyle, trong cuốn ''Thomas Carlyle: A History of His Life in London, 1834 - 1881'' của J.A. Froude (1884) * Đây là thứ thơ ca đái dầm của thằng nhóc Johnny Keats [...] Trên bàn của tôi la liệt thứ rác rưởi của Keats và những kẻ tương tự, đến nỗi tôi xấu hổ khi phải nhìn vào chúng [...] Tôi van xin đấy, đừng đưa Keats ra nữa: hãy lột da sống hắn đi; nếu mấy người không làm thì chính tôi sẽ tự tay lột da hắn: không thể nào chịu nổi thói ngớ ngẩn lảm nhảm của cái thằng người lùn ấy. :Tờ ''Edinburgh'' ca ngợi Jack Keats hay Ketch, hay bất kể tên hắn là gì [...] trời ạ, thơ của hắn là thứ Thủ dâm Thi ca – tương tự như khoái lạc mà một gã kéo vĩ cầm người Ý tìm thấy khi bị một ả gái điếm treo lơ lửng mỗi ngày ở phố Drury Lane. Chuyện này diễn ra vài tuần: cuối cùng ả đi mua một panh rượu Gin – gặp một ả khác, tán gẫu quá lâu, và Cornelli bị treo cổ chết thẳng cẳng trước khi ả quay về. Đó chính là thứ rác rưởi mà họ ca tụng, và đó sẽ là hồi kết cho thứ thơ ca vươn dài của kẻ Tự làm ô uế tâm trí con người một cách khốn khổ này. :Ông Keats, người mà anh hỏi thăm thơ phú, đối với tôi hiện lên đúng như những gì tôi đã nói: lối viết như vậy là một kiểu thủ dâm tinh thần – hắn luôn tự kích thích Trí tưởng tượng của mình. Ý tôi không phải hắn khiêu dâm, mà là hắn mồi chài các ý niệm của mình vào một trạng thái suy đồi, thứ chẳng phải thơ ca cũng chẳng phải điều gì khác ngoài ảo ảnh nhà thương điên sinh ra từ thịt lợn sống và thuốc phiện. :* [[Lord Byron]], thư gửi John Murray, 12 tháng 8 – 9 tháng 9 năm 1820, trong ''The Routledge Literary Sourcebook on the Poems of John Keats'', J. Strachan chủ biên (2003) * Sự phẫn nộ của tôi trước việc ông Keats đánh giá thấp Pope khó lòng cho phép tôi đánh giá công bằng thiên tài của ông ấy, người mà bất chấp mọi sự hào nhoáng kỳ quặc trong phong cách, chắc chắn là một tài năng đầy hứa hẹn. Đoạn thơ dang dở Hyperion của ông dường như thực sự được truyền cảm hứng từ các thần Titan, và tráng lệ tựa như tác phẩm của Aeschylus. Ông là một mất mát lớn cho nền văn học của chúng ta. ** Lord Byron, 12 tháng 11 năm 1821 * '''Keats, một người hoàn toàn xa lạ với sự nhầm lẫn, có thể tin rằng con chim sơn ca mê hoặc ông chính là con chim mà nàng Ruth từng nghe thấy giữa ruộng ngô xa lạ ở xứ Bethlehem thuộc Judah'''; Stevenson đưa ra giả thuyết về một cánh chim duy nhất nuốt chửng nhiều thế kỷ: "con chim sơn ca nuốt chửng thời gian." Arthur Schopenhauer – một Schopenhauer nồng nhiệt và sáng suốt – đưa ra lý do: sự trực tiếp thuần túy thuộc về thể xác mà loài vật sinh sống, không hề bận tâm đến cái chết và ký ức. Sau đó ông nói thêm, không giấu nổi một nụ cười: Bất cứ ai nghe tôi quả quyết rằng con mèo xám đang chơi đùa ngoài sân lúc này chính là con mèo từng nhảy nhót và làm trò ở đó năm trăm năm trước sẽ nghĩ bất cứ điều gì họ thích về tôi, nhưng sẽ là một dạng điên rồ kỳ lạ hơn nếu hình dung rằng con mèo ngày nay về cơ bản là một con mèo hoàn toàn khác. ** Jorge Luis Borges, trong "A History of Eternity", dịch trong ''Selected Non-Fictions'' Tập 1 (1999), Eliot Weinberger chủ biên * Vào phần sau của mùa hè năm ấy [1817], lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông. Chúng tôi được giới thiệu với nhau trên đường Hampstead.... ...trong cuộc gặp gỡ kéo dài một phút ấy, tự đáy lòng tôi đã khao khát được làm quen, nếu không muốn nói là làm bạn với ông... Ông có vóc dáng nhỏ bé, cân đối, thân hình gọn gàng, và tuy gầy nhưng khá săn chắc; – một trong số nhiều người chứng minh rằng khí phách nam nhi khác biệt với chiều cao và thể xác vạm vỡ. '''Không có ma thuật nào sánh bằng một gương mặt chân thành, và tôi chưa từng thấy gương mặt của sinh linh nào chân thành như của ông.''' Đôi mắt to đẹp của ông ánh lên vẻ trí tuệ rạng rỡ, và ngời sáng (vào thời điểm đó!) niềm hy vọng cùng niềm vui. Người ta từng nhận xét rằng nét khiếm khuyết nhất là khuôn miệng của ông; và đôi khi đúng là như vậy. Nhưng bất cứ khi nào ông cất lời, hoặc hào hứng về điều gì, biểu cảm của làn môi lại biến đổi và tinh tế đến mức có thể gọi là khôi ngô. ** Charles Armitage Brown, ''Life of John Keats'', tr. 44 * '''Một chàng trai trẻ rất kỳ lạ, nhưng tính tình hòa nhã, tốt bụng, và thực sự rất thông minh.''' ** Bà Maria Dilke, dẫn trong ‘Papers of a Critic’, Sir Charles Dilke, I, tr. 8 * Tôi cũng thích các nhà thơ Lãng mạn. Wordsworth, Keats, Burns và Blake là một vài trong số những tác giả yêu thích của tôi. Có điều gì đó trong tinh thần nổi loạn của họ chống lại những tệ nạn của quá trình công nghiệp hóa đã làm tôi xúc động. Dĩ nhiên giờ đây, một phần sự bi quan, chủ nghĩa thần bí và nhãn quan hiện thực phê phán hạn hẹp của họ khiến tôi cảm thấy khá khó chịu. ** Micere Githae Mugo, trong ''Talking with African Writers'', Jane Wilkinson chủ biên * '''Thời thơ ấu Keats chẳng hề gắn bó với sách vở. Sở thích của cậu là đánh nhau. Cậu sẵn sàng đấm nhau với bất kỳ ai – sáng, trưa và tối, kể cả với em trai mình. Đó là cơm ăn nước uống của cậu.''' Người họ hàng thủy thủ Jennings luôn ngự trị trong suy nghĩ của mấy anh em, và họ quyết tâm giữ vững danh tiếng dũng cảm của gia đình; George theo cách thụ động; John và Tom thì dữ dội hơn. Những người bạn thân của John rất ít; sau khi được biết đến là kẻ sẵn sàng ẩu đả, cậu dường như thích họ vì một thứ tính cách hài hước kệch cỡm và hề hước. Lúc này tôi nhớ lại niềm thích thú của cậu trước những cử chỉ và trò nghịch ngợm phi thường của một cậu bé tên Wade vốn nổi tiếng vì điều này.... Cậu là một đứa trẻ mà bất kỳ ai nhìn vào sự hoạt bát phi thường và vẻ đẹp ngoại hình đều có thể dễ dàng hình dung sẽ trở thành một vĩ nhân – nhưng là trong quân sự hơn là văn học. ** Edward Holmes, bạn học tại Trường Clarke ở Enfield * Cậu ấy được các bạn đồng môn gọi là 'Keats bé nhỏ', khi trưởng thành tối đa cũng không cao quá một mét rưỡi.... Trong phòng, cậu luôn đứng bên cửa sổ, nhìn đăm đăm vào không gian, đến mức chỗ ngồi bên cửa sổ được các bạn gọi là chỗ của Keats.... Trong giảng đường, cậu dường như ngồi tách biệt và mải mê với điều gì khác, như thể chủ đề bài giảng gợi cho cậu những suy nghĩ không liên quan thực tế đến nó. Cậu thường lúc thì nhập tâm, lúc thì lơ đễnh trôi dạt ra ngoài theo một cách mơ màng. <br />Cậu chưa từng đặt nhiều tầm quan trọng vào việc học y của mình, và thực sự coi nghề y là nghề để mưu sinh trong một thế giới bận rộn, mà không chắc liệu mình có thể chịu đựng nổi áp lực của nó hay không. Tuy nhiên, cậu có ý thức về năng lực của chính mình, và thậm chí về sự vĩ đại của mình, dẫu nó có thể không bao giờ được công nhận.... '''Thi ca trong tâm trí cậu là đỉnh cao của mọi khát vọng: điều duy nhất xứng đáng với sự chú ý của những bộ óc siêu việt: cậu nghĩ như vậy: mọi mưu cầu khác đều tầm thường và tẻ nhạt.''' Cậu không có khái niệm nào về danh vọng hay sự vĩ đại ngoại trừ việc nó gắn liền với sự theo đuổi thi ca, hoặc việc đạt tới sự xuất sắc trong thơ ca.... Cậu có phong thái lịch thiệp và khi hạ mình nói về các chủ đề khác, cậu tỏ ra dễ mến và thông minh. Cậu tiếp thu rất nhanh và nhạy bén khi chọn chú tâm vào bất kỳ chủ đề nào. Cậu là một người điềm tĩnh, trầm lặng và cư xử đúng mực, không bao giờ hướng tới những thú vui thấp hèn hay đồi bại. ** Henry Stephens, bạn học tại Bệnh viện Guy * Ông thấp hơn chiều cao trung bình; phần chi dưới nhỏ nhắn so với phần thân trên, nhưng gọn gàng và cân đối. Vai ông rất rộng so với tầm vóc; ông có một gương mặt nơi năng lượng và sự nhạy cảm hòa quyện một cách đáng kinh ngạc, một sức mạnh hăm hở bị kìm hãm và nhẫn nại bởi bệnh tật. Từng đường nét vừa sắc sảo rõ ràng lại vừa sống động tinh tế. Nếu có nét biểu cảm nào khiếm khuyết thì đó là ở khuôn miệng, nơi phảng phất đôi chút tính hiếu chiến... Đầu ông là một câu đố kỳ lạ đối với các nhà [[nhân tướng học]], với hộp sọ nhỏ khác thường; một nét kỳ dị mà ông có điểm chung với Lãnh chúa Byron và ông Shelley, không chiếc mũ nào của họ mà tôi có thể đội vừa. ** Leigh Hunt, "Mr. Keats" * Và anh không nhớ chuyện Keats từng đề nghị nâng ly 'Chúc cho ký ức về Newton bị đảo lộn' và khi anh nài nỉ đòi giải thích trước khi uống, ông ấy đã nói: 'Bởi vì ông ta đã phá hủy chất thơ của chiếc cầu vồng khi quy nó về một lăng kính'? Ôi, người bạn già thân mến của tôi, anh và tôi sẽ chẳng bao giờ còn thấy lại những ngày tháng như thế nữa! ** Benjamin Haydon, Hồi ký và Tự truyện * Tôi nhớ... lần đầu tiên ông được giới thiệu với ông Haydon; và khi trong cuộc trò chuyện, người nghệ sĩ vĩ đại ấy hỏi ông "liệu ông có yêu đất nước mình không", máu đã dồn lên má và nước mắt trào ra nơi khóe mắt ông trước câu trả lời đầy nhiệt huyết. '''Tình yêu tự do của ông thật nồng nàn và cao cả.''' ** Charles Cowden Clarke, bài viết trên tờ ''Morning Chronicle'' (27 tháng 7 năm 1821) * Cậu ấy đang chăm chỉ học tập, ôn lại tiếng Latinh, chuẩn bị học tiếng Hy Lạp, và dường như nhìn chung có lý trí hơn bình thường – nhưng '''cậu ấy là một kẻ bốc đồng thất thường, không thể trông cậy được nhiều. Song cậu ấy chẳng nghĩ tới điều gì ngoài thi ca như mục đích và cùng đích của đời mình, và rồi lúc này hay lúc khác, tôi không nghi ngờ rằng cậu ấy sẽ làm nên điều gì đó có giá trị.''' ** James Augustus Hessey gửi John Taylor (16 tháng 9 năm 1818), dẫn lại bởi Edmund Blunden trong ''Keats's Publisher'', tr. 56 * Người đã khuất là một trong những người bạn ân cần nhất mà tôi từng có, ấy vậy mà có lẽ ông đối với tôi cũng chẳng ân cần hơn đối với những người khác. Trí tuệ mãnh liệt và cảm xúc mạnh mẽ của ông, tôi thực sự tin rằng, lẽ ra đã cống hiến được điều gì đó cho đời nếu cuộc đời dung tha cho ông – nhưng ông mang bản tính quá đỗi nhạy cảm – và vì thế ông đã bị hủy hoại! ** John Hamilton Reynolds * [Keats] chính là linh hồn của lòng dũng cảm và khí phách trượng phu, và giống như ''Đức Thánh Linh'' nhiều ngang như ''chú nhóc Johnny Keats''. ** George Keats * Khi có người bày tỏ sự kinh ngạc với Shelley rằng Keats, người vốn không thông thạo tiếng Hy Lạp, lại có thể viết một cách tao nhã và chuẩn mực cổ điển về các vị thần và nữ thần của họ đến thế, Shelley đã đáp: “Anh ấy ''chính là'' một người Hy Lạp.” ** Richard H. Horne, ''A New Spirit of the Age'' (1844) * hãy nghĩ xem: những vần thơ đã gắn chặt cảnh quan này: Blake, Donne, Keats ** Tuyển tập thơ của Muriel Rukeyser * Với Wordsworth, cõi chết thường ẩn hiện ngay dưới bề mặt, và với Keats cũng vậy, một đứa con khác của thời đại mình, người tin rằng – chịu ảnh hưởng từ [[Thời kỳ Khai sáng]] – chúng ta là những thực thể vật chất trong một vũ trụ vật chất và ta buộc phải chấp nhận số phận đó. Chúng ta phải chết, nhưng không có bờ vai thần thánh nào để tựa vào, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được những chân lý sâu xa nhất, những điều mà trái ngược với mọi tuyên bố của Thời kỳ Khai sáng, cả lý trí lẫn khoa học đều không thể chạm tới. Keats mang một nhãn quan bi kịch về cuộc đời. Ông rõ ràng là một người thuộc [[Chủ nghĩa lãng mạn]]; chẳng có Miền đất hứa Khai sáng nào chờ đợi ông cả. ** Brian L. Silver, ''The Ascent of Science'' (1998) * Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu chỉ là một người mà văn bia của Keats mô tả: “Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.” ** Rebecca Solnit, phỏng vấn trên tạp chí New York Times (2018) * Tôi dành một tình yêu trọn đời cho John Keats, nhà thơ vĩ đại nhất trong số các nhà thơ Lãng mạn Anh sống vào thế kỷ thứ mười chín. Khả năng kỳ diệu trong việc tạo ra cái đẹp bằng ngôn từ của ông đã chạm thấu tâm hồn tôi. Tôi vẫn còn rất trẻ khi đọc bức thư Keats gửi cho em trai mình năm 1817. Trong đó, ông viết về "năng lực tiêu cực", điều mà ông giải thích là phẩm chất "khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ." Tôi bị cuốn hút bởi ý tưởng này vì rất nhiều điều tôi từng trải qua khi còn là một đứa trẻ, thiếu niên và chàng trai trẻ dường như đều bị bao phủ trong bức màn huyền bí. ** Cornel West, ''Brother West: Living and Loving Out Loud, A Memoir'' (2009) == Xem thêm == * {{w|Văn học lãng mạn}} * {{w|Percy Bysshe Shelley}} * {{w|Lord Byron}} * {{w|William Wordsworth}} == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} * [http://bartleby.com/126/ Toàn tập tác phẩm thi ca] * [http://www.john-keats.com/ John Keats.com] * [http://englishhistory.net/keats/contents.html Cuộc đời và tác phẩm của John Keats] * [http://keatsian.com/ Keatsian.com] [[Thể loại:Sinh năm 1795]] [[Thể loại:Mất năm 1821]] [[Thể loại:Nhà thơ Anh]] ajubwpkghfjr59nutydz1rvcskmky4p 63707 63706 2026-10-08T09:23:27Z Mai Thanh Bang 3613 /* {{w|Hyperion (thơ)|Hyperion: Đoạn thơ dang dở}} (1819) */ 63707 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:John Keats by William Hilton.jpg|nhỏ|phải|Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong chính con người mình; nó không thể chín muồi bằng luật lệ và huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân.]] '''{{w|John Keats}}''' (31 tháng 10 năm 1795 – 23 tháng 2 năm 1821) là một trong những nhà thơ kiệt xuất nhất của phong trào {{w|Chủ nghĩa lãng mạn|lãng mạn}} Anh. == Danh ngôn == [[Tập tin:John keats.jpg|nhỏ|phải|Từng đỉnh cao và dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh.]] * Ngọt ngào xiết bao những thú vui thuộc về thơ ca,<br />Và ngọt ngào gấp bội tình huynh đệ trong câu hát. ** "To George Felton Mathew" (tháng 11 năm 1815) * '''Tâm hồn ta quá đỗi yếu mềm – sự phù sinh<br />Đè nặng lên ta tựa giấc ngủ chẳng hề mong muốn''',<br />Và từng đỉnh cao cùng dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh. ** "On Seeing the Elgin Marbles|On Seeing the Elgin Marbles" (1817) * Giữa tháng Chạp đêm dài u tối,<br />Hỡi cái cây quá đỗi hạnh phúc kia,<br />Cành lá ngươi chẳng hề vương vấn<br />Niềm hoan lạc xanh tươi thuở nào. ** "In drear-nighted December", khổ 1 (1817) * Nhưng liệu đã từng có ai<br />Chẳng quằn quại trước niềm vui đã mất?<br />Cái cảm giác không còn cảm thấy,<br />Khi chẳng có điều chi hàn gắn,<br />Cũng không có giác quan tê dại để tôi rèn,<br />Chưa từng được cất lên thành vần điệu. ** "Stanzas", khổ 3 * Biển cất tiếng thì thầm muôn thuở quanh<br />Những bờ hoang vắng, và với ngọn triều cuộn dâng dũng mãnh<br />Nó vỗ ngập hai vạn hang sâu, cho tới khi phép thuật<br />Của Hecate trả lại cho chúng âm vang mờ ảo xưa cũ. ** "On the Sea" (1817) [[Tập tin:John Keats by Benjamin Robert Haydon.jpg|nhỏ|phải|Nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.]] * Khi ta lo sợ mình sẽ lìa đời<br />Trước lúc ngòi bút kịp gặt hái bộ não đang trào dâng ý niệm,<br />Trước khi những trang sách chất cao, bằng chữ nghĩa,<br />Chứa đựng tựa vựa lúa đầy hạt mẩy chín vàng;<br />Khi ta chiêm ngưỡng, trên gương mặt ngàn sao của màn đêm,<br />Những biểu tượng mây mờ kỳ vĩ của cõi diễm tình cao thượng,<br />Và nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ sống để lần theo<br />Bóng hình chúng bằng bàn tay nhiệm màu của cơ duyên;<br />Và khi ta cảm thấy, hỡi tạo vật kiều diễm của một thoáng giây!<br />Rằng ta sẽ không bao giờ được nhìn ngắm nàng thêm nữa,<br />Chẳng bao giờ còn được tận hưởng năng lực diệu kỳ<br />Của tình yêu thuần khiết vô tư! – '''thế rồi nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.''' ** "When I have fears that I may cease to be" (1817) * '''Chớ rơi lệ! Ôi đừng rơi lệ!<br />Đóa hoa kia sẽ nở lại vào năm sau.'''<br />Thôi đừng khóc! Ôi đừng khóc nữa!<br />Nụ non đang say ngủ nơi lõi trắng của cội rễ. ** "Faery Songs", I (1818) * Bàn tay sống động này, giờ đây ấm áp và đủ sức<br />Nắm chặt ân cần, nếu một mai lạnh ngắt<br />Trong cõi tĩnh lặng băng giá của nấm mồ,<br />Sẽ ám ảnh chuỗi ngày của em và làm tê buốt những đêm mơ<br />Đến mức em ước gì tim mình cạn máu<br />Để dòng đời đỏ thắm lại tuôn chảy trong huyết quản của anh,<br />Và lương tâm em được xoa dịu – nhìn xem này –<br />Anh đang chìa nó về phía em. ** "This living hand" (1819) * Hỡi vì sao sáng! Ước gì ta kiên định như người –<br />Chẳng phải treo lơ lửng giữa trời đêm trong vẻ tráng lệ cô đơn<br />Và dõi mắt trông với hàng mi muôn đời hé mở,<br />Tựa ẩn sĩ kiên nhẫn, thức thâu đêm của thiên nhiên,<br />Ngắm làn nước dạt dào thực hiện sứ mệnh tựa linh mục<br />Thanh tẩy thuần khiết quanh bờ cõi trần gian. ** "Bright star, would I were stedfast as thou art" (1819) * Không ai có thể chiếm đoạt đỉnh cao này...<br />Ngoại trừ những kẻ xem nỗi khốn cùng của thế gian<br />Chính là nỗi khốn cùng của mình, và điều đó không để họ được yên nghỉ. ** "The Fall of Hyperion: A Dream" (1819), Khúc I, dòng 147 * Ngày đã tàn, và mọi điều ngọt ngào cũng tan biến!<br />Giọng nói dịu dàng, làn môi êm ái, bàn tay mềm mại, và khuôn ngực càng êm ái hơn. ** Sonnet "The Day is Gone" (sáng tác 1819; xuất bản 1848) * Trước nhãn quan thi sĩ<br />Lớp vỏ của vạn vật tự nhiên mở toang<br />Tới tận cội lõi; và từng tinh túy thầm kín nơi đó<br />Đều hé lộ những yếu tố của cái thiện và cái mỹ;<br />Khiến người thấy được điều mà Học vấn chẳng rọi tới nguồn sáng nào. ** "The Poet", ''London Magazine'' (tháng 10 năm 1821) [[Tập tin:John Keats Tombstone in Rome 01.jpg|nhỏ|Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.]] * '''Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.''' ** Văn bia tự viết cho chính mình (1821) * Rương sách của tôi hãy chia đều cho những người bạn. ** Di chúc (1821) === Thư từ (1817–1820) === * Tôi không chắc chắn về điều gì ngoại trừ sự thiêng liêng của những rung cảm nơi con tim và chân lý của trí tưởng tượng – điều mà trí tưởng tượng nắm bắt như cái đẹp thì ắt phải là chân lý – bất kể nó từng tồn tại trước đó hay chưa. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Trí tưởng tượng có thể ví như giấc mơ của Adam – ông thức giấc và thấy đó là hiện thực. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Ôi, ước gì có được một cuộc đời ngập tràn Cảm giác hơn là đầy ắp Tư tưởng! ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Tôi khó lòng nhớ được việc mình từng trông đợi vào hạnh phúc – tôi không tìm kiếm nó nếu nó chẳng nằm trong hiện tại – chẳng điều gì làm tôi kinh ngạc vượt ngoài khoảnh khắc này. Mặt trời lặn sẽ luôn đưa tôi về trạng thái cân bằng, hoặc nếu một cánh chim sẻ bay đến đậu trước cửa sổ, tôi dự phần vào sự tồn tại của nó và cùng nhặt nhạnh quanh đám sỏi. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Sự xuất sắc của mọi nghệ thuật nằm ở cường độ của nó, có khả năng làm bốc hơi mọi điều khó chịu, bởi chúng gắn bó mật thiết với vẻ đẹp và chân lý. ** Gửi G. và F. Keats (21 tháng 12 năm 1817) * Bất chợt tôi nhận ra phẩm chất làm nên một con người thành tựu, đặc biệt trong văn học, và là điều Shakespeare sở hữu ở mức độ phi thường – ý tôi là ''năng lực tiêu cực'' (negative capability), tức là khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ. ** Gửi George và Thomas Keats (22 tháng 12 năm 1817) * Chúng sẽ tự giải thích cho chính mình – như mọi bài thơ đều nên làm mà chẳng cần tới bất kỳ lời bình giải nào. ** Gửi George Keats (1818) * Các tác phẩm thiên tài là những điều đứng hàng đầu trên thế gian này. ** Gửi G. và F. Keats (13 tháng 1 năm 1818) * Chẳng có gì tốt hơn cho mục đích tạo ra các trước tác vĩ đại bằng sự chín muồi dần dần của các năng lực trí tuệ. ** Gửi em trai George Keats (23 tháng 1 năm 1818) * '''Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một điều gì đó đi sâu vào tâm hồn con người, không làm nó giật mình hay sửng sốt bởi chính bản thân bài thơ, mà bởi chủ đề của nó.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * Chúng ta ghét thứ thơ ca có mưu toan lộ liễu nhắm vào mình – và nếu ta không đồng thuận, nó dường như đút tay vào túi quần quay đi. Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một thứ bước vào tâm hồn, không làm người ta giật mình hay choáng ngợp bởi chính hình thức của nó, mà bởi điều nó chuyển tải. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * '''Nhiều người sở hữu tâm trí độc đáo mà không hề hay biết – họ bị thói quen dẫn dụ đi lạc – Giờ đây đối với tôi, dường như bất kỳ ai cũng có thể như loài nhện, tự rút từ nội tâm mình ra tòa thành quách của riêng mình.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (19 tháng 2 năm 1818) [[Tập tin:John Keats, portrait by Joseph Severn.jpg|nhỏ|Nếu [[thơ ca]] không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn.]] * Trong Thi ca tôi có một vài định đề, và bạn sẽ thấy tôi còn cách xa tâm điểm của chúng dường nào. Tôi nghĩ Thơ ca nên gây ngạc nhiên bằng sự dồi dào tinh tế chứ không phải bằng sự lập dị kỳ quặc – nó phải tác động tới độc giả như cách diễn đạt những suy nghĩ cao quý nhất của chính họ, và hiện lên gần như một miền hồi ức – Những nét chấm phá của Cái đẹp không bao giờ được dừng ở nửa chừng khiến độc giả hụt hơi thay vì thỏa nguyện: sự khởi phát, diễn tiến, và lắng đọng của hình ảnh phải đến tự nhiên với họ như vầng Thái dương – chiếu rọi và lặn xuống bình dị dù trong vẻ huy hoàng, để họ lại trong sự êm đềm của ánh hoàng hôn – nhưng nghĩ xem Thơ ca nên là gì thì dễ hơn viết ra nó nhiều – và điều này dẫn tôi tới một định đề khác: Rằng nếu Thơ ca không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn. ** Gửi John Taylor (27 tháng 2 năm 1818) * Cảnh sắc thật tuyệt mỹ – nhưng bản tính con người còn tuyệt mỹ hơn. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Mọi sự theo đuổi tinh thần đều nhận lấy tính hiện thực và giá trị từ lòng nhiệt thành của người theo đuổi. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Các định đề trong triết học không phải là định đề cho đến khi chúng được kiểm chứng qua từng nhịp đập nơi mạch máu của chúng ta: ta đọc những điều hay nhưng chẳng bao giờ cảm nhận trọn vẹn cho tới khi đã trải qua những bước đi hệt như tác giả. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi so sánh đời người với một dinh thự lớn có nhiều gian phòng, trong đó tôi mới chỉ có thể mô tả được hai gian, những cánh cửa của các phòng còn lại hiện vẫn đóng chặt trước mắt tôi. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi chắc chắn rằng mình không có cảm nhận đúng mực về phụ nữ – lúc này tôi đang nỗ lực đối xử công bằng với họ, nhưng không thể. Phải chăng bởi họ cách quá xa trí tưởng tượng thời niên thiếu của tôi? Khi còn là cậu học trò, tôi ngỡ người phụ nữ đẹp là Nữ thần thuần khiết; tâm trí tôi là tổ ấm êm đềm nơi một người trong số họ ngả lưng say ngủ, dẫu nàng chẳng hề hay biết. ** Gửi Benjamin Bailey (18 tháng 7 năm 1818) * Có một sự ấm áp thiêng liêng quanh trái tim tôi tựa hồ gánh nặng của sự bất tử. ** Gửi John Hamilton Reynolds (22 tháng 9 năm 1818) * Tôi bắt đầu thấu hiểu đôi chút về sức mạnh và điểm yếu của chính mình. Lời khen hay tiếng chê chỉ có tác động thoáng qua đối với người mà tình yêu cái đẹp trừu tượng đã biến anh ta thành kẻ phê bình khắt khe nhất đối với chính tác phẩm của mình. ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi từng viết một cách độc lập ''khi chưa có sự phán xét''. Về sau tôi có thể viết một cách độc lập, và ''kèm theo sự phán xét''. '''Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong một con người: Nó không thể chín muồi nhờ luật lệ hay huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân''' – Thứ gì mang tính sáng tạo phải tự tạo ra chính nó – Trong Endymion, tôi đã lao đầu xuống biển, và nhờ đó hiểu rõ hơn về các phép dò độ sâu, bãi cát lún và rạn đá ngầm, hơn là cứ quanh quẩn trên bờ cỏ xanh, thổi chiếc sáo ngớ ngẩn, uống trà và đón nhận những lời khuyên dễ chịu. '''Tôi chưa bao giờ sợ thất bại; bởi tôi thà thất bại còn hơn không đứng vào hàng ngũ những người vĩ đại nhất.''' ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi nghĩ rằng sau khi qua đời, tôi sẽ có một chỗ đứng giữa những Nhà thơ Anh quốc. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 10 năm 1818) * '''Phẩm chất thi sĩ'''... không phải là chính nó – nó không có bản ngã riêng – nó là tất cả và không là gì cả – Nó không có cá tính – nó tận hưởng cả ánh sáng lẫn bóng tối; nó sống trong sự say mê tột cùng, dù thanh cao hay nhơ bẩn, cao sang hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó, hèn mọn hay tôn quý. – Nó tìm thấy niềm thích thú khi hoài thai một Iago cũng nhiều ngang như một Imogen. Điều làm triết gia đạo đức kinh sợ lại là niềm hân hoan của nhà thơ tắc kè hoa. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Nhà thơ là thực thể phi-thi-vị nhất trong vạn vật tồn tại; bởi vì người đó không có bản sắc cố định''' – anh ta liên tục truyền nhận – và lấp đầy một thân xác khác. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Cuộc đời của một con người có giá trị là một câu chuyện phúng dụ liên tục – và rất ít đôi mắt nhìn thấy được sự mầu nhiệm của đời sống''' – một cuộc đời tựa Kinh Thánh mang tính tượng trưng... Lãnh chúa Byron tạo ra một hình bóng nổi bật, nhưng ông ấy không mang tính tượng trưng. '''[[William Shakespeare|Shakespeare]] đã sống một cuộc đời phúng dụ: các tác phẩm của ông chính là những lời chú giải cho cuộc đời đó.''' ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * '''Chẳng điều gì trở nên có thực cho đến khi nó được trải nghiệm''' – Ngay cả một câu cách ngôn cũng chẳng là cách ngôn với bạn cho đến khi Đời bạn minh chứng cho nó. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * Bản thân tôi đang theo đuổi tiến trình bản năng hệt như sinh vật trần tục nhất mà bạn có thể nghĩ tới – dẫu còn trẻ, tôi đang viết trong ngẫu hứng – gồng mình tìm kiếm những hạt ánh sáng giữa bóng tối mịt mùng – mà chẳng hay biết sức nặng của bất kỳ khẳng định hay định kiến nào. Nhưng liệu trong điều này tôi có thể thoát khỏi tội lỗi chăng? ** Gửi George và Georgiana Keats (19 tháng 3 năm 1819) * Nếu bạn muốn, hãy gọi thế gian này là "Thung lũng tôi luyện linh hồn." ** Gửi George và Georgiana Keats (21 tháng 4 năm 1819) * Tôi có hai điều xa xỉ để trầm ngâm trong những chuyến dạo bước: vẻ kiều diễm của em và giờ phút lìa đời của tôi. Ôi ước gì tôi có thể sở hữu cả hai điều ấy trong cùng một phút giây. ** Gửi Fanny Brawne (25 tháng 7 năm 1819) * Tôi chẳng có gì để nói ngoại trừ về bản thân mình – và tôi có thể nói gì ngoài những gì tôi cảm nhận? ** Gửi John Hamilton Reynolds (24 tháng 8 năm 1819) * '''Một số người nghĩ tôi đã đánh mất ngọn lửa thi ca nồng nhiệt thuở nào – thực tế có lẽ đúng là vậy; nhưng bù lại, tôi hy vọng sẽ thay thế nó bằng một sức mạnh trầm tĩnh và sâu sắc hơn.''' ** Gửi George Keats (21 tháng 9 năm 1819) * Tôi từng kinh ngạc khi thấy người ta có thể tử vì đạo cho tôn giáo – tôi từng rùng mình vì điều đó – nhưng giờ không còn rùng mình nữa – tôi có thể tử đạo vì Tôn giáo của mình – Tình yêu là tôn giáo của tôi – tôi có thể chết vì điều đó – tôi có thể chết vì em. Giáo lý của tôi là Tình yêu và em là tín điều duy nhất. ** Gửi Fanny Brawne (13 tháng 10 năm 1820) * "Nếu phải chết," tôi tự nhủ, "ta chẳng để lại tác phẩm bất hủ nào – chẳng có gì để bạn bè tự hào về ký ức của ta – nhưng '''ta đã yêu nguyên lý của cái đẹp trong vạn vật, và nếu có thời gian, ta đã khiến người đời phải nhớ đến mình.'''" ** Gửi Fanny Brawne (khoảng tháng 2 năm 1820) * Em luôn luôn mới mẻ. Nụ hôn cuối cùng của em bao giờ cũng ngọt ngào nhất; nụ cười sau cùng luôn rạng rỡ nhất; cử chỉ sau cùng luôn duyên dáng nhất. ** Gửi Fanny Brawne (tháng 3 năm 1820) * Bạn có thể kiềm chế sự hào phóng của mình lại, để trở thành một nghệ sĩ đúng nghĩa hơn, và lấp đầy mọi kẽ hở của chủ đề bằng quặng quý. ** Gửi [[Percy Bysshe Shelley]] (tháng 8 năm 1820) * Tôi khó lòng nói lời từ biệt với anh, ngay cả trong một bức thư. Tôi luôn vụng về khi cúi chào. Cầu Chúa ban phúc cho anh! ** Gửi Charles Armitage Brown (30 tháng 11 năm 1820) === ''Poems'' (1817) === * Ta nhón chân đứng trên ngọn đồi nhỏ,<br />Không khí mát lành và tĩnh lặng xiết bao,<br />Đến nỗi những nụ hoa e ấp khiêm nhường<br />Nghiêng nghiêng rủ xuống theo đường cong thoai thoải,<br />Thân mảnh khảnh, lơ thơ đôi nhánh lá,<br />Vẫn chưa làm rơi những vương miện ngàn sao<br />Đón lấy từ tiếng thổn thức ban mai. ** "I Stood Tiptoe", dòng 1 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và rồi len lỏi khẽ khàng<br />Một thanh âm không tiếng động giữa vòm lá xôn xao,<br />Sinh ra từ chính tiếng thở dài mà tĩnh lặng trút ra. ** "I Stood Tiptoe", dòng 10 * Hãy mở toang lần nữa vòng cánh hoa ngàn sao,<br />Hỡi những bông cúc vạn thọ nồng nàn! ** "I Stood Tiptoe", dòng 47 * Kìa, bạn có thể đọc xong hai bài sonnet, trước khi chúng bơi tới<br />Nơi dòng nước mát lành hối hả luôn cất lời giảng giải<br />Một bài thuyết pháp tự nhiên qua những đáy sỏi gập ghềnh;<br />'''Nơi bầy cá nhỏ nhô những cái đầu bé xíu,<br />Giữ thân mình lượn sóng ngược dòng trôi''',<br />Để nếm trải cảm giác xa hoa của những tia nắng ấm<br />Được xoa dịu bởi làn nước mát lành. ** "I Stood Tiptoe", dòng 72 * Đôi khi những chú chim sẻ vàng sà xuống từng con một<br />Từ những cành cây la đà thấp thoáng; chỉ dừng lại một thoáng giây;<br />Nhấp chút nước, ríu rít, rỉa mượt bộ lông mềm;<br />Rồi vụt bay đi ngay, như trong cơn bốc đồng nghịch ngợm:<br />Hoặc có lẽ để khoe đôi cánh đen điểm ánh vàng<br />Chao lượn ngập ngừng trong sắc vàng óng ả. ** "I Stood Tiptoe", dòng 87 * Chẳng có gì ngoài tiếng thở dài êm dịu của làn gió<br />Dọc theo dòng suối đầy lau sậy; một giai điệu vẳng nghe mờ nhạt,<br />Tràn ngập nỗi tiêu điều ngọt ngào – niềm đau dịu dàng. ** "I Stood Tip-toe" * Hỡi phụ nữ! Khi ta thấy nàng nông nổi, phù phiếm,<br />Thất thường, trẻ con, kiêu kỳ và đầy rẫy những đỏng đảnh. ** "When I Behold Thee Flippant, Vain", khổ 1 * Với kẻ đã bị giam hãm quá lâu chốn thị thành,<br />Thật ngọt ngào biết bao khi được ngắm nhìn gương mặt thanh tú<br />Và rộng mở của bầu trời. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * Tựa hồ như giọt nước mắt thiên thần rơi xuống<br />Lướt qua tầng không trong vắt giữa thinh lặng. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * '''Ta đã chu du nhiều nơi trong cõi hoàng kim,<br />Từng thấy biết bao vương quốc và lãnh địa tráng lệ;<br />Đã từng qua nhiều hải đảo phía tây<br />Nơi các thi sĩ giữ lòng trung thành với thần Apollo.'''<br />Thường nghe kể về một miền rộng lớn bao la<br />Mà thi hào Homer trán rộng cai quản tựa lãnh địa của mình,<br />Song ta chưa từng hít thở bầu thanh khí thuần khiết ấy<br />Cho tới khi nghe Chapman cất tiếng sang sảng và can trường:<br />'''Khi ấy ta cảm thấy mình như kẻ dõi mắt ngắm bầu trời<br />Lúc một hành tinh mới bơi vào tầm ngắm;<br />Hoặc như Cortez quả cảm khi với đôi mắt chim ưng<br />Ông nhìn đăm đăm ra Thái Bình Dương, và toàn thể thuộc hạ<br />Nhìn nhau với nỗi hoài nghi hoang dại,<br />Lặng câm, trên đỉnh núi chót vót ở Darien.''' ** "On First Looking into Chapman's Homer" * Và những tâm hồn khác đang đứng riêng biệt<br />Nơi vầng trán của thời đại tương lai;<br />Họ, chính họ sẽ ban cho thế gian một trái tim khác,<br />Và những nhịp đập khác. Các ngươi không nghe thấy tiếng rì rầm<br />Của những chuyển dịch vĩ đại nơi thương trường xa xôi ư?<br />Hãy lắng nghe trong giây lát hỡi các dân tộc, và hãy lặng im. ** "Sonnet. Addressed to the Same" (Benjamin Robert Haydon) * Thi ca của đất trời chẳng bao giờ lụi tàn. ** "Sonnet. On the Grasshopper and the Cricket" * Hãy dừng lại và ngẫm suy! Cuộc đời chỉ tựa một ngày;<br />Một giọt sương mong manh trên hành trình hiểm trở<br />Rơi từ ngọn cây cao. ** "Sleep and Poetry", khổ 5 * Ôi ước gì có được mười năm, để ta có thể đắm chìm<br />Bản thân vào thi ca; ngõ hầu ta thực hiện được kỳ tích<br />Mà chính tâm hồn ta đã tự định đoạt cho mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 6 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một cơn mưa ánh sáng<br />Bất tận chính là thi ca; đó là quyền năng tối thượng;<br />Là sức mạnh tựa nửa say ngủ trên cánh tay phải của chính mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Nhưng sức mạnh đơn độc dẫu sinh ra từ các Nàng Thơ<br />Cũng tựa như thiên thần sa ngã: những thân cây bật gốc,<br />Bóng tối, sâu bọ, vải liệm và mồ mả<br />Lại làm nó thích thú; bởi nó nuôi mình bằng những gai góc,<br />Và chông gai của cuộc đời; quên mất mục đích lớn lao<br />Của thi ca, là phải trở thành người bạn<br />Xoa dịu những âu lo và nâng đỡ tâm tư con người. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Cuộc trò chuyện ngọt ngào của một tâm hồn thơ ngây. ** Sonnet: "Solitude" === ''{{w|Endymion (thơ)|Endymion}}'' (1818) === [[Tập tin:Endymion.JPG|nhỏ|Một điều [[cái đẹp|xinh đẹp]] là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không.]] [[Tập tin:Girodet - Sommeil Endymion.jpg|nhỏ|Ôi [[giấc ngủ]] diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng!]] * '''Chẳng có địa ngục nào khốc liệt hơn sự thất bại trong một mục tiêu vĩ đại.''' ** Lời tựa * Trí tưởng tượng của một cậu bé thì lành mạnh, và trí tưởng tượng chín chắn của một người đàn ông cũng lành mạnh; nhưng có một khoảng đời ở giữa, khi tâm hồn đang lên men, tính cách chưa định hình, lối sống còn bấp bênh, tham vọng còn mờ mịt: từ đó nảy sinh sự ủy mị, cùng hàng ngàn vị đắng cay mà những người tôi nói tới ắt phải nếm trải khi lật qua những trang sau. ** Lời tựa * '''Một điều xinh đẹp là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không'''; mà vẫn luôn giữ cho ta<br />Một chòi lá thanh bình, và một giấc nồng<br />Đầy những giấc mơ êm ái, sức khỏe và hơi thở an yên. ** Quyển I, dòng 1 * '''Bất chấp tất cả,<br />Một hình bóng của cái đẹp sẽ xua tan tấm màn che<br />Khỏi tâm hồn u tối của chúng ta.''' ** Quyển I, dòng 11 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vẻ bi tráng của định mệnh<br />Mà chúng ta tưởng tượng về những người đã khuất lẫy lừng;<br />Mọi câu chuyện đáng yêu ta từng nghe hay đọc:<br />Là dòng suối bất tận của thức uống trường sinh,<br />Rót xuống chúng ta từ bờ cõi thiên đường. ** Quyển I, dòng 20 * Ta đâu chỉ cảm nhận những tinh túy ấy<br />Trong một giờ ngắn ngủi; không, cũng như những hàng cây<br />Thì thầm quanh ngôi đền sẽ sớm trở nên<br />Thân thương như chính ngôi đền, vầng trăng cũng vậy,<br />Niềm đam mê thi ca, những vinh quang vô tận,<br />Ám ảnh ta cho đến khi chúng trở thành nguồn sáng reo vui<br />Chiếu rọi tâm hồn, và gắn kết với ta chặt chẽ,<br />Đến mức, '''dù trời rạng rỡ hay u ám mây mờ,<br />Chúng luôn phải ở bên ta, bằng không ta sẽ chết.''' ** Quyển I, dòng 25 * Ôi giấc ngủ diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng! ** Quyển I, dòng 453 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thời gian, bà vú già nua ấy,<br />Đã ru ta vào sự nhẫn nại. ** Quyển I, dòng 705 * '''Hạnh phúc nằm ở đâu? Nằm ở điều vẫy gọi<br />Tâm trí sẵn sàng của ta bước vào mối giao hảo thần thánh,<br />Mối giao cảm với bản thể; cho đến khi ta tỏa sáng,<br />Được biến đổi hoàn toàn, và tự do ngoài không gian. Kìa trông<br />Tín ngưỡng quang đãng của cõi trời!''' ** Quyển I, dòng 777 * '''Những bóng ma của lời tiên tri du dương gào thét<br />Quanh mọi dấu chân nơi Apollo từng bước qua''';<br />Những chiếc tù và đồng thức giấc, và khẽ vang lên,<br />Nơi xưa kia từng diễn ra trận chiến khổng lồ;<br />Và, từ thảm cỏ, một khúc hát ru lướt qua<br />Khắp mọi nơi Orpheus thuở ấu thơ từng yên giấc.<br />'''Ta có cảm nhận được những điều này chăng? – khoảnh khắc đó ta đã bước<br />Vào một trạng thái duy nhất, và tâm thế của ta<br />Tựa hồ một linh hồn đang trôi nổi.''' Nhưng còn có<br />Những vướng bận phong phú hơn, những say mê<br />Tự hủy diệt hơn nhiều, từng bước dẫn lối<br />Tới cường độ tột đỉnh: '''chiếc vương miện của những điều này<br />Được kết bằng tình yêu và tình bạn, ngự trị uy nghi<br />Trên vầng trán của nhân loại.''' ** Quyển I, dòng 789 * Tâm hồn không ngơi nghỉ của ta chẳng bao giờ chịu đựng nổi<br />Việc chìm đắm quá lâu vào một nỗi xa hoa duy nhất,<br />Trừ phi, dù trong âu lo, nó thoáng nhận ra<br />'''Một niềm hy vọng vượt lên trên bóng hình của một giấc mơ.''' ** Quyển I, dòng 854 * Khoái lạc thường chỉ là khách qua đường; nhưng nỗi đau<br />Lại bám riết lấy ta một cách tàn nhẫn. ** Quyển I, dòng 906 * '''Kẻ nào e sợ dấn bước theo<br />Nơi những tiếng nói hư không dẫn đường<br />Sẽ chẳng bao giờ được đội vương miện bất tử.''' ** Quyển II, dòng 211 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đó là tai ương<br />Của ái tình: những niềm vui đẹp đẽ nhất lại đem đến nhiều bất an nhất. ** Quyển II, dòng 365 * &nbsp;&nbsp; Với Nỗi Sầu Đau<br />&nbsp;&nbsp;Ta cất lời chào buổi sớm,<br />Tưởng rằng đã bỏ nàng lại phía sau xa xôi;<br />&nbsp;&nbsp;Nhưng vui vẻ thay, rạng rỡ thay,<br />&nbsp;&nbsp;Nàng yêu ta tha thiết;<br />Nàng son sắt với ta dường bao, và quá đỗi ân cần:<br />Ta toan dối lừa nàng<br />Và bỏ nàng ra đi,<br />Nhưng ôi! Nàng quá đỗi thủy chung và ân cần. ** Quyển IV, dòng 173 * Thật nhiều, thật nhiều, và hân hoan xiết bao. ** Quyển IV === ''{{w|La Belle Dame sans Merci}}'' (1819) === [[Tập tin:La Belle Dame Sans Merci, by John William Waterhouse, 1893, oil on canvas - Hessisches Landesmuseum Darmstadt - Darmstadt, Germany - DSC01228.jpg|nhỏ|Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang.]] * Ôi, điều gì làm chàng phiền muộn, hỡi hiệp sĩ mang giáp phục,<br />Đơn độc và tha thẩn với gương mặt nhợt nhạt?<br />Cỏ lác đã héo tàn nơi bờ hồ,<br />Và chẳng còn tiếng chim ca. ** Khổ I * Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang. ** Khổ IV * Ta kết cho nàng một vòng hoa cài đầu,<br />Cả những chuỗi vòng tay, và chiếc thắt lưng hương ngát;<br />Nàng nhìn ta tựa hồ trao trọn yêu thương,<br />Và khẽ buông tiếng than êm ái. ** Khổ V * Ta thấy những vị vua cùng hoàng tử tái nhợt,<br />Những chiến binh nhợt nhạt, tất cả đều mang sắc mặt tái mét như tử thi;<br />Họ gào thét: "La Belle Dame sans Merci<br />Đã giam cầm ngươi trong bùa mê!" ** Khổ X === ''Hyperion: Đoạn thơ dang dở'' (1819) === * Sâu trong nỗi u sầu râm mát của thung lũng<br />Chìm khuất xa khỏi hơi thở trong lành của ban mai,<br />Xa buổi trưa rực lửa, và ánh sao hôm lẻ loi,<br />Saturn tóc hoa râm ngồi đó, lặng lẽ như phiến đá,<br />Bất động tựa cõi tĩnh mịch vây quanh hang ổ của mình;<br />Rừng tiếp rừng trĩu nặng trên đầu ông<br />Như mây tầng mây. ** Quyển I, dòng 1 * Lời phán truyền uy nghiêm của những vị thần thuở sơ khai! ** Quyển I * Tựa như, trong đêm hè mê đắm,<br />Những vị nghị viên áo xanh của đại ngàn hùng vĩ,<br />Những cây sồi sừng sững, được những vì sao ân cần ru ngủ cành lá,<br />Mơ màng, và mơ màng suốt đêm chẳng hề lay động,<br />Ngoại trừ một luồng gió cô đơn thoảng qua<br />Chợt đến giữa thinh không rồi vụt tắt,<br />Như thể làn không khí thoái trào chỉ có một gợn sóng duy nhất. ** Quyển I, dòng 72 * Những ngày tháng thanh bình và tĩnh lặng êm đềm đã qua đi. ** Quyển II * '''Giờ đây nỗi đau của [[chân lý]] đã đến, với kẻ xem đó là nỗi đau;<br />Ôi điên rồ thay! Bởi gánh chịu mọi chân lý trần trụi,<br />Và điềm nhiên đối diện cảnh ngộ,<br />Đó mới là đỉnh cao của quyền uy tối thượng.''' Hãy ghi nhớ lấy. ** Quyển II, dòng 202 * Tri thức bao la biến ta thành một vị Thần. ** Quyển III, dòng 113 === ''Poems'' (1820) === * Còn về đôi mắt nàng: đôi mắt ấy có thể làm gì nơi đó<br />Ngoài tuôn rơi, tuôn rơi dòng lệ, vì sinh ra quá đỗi kiều diễm? ** "Lamia", Phần I, dòng 61 * Tình yêu trong túp lều tranh, với mẩu bánh mì và ngụm nước lã,<br />Chỉ là – Tình yêu ơi xin thứ tha! – tro tàn, xỉ rác, bụi mờ. ** "Lamia", Phần II, dòng 1 * Đã từng có một cầu vồng uy nghiêm ngự nơi thiên giới:<br />Chúng ta biết đường dệt, cấu trúc của nó; nó bị đưa vào<br />Danh mục tẻ nhạt của những vật tầm thường.<br />'''Triết học sẽ xén bớt đôi cánh của Thiên thần''',<br />Chinh phục mọi điều huyền bí bằng thước dây và quy tắc,<br />Làm trống rỗng bầu không khí ma mị, và những mỏ thần lùn –<br />Tháo gỡ một chiếc cầu vồng, như cách nó từng khiến<br />Nàng Lamia dịu dàng tan biến vào bóng hư vô. ** "Lamia", Phần II, dòng 229 [[Tập tin:William Holman Hunt - Isabella and the Pot of Basil, 1867.jpg|nhỏ|“Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.”]] * “Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.” ** "Isabella; or, The Pot of Basil", khổ 62 * Vậy hãy để ta làm dàn hợp xướng của nàng, và cất tiếng thở than<br />Trong những giờ khắc nửa đêm ** "Ode to Psyche", khổ 3 * Và nơi đó sẽ dành cho nàng mọi niềm hoan lạc êm dịu<br />Mà ý nghĩ mông lung có thể đạt tới,<br />Một ngọn đuốc sáng, và khung cửa sổ mở toang trong đêm,<br />Để đón Tình Yêu nồng ấm bước vào! ** "Ode to Psyche", khổ 5 * Cứ để Trí Tưởng Tượng mặc sức rong chơi,<br />Khoái lạc chẳng bao giờ chịu ở yên trong nhà. ** "Fancy", dòng 1 * Những thi sĩ của Đam mê và Hoan lạc,<br />Các người đã để lại linh hồn mình nơi trần thế!<br />Liệu các người có linh hồn nơi thiên đường chăng,<br />Sống cuộc đời nhân đôi ở những cõi giới mới mẻ? ** "Ode: The Fair Maid of the Inn" * Hỡi linh hồn của những Thi sĩ đã khuất bóng,<br />Cõi Elysium nào các người từng hay biết,<br />Cánh đồng hạnh phúc hay hang động phủ rêu phong,<br />Có tuyệt diệu hơn Quán trọ Nàng tiên cá? ** "Lines on the Mermaid Tavern", dòng 1–4 [[Tập tin:Autumn-slovakia.JPG|nhỏ|Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh.]] * '''Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh''';<br />Uốn cong những thân cây quanh mái nhà rêu phong bằng trĩu nặng táo thơm,<br />Và làm căng tràn mọi quả ngọt đến tận cội lõi;<br />Làm nứt đất ngầm, vỗ béo những hạt phỉ<br />Bằng nhân ngọt ngào; giục giã đâm chồi thêm nữa,<br />Thêm nữa những đóa hoa muộn màng cho bầy ong,<br />Cho tới khi chúng ngỡ những ngày ấm áp sẽ chẳng bao giờ ngưng nghỉ,<br />Bởi Mùa Hè đã rót tràn trề vào những tầng tổ dính sánh. ** "[[s:To Autumn (Keats)|To Autumn]]", khổ 1 * '''Ai từng chẳng thường thấy bóng ngươi giữa kho lúa của mình?'''<br />Đôi khi kẻ nào cất bước tìm kiếm có thể thấy<br />Ngươi ngồi thảnh thơi trên sàn kho thóc,<br />Mái tóc khẽ bay trong làn gió sảy;<br />Hoặc ngủ say sưa trên luống cày gặt dở,<br />Mê man trong hương thuốc phiện, khi lưỡi liềm của ngươi<br />Dung tha vạt lúa kế bên cùng muôn hoa đan cài. ** "To Autumn", khổ 2 * Rồi trong dàn đồng ca than vãn, bầy muỗi nhỏ cất tiếng sầu<br />Giữa rặng liễu ven sông, bay bổng lên cao<br />Hay chìm xuống theo từng hơi thở tàn hay sống của ngọn gió thoảng. ** "To Autumn", khổ 3 * '''Không, đừng, chớ tìm đến [[sông Lethe]],''' cũng đừng vặn xoắn<br />Rễ cây phụ tử bám chặt, để chưng cất thứ rượu độc;<br />Cũng đừng để vầng trán nhợt nhạt của ngươi bị hôn lấy<br />Bởi hoa cà độc dược. ** "Ode on Melancholy", khổ 1 * Nhưng khi cơn u sầu chợt đổ ập xuống<br />Bất ngờ từ trời cao tựa đám mây tuôn lệ,<br />Nuôi dưỡng muôn hoa đang ủ rũ gục đầu,<br />Và giấu ngọn đồi xanh trong tấm khăn liệm tháng Tư;<br />Thì hãy thỏa mãn nỗi đau buồn của ngươi nơi đóa hồng sớm mai. ** "Ode on Melancholy", khổ 2 * Nàng ngự cùng Cái Đẹp – Cái Đẹp phải tàn phai;<br />Và Niềm Vui, kẻ luôn đặt tay lên môi<br />Để cất lời từ biệt; cùng Khoái Lạc nhức nhối cận kề,<br />Hóa thành độc dược ngay lúc miệng ong hút nhụy.<br />Phải, ngay trong đền thờ của Lạc Thú<br />Nàng U Sầu che mạng có thánh điện tối cao của mình,<br />Dẫu chẳng ai thấy ngoại trừ kẻ có chiếc lưỡi dũng mãnh<br />Dám nghiền nát trái nho Hoan Lạc nơi vòm họng tinh tế;<br />Linh hồn người đó sẽ nếm trải nỗi buồn từ quyền năng của nàng,<br />Và bị treo lơ lửng giữa những chiến tích mây mờ của nàng. ** "Ode on Melancholy", khổ 3 ==== ''{{w|The Eve of St. Agnes}}'' ==== * Đêm trước ngày Thánh Agnes – Ôi, buốt giá đắng cay làm sao!<br />Cú vọ, dù mang đủ lông vũ, vẫn run rẩy vì giá rét;<br />Thỏ rừng khập khiễng rụt rè bước qua thảm cỏ đóng băng,<br />Và bầy cừu im lìm cuộn mình trong chuồng len ấm. ** Khổ 1 * Giọng lưỡi hoàng kim của âm nhạc<br />Đã dỗ dành người đàn ông già nua nghèo khó này đến trào nước mắt. ** Khổ 3 * Tiếng kèn bạc gắt gỏng bắt đầu cất lời quở trách. ** Khổ 4 * Khúc nhạc khắc khoải tựa một vị Thần trong cơn đau đớn. ** Khổ 7 * Nàng thở dài mong ngóng những giấc mơ ngày lễ Agnes, giấc mơ ngọt ngào nhất trong năm. ** Khổ 7 * Say ngủ trong lòng những truyền thuyết xa xưa. ** Khổ 15 * Chợt một ý nghĩ hiện về tựa đóa hồng nở rộ,<br />Làm bừng đỏ vầng trán chàng, và trong trái tim đau đớn<br />Dấy lên một cơn bạo loạn sắc tía. ** Khổ 16 * Một sinh linh già yếu, bất lực, run rẩy nơi nghĩa địa. ** Khổ 18 * Như thể chú chim sơn ca không lưỡi cố phồng căng<br />Cuống họng trong vô vọng, rồi chết vì nghẹn thở nơi khe núi hẻo lánh. ** Khổ 23 * Trăng mùa đông chiếu rọi thẳng vào ô cửa sổ này,<br />'''Và hắt sắc đỏ ấm áp lên khuôn ngực trắng ngần của Madeline''',<br />Khi nàng quỳ gối cầu xin ân huệ và phước lành của thiên đường;<br />Sắc hồng rơi trên đôi bàn tay nàng đang chắp lại. ** Khổ 25 * Nàng tháo từng món trang sức ấm áp của mình;<br />Nới lỏng vạt áo ngực ngát hương; dần dà<br />Tấm xiêm y lộng lẫy trượt sột soạt xuống đầu gối nàng. ** Khổ 26 * Tựa như đóa hồng khép cánh lại để trở về làm nụ non. ** Khổ 27 * Và nàng vẫn chìm trong giấc ngủ mi mắt biếc xanh,<br />Trên tấm vải lanh trắng tinh, êm ái và thoang thoảng hương hoa oải hương. ** Khổ 30 * Cùng những thứ siro trong vắt, đượm hương quế. ** Khổ 30 * Chàng tấu lên một khúc dân ca cổ từ lâu đã im tiếng,<br />Xứ Provence gọi là "La belle dame sans mercy." ** Khổ 33 * Nàng vội vã theo lời chàng, lòng đầy sợ hãi,<br />Bởi quanh đây muôn loài rồng đang say ngủ,<br />Có lẽ đang trừng mắt canh chừng với những ngọn giáo sẵn sàng –<br />Họ lần tìm lối đi trong bóng tối bước xuống cầu thang rộng. –<br />Khắp ngôi nhà chẳng nghe thấy một tiếng động nhân gian.<br />Ngọn đèn treo dây xích chập chờn bên mỗi cánh cửa;<br />Tấm thảm thêu cảnh kỵ sĩ, chim ưng và chó săn,<br />Phấp phới trong tiếng gầm gào của cơn gió bủa vây;<br />'''Và những tấm thảm dài phập phồng dọc sàn nhà lộng gió.''' ** Khổ 40 * Và họ đã ra đi: phải, từ muôn vàn năm trước<br />Đôi tình nhân ấy đã trốn chạy vào cơn bão tố. ** Khổ 42 ==== ''{{w|Ode to a Nightingale}}'' ==== :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> [[Tập tin:W. J. Neatby - Keats - Nightingale.jpg|nhỏ|Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề.]] * Tim ta đau nhói, và cơn tê dại mơ màng làm buốt giá<br />Các giác quan, như thể ta vừa uống cạn chén độc cần,<br />Hay vừa nốc cạn liều thuốc phiện đắng ngắt<br />Chỉ một phút trước, rồi chìm dần về phía dòng sông Quên: <br />Chẳng phải vì ghen tị với số phận hạnh phúc của ngươi,<br />Mà bởi quá đỗi hân hoan trong niềm hạnh phúc của ngươi, –<br />Rằng ngươi, nàng Dryad cánh nhẹ của cây rừng,<br />Nơi vạt đất du dương<br />Của sắc xanh cây dẻ gai và bóng râm vô tận,<br />Đang cất cao tiếng hát ngợi ca mùa hè bằng tất cả sự thảnh thơi. ** Khổ 1 * '''Ôi, ước gì có một ngụm rượu nho cổ kính! Từng được<br />Làm mát qua bao niên kỷ trong lòng đất sâu thẳm.'''<br />Mang hương vị của Nữ thần Hoa và màu xanh đồng nội,<br />Điệu vũ khúc, câu hò xứ Provence, và niềm vui rám nắng!<br />Ôi ước gì có một chén đầy ắp phương Nam ấm áp,<br />Tràn đầy dòng suối nguồn Hippocrene chân thật, ửng hồng,<br />Với những bọt tăm lấp lánh chớp mắt nơi miệng chén,<br />Và bờ môi nhuốm sắc tím nồng nàn. ** Khổ 2 * Hãy tan biến thật xa, hòa tan, và quên lãng hoàn toàn<br />Điều mà ngươi giữa vòm lá chưa từng hay biết,<br />Sự mệt mỏi, cơn sốt và nỗi bồn chồn<br />Nơi chốn này, nơi con người ngồi nghe tiếng rên xiết của nhau;<br />Nơi chứng bại liệt làm rung rinh vài sợi tóc bạc buồn bã cuối cùng,<br />Nơi tuổi trẻ tái nhợt, gầy guộc như bóng ma rồi chết mòn;<br />Nơi chỉ cần suy nghĩ thôi cũng đã ngập tràn phiền muộn<br />Và những nỗi tuyệt vọng với đôi mắt màu chì. ** Khổ 3 * '''Đã ở bên ngươi rồi! Đêm thật dịu dàng.''' ** Khổ 4 * Ta chẳng thể nhìn thấy những đóa hoa nào dưới chân mình,<br />Cũng không thấy làn hương êm dịu nào vương trên cành biếc,<br />Nhưng giữa bóng tối ướp hương, ta đoán từng vị ngọt ngào. ** Khổ 5 * Và đứa con đầu lòng của giữa tháng Năm,<br />Đóa hồng xạ hương sắp nở, đượm đầy men rượu sương đêm,<br />'''Chốn lui tới vo ve của bầy ruồi trong những chiều hè.''' ** Khổ 5 [[Tập tin:Portrait of Keats - HH.jpg|nhỏ|Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?]] * '''Trong bóng tối ta lắng nghe; và đã biết bao lần<br />Ta gần như phải lòng cái [[Chết]] thanh thản''',<br />Gọi tên Người bằng những danh xưng êm ái trong bao vần thơ ngẫm ngợi,<br />Để gửi gắm vào không trung hơi thở bình yên của mình;<br />Giờ đây hơn bao giờ hết, chết đi dường như là điều phong phú xiết bao,<br />Để chấm dứt giữa đêm trường mà không một chút đớn đau,<br />Khi ngươi đang trút trọn linh hồn mình ra ngoài<br />Trong cơn xuất thần cuồng nhiệt dường ấy!<br />Ngươi vẫn sẽ hót, còn tai ta hóa thành vô ích –<br />Trước khúc chiêu hồn cao cả của ngươi, ta chỉ còn là một mảnh đất cằn. ** Khổ 6 * '''Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề''':<br />Có lẽ chính khúc ca ấy đã tìm được lối đi<br />Qua trái tim sầu muộn của nàng Ruth, khi nhớ nhà quay quắt,<br />Nàng đứng rơi lệ giữa ruộng ngô xa lạ;<br />Cũng chính khúc ca ấy đã biết bao lần<br />Quyến rũ những ô cửa sổ ma thuật, mở ra đầu ngọn sóng<br />Của những vùng biển hiểm nguy, nơi xứ sở thần tiên hoang phế. ** Khổ 7 * Hoang phế! Chính từ ngữ ấy như một hồi chuông<br />Kéo giật ta từ ngươi trở về với cái tôi cô độc! ** Khổ 8 * '''Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?''' ** Khổ 8 ==== ''[[w:Ode on a Grecian Urn|Ode on a Grecian Urn]]'' ==== [[Tập tin:keats urn.jpg|nhỏ|"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.]] :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> * Hỡi cô dâu chưa vấy bụi trần của sự tĩnh lặng,<br />Hỡi đứa con nuôi của thinh lặng và thời gian chậm rãi,<br />Sử gia của chốn rừng già, kẻ có thể diễn bày<br />Một tích truyện ngát hoa ngọt ngào hơn vần thơ chúng ta:<br />Truyền thuyết viền lá nào đang ám ảnh quanh dáng hình ngươi?<br />Của thần linh hay người phàm, hay của cả hai,<br />Nơi thung lũng Tempe hay những hẻm núi xứ Arcady?<br />'''Họ là những người phàm hay thần thánh nào đây? Những thiếu nữ ngập ngừng nào kia?<br />Cuộc rượt đuổi điên cuồng nào? Nỗ lực trốn thoát nào?<br />Tiếng sáo và tiếng trống lục lạc nào? Cơn ngây ngất hoang dại nào?''' ** Khổ 1 * '''Những giai điệu nghe thấy thì ngọt ngào, nhưng những giai điệu không nghe thấy<br />Còn ngọt ngào hơn: vì thế, hỡi những chiếc sáo êm dịu, hãy tấu tiếp đi;<br />Không phải cho đôi tai trần tục, mà đáng trân quý hơn,<br />Hãy thổi cho tâm linh những khúc ca không thành tiếng.'''<br />Chàng trai trẻ khôi ngô, dưới bóng cây, ngươi không thể dứt khỏi<br />Bài ca của mình, và những tán cây kia cũng chẳng bao giờ trơ trụi;<br />Hỡi Tình Nhân táo bạo, chẳng bao giờ, chẳng bao giờ ngươi hôn được nàng,<br />Dẫu đã cận kề đích đến – nhưng, chớ đau buồn;<br />Nàng không thể phai tàn, dẫu ngươi chưa chạm tới niềm hoan lạc,<br />Ngươi sẽ mãi yêu thương, và nàng sẽ mãi vẹn toàn nét xuân thì! ** Khổ 2 * Những ai đang tiến đến buổi hiến tế kia?<br />Tới bàn thờ xanh tươi nào, hỡi vị tư tế huyền bí,<br />Ngươi đang dắt theo con bò cái tơ rống lên trời xanh,<br />Và toàn bộ mạn sườn mượt mà của nó được kết đầy vòng hoa? ** Khổ 4 * Hỡi hình hài câm lặng, ngươi trêu ngươi tư tưởng chúng ta<br />Tựa hồ cõi vĩnh hằng: Khúc Điền Viên Lạnh Giá!<br />Khi tuổi già tàn phá thế hệ này,<br />Ngươi sẽ vẫn ở lại, giữa những nỗi đau khác<br />Không phải của chúng ta, như một người bạn của con người, người mà ngươi nhắn nhủ,<br />'''"[[Cái đẹp]] là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.''' ** Khổ 5 == Nhận định về Keats == * Nhóm người khác mà tôi sinh ra để dành trọn tâm hồn là các nhà thơ Lãng mạn. Đặc biệt là Shelley, và Keats. ** Paula Gunn Allen, phỏng vấn trong ''Survival This Way: Interviews with American Indian Poets'' của Joseph Bruchac (1987) * Ông ấy đã gây ra tổn hại dường nào cho Thi ca Anh quốc. Giống như Robert Browning là người có tài năng vừa phải nhưng khát khao mãnh liệt sự chuyển động và viên mãn, để rồi chỉ thu về một sự bề bộn hỗn loạn, thì Keats với tài năng xuất chúng tột bậc, cũng bị thiêu đốt bởi khát vọng này; và không thể tạo ra những tác phẩm thực sự sống động và lay động, như lương tâm ông vẫn không ngừng mách bảo. Họ không chịu kiên nhẫn cũng chẳng hiểu rằng họ phải bắt đầu bằng một Ý niệm về thế giới để không bị sự bề bộn của thế giới đè bẹp: hoặc nếu không đạt được điều đó, thì ít nhất phải bằng những ý niệm độc lập; và mọi thứ khác rồi (có lẽ) sẽ được thêm vào cho họ. ** Matthew Arnold, thư gửi Arthur Clough, 1848/9, trong ''John Keats: The Critical Heritage'', G.M. Matthews chủ biên (1995) * Tôi nghĩ mình thưởng thức những bức thư của ông ấy còn nhiều hơn cả thơ ca. Ông ấy có một bộ óc tuyệt vời và một cá tính rất kiên cường. ** Elizabeth Bishop, phỏng vấn năm 1966 trong ''Conversations with Elizabeth Bishop'', George Monteiro chủ biên (1996) * [Về cuốn ''Cuộc đời Keats'' của Monckton Milne] Một nỗ lực bắt chúng ta ăn thịt chó chết bằng cách nêm nếm gia vị và nấu nướng tinh vi [...] Kiểu người như Keats ngày càng trở nên kinh tởm đối với tôi. Cơn đói khát mọi thứ khoái lạc thuộc mọi thể loại, kết hợp với sự thiếu hụt mọi sức mạnh khác – quả là một sự kết hợp! Một cấu trúc tâm hồn như vậy, thời xưa hẳn đã quá rõ ràng, là một 'Chiếc bình được chọn của Địa ngục' [...] ** Thomas Carlyle, trong cuốn ''Thomas Carlyle: A History of His Life in London, 1834 - 1881'' của J.A. Froude (1884) * Đây là thứ thơ ca đái dầm của thằng nhóc Johnny Keats [...] Trên bàn của tôi la liệt thứ rác rưởi của Keats và những kẻ tương tự, đến nỗi tôi xấu hổ khi phải nhìn vào chúng [...] Tôi van xin đấy, đừng đưa Keats ra nữa: hãy lột da sống hắn đi; nếu mấy người không làm thì chính tôi sẽ tự tay lột da hắn: không thể nào chịu nổi thói ngớ ngẩn lảm nhảm của cái thằng người lùn ấy. :Tờ ''Edinburgh'' ca ngợi Jack Keats hay Ketch, hay bất kể tên hắn là gì [...] trời ạ, thơ của hắn là thứ Thủ dâm Thi ca – tương tự như khoái lạc mà một gã kéo vĩ cầm người Ý tìm thấy khi bị một ả gái điếm treo lơ lửng mỗi ngày ở phố Drury Lane. Chuyện này diễn ra vài tuần: cuối cùng ả đi mua một panh rượu Gin – gặp một ả khác, tán gẫu quá lâu, và Cornelli bị treo cổ chết thẳng cẳng trước khi ả quay về. Đó chính là thứ rác rưởi mà họ ca tụng, và đó sẽ là hồi kết cho thứ thơ ca vươn dài của kẻ Tự làm ô uế tâm trí con người một cách khốn khổ này. :Ông Keats, người mà anh hỏi thăm thơ phú, đối với tôi hiện lên đúng như những gì tôi đã nói: lối viết như vậy là một kiểu thủ dâm tinh thần – hắn luôn tự kích thích Trí tưởng tượng của mình. Ý tôi không phải hắn khiêu dâm, mà là hắn mồi chài các ý niệm của mình vào một trạng thái suy đồi, thứ chẳng phải thơ ca cũng chẳng phải điều gì khác ngoài ảo ảnh nhà thương điên sinh ra từ thịt lợn sống và thuốc phiện. :* [[Lord Byron]], thư gửi John Murray, 12 tháng 8 – 9 tháng 9 năm 1820, trong ''The Routledge Literary Sourcebook on the Poems of John Keats'', J. Strachan chủ biên (2003) * Sự phẫn nộ của tôi trước việc ông Keats đánh giá thấp Pope khó lòng cho phép tôi đánh giá công bằng thiên tài của ông ấy, người mà bất chấp mọi sự hào nhoáng kỳ quặc trong phong cách, chắc chắn là một tài năng đầy hứa hẹn. Đoạn thơ dang dở Hyperion của ông dường như thực sự được truyền cảm hứng từ các thần Titan, và tráng lệ tựa như tác phẩm của Aeschylus. Ông là một mất mát lớn cho nền văn học của chúng ta. ** Lord Byron, 12 tháng 11 năm 1821 * '''Keats, một người hoàn toàn xa lạ với sự nhầm lẫn, có thể tin rằng con chim sơn ca mê hoặc ông chính là con chim mà nàng Ruth từng nghe thấy giữa ruộng ngô xa lạ ở xứ Bethlehem thuộc Judah'''; Stevenson đưa ra giả thuyết về một cánh chim duy nhất nuốt chửng nhiều thế kỷ: "con chim sơn ca nuốt chửng thời gian." Arthur Schopenhauer – một Schopenhauer nồng nhiệt và sáng suốt – đưa ra lý do: sự trực tiếp thuần túy thuộc về thể xác mà loài vật sinh sống, không hề bận tâm đến cái chết và ký ức. Sau đó ông nói thêm, không giấu nổi một nụ cười: Bất cứ ai nghe tôi quả quyết rằng con mèo xám đang chơi đùa ngoài sân lúc này chính là con mèo từng nhảy nhót và làm trò ở đó năm trăm năm trước sẽ nghĩ bất cứ điều gì họ thích về tôi, nhưng sẽ là một dạng điên rồ kỳ lạ hơn nếu hình dung rằng con mèo ngày nay về cơ bản là một con mèo hoàn toàn khác. ** Jorge Luis Borges, trong "A History of Eternity", dịch trong ''Selected Non-Fictions'' Tập 1 (1999), Eliot Weinberger chủ biên * Vào phần sau của mùa hè năm ấy [1817], lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông. Chúng tôi được giới thiệu với nhau trên đường Hampstead.... ...trong cuộc gặp gỡ kéo dài một phút ấy, tự đáy lòng tôi đã khao khát được làm quen, nếu không muốn nói là làm bạn với ông... Ông có vóc dáng nhỏ bé, cân đối, thân hình gọn gàng, và tuy gầy nhưng khá săn chắc; – một trong số nhiều người chứng minh rằng khí phách nam nhi khác biệt với chiều cao và thể xác vạm vỡ. '''Không có ma thuật nào sánh bằng một gương mặt chân thành, và tôi chưa từng thấy gương mặt của sinh linh nào chân thành như của ông.''' Đôi mắt to đẹp của ông ánh lên vẻ trí tuệ rạng rỡ, và ngời sáng (vào thời điểm đó!) niềm hy vọng cùng niềm vui. Người ta từng nhận xét rằng nét khiếm khuyết nhất là khuôn miệng của ông; và đôi khi đúng là như vậy. Nhưng bất cứ khi nào ông cất lời, hoặc hào hứng về điều gì, biểu cảm của làn môi lại biến đổi và tinh tế đến mức có thể gọi là khôi ngô. ** Charles Armitage Brown, ''Life of John Keats'', tr. 44 * '''Một chàng trai trẻ rất kỳ lạ, nhưng tính tình hòa nhã, tốt bụng, và thực sự rất thông minh.''' ** Bà Maria Dilke, dẫn trong ‘Papers of a Critic’, Sir Charles Dilke, I, tr. 8 * Tôi cũng thích các nhà thơ Lãng mạn. Wordsworth, Keats, Burns và Blake là một vài trong số những tác giả yêu thích của tôi. Có điều gì đó trong tinh thần nổi loạn của họ chống lại những tệ nạn của quá trình công nghiệp hóa đã làm tôi xúc động. Dĩ nhiên giờ đây, một phần sự bi quan, chủ nghĩa thần bí và nhãn quan hiện thực phê phán hạn hẹp của họ khiến tôi cảm thấy khá khó chịu. ** Micere Githae Mugo, trong ''Talking with African Writers'', Jane Wilkinson chủ biên * '''Thời thơ ấu Keats chẳng hề gắn bó với sách vở. Sở thích của cậu là đánh nhau. Cậu sẵn sàng đấm nhau với bất kỳ ai – sáng, trưa và tối, kể cả với em trai mình. Đó là cơm ăn nước uống của cậu.''' Người họ hàng thủy thủ Jennings luôn ngự trị trong suy nghĩ của mấy anh em, và họ quyết tâm giữ vững danh tiếng dũng cảm của gia đình; George theo cách thụ động; John và Tom thì dữ dội hơn. Những người bạn thân của John rất ít; sau khi được biết đến là kẻ sẵn sàng ẩu đả, cậu dường như thích họ vì một thứ tính cách hài hước kệch cỡm và hề hước. Lúc này tôi nhớ lại niềm thích thú của cậu trước những cử chỉ và trò nghịch ngợm phi thường của một cậu bé tên Wade vốn nổi tiếng vì điều này.... Cậu là một đứa trẻ mà bất kỳ ai nhìn vào sự hoạt bát phi thường và vẻ đẹp ngoại hình đều có thể dễ dàng hình dung sẽ trở thành một vĩ nhân – nhưng là trong quân sự hơn là văn học. ** Edward Holmes, bạn học tại Trường Clarke ở Enfield * Cậu ấy được các bạn đồng môn gọi là 'Keats bé nhỏ', khi trưởng thành tối đa cũng không cao quá một mét rưỡi.... Trong phòng, cậu luôn đứng bên cửa sổ, nhìn đăm đăm vào không gian, đến mức chỗ ngồi bên cửa sổ được các bạn gọi là chỗ của Keats.... Trong giảng đường, cậu dường như ngồi tách biệt và mải mê với điều gì khác, như thể chủ đề bài giảng gợi cho cậu những suy nghĩ không liên quan thực tế đến nó. Cậu thường lúc thì nhập tâm, lúc thì lơ đễnh trôi dạt ra ngoài theo một cách mơ màng. <br />Cậu chưa từng đặt nhiều tầm quan trọng vào việc học y của mình, và thực sự coi nghề y là nghề để mưu sinh trong một thế giới bận rộn, mà không chắc liệu mình có thể chịu đựng nổi áp lực của nó hay không. Tuy nhiên, cậu có ý thức về năng lực của chính mình, và thậm chí về sự vĩ đại của mình, dẫu nó có thể không bao giờ được công nhận.... '''Thi ca trong tâm trí cậu là đỉnh cao của mọi khát vọng: điều duy nhất xứng đáng với sự chú ý của những bộ óc siêu việt: cậu nghĩ như vậy: mọi mưu cầu khác đều tầm thường và tẻ nhạt.''' Cậu không có khái niệm nào về danh vọng hay sự vĩ đại ngoại trừ việc nó gắn liền với sự theo đuổi thi ca, hoặc việc đạt tới sự xuất sắc trong thơ ca.... Cậu có phong thái lịch thiệp và khi hạ mình nói về các chủ đề khác, cậu tỏ ra dễ mến và thông minh. Cậu tiếp thu rất nhanh và nhạy bén khi chọn chú tâm vào bất kỳ chủ đề nào. Cậu là một người điềm tĩnh, trầm lặng và cư xử đúng mực, không bao giờ hướng tới những thú vui thấp hèn hay đồi bại. ** Henry Stephens, bạn học tại Bệnh viện Guy * Ông thấp hơn chiều cao trung bình; phần chi dưới nhỏ nhắn so với phần thân trên, nhưng gọn gàng và cân đối. Vai ông rất rộng so với tầm vóc; ông có một gương mặt nơi năng lượng và sự nhạy cảm hòa quyện một cách đáng kinh ngạc, một sức mạnh hăm hở bị kìm hãm và nhẫn nại bởi bệnh tật. Từng đường nét vừa sắc sảo rõ ràng lại vừa sống động tinh tế. Nếu có nét biểu cảm nào khiếm khuyết thì đó là ở khuôn miệng, nơi phảng phất đôi chút tính hiếu chiến... Đầu ông là một câu đố kỳ lạ đối với các nhà [[nhân tướng học]], với hộp sọ nhỏ khác thường; một nét kỳ dị mà ông có điểm chung với Lãnh chúa Byron và ông Shelley, không chiếc mũ nào của họ mà tôi có thể đội vừa. ** Leigh Hunt, "Mr. Keats" * Và anh không nhớ chuyện Keats từng đề nghị nâng ly 'Chúc cho ký ức về Newton bị đảo lộn' và khi anh nài nỉ đòi giải thích trước khi uống, ông ấy đã nói: 'Bởi vì ông ta đã phá hủy chất thơ của chiếc cầu vồng khi quy nó về một lăng kính'? Ôi, người bạn già thân mến của tôi, anh và tôi sẽ chẳng bao giờ còn thấy lại những ngày tháng như thế nữa! ** Benjamin Haydon, Hồi ký và Tự truyện * Tôi nhớ... lần đầu tiên ông được giới thiệu với ông Haydon; và khi trong cuộc trò chuyện, người nghệ sĩ vĩ đại ấy hỏi ông "liệu ông có yêu đất nước mình không", máu đã dồn lên má và nước mắt trào ra nơi khóe mắt ông trước câu trả lời đầy nhiệt huyết. '''Tình yêu tự do của ông thật nồng nàn và cao cả.''' ** Charles Cowden Clarke, bài viết trên tờ ''Morning Chronicle'' (27 tháng 7 năm 1821) * Cậu ấy đang chăm chỉ học tập, ôn lại tiếng Latinh, chuẩn bị học tiếng Hy Lạp, và dường như nhìn chung có lý trí hơn bình thường – nhưng '''cậu ấy là một kẻ bốc đồng thất thường, không thể trông cậy được nhiều. Song cậu ấy chẳng nghĩ tới điều gì ngoài thi ca như mục đích và cùng đích của đời mình, và rồi lúc này hay lúc khác, tôi không nghi ngờ rằng cậu ấy sẽ làm nên điều gì đó có giá trị.''' ** James Augustus Hessey gửi John Taylor (16 tháng 9 năm 1818), dẫn lại bởi Edmund Blunden trong ''Keats's Publisher'', tr. 56 * Người đã khuất là một trong những người bạn ân cần nhất mà tôi từng có, ấy vậy mà có lẽ ông đối với tôi cũng chẳng ân cần hơn đối với những người khác. Trí tuệ mãnh liệt và cảm xúc mạnh mẽ của ông, tôi thực sự tin rằng, lẽ ra đã cống hiến được điều gì đó cho đời nếu cuộc đời dung tha cho ông – nhưng ông mang bản tính quá đỗi nhạy cảm – và vì thế ông đã bị hủy hoại! ** John Hamilton Reynolds * [Keats] chính là linh hồn của lòng dũng cảm và khí phách trượng phu, và giống như ''Đức Thánh Linh'' nhiều ngang như ''chú nhóc Johnny Keats''. ** George Keats * Khi có người bày tỏ sự kinh ngạc với Shelley rằng Keats, người vốn không thông thạo tiếng Hy Lạp, lại có thể viết một cách tao nhã và chuẩn mực cổ điển về các vị thần và nữ thần của họ đến thế, Shelley đã đáp: “Anh ấy ''chính là'' một người Hy Lạp.” ** Richard H. Horne, ''A New Spirit of the Age'' (1844) * hãy nghĩ xem: những vần thơ đã gắn chặt cảnh quan này: Blake, Donne, Keats ** Tuyển tập thơ của Muriel Rukeyser * Với Wordsworth, cõi chết thường ẩn hiện ngay dưới bề mặt, và với Keats cũng vậy, một đứa con khác của thời đại mình, người tin rằng – chịu ảnh hưởng từ [[Thời kỳ Khai sáng]] – chúng ta là những thực thể vật chất trong một vũ trụ vật chất và ta buộc phải chấp nhận số phận đó. Chúng ta phải chết, nhưng không có bờ vai thần thánh nào để tựa vào, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được những chân lý sâu xa nhất, những điều mà trái ngược với mọi tuyên bố của Thời kỳ Khai sáng, cả lý trí lẫn khoa học đều không thể chạm tới. Keats mang một nhãn quan bi kịch về cuộc đời. Ông rõ ràng là một người thuộc [[Chủ nghĩa lãng mạn]]; chẳng có Miền đất hứa Khai sáng nào chờ đợi ông cả. ** Brian L. Silver, ''The Ascent of Science'' (1998) * Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu chỉ là một người mà văn bia của Keats mô tả: “Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.” ** Rebecca Solnit, phỏng vấn trên tạp chí New York Times (2018) * Tôi dành một tình yêu trọn đời cho John Keats, nhà thơ vĩ đại nhất trong số các nhà thơ Lãng mạn Anh sống vào thế kỷ thứ mười chín. Khả năng kỳ diệu trong việc tạo ra cái đẹp bằng ngôn từ của ông đã chạm thấu tâm hồn tôi. Tôi vẫn còn rất trẻ khi đọc bức thư Keats gửi cho em trai mình năm 1817. Trong đó, ông viết về "năng lực tiêu cực", điều mà ông giải thích là phẩm chất "khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ." Tôi bị cuốn hút bởi ý tưởng này vì rất nhiều điều tôi từng trải qua khi còn là một đứa trẻ, thiếu niên và chàng trai trẻ dường như đều bị bao phủ trong bức màn huyền bí. ** Cornel West, ''Brother West: Living and Loving Out Loud, A Memoir'' (2009) == Xem thêm == * {{w|Văn học lãng mạn}} * {{w|Percy Bysshe Shelley}} * {{w|Lord Byron}} * {{w|William Wordsworth}} == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} * [http://bartleby.com/126/ Toàn tập tác phẩm thi ca] * [http://www.john-keats.com/ John Keats.com] * [http://englishhistory.net/keats/contents.html Cuộc đời và tác phẩm của John Keats] * [http://keatsian.com/ Keatsian.com] [[Thể loại:Sinh năm 1795]] [[Thể loại:Mất năm 1821]] [[Thể loại:Nhà thơ Anh]] 7axl0pg7a4apsb4sjqi1s409qdxssjr 63708 63707 2026-10-08T09:25:42Z Mai Thanh Bang 3613 /* Poems (1820) */ 63708 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:John Keats by William Hilton.jpg|nhỏ|phải|Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong chính con người mình; nó không thể chín muồi bằng luật lệ và huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân.]] '''{{w|John Keats}}''' (31 tháng 10 năm 1795 – 23 tháng 2 năm 1821) là một trong những nhà thơ kiệt xuất nhất của phong trào {{w|Chủ nghĩa lãng mạn|lãng mạn}} Anh. == Danh ngôn == [[Tập tin:John keats.jpg|nhỏ|phải|Từng đỉnh cao và dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh.]] * Ngọt ngào xiết bao những thú vui thuộc về thơ ca,<br />Và ngọt ngào gấp bội tình huynh đệ trong câu hát. ** "To George Felton Mathew" (tháng 11 năm 1815) * '''Tâm hồn ta quá đỗi yếu mềm – sự phù sinh<br />Đè nặng lên ta tựa giấc ngủ chẳng hề mong muốn''',<br />Và từng đỉnh cao cùng dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh. ** "On Seeing the Elgin Marbles|On Seeing the Elgin Marbles" (1817) * Giữa tháng Chạp đêm dài u tối,<br />Hỡi cái cây quá đỗi hạnh phúc kia,<br />Cành lá ngươi chẳng hề vương vấn<br />Niềm hoan lạc xanh tươi thuở nào. ** "In drear-nighted December", khổ 1 (1817) * Nhưng liệu đã từng có ai<br />Chẳng quằn quại trước niềm vui đã mất?<br />Cái cảm giác không còn cảm thấy,<br />Khi chẳng có điều chi hàn gắn,<br />Cũng không có giác quan tê dại để tôi rèn,<br />Chưa từng được cất lên thành vần điệu. ** "Stanzas", khổ 3 * Biển cất tiếng thì thầm muôn thuở quanh<br />Những bờ hoang vắng, và với ngọn triều cuộn dâng dũng mãnh<br />Nó vỗ ngập hai vạn hang sâu, cho tới khi phép thuật<br />Của Hecate trả lại cho chúng âm vang mờ ảo xưa cũ. ** "On the Sea" (1817) [[Tập tin:John Keats by Benjamin Robert Haydon.jpg|nhỏ|phải|Nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.]] * Khi ta lo sợ mình sẽ lìa đời<br />Trước lúc ngòi bút kịp gặt hái bộ não đang trào dâng ý niệm,<br />Trước khi những trang sách chất cao, bằng chữ nghĩa,<br />Chứa đựng tựa vựa lúa đầy hạt mẩy chín vàng;<br />Khi ta chiêm ngưỡng, trên gương mặt ngàn sao của màn đêm,<br />Những biểu tượng mây mờ kỳ vĩ của cõi diễm tình cao thượng,<br />Và nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ sống để lần theo<br />Bóng hình chúng bằng bàn tay nhiệm màu của cơ duyên;<br />Và khi ta cảm thấy, hỡi tạo vật kiều diễm của một thoáng giây!<br />Rằng ta sẽ không bao giờ được nhìn ngắm nàng thêm nữa,<br />Chẳng bao giờ còn được tận hưởng năng lực diệu kỳ<br />Của tình yêu thuần khiết vô tư! – '''thế rồi nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.''' ** "When I have fears that I may cease to be" (1817) * '''Chớ rơi lệ! Ôi đừng rơi lệ!<br />Đóa hoa kia sẽ nở lại vào năm sau.'''<br />Thôi đừng khóc! Ôi đừng khóc nữa!<br />Nụ non đang say ngủ nơi lõi trắng của cội rễ. ** "Faery Songs", I (1818) * Bàn tay sống động này, giờ đây ấm áp và đủ sức<br />Nắm chặt ân cần, nếu một mai lạnh ngắt<br />Trong cõi tĩnh lặng băng giá của nấm mồ,<br />Sẽ ám ảnh chuỗi ngày của em và làm tê buốt những đêm mơ<br />Đến mức em ước gì tim mình cạn máu<br />Để dòng đời đỏ thắm lại tuôn chảy trong huyết quản của anh,<br />Và lương tâm em được xoa dịu – nhìn xem này –<br />Anh đang chìa nó về phía em. ** "This living hand" (1819) * Hỡi vì sao sáng! Ước gì ta kiên định như người –<br />Chẳng phải treo lơ lửng giữa trời đêm trong vẻ tráng lệ cô đơn<br />Và dõi mắt trông với hàng mi muôn đời hé mở,<br />Tựa ẩn sĩ kiên nhẫn, thức thâu đêm của thiên nhiên,<br />Ngắm làn nước dạt dào thực hiện sứ mệnh tựa linh mục<br />Thanh tẩy thuần khiết quanh bờ cõi trần gian. ** "Bright star, would I were stedfast as thou art" (1819) * Không ai có thể chiếm đoạt đỉnh cao này...<br />Ngoại trừ những kẻ xem nỗi khốn cùng của thế gian<br />Chính là nỗi khốn cùng của mình, và điều đó không để họ được yên nghỉ. ** "The Fall of Hyperion: A Dream" (1819), Khúc I, dòng 147 * Ngày đã tàn, và mọi điều ngọt ngào cũng tan biến!<br />Giọng nói dịu dàng, làn môi êm ái, bàn tay mềm mại, và khuôn ngực càng êm ái hơn. ** Sonnet "The Day is Gone" (sáng tác 1819; xuất bản 1848) * Trước nhãn quan thi sĩ<br />Lớp vỏ của vạn vật tự nhiên mở toang<br />Tới tận cội lõi; và từng tinh túy thầm kín nơi đó<br />Đều hé lộ những yếu tố của cái thiện và cái mỹ;<br />Khiến người thấy được điều mà Học vấn chẳng rọi tới nguồn sáng nào. ** "The Poet", ''London Magazine'' (tháng 10 năm 1821) [[Tập tin:John Keats Tombstone in Rome 01.jpg|nhỏ|Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.]] * '''Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.''' ** Văn bia tự viết cho chính mình (1821) * Rương sách của tôi hãy chia đều cho những người bạn. ** Di chúc (1821) === Thư từ (1817–1820) === * Tôi không chắc chắn về điều gì ngoại trừ sự thiêng liêng của những rung cảm nơi con tim và chân lý của trí tưởng tượng – điều mà trí tưởng tượng nắm bắt như cái đẹp thì ắt phải là chân lý – bất kể nó từng tồn tại trước đó hay chưa. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Trí tưởng tượng có thể ví như giấc mơ của Adam – ông thức giấc và thấy đó là hiện thực. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Ôi, ước gì có được một cuộc đời ngập tràn Cảm giác hơn là đầy ắp Tư tưởng! ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Tôi khó lòng nhớ được việc mình từng trông đợi vào hạnh phúc – tôi không tìm kiếm nó nếu nó chẳng nằm trong hiện tại – chẳng điều gì làm tôi kinh ngạc vượt ngoài khoảnh khắc này. Mặt trời lặn sẽ luôn đưa tôi về trạng thái cân bằng, hoặc nếu một cánh chim sẻ bay đến đậu trước cửa sổ, tôi dự phần vào sự tồn tại của nó và cùng nhặt nhạnh quanh đám sỏi. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Sự xuất sắc của mọi nghệ thuật nằm ở cường độ của nó, có khả năng làm bốc hơi mọi điều khó chịu, bởi chúng gắn bó mật thiết với vẻ đẹp và chân lý. ** Gửi G. và F. Keats (21 tháng 12 năm 1817) * Bất chợt tôi nhận ra phẩm chất làm nên một con người thành tựu, đặc biệt trong văn học, và là điều Shakespeare sở hữu ở mức độ phi thường – ý tôi là ''năng lực tiêu cực'' (negative capability), tức là khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ. ** Gửi George và Thomas Keats (22 tháng 12 năm 1817) * Chúng sẽ tự giải thích cho chính mình – như mọi bài thơ đều nên làm mà chẳng cần tới bất kỳ lời bình giải nào. ** Gửi George Keats (1818) * Các tác phẩm thiên tài là những điều đứng hàng đầu trên thế gian này. ** Gửi G. và F. Keats (13 tháng 1 năm 1818) * Chẳng có gì tốt hơn cho mục đích tạo ra các trước tác vĩ đại bằng sự chín muồi dần dần của các năng lực trí tuệ. ** Gửi em trai George Keats (23 tháng 1 năm 1818) * '''Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một điều gì đó đi sâu vào tâm hồn con người, không làm nó giật mình hay sửng sốt bởi chính bản thân bài thơ, mà bởi chủ đề của nó.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * Chúng ta ghét thứ thơ ca có mưu toan lộ liễu nhắm vào mình – và nếu ta không đồng thuận, nó dường như đút tay vào túi quần quay đi. Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một thứ bước vào tâm hồn, không làm người ta giật mình hay choáng ngợp bởi chính hình thức của nó, mà bởi điều nó chuyển tải. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * '''Nhiều người sở hữu tâm trí độc đáo mà không hề hay biết – họ bị thói quen dẫn dụ đi lạc – Giờ đây đối với tôi, dường như bất kỳ ai cũng có thể như loài nhện, tự rút từ nội tâm mình ra tòa thành quách của riêng mình.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (19 tháng 2 năm 1818) [[Tập tin:John Keats, portrait by Joseph Severn.jpg|nhỏ|Nếu [[thơ ca]] không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn.]] * Trong Thi ca tôi có một vài định đề, và bạn sẽ thấy tôi còn cách xa tâm điểm của chúng dường nào. Tôi nghĩ Thơ ca nên gây ngạc nhiên bằng sự dồi dào tinh tế chứ không phải bằng sự lập dị kỳ quặc – nó phải tác động tới độc giả như cách diễn đạt những suy nghĩ cao quý nhất của chính họ, và hiện lên gần như một miền hồi ức – Những nét chấm phá của Cái đẹp không bao giờ được dừng ở nửa chừng khiến độc giả hụt hơi thay vì thỏa nguyện: sự khởi phát, diễn tiến, và lắng đọng của hình ảnh phải đến tự nhiên với họ như vầng Thái dương – chiếu rọi và lặn xuống bình dị dù trong vẻ huy hoàng, để họ lại trong sự êm đềm của ánh hoàng hôn – nhưng nghĩ xem Thơ ca nên là gì thì dễ hơn viết ra nó nhiều – và điều này dẫn tôi tới một định đề khác: Rằng nếu Thơ ca không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn. ** Gửi John Taylor (27 tháng 2 năm 1818) * Cảnh sắc thật tuyệt mỹ – nhưng bản tính con người còn tuyệt mỹ hơn. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Mọi sự theo đuổi tinh thần đều nhận lấy tính hiện thực và giá trị từ lòng nhiệt thành của người theo đuổi. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Các định đề trong triết học không phải là định đề cho đến khi chúng được kiểm chứng qua từng nhịp đập nơi mạch máu của chúng ta: ta đọc những điều hay nhưng chẳng bao giờ cảm nhận trọn vẹn cho tới khi đã trải qua những bước đi hệt như tác giả. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi so sánh đời người với một dinh thự lớn có nhiều gian phòng, trong đó tôi mới chỉ có thể mô tả được hai gian, những cánh cửa của các phòng còn lại hiện vẫn đóng chặt trước mắt tôi. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi chắc chắn rằng mình không có cảm nhận đúng mực về phụ nữ – lúc này tôi đang nỗ lực đối xử công bằng với họ, nhưng không thể. Phải chăng bởi họ cách quá xa trí tưởng tượng thời niên thiếu của tôi? Khi còn là cậu học trò, tôi ngỡ người phụ nữ đẹp là Nữ thần thuần khiết; tâm trí tôi là tổ ấm êm đềm nơi một người trong số họ ngả lưng say ngủ, dẫu nàng chẳng hề hay biết. ** Gửi Benjamin Bailey (18 tháng 7 năm 1818) * Có một sự ấm áp thiêng liêng quanh trái tim tôi tựa hồ gánh nặng của sự bất tử. ** Gửi John Hamilton Reynolds (22 tháng 9 năm 1818) * Tôi bắt đầu thấu hiểu đôi chút về sức mạnh và điểm yếu của chính mình. Lời khen hay tiếng chê chỉ có tác động thoáng qua đối với người mà tình yêu cái đẹp trừu tượng đã biến anh ta thành kẻ phê bình khắt khe nhất đối với chính tác phẩm của mình. ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi từng viết một cách độc lập ''khi chưa có sự phán xét''. Về sau tôi có thể viết một cách độc lập, và ''kèm theo sự phán xét''. '''Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong một con người: Nó không thể chín muồi nhờ luật lệ hay huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân''' – Thứ gì mang tính sáng tạo phải tự tạo ra chính nó – Trong Endymion, tôi đã lao đầu xuống biển, và nhờ đó hiểu rõ hơn về các phép dò độ sâu, bãi cát lún và rạn đá ngầm, hơn là cứ quanh quẩn trên bờ cỏ xanh, thổi chiếc sáo ngớ ngẩn, uống trà và đón nhận những lời khuyên dễ chịu. '''Tôi chưa bao giờ sợ thất bại; bởi tôi thà thất bại còn hơn không đứng vào hàng ngũ những người vĩ đại nhất.''' ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi nghĩ rằng sau khi qua đời, tôi sẽ có một chỗ đứng giữa những Nhà thơ Anh quốc. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 10 năm 1818) * '''Phẩm chất thi sĩ'''... không phải là chính nó – nó không có bản ngã riêng – nó là tất cả và không là gì cả – Nó không có cá tính – nó tận hưởng cả ánh sáng lẫn bóng tối; nó sống trong sự say mê tột cùng, dù thanh cao hay nhơ bẩn, cao sang hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó, hèn mọn hay tôn quý. – Nó tìm thấy niềm thích thú khi hoài thai một Iago cũng nhiều ngang như một Imogen. Điều làm triết gia đạo đức kinh sợ lại là niềm hân hoan của nhà thơ tắc kè hoa. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Nhà thơ là thực thể phi-thi-vị nhất trong vạn vật tồn tại; bởi vì người đó không có bản sắc cố định''' – anh ta liên tục truyền nhận – và lấp đầy một thân xác khác. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Cuộc đời của một con người có giá trị là một câu chuyện phúng dụ liên tục – và rất ít đôi mắt nhìn thấy được sự mầu nhiệm của đời sống''' – một cuộc đời tựa Kinh Thánh mang tính tượng trưng... Lãnh chúa Byron tạo ra một hình bóng nổi bật, nhưng ông ấy không mang tính tượng trưng. '''[[William Shakespeare|Shakespeare]] đã sống một cuộc đời phúng dụ: các tác phẩm của ông chính là những lời chú giải cho cuộc đời đó.''' ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * '''Chẳng điều gì trở nên có thực cho đến khi nó được trải nghiệm''' – Ngay cả một câu cách ngôn cũng chẳng là cách ngôn với bạn cho đến khi Đời bạn minh chứng cho nó. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * Bản thân tôi đang theo đuổi tiến trình bản năng hệt như sinh vật trần tục nhất mà bạn có thể nghĩ tới – dẫu còn trẻ, tôi đang viết trong ngẫu hứng – gồng mình tìm kiếm những hạt ánh sáng giữa bóng tối mịt mùng – mà chẳng hay biết sức nặng của bất kỳ khẳng định hay định kiến nào. Nhưng liệu trong điều này tôi có thể thoát khỏi tội lỗi chăng? ** Gửi George và Georgiana Keats (19 tháng 3 năm 1819) * Nếu bạn muốn, hãy gọi thế gian này là "Thung lũng tôi luyện linh hồn." ** Gửi George và Georgiana Keats (21 tháng 4 năm 1819) * Tôi có hai điều xa xỉ để trầm ngâm trong những chuyến dạo bước: vẻ kiều diễm của em và giờ phút lìa đời của tôi. Ôi ước gì tôi có thể sở hữu cả hai điều ấy trong cùng một phút giây. ** Gửi Fanny Brawne (25 tháng 7 năm 1819) * Tôi chẳng có gì để nói ngoại trừ về bản thân mình – và tôi có thể nói gì ngoài những gì tôi cảm nhận? ** Gửi John Hamilton Reynolds (24 tháng 8 năm 1819) * '''Một số người nghĩ tôi đã đánh mất ngọn lửa thi ca nồng nhiệt thuở nào – thực tế có lẽ đúng là vậy; nhưng bù lại, tôi hy vọng sẽ thay thế nó bằng một sức mạnh trầm tĩnh và sâu sắc hơn.''' ** Gửi George Keats (21 tháng 9 năm 1819) * Tôi từng kinh ngạc khi thấy người ta có thể tử vì đạo cho tôn giáo – tôi từng rùng mình vì điều đó – nhưng giờ không còn rùng mình nữa – tôi có thể tử đạo vì Tôn giáo của mình – Tình yêu là tôn giáo của tôi – tôi có thể chết vì điều đó – tôi có thể chết vì em. Giáo lý của tôi là Tình yêu và em là tín điều duy nhất. ** Gửi Fanny Brawne (13 tháng 10 năm 1820) * "Nếu phải chết," tôi tự nhủ, "ta chẳng để lại tác phẩm bất hủ nào – chẳng có gì để bạn bè tự hào về ký ức của ta – nhưng '''ta đã yêu nguyên lý của cái đẹp trong vạn vật, và nếu có thời gian, ta đã khiến người đời phải nhớ đến mình.'''" ** Gửi Fanny Brawne (khoảng tháng 2 năm 1820) * Em luôn luôn mới mẻ. Nụ hôn cuối cùng của em bao giờ cũng ngọt ngào nhất; nụ cười sau cùng luôn rạng rỡ nhất; cử chỉ sau cùng luôn duyên dáng nhất. ** Gửi Fanny Brawne (tháng 3 năm 1820) * Bạn có thể kiềm chế sự hào phóng của mình lại, để trở thành một nghệ sĩ đúng nghĩa hơn, và lấp đầy mọi kẽ hở của chủ đề bằng quặng quý. ** Gửi [[Percy Bysshe Shelley]] (tháng 8 năm 1820) * Tôi khó lòng nói lời từ biệt với anh, ngay cả trong một bức thư. Tôi luôn vụng về khi cúi chào. Cầu Chúa ban phúc cho anh! ** Gửi Charles Armitage Brown (30 tháng 11 năm 1820) === ''Poems'' (1817) === * Ta nhón chân đứng trên ngọn đồi nhỏ,<br />Không khí mát lành và tĩnh lặng xiết bao,<br />Đến nỗi những nụ hoa e ấp khiêm nhường<br />Nghiêng nghiêng rủ xuống theo đường cong thoai thoải,<br />Thân mảnh khảnh, lơ thơ đôi nhánh lá,<br />Vẫn chưa làm rơi những vương miện ngàn sao<br />Đón lấy từ tiếng thổn thức ban mai. ** "I Stood Tiptoe", dòng 1 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và rồi len lỏi khẽ khàng<br />Một thanh âm không tiếng động giữa vòm lá xôn xao,<br />Sinh ra từ chính tiếng thở dài mà tĩnh lặng trút ra. ** "I Stood Tiptoe", dòng 10 * Hãy mở toang lần nữa vòng cánh hoa ngàn sao,<br />Hỡi những bông cúc vạn thọ nồng nàn! ** "I Stood Tiptoe", dòng 47 * Kìa, bạn có thể đọc xong hai bài sonnet, trước khi chúng bơi tới<br />Nơi dòng nước mát lành hối hả luôn cất lời giảng giải<br />Một bài thuyết pháp tự nhiên qua những đáy sỏi gập ghềnh;<br />'''Nơi bầy cá nhỏ nhô những cái đầu bé xíu,<br />Giữ thân mình lượn sóng ngược dòng trôi''',<br />Để nếm trải cảm giác xa hoa của những tia nắng ấm<br />Được xoa dịu bởi làn nước mát lành. ** "I Stood Tiptoe", dòng 72 * Đôi khi những chú chim sẻ vàng sà xuống từng con một<br />Từ những cành cây la đà thấp thoáng; chỉ dừng lại một thoáng giây;<br />Nhấp chút nước, ríu rít, rỉa mượt bộ lông mềm;<br />Rồi vụt bay đi ngay, như trong cơn bốc đồng nghịch ngợm:<br />Hoặc có lẽ để khoe đôi cánh đen điểm ánh vàng<br />Chao lượn ngập ngừng trong sắc vàng óng ả. ** "I Stood Tiptoe", dòng 87 * Chẳng có gì ngoài tiếng thở dài êm dịu của làn gió<br />Dọc theo dòng suối đầy lau sậy; một giai điệu vẳng nghe mờ nhạt,<br />Tràn ngập nỗi tiêu điều ngọt ngào – niềm đau dịu dàng. ** "I Stood Tip-toe" * Hỡi phụ nữ! Khi ta thấy nàng nông nổi, phù phiếm,<br />Thất thường, trẻ con, kiêu kỳ và đầy rẫy những đỏng đảnh. ** "When I Behold Thee Flippant, Vain", khổ 1 * Với kẻ đã bị giam hãm quá lâu chốn thị thành,<br />Thật ngọt ngào biết bao khi được ngắm nhìn gương mặt thanh tú<br />Và rộng mở của bầu trời. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * Tựa hồ như giọt nước mắt thiên thần rơi xuống<br />Lướt qua tầng không trong vắt giữa thinh lặng. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * '''Ta đã chu du nhiều nơi trong cõi hoàng kim,<br />Từng thấy biết bao vương quốc và lãnh địa tráng lệ;<br />Đã từng qua nhiều hải đảo phía tây<br />Nơi các thi sĩ giữ lòng trung thành với thần Apollo.'''<br />Thường nghe kể về một miền rộng lớn bao la<br />Mà thi hào Homer trán rộng cai quản tựa lãnh địa của mình,<br />Song ta chưa từng hít thở bầu thanh khí thuần khiết ấy<br />Cho tới khi nghe Chapman cất tiếng sang sảng và can trường:<br />'''Khi ấy ta cảm thấy mình như kẻ dõi mắt ngắm bầu trời<br />Lúc một hành tinh mới bơi vào tầm ngắm;<br />Hoặc như Cortez quả cảm khi với đôi mắt chim ưng<br />Ông nhìn đăm đăm ra Thái Bình Dương, và toàn thể thuộc hạ<br />Nhìn nhau với nỗi hoài nghi hoang dại,<br />Lặng câm, trên đỉnh núi chót vót ở Darien.''' ** "On First Looking into Chapman's Homer" * Và những tâm hồn khác đang đứng riêng biệt<br />Nơi vầng trán của thời đại tương lai;<br />Họ, chính họ sẽ ban cho thế gian một trái tim khác,<br />Và những nhịp đập khác. Các ngươi không nghe thấy tiếng rì rầm<br />Của những chuyển dịch vĩ đại nơi thương trường xa xôi ư?<br />Hãy lắng nghe trong giây lát hỡi các dân tộc, và hãy lặng im. ** "Sonnet. Addressed to the Same" (Benjamin Robert Haydon) * Thi ca của đất trời chẳng bao giờ lụi tàn. ** "Sonnet. On the Grasshopper and the Cricket" * Hãy dừng lại và ngẫm suy! Cuộc đời chỉ tựa một ngày;<br />Một giọt sương mong manh trên hành trình hiểm trở<br />Rơi từ ngọn cây cao. ** "Sleep and Poetry", khổ 5 * Ôi ước gì có được mười năm, để ta có thể đắm chìm<br />Bản thân vào thi ca; ngõ hầu ta thực hiện được kỳ tích<br />Mà chính tâm hồn ta đã tự định đoạt cho mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 6 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một cơn mưa ánh sáng<br />Bất tận chính là thi ca; đó là quyền năng tối thượng;<br />Là sức mạnh tựa nửa say ngủ trên cánh tay phải của chính mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Nhưng sức mạnh đơn độc dẫu sinh ra từ các Nàng Thơ<br />Cũng tựa như thiên thần sa ngã: những thân cây bật gốc,<br />Bóng tối, sâu bọ, vải liệm và mồ mả<br />Lại làm nó thích thú; bởi nó nuôi mình bằng những gai góc,<br />Và chông gai của cuộc đời; quên mất mục đích lớn lao<br />Của thi ca, là phải trở thành người bạn<br />Xoa dịu những âu lo và nâng đỡ tâm tư con người. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Cuộc trò chuyện ngọt ngào của một tâm hồn thơ ngây. ** Sonnet: "Solitude" === ''{{w|Endymion (thơ)|Endymion}}'' (1818) === [[Tập tin:Endymion.JPG|nhỏ|Một điều [[cái đẹp|xinh đẹp]] là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không.]] [[Tập tin:Girodet - Sommeil Endymion.jpg|nhỏ|Ôi [[giấc ngủ]] diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng!]] * '''Chẳng có địa ngục nào khốc liệt hơn sự thất bại trong một mục tiêu vĩ đại.''' ** Lời tựa * Trí tưởng tượng của một cậu bé thì lành mạnh, và trí tưởng tượng chín chắn của một người đàn ông cũng lành mạnh; nhưng có một khoảng đời ở giữa, khi tâm hồn đang lên men, tính cách chưa định hình, lối sống còn bấp bênh, tham vọng còn mờ mịt: từ đó nảy sinh sự ủy mị, cùng hàng ngàn vị đắng cay mà những người tôi nói tới ắt phải nếm trải khi lật qua những trang sau. ** Lời tựa * '''Một điều xinh đẹp là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không'''; mà vẫn luôn giữ cho ta<br />Một chòi lá thanh bình, và một giấc nồng<br />Đầy những giấc mơ êm ái, sức khỏe và hơi thở an yên. ** Quyển I, dòng 1 * '''Bất chấp tất cả,<br />Một hình bóng của cái đẹp sẽ xua tan tấm màn che<br />Khỏi tâm hồn u tối của chúng ta.''' ** Quyển I, dòng 11 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vẻ bi tráng của định mệnh<br />Mà chúng ta tưởng tượng về những người đã khuất lẫy lừng;<br />Mọi câu chuyện đáng yêu ta từng nghe hay đọc:<br />Là dòng suối bất tận của thức uống trường sinh,<br />Rót xuống chúng ta từ bờ cõi thiên đường. ** Quyển I, dòng 20 * Ta đâu chỉ cảm nhận những tinh túy ấy<br />Trong một giờ ngắn ngủi; không, cũng như những hàng cây<br />Thì thầm quanh ngôi đền sẽ sớm trở nên<br />Thân thương như chính ngôi đền, vầng trăng cũng vậy,<br />Niềm đam mê thi ca, những vinh quang vô tận,<br />Ám ảnh ta cho đến khi chúng trở thành nguồn sáng reo vui<br />Chiếu rọi tâm hồn, và gắn kết với ta chặt chẽ,<br />Đến mức, '''dù trời rạng rỡ hay u ám mây mờ,<br />Chúng luôn phải ở bên ta, bằng không ta sẽ chết.''' ** Quyển I, dòng 25 * Ôi giấc ngủ diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng! ** Quyển I, dòng 453 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thời gian, bà vú già nua ấy,<br />Đã ru ta vào sự nhẫn nại. ** Quyển I, dòng 705 * '''Hạnh phúc nằm ở đâu? Nằm ở điều vẫy gọi<br />Tâm trí sẵn sàng của ta bước vào mối giao hảo thần thánh,<br />Mối giao cảm với bản thể; cho đến khi ta tỏa sáng,<br />Được biến đổi hoàn toàn, và tự do ngoài không gian. Kìa trông<br />Tín ngưỡng quang đãng của cõi trời!''' ** Quyển I, dòng 777 * '''Những bóng ma của lời tiên tri du dương gào thét<br />Quanh mọi dấu chân nơi Apollo từng bước qua''';<br />Những chiếc tù và đồng thức giấc, và khẽ vang lên,<br />Nơi xưa kia từng diễn ra trận chiến khổng lồ;<br />Và, từ thảm cỏ, một khúc hát ru lướt qua<br />Khắp mọi nơi Orpheus thuở ấu thơ từng yên giấc.<br />'''Ta có cảm nhận được những điều này chăng? – khoảnh khắc đó ta đã bước<br />Vào một trạng thái duy nhất, và tâm thế của ta<br />Tựa hồ một linh hồn đang trôi nổi.''' Nhưng còn có<br />Những vướng bận phong phú hơn, những say mê<br />Tự hủy diệt hơn nhiều, từng bước dẫn lối<br />Tới cường độ tột đỉnh: '''chiếc vương miện của những điều này<br />Được kết bằng tình yêu và tình bạn, ngự trị uy nghi<br />Trên vầng trán của nhân loại.''' ** Quyển I, dòng 789 * Tâm hồn không ngơi nghỉ của ta chẳng bao giờ chịu đựng nổi<br />Việc chìm đắm quá lâu vào một nỗi xa hoa duy nhất,<br />Trừ phi, dù trong âu lo, nó thoáng nhận ra<br />'''Một niềm hy vọng vượt lên trên bóng hình của một giấc mơ.''' ** Quyển I, dòng 854 * Khoái lạc thường chỉ là khách qua đường; nhưng nỗi đau<br />Lại bám riết lấy ta một cách tàn nhẫn. ** Quyển I, dòng 906 * '''Kẻ nào e sợ dấn bước theo<br />Nơi những tiếng nói hư không dẫn đường<br />Sẽ chẳng bao giờ được đội vương miện bất tử.''' ** Quyển II, dòng 211 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đó là tai ương<br />Của ái tình: những niềm vui đẹp đẽ nhất lại đem đến nhiều bất an nhất. ** Quyển II, dòng 365 * &nbsp;&nbsp; Với Nỗi Sầu Đau<br />&nbsp;&nbsp;Ta cất lời chào buổi sớm,<br />Tưởng rằng đã bỏ nàng lại phía sau xa xôi;<br />&nbsp;&nbsp;Nhưng vui vẻ thay, rạng rỡ thay,<br />&nbsp;&nbsp;Nàng yêu ta tha thiết;<br />Nàng son sắt với ta dường bao, và quá đỗi ân cần:<br />Ta toan dối lừa nàng<br />Và bỏ nàng ra đi,<br />Nhưng ôi! Nàng quá đỗi thủy chung và ân cần. ** Quyển IV, dòng 173 * Thật nhiều, thật nhiều, và hân hoan xiết bao. ** Quyển IV === ''{{w|La Belle Dame sans Merci}}'' (1819) === [[Tập tin:La Belle Dame Sans Merci, by John William Waterhouse, 1893, oil on canvas - Hessisches Landesmuseum Darmstadt - Darmstadt, Germany - DSC01228.jpg|nhỏ|Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang.]] * Ôi, điều gì làm chàng phiền muộn, hỡi hiệp sĩ mang giáp phục,<br />Đơn độc và tha thẩn với gương mặt nhợt nhạt?<br />Cỏ lác đã héo tàn nơi bờ hồ,<br />Và chẳng còn tiếng chim ca. ** Khổ I * Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang. ** Khổ IV * Ta kết cho nàng một vòng hoa cài đầu,<br />Cả những chuỗi vòng tay, và chiếc thắt lưng hương ngát;<br />Nàng nhìn ta tựa hồ trao trọn yêu thương,<br />Và khẽ buông tiếng than êm ái. ** Khổ V * Ta thấy những vị vua cùng hoàng tử tái nhợt,<br />Những chiến binh nhợt nhạt, tất cả đều mang sắc mặt tái mét như tử thi;<br />Họ gào thét: "La Belle Dame sans Merci<br />Đã giam cầm ngươi trong bùa mê!" ** Khổ X === ''Hyperion: Đoạn thơ dang dở'' (1819) === * Sâu trong nỗi u sầu râm mát của thung lũng<br />Chìm khuất xa khỏi hơi thở trong lành của ban mai,<br />Xa buổi trưa rực lửa, và ánh sao hôm lẻ loi,<br />Saturn tóc hoa râm ngồi đó, lặng lẽ như phiến đá,<br />Bất động tựa cõi tĩnh mịch vây quanh hang ổ của mình;<br />Rừng tiếp rừng trĩu nặng trên đầu ông<br />Như mây tầng mây. ** Quyển I, dòng 1 * Lời phán truyền uy nghiêm của những vị thần thuở sơ khai! ** Quyển I * Tựa như, trong đêm hè mê đắm,<br />Những vị nghị viên áo xanh của đại ngàn hùng vĩ,<br />Những cây sồi sừng sững, được những vì sao ân cần ru ngủ cành lá,<br />Mơ màng, và mơ màng suốt đêm chẳng hề lay động,<br />Ngoại trừ một luồng gió cô đơn thoảng qua<br />Chợt đến giữa thinh không rồi vụt tắt,<br />Như thể làn không khí thoái trào chỉ có một gợn sóng duy nhất. ** Quyển I, dòng 72 * Những ngày tháng thanh bình và tĩnh lặng êm đềm đã qua đi. ** Quyển II * '''Giờ đây nỗi đau của [[chân lý]] đã đến, với kẻ xem đó là nỗi đau;<br />Ôi điên rồ thay! Bởi gánh chịu mọi chân lý trần trụi,<br />Và điềm nhiên đối diện cảnh ngộ,<br />Đó mới là đỉnh cao của quyền uy tối thượng.''' Hãy ghi nhớ lấy. ** Quyển II, dòng 202 * Tri thức bao la biến ta thành một vị Thần. ** Quyển III, dòng 113 === ''Poems'' (1820) === * Còn về đôi mắt nàng: đôi mắt ấy có thể làm gì nơi đó<br />Ngoài tuôn rơi, tuôn rơi dòng lệ, vì sinh ra quá đỗi kiều diễm? ** "Lamia", Phần I, dòng 61 * Tình yêu trong túp lều tranh, với mẩu bánh mì và ngụm nước lã,<br />Chỉ là – Tình yêu ơi xin thứ tha! – tro tàn, xỉ rác, bụi mờ. ** "Lamia", Phần II, dòng 1 * Đã từng có một cầu vồng uy nghiêm ngự nơi thiên giới:<br />Chúng ta biết đường dệt, cấu trúc của nó; nó bị đưa vào<br />Danh mục tẻ nhạt của những vật tầm thường.<br />'''Triết học sẽ xén bớt đôi cánh của Thiên thần''',<br />Chinh phục mọi điều huyền bí bằng thước dây và quy tắc,<br />Làm trống rỗng bầu không khí ma mị, và những mỏ thần lùn –<br />Tháo gỡ một chiếc cầu vồng, như cách nó từng khiến<br />Nàng Lamia dịu dàng tan biến vào bóng hư vô. ** "Lamia", Phần II, dòng 229 [[Tập tin:William Holman Hunt - Isabella and the Pot of Basil, 1867.jpg|nhỏ|“Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.”]] * “Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.” ** "Isabella; or, The Pot of Basil", khổ 62 * Vậy hãy để ta làm dàn hợp xướng của nàng, và cất tiếng thở than<br />Trong những giờ khắc nửa đêm ** "Ode to Psyche", khổ 3 * Và nơi đó sẽ dành cho nàng mọi niềm hoan lạc êm dịu<br />Mà ý nghĩ mông lung có thể đạt tới,<br />Một ngọn đuốc sáng, và khung cửa sổ mở toang trong đêm,<br />Để đón Tình Yêu nồng ấm bước vào! ** "Ode to Psyche", khổ 5 * Cứ để Trí Tưởng Tượng mặc sức rong chơi,<br />Khoái lạc chẳng bao giờ chịu ở yên trong nhà. ** "Fancy", dòng 1 * Những thi sĩ của Đam mê và Hoan lạc,<br />Các người đã để lại linh hồn mình nơi trần thế!<br />Liệu các người có linh hồn nơi thiên đường chăng,<br />Sống cuộc đời nhân đôi ở những cõi giới mới mẻ? ** "Ode: The Fair Maid of the Inn" * Hỡi linh hồn của những Thi sĩ đã khuất bóng,<br />Cõi Elysium nào các người từng hay biết,<br />Cánh đồng hạnh phúc hay hang động phủ rêu phong,<br />Có tuyệt diệu hơn Quán trọ Nàng tiên cá? ** "Lines on the Mermaid Tavern", dòng 1–4 [[Tập tin:Autumn-slovakia.JPG|nhỏ|Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh.]] * '''Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh''';<br />Uốn cong những thân cây quanh mái nhà rêu phong bằng trĩu nặng táo thơm,<br />Và làm căng tràn mọi quả ngọt đến tận cội lõi;<br />Làm nứt đất ngầm, vỗ béo những hạt phỉ<br />Bằng nhân ngọt ngào; giục giã đâm chồi thêm nữa,<br />Thêm nữa những đóa hoa muộn màng cho bầy ong,<br />Cho tới khi chúng ngỡ những ngày ấm áp sẽ chẳng bao giờ ngưng nghỉ,<br />Bởi Mùa Hè đã rót tràn trề vào những tầng tổ dính sánh. ** To Autumn", khổ 1 * '''Ai từng chẳng thường thấy bóng ngươi giữa kho lúa của mình?'''<br />Đôi khi kẻ nào cất bước tìm kiếm có thể thấy<br />Ngươi ngồi thảnh thơi trên sàn kho thóc,<br />Mái tóc khẽ bay trong làn gió sảy;<br />Hoặc ngủ say sưa trên luống cày gặt dở,<br />Mê man trong hương thuốc phiện, khi lưỡi liềm của ngươi<br />Dung tha vạt lúa kế bên cùng muôn hoa đan cài. ** "To Autumn", khổ 2 * Rồi trong dàn đồng ca than vãn, bầy muỗi nhỏ cất tiếng sầu<br />Giữa rặng liễu ven sông, bay bổng lên cao<br />Hay chìm xuống theo từng hơi thở tàn hay sống của ngọn gió thoảng. ** "To Autumn", khổ 3 * '''Không, đừng, chớ tìm đến sông Lethe,''' cũng đừng vặn xoắn<br />Rễ cây phụ tử bám chặt, để chưng cất thứ rượu độc;<br />Cũng đừng để vầng trán nhợt nhạt của ngươi bị hôn lấy<br />Bởi hoa cà độc dược. ** "Ode on Melancholy", khổ 1 * Nhưng khi cơn u sầu chợt đổ ập xuống<br />Bất ngờ từ trời cao tựa đám mây tuôn lệ,<br />Nuôi dưỡng muôn hoa đang ủ rũ gục đầu,<br />Và giấu ngọn đồi xanh trong tấm khăn liệm tháng Tư;<br />Thì hãy thỏa mãn nỗi đau buồn của ngươi nơi đóa hồng sớm mai. ** "Ode on Melancholy", khổ 2 * Nàng ngự cùng Cái Đẹp – Cái Đẹp phải tàn phai;<br />Và Niềm Vui, kẻ luôn đặt tay lên môi<br />Để cất lời từ biệt; cùng Khoái Lạc nhức nhối cận kề,<br />Hóa thành độc dược ngay lúc miệng ong hút nhụy.<br />Phải, ngay trong đền thờ của Lạc Thú<br />Nàng U Sầu che mạng có thánh điện tối cao của mình,<br />Dẫu chẳng ai thấy ngoại trừ kẻ có chiếc lưỡi dũng mãnh<br />Dám nghiền nát trái nho Hoan Lạc nơi vòm họng tinh tế;<br />Linh hồn người đó sẽ nếm trải nỗi buồn từ quyền năng của nàng,<br />Và bị treo lơ lửng giữa những chiến tích mây mờ của nàng. ** "Ode on Melancholy", khổ 3 ==== ''The Eve of St. Agnes'' ==== * Đêm trước ngày Thánh Agnes – Ôi, buốt giá đắng cay làm sao!<br />Cú vọ, dù mang đủ lông vũ, vẫn run rẩy vì giá rét;<br />Thỏ rừng khập khiễng rụt rè bước qua thảm cỏ đóng băng,<br />Và bầy cừu im lìm cuộn mình trong chuồng len ấm. ** Khổ 1 * Giọng lưỡi hoàng kim của âm nhạc<br />Đã dỗ dành người đàn ông già nua nghèo khó này đến trào nước mắt. ** Khổ 3 * Tiếng kèn bạc gắt gỏng bắt đầu cất lời quở trách. ** Khổ 4 * Khúc nhạc khắc khoải tựa một vị Thần trong cơn đau đớn. ** Khổ 7 * Nàng thở dài mong ngóng những giấc mơ ngày lễ Agnes, giấc mơ ngọt ngào nhất trong năm. ** Khổ 7 * Say ngủ trong lòng những truyền thuyết xa xưa. ** Khổ 15 * Chợt một ý nghĩ hiện về tựa đóa hồng nở rộ,<br />Làm bừng đỏ vầng trán chàng, và trong trái tim đau đớn<br />Dấy lên một cơn bạo loạn sắc tía. ** Khổ 16 * Một sinh linh già yếu, bất lực, run rẩy nơi nghĩa địa. ** Khổ 18 * Như thể chú chim sơn ca không lưỡi cố phồng căng<br />Cuống họng trong vô vọng, rồi chết vì nghẹn thở nơi khe núi hẻo lánh. ** Khổ 23 * Trăng mùa đông chiếu rọi thẳng vào ô cửa sổ này,<br />'''Và hắt sắc đỏ ấm áp lên khuôn ngực trắng ngần của Madeline''',<br />Khi nàng quỳ gối cầu xin ân huệ và phước lành của thiên đường;<br />Sắc hồng rơi trên đôi bàn tay nàng đang chắp lại. ** Khổ 25 * Nàng tháo từng món trang sức ấm áp của mình;<br />Nới lỏng vạt áo ngực ngát hương; dần dà<br />Tấm xiêm y lộng lẫy trượt sột soạt xuống đầu gối nàng. ** Khổ 26 * Tựa như đóa hồng khép cánh lại để trở về làm nụ non. ** Khổ 27 * Và nàng vẫn chìm trong giấc ngủ mi mắt biếc xanh,<br />Trên tấm vải lanh trắng tinh, êm ái và thoang thoảng hương hoa oải hương. ** Khổ 30 * Cùng những thứ siro trong vắt, đượm hương quế. ** Khổ 30 * Chàng tấu lên một khúc dân ca cổ từ lâu đã im tiếng,<br />Xứ Provence gọi là "La belle dame sans mercy." ** Khổ 33 * Nàng vội vã theo lời chàng, lòng đầy sợ hãi,<br />Bởi quanh đây muôn loài rồng đang say ngủ,<br />Có lẽ đang trừng mắt canh chừng với những ngọn giáo sẵn sàng –<br />Họ lần tìm lối đi trong bóng tối bước xuống cầu thang rộng. –<br />Khắp ngôi nhà chẳng nghe thấy một tiếng động nhân gian.<br />Ngọn đèn treo dây xích chập chờn bên mỗi cánh cửa;<br />Tấm thảm thêu cảnh kỵ sĩ, chim ưng và chó săn,<br />Phấp phới trong tiếng gầm gào của cơn gió bủa vây;<br />'''Và những tấm thảm dài phập phồng dọc sàn nhà lộng gió.''' ** Khổ 40 * Và họ đã ra đi: phải, từ muôn vàn năm trước<br />Đôi tình nhân ấy đã trốn chạy vào cơn bão tố. ** Khổ 42 ==== ''Ode to a Nightingale'' ==== :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> [[Tập tin:W. J. Neatby - Keats - Nightingale.jpg|nhỏ|Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề.]] * Tim ta đau nhói, và cơn tê dại mơ màng làm buốt giá<br />Các giác quan, như thể ta vừa uống cạn chén độc cần,<br />Hay vừa nốc cạn liều thuốc phiện đắng ngắt<br />Chỉ một phút trước, rồi chìm dần về phía dòng sông Quên: <br />Chẳng phải vì ghen tị với số phận hạnh phúc của ngươi,<br />Mà bởi quá đỗi hân hoan trong niềm hạnh phúc của ngươi, –<br />Rằng ngươi, nàng Dryad cánh nhẹ của cây rừng,<br />Nơi vạt đất du dương<br />Của sắc xanh cây dẻ gai và bóng râm vô tận,<br />Đang cất cao tiếng hát ngợi ca mùa hè bằng tất cả sự thảnh thơi. ** Khổ 1 * '''Ôi, ước gì có một ngụm rượu nho cổ kính! Từng được<br />Làm mát qua bao niên kỷ trong lòng đất sâu thẳm.'''<br />Mang hương vị của Nữ thần Hoa và màu xanh đồng nội,<br />Điệu vũ khúc, câu hò xứ Provence, và niềm vui rám nắng!<br />Ôi ước gì có một chén đầy ắp phương Nam ấm áp,<br />Tràn đầy dòng suối nguồn Hippocrene chân thật, ửng hồng,<br />Với những bọt tăm lấp lánh chớp mắt nơi miệng chén,<br />Và bờ môi nhuốm sắc tím nồng nàn. ** Khổ 2 * Hãy tan biến thật xa, hòa tan, và quên lãng hoàn toàn<br />Điều mà ngươi giữa vòm lá chưa từng hay biết,<br />Sự mệt mỏi, cơn sốt và nỗi bồn chồn<br />Nơi chốn này, nơi con người ngồi nghe tiếng rên xiết của nhau;<br />Nơi chứng bại liệt làm rung rinh vài sợi tóc bạc buồn bã cuối cùng,<br />Nơi tuổi trẻ tái nhợt, gầy guộc như bóng ma rồi chết mòn;<br />Nơi chỉ cần suy nghĩ thôi cũng đã ngập tràn phiền muộn<br />Và những nỗi tuyệt vọng với đôi mắt màu chì. ** Khổ 3 * '''Đã ở bên ngươi rồi! Đêm thật dịu dàng.''' ** Khổ 4 * Ta chẳng thể nhìn thấy những đóa hoa nào dưới chân mình,<br />Cũng không thấy làn hương êm dịu nào vương trên cành biếc,<br />Nhưng giữa bóng tối ướp hương, ta đoán từng vị ngọt ngào. ** Khổ 5 * Và đứa con đầu lòng của giữa tháng Năm,<br />Đóa hồng xạ hương sắp nở, đượm đầy men rượu sương đêm,<br />'''Chốn lui tới vo ve của bầy ruồi trong những chiều hè.''' ** Khổ 5 [[Tập tin:Portrait of Keats - HH.jpg|nhỏ|Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?]] * '''Trong bóng tối ta lắng nghe; và đã biết bao lần<br />Ta gần như phải lòng cái [[Chết]] thanh thản''',<br />Gọi tên Người bằng những danh xưng êm ái trong bao vần thơ ngẫm ngợi,<br />Để gửi gắm vào không trung hơi thở bình yên của mình;<br />Giờ đây hơn bao giờ hết, chết đi dường như là điều phong phú xiết bao,<br />Để chấm dứt giữa đêm trường mà không một chút đớn đau,<br />Khi ngươi đang trút trọn linh hồn mình ra ngoài<br />Trong cơn xuất thần cuồng nhiệt dường ấy!<br />Ngươi vẫn sẽ hót, còn tai ta hóa thành vô ích –<br />Trước khúc chiêu hồn cao cả của ngươi, ta chỉ còn là một mảnh đất cằn. ** Khổ 6 * '''Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề''':<br />Có lẽ chính khúc ca ấy đã tìm được lối đi<br />Qua trái tim sầu muộn của nàng Ruth, khi nhớ nhà quay quắt,<br />Nàng đứng rơi lệ giữa ruộng ngô xa lạ;<br />Cũng chính khúc ca ấy đã biết bao lần<br />Quyến rũ những ô cửa sổ ma thuật, mở ra đầu ngọn sóng<br />Của những vùng biển hiểm nguy, nơi xứ sở thần tiên hoang phế. ** Khổ 7 * Hoang phế! Chính từ ngữ ấy như một hồi chuông<br />Kéo giật ta từ ngươi trở về với cái tôi cô độc! ** Khổ 8 * '''Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?''' ** Khổ 8 ==== ''Ode on a Grecian Urn|Ode on a Grecian Urn'' ==== [[Tập tin:keats urn.jpg|nhỏ|"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.]] :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> * Hỡi cô dâu chưa vấy bụi trần của sự tĩnh lặng,<br />Hỡi đứa con nuôi của thinh lặng và thời gian chậm rãi,<br />Sử gia của chốn rừng già, kẻ có thể diễn bày<br />Một tích truyện ngát hoa ngọt ngào hơn vần thơ chúng ta:<br />Truyền thuyết viền lá nào đang ám ảnh quanh dáng hình ngươi?<br />Của thần linh hay người phàm, hay của cả hai,<br />Nơi thung lũng Tempe hay những hẻm núi xứ Arcady?<br />'''Họ là những người phàm hay thần thánh nào đây? Những thiếu nữ ngập ngừng nào kia?<br />Cuộc rượt đuổi điên cuồng nào? Nỗ lực trốn thoát nào?<br />Tiếng sáo và tiếng trống lục lạc nào? Cơn ngây ngất hoang dại nào?''' ** Khổ 1 * '''Những giai điệu nghe thấy thì ngọt ngào, nhưng những giai điệu không nghe thấy<br />Còn ngọt ngào hơn: vì thế, hỡi những chiếc sáo êm dịu, hãy tấu tiếp đi;<br />Không phải cho đôi tai trần tục, mà đáng trân quý hơn,<br />Hãy thổi cho tâm linh những khúc ca không thành tiếng.'''<br />Chàng trai trẻ khôi ngô, dưới bóng cây, ngươi không thể dứt khỏi<br />Bài ca của mình, và những tán cây kia cũng chẳng bao giờ trơ trụi;<br />Hỡi Tình Nhân táo bạo, chẳng bao giờ, chẳng bao giờ ngươi hôn được nàng,<br />Dẫu đã cận kề đích đến – nhưng, chớ đau buồn;<br />Nàng không thể phai tàn, dẫu ngươi chưa chạm tới niềm hoan lạc,<br />Ngươi sẽ mãi yêu thương, và nàng sẽ mãi vẹn toàn nét xuân thì! ** Khổ 2 * Những ai đang tiến đến buổi hiến tế kia?<br />Tới bàn thờ xanh tươi nào, hỡi vị tư tế huyền bí,<br />Ngươi đang dắt theo con bò cái tơ rống lên trời xanh,<br />Và toàn bộ mạn sườn mượt mà của nó được kết đầy vòng hoa? ** Khổ 4 * Hỡi hình hài câm lặng, ngươi trêu ngươi tư tưởng chúng ta<br />Tựa hồ cõi vĩnh hằng: Khúc Điền Viên Lạnh Giá!<br />Khi tuổi già tàn phá thế hệ này,<br />Ngươi sẽ vẫn ở lại, giữa những nỗi đau khác<br />Không phải của chúng ta, như một người bạn của con người, người mà ngươi nhắn nhủ,<br />'''"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.''' ** Khổ 5 == Nhận định về Keats == * Nhóm người khác mà tôi sinh ra để dành trọn tâm hồn là các nhà thơ Lãng mạn. Đặc biệt là Shelley, và Keats. ** Paula Gunn Allen, phỏng vấn trong ''Survival This Way: Interviews with American Indian Poets'' của Joseph Bruchac (1987) * Ông ấy đã gây ra tổn hại dường nào cho Thi ca Anh quốc. Giống như Robert Browning là người có tài năng vừa phải nhưng khát khao mãnh liệt sự chuyển động và viên mãn, để rồi chỉ thu về một sự bề bộn hỗn loạn, thì Keats với tài năng xuất chúng tột bậc, cũng bị thiêu đốt bởi khát vọng này; và không thể tạo ra những tác phẩm thực sự sống động và lay động, như lương tâm ông vẫn không ngừng mách bảo. Họ không chịu kiên nhẫn cũng chẳng hiểu rằng họ phải bắt đầu bằng một Ý niệm về thế giới để không bị sự bề bộn của thế giới đè bẹp: hoặc nếu không đạt được điều đó, thì ít nhất phải bằng những ý niệm độc lập; và mọi thứ khác rồi (có lẽ) sẽ được thêm vào cho họ. ** Matthew Arnold, thư gửi Arthur Clough, 1848/9, trong ''John Keats: The Critical Heritage'', G.M. Matthews chủ biên (1995) * Tôi nghĩ mình thưởng thức những bức thư của ông ấy còn nhiều hơn cả thơ ca. Ông ấy có một bộ óc tuyệt vời và một cá tính rất kiên cường. ** Elizabeth Bishop, phỏng vấn năm 1966 trong ''Conversations with Elizabeth Bishop'', George Monteiro chủ biên (1996) * [Về cuốn ''Cuộc đời Keats'' của Monckton Milne] Một nỗ lực bắt chúng ta ăn thịt chó chết bằng cách nêm nếm gia vị và nấu nướng tinh vi [...] Kiểu người như Keats ngày càng trở nên kinh tởm đối với tôi. Cơn đói khát mọi thứ khoái lạc thuộc mọi thể loại, kết hợp với sự thiếu hụt mọi sức mạnh khác – quả là một sự kết hợp! Một cấu trúc tâm hồn như vậy, thời xưa hẳn đã quá rõ ràng, là một 'Chiếc bình được chọn của Địa ngục' [...] ** Thomas Carlyle, trong cuốn ''Thomas Carlyle: A History of His Life in London, 1834 - 1881'' của J.A. Froude (1884) * Đây là thứ thơ ca đái dầm của thằng nhóc Johnny Keats [...] Trên bàn của tôi la liệt thứ rác rưởi của Keats và những kẻ tương tự, đến nỗi tôi xấu hổ khi phải nhìn vào chúng [...] Tôi van xin đấy, đừng đưa Keats ra nữa: hãy lột da sống hắn đi; nếu mấy người không làm thì chính tôi sẽ tự tay lột da hắn: không thể nào chịu nổi thói ngớ ngẩn lảm nhảm của cái thằng người lùn ấy. :Tờ ''Edinburgh'' ca ngợi Jack Keats hay Ketch, hay bất kể tên hắn là gì [...] trời ạ, thơ của hắn là thứ Thủ dâm Thi ca – tương tự như khoái lạc mà một gã kéo vĩ cầm người Ý tìm thấy khi bị một ả gái điếm treo lơ lửng mỗi ngày ở phố Drury Lane. Chuyện này diễn ra vài tuần: cuối cùng ả đi mua một panh rượu Gin – gặp một ả khác, tán gẫu quá lâu, và Cornelli bị treo cổ chết thẳng cẳng trước khi ả quay về. Đó chính là thứ rác rưởi mà họ ca tụng, và đó sẽ là hồi kết cho thứ thơ ca vươn dài của kẻ Tự làm ô uế tâm trí con người một cách khốn khổ này. :Ông Keats, người mà anh hỏi thăm thơ phú, đối với tôi hiện lên đúng như những gì tôi đã nói: lối viết như vậy là một kiểu thủ dâm tinh thần – hắn luôn tự kích thích Trí tưởng tượng của mình. Ý tôi không phải hắn khiêu dâm, mà là hắn mồi chài các ý niệm của mình vào một trạng thái suy đồi, thứ chẳng phải thơ ca cũng chẳng phải điều gì khác ngoài ảo ảnh nhà thương điên sinh ra từ thịt lợn sống và thuốc phiện. :* [[Lord Byron]], thư gửi John Murray, 12 tháng 8 – 9 tháng 9 năm 1820, trong ''The Routledge Literary Sourcebook on the Poems of John Keats'', J. Strachan chủ biên (2003) * Sự phẫn nộ của tôi trước việc ông Keats đánh giá thấp Pope khó lòng cho phép tôi đánh giá công bằng thiên tài của ông ấy, người mà bất chấp mọi sự hào nhoáng kỳ quặc trong phong cách, chắc chắn là một tài năng đầy hứa hẹn. Đoạn thơ dang dở Hyperion của ông dường như thực sự được truyền cảm hứng từ các thần Titan, và tráng lệ tựa như tác phẩm của Aeschylus. Ông là một mất mát lớn cho nền văn học của chúng ta. ** Lord Byron, 12 tháng 11 năm 1821 * '''Keats, một người hoàn toàn xa lạ với sự nhầm lẫn, có thể tin rằng con chim sơn ca mê hoặc ông chính là con chim mà nàng Ruth từng nghe thấy giữa ruộng ngô xa lạ ở xứ Bethlehem thuộc Judah'''; Stevenson đưa ra giả thuyết về một cánh chim duy nhất nuốt chửng nhiều thế kỷ: "con chim sơn ca nuốt chửng thời gian." Arthur Schopenhauer – một Schopenhauer nồng nhiệt và sáng suốt – đưa ra lý do: sự trực tiếp thuần túy thuộc về thể xác mà loài vật sinh sống, không hề bận tâm đến cái chết và ký ức. Sau đó ông nói thêm, không giấu nổi một nụ cười: Bất cứ ai nghe tôi quả quyết rằng con mèo xám đang chơi đùa ngoài sân lúc này chính là con mèo từng nhảy nhót và làm trò ở đó năm trăm năm trước sẽ nghĩ bất cứ điều gì họ thích về tôi, nhưng sẽ là một dạng điên rồ kỳ lạ hơn nếu hình dung rằng con mèo ngày nay về cơ bản là một con mèo hoàn toàn khác. ** Jorge Luis Borges, trong "A History of Eternity", dịch trong ''Selected Non-Fictions'' Tập 1 (1999), Eliot Weinberger chủ biên * Vào phần sau của mùa hè năm ấy [1817], lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông. Chúng tôi được giới thiệu với nhau trên đường Hampstead.... ...trong cuộc gặp gỡ kéo dài một phút ấy, tự đáy lòng tôi đã khao khát được làm quen, nếu không muốn nói là làm bạn với ông... Ông có vóc dáng nhỏ bé, cân đối, thân hình gọn gàng, và tuy gầy nhưng khá săn chắc; – một trong số nhiều người chứng minh rằng khí phách nam nhi khác biệt với chiều cao và thể xác vạm vỡ. '''Không có ma thuật nào sánh bằng một gương mặt chân thành, và tôi chưa từng thấy gương mặt của sinh linh nào chân thành như của ông.''' Đôi mắt to đẹp của ông ánh lên vẻ trí tuệ rạng rỡ, và ngời sáng (vào thời điểm đó!) niềm hy vọng cùng niềm vui. Người ta từng nhận xét rằng nét khiếm khuyết nhất là khuôn miệng của ông; và đôi khi đúng là như vậy. Nhưng bất cứ khi nào ông cất lời, hoặc hào hứng về điều gì, biểu cảm của làn môi lại biến đổi và tinh tế đến mức có thể gọi là khôi ngô. ** Charles Armitage Brown, ''Life of John Keats'', tr. 44 * '''Một chàng trai trẻ rất kỳ lạ, nhưng tính tình hòa nhã, tốt bụng, và thực sự rất thông minh.''' ** Bà Maria Dilke, dẫn trong ‘Papers of a Critic’, Sir Charles Dilke, I, tr. 8 * Tôi cũng thích các nhà thơ Lãng mạn. Wordsworth, Keats, Burns và Blake là một vài trong số những tác giả yêu thích của tôi. Có điều gì đó trong tinh thần nổi loạn của họ chống lại những tệ nạn của quá trình công nghiệp hóa đã làm tôi xúc động. Dĩ nhiên giờ đây, một phần sự bi quan, chủ nghĩa thần bí và nhãn quan hiện thực phê phán hạn hẹp của họ khiến tôi cảm thấy khá khó chịu. ** Micere Githae Mugo, trong ''Talking with African Writers'', Jane Wilkinson chủ biên * '''Thời thơ ấu Keats chẳng hề gắn bó với sách vở. Sở thích của cậu là đánh nhau. Cậu sẵn sàng đấm nhau với bất kỳ ai – sáng, trưa và tối, kể cả với em trai mình. Đó là cơm ăn nước uống của cậu.''' Người họ hàng thủy thủ Jennings luôn ngự trị trong suy nghĩ của mấy anh em, và họ quyết tâm giữ vững danh tiếng dũng cảm của gia đình; George theo cách thụ động; John và Tom thì dữ dội hơn. Những người bạn thân của John rất ít; sau khi được biết đến là kẻ sẵn sàng ẩu đả, cậu dường như thích họ vì một thứ tính cách hài hước kệch cỡm và hề hước. Lúc này tôi nhớ lại niềm thích thú của cậu trước những cử chỉ và trò nghịch ngợm phi thường của một cậu bé tên Wade vốn nổi tiếng vì điều này.... Cậu là một đứa trẻ mà bất kỳ ai nhìn vào sự hoạt bát phi thường và vẻ đẹp ngoại hình đều có thể dễ dàng hình dung sẽ trở thành một vĩ nhân – nhưng là trong quân sự hơn là văn học. ** Edward Holmes, bạn học tại Trường Clarke ở Enfield * Cậu ấy được các bạn đồng môn gọi là 'Keats bé nhỏ', khi trưởng thành tối đa cũng không cao quá một mét rưỡi.... Trong phòng, cậu luôn đứng bên cửa sổ, nhìn đăm đăm vào không gian, đến mức chỗ ngồi bên cửa sổ được các bạn gọi là chỗ của Keats.... Trong giảng đường, cậu dường như ngồi tách biệt và mải mê với điều gì khác, như thể chủ đề bài giảng gợi cho cậu những suy nghĩ không liên quan thực tế đến nó. Cậu thường lúc thì nhập tâm, lúc thì lơ đễnh trôi dạt ra ngoài theo một cách mơ màng. <br />Cậu chưa từng đặt nhiều tầm quan trọng vào việc học y của mình, và thực sự coi nghề y là nghề để mưu sinh trong một thế giới bận rộn, mà không chắc liệu mình có thể chịu đựng nổi áp lực của nó hay không. Tuy nhiên, cậu có ý thức về năng lực của chính mình, và thậm chí về sự vĩ đại của mình, dẫu nó có thể không bao giờ được công nhận.... '''Thi ca trong tâm trí cậu là đỉnh cao của mọi khát vọng: điều duy nhất xứng đáng với sự chú ý của những bộ óc siêu việt: cậu nghĩ như vậy: mọi mưu cầu khác đều tầm thường và tẻ nhạt.''' Cậu không có khái niệm nào về danh vọng hay sự vĩ đại ngoại trừ việc nó gắn liền với sự theo đuổi thi ca, hoặc việc đạt tới sự xuất sắc trong thơ ca.... Cậu có phong thái lịch thiệp và khi hạ mình nói về các chủ đề khác, cậu tỏ ra dễ mến và thông minh. Cậu tiếp thu rất nhanh và nhạy bén khi chọn chú tâm vào bất kỳ chủ đề nào. Cậu là một người điềm tĩnh, trầm lặng và cư xử đúng mực, không bao giờ hướng tới những thú vui thấp hèn hay đồi bại. ** Henry Stephens, bạn học tại Bệnh viện Guy * Ông thấp hơn chiều cao trung bình; phần chi dưới nhỏ nhắn so với phần thân trên, nhưng gọn gàng và cân đối. Vai ông rất rộng so với tầm vóc; ông có một gương mặt nơi năng lượng và sự nhạy cảm hòa quyện một cách đáng kinh ngạc, một sức mạnh hăm hở bị kìm hãm và nhẫn nại bởi bệnh tật. Từng đường nét vừa sắc sảo rõ ràng lại vừa sống động tinh tế. Nếu có nét biểu cảm nào khiếm khuyết thì đó là ở khuôn miệng, nơi phảng phất đôi chút tính hiếu chiến... Đầu ông là một câu đố kỳ lạ đối với các nhà [[nhân tướng học]], với hộp sọ nhỏ khác thường; một nét kỳ dị mà ông có điểm chung với Lãnh chúa Byron và ông Shelley, không chiếc mũ nào của họ mà tôi có thể đội vừa. ** Leigh Hunt, "Mr. Keats" * Và anh không nhớ chuyện Keats từng đề nghị nâng ly 'Chúc cho ký ức về Newton bị đảo lộn' và khi anh nài nỉ đòi giải thích trước khi uống, ông ấy đã nói: 'Bởi vì ông ta đã phá hủy chất thơ của chiếc cầu vồng khi quy nó về một lăng kính'? Ôi, người bạn già thân mến của tôi, anh và tôi sẽ chẳng bao giờ còn thấy lại những ngày tháng như thế nữa! ** Benjamin Haydon, Hồi ký và Tự truyện * Tôi nhớ... lần đầu tiên ông được giới thiệu với ông Haydon; và khi trong cuộc trò chuyện, người nghệ sĩ vĩ đại ấy hỏi ông "liệu ông có yêu đất nước mình không", máu đã dồn lên má và nước mắt trào ra nơi khóe mắt ông trước câu trả lời đầy nhiệt huyết. '''Tình yêu tự do của ông thật nồng nàn và cao cả.''' ** Charles Cowden Clarke, bài viết trên tờ ''Morning Chronicle'' (27 tháng 7 năm 1821) * Cậu ấy đang chăm chỉ học tập, ôn lại tiếng Latinh, chuẩn bị học tiếng Hy Lạp, và dường như nhìn chung có lý trí hơn bình thường – nhưng '''cậu ấy là một kẻ bốc đồng thất thường, không thể trông cậy được nhiều. Song cậu ấy chẳng nghĩ tới điều gì ngoài thi ca như mục đích và cùng đích của đời mình, và rồi lúc này hay lúc khác, tôi không nghi ngờ rằng cậu ấy sẽ làm nên điều gì đó có giá trị.''' ** James Augustus Hessey gửi John Taylor (16 tháng 9 năm 1818), dẫn lại bởi Edmund Blunden trong ''Keats's Publisher'', tr. 56 * Người đã khuất là một trong những người bạn ân cần nhất mà tôi từng có, ấy vậy mà có lẽ ông đối với tôi cũng chẳng ân cần hơn đối với những người khác. Trí tuệ mãnh liệt và cảm xúc mạnh mẽ của ông, tôi thực sự tin rằng, lẽ ra đã cống hiến được điều gì đó cho đời nếu cuộc đời dung tha cho ông – nhưng ông mang bản tính quá đỗi nhạy cảm – và vì thế ông đã bị hủy hoại! ** John Hamilton Reynolds * [Keats] chính là linh hồn của lòng dũng cảm và khí phách trượng phu, và giống như ''Đức Thánh Linh'' nhiều ngang như ''chú nhóc Johnny Keats''. ** George Keats * Khi có người bày tỏ sự kinh ngạc với Shelley rằng Keats, người vốn không thông thạo tiếng Hy Lạp, lại có thể viết một cách tao nhã và chuẩn mực cổ điển về các vị thần và nữ thần của họ đến thế, Shelley đã đáp: “Anh ấy ''chính là'' một người Hy Lạp.” ** Richard H. Horne, ''A New Spirit of the Age'' (1844) * hãy nghĩ xem: những vần thơ đã gắn chặt cảnh quan này: Blake, Donne, Keats ** Tuyển tập thơ của Muriel Rukeyser * Với Wordsworth, cõi chết thường ẩn hiện ngay dưới bề mặt, và với Keats cũng vậy, một đứa con khác của thời đại mình, người tin rằng – chịu ảnh hưởng từ [[Thời kỳ Khai sáng]] – chúng ta là những thực thể vật chất trong một vũ trụ vật chất và ta buộc phải chấp nhận số phận đó. Chúng ta phải chết, nhưng không có bờ vai thần thánh nào để tựa vào, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được những chân lý sâu xa nhất, những điều mà trái ngược với mọi tuyên bố của Thời kỳ Khai sáng, cả lý trí lẫn khoa học đều không thể chạm tới. Keats mang một nhãn quan bi kịch về cuộc đời. Ông rõ ràng là một người thuộc [[Chủ nghĩa lãng mạn]]; chẳng có Miền đất hứa Khai sáng nào chờ đợi ông cả. ** Brian L. Silver, ''The Ascent of Science'' (1998) * Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu chỉ là một người mà văn bia của Keats mô tả: “Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.” ** Rebecca Solnit, phỏng vấn trên tạp chí New York Times (2018) * Tôi dành một tình yêu trọn đời cho John Keats, nhà thơ vĩ đại nhất trong số các nhà thơ Lãng mạn Anh sống vào thế kỷ thứ mười chín. Khả năng kỳ diệu trong việc tạo ra cái đẹp bằng ngôn từ của ông đã chạm thấu tâm hồn tôi. Tôi vẫn còn rất trẻ khi đọc bức thư Keats gửi cho em trai mình năm 1817. Trong đó, ông viết về "năng lực tiêu cực", điều mà ông giải thích là phẩm chất "khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ." Tôi bị cuốn hút bởi ý tưởng này vì rất nhiều điều tôi từng trải qua khi còn là một đứa trẻ, thiếu niên và chàng trai trẻ dường như đều bị bao phủ trong bức màn huyền bí. ** Cornel West, ''Brother West: Living and Loving Out Loud, A Memoir'' (2009) == Xem thêm == * {{w|Văn học lãng mạn}} * {{w|Percy Bysshe Shelley}} * {{w|Lord Byron}} * {{w|William Wordsworth}} == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} * [http://bartleby.com/126/ Toàn tập tác phẩm thi ca] * [http://www.john-keats.com/ John Keats.com] * [http://englishhistory.net/keats/contents.html Cuộc đời và tác phẩm của John Keats] * [http://keatsian.com/ Keatsian.com] [[Thể loại:Sinh năm 1795]] [[Thể loại:Mất năm 1821]] [[Thể loại:Nhà thơ Anh]] 3cqt53pzlt564827768tpa3hfc4932x 63710 63708 2026-10-08T09:27:54Z Mai Thanh Bang 3613 /* Nhận định về Keats */ 63710 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:John Keats by William Hilton.jpg|nhỏ|phải|Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong chính con người mình; nó không thể chín muồi bằng luật lệ và huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân.]] '''{{w|John Keats}}''' (31 tháng 10 năm 1795 – 23 tháng 2 năm 1821) là một trong những nhà thơ kiệt xuất nhất của phong trào {{w|Chủ nghĩa lãng mạn|lãng mạn}} Anh. == Danh ngôn == [[Tập tin:John keats.jpg|nhỏ|phải|Từng đỉnh cao và dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh.]] * Ngọt ngào xiết bao những thú vui thuộc về thơ ca,<br />Và ngọt ngào gấp bội tình huynh đệ trong câu hát. ** "To George Felton Mathew" (tháng 11 năm 1815) * '''Tâm hồn ta quá đỗi yếu mềm – sự phù sinh<br />Đè nặng lên ta tựa giấc ngủ chẳng hề mong muốn''',<br />Và từng đỉnh cao cùng dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh. ** "On Seeing the Elgin Marbles|On Seeing the Elgin Marbles" (1817) * Giữa tháng Chạp đêm dài u tối,<br />Hỡi cái cây quá đỗi hạnh phúc kia,<br />Cành lá ngươi chẳng hề vương vấn<br />Niềm hoan lạc xanh tươi thuở nào. ** "In drear-nighted December", khổ 1 (1817) * Nhưng liệu đã từng có ai<br />Chẳng quằn quại trước niềm vui đã mất?<br />Cái cảm giác không còn cảm thấy,<br />Khi chẳng có điều chi hàn gắn,<br />Cũng không có giác quan tê dại để tôi rèn,<br />Chưa từng được cất lên thành vần điệu. ** "Stanzas", khổ 3 * Biển cất tiếng thì thầm muôn thuở quanh<br />Những bờ hoang vắng, và với ngọn triều cuộn dâng dũng mãnh<br />Nó vỗ ngập hai vạn hang sâu, cho tới khi phép thuật<br />Của Hecate trả lại cho chúng âm vang mờ ảo xưa cũ. ** "On the Sea" (1817) [[Tập tin:John Keats by Benjamin Robert Haydon.jpg|nhỏ|phải|Nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.]] * Khi ta lo sợ mình sẽ lìa đời<br />Trước lúc ngòi bút kịp gặt hái bộ não đang trào dâng ý niệm,<br />Trước khi những trang sách chất cao, bằng chữ nghĩa,<br />Chứa đựng tựa vựa lúa đầy hạt mẩy chín vàng;<br />Khi ta chiêm ngưỡng, trên gương mặt ngàn sao của màn đêm,<br />Những biểu tượng mây mờ kỳ vĩ của cõi diễm tình cao thượng,<br />Và nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ sống để lần theo<br />Bóng hình chúng bằng bàn tay nhiệm màu của cơ duyên;<br />Và khi ta cảm thấy, hỡi tạo vật kiều diễm của một thoáng giây!<br />Rằng ta sẽ không bao giờ được nhìn ngắm nàng thêm nữa,<br />Chẳng bao giờ còn được tận hưởng năng lực diệu kỳ<br />Của tình yêu thuần khiết vô tư! – '''thế rồi nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.''' ** "When I have fears that I may cease to be" (1817) * '''Chớ rơi lệ! Ôi đừng rơi lệ!<br />Đóa hoa kia sẽ nở lại vào năm sau.'''<br />Thôi đừng khóc! Ôi đừng khóc nữa!<br />Nụ non đang say ngủ nơi lõi trắng của cội rễ. ** "Faery Songs", I (1818) * Bàn tay sống động này, giờ đây ấm áp và đủ sức<br />Nắm chặt ân cần, nếu một mai lạnh ngắt<br />Trong cõi tĩnh lặng băng giá của nấm mồ,<br />Sẽ ám ảnh chuỗi ngày của em và làm tê buốt những đêm mơ<br />Đến mức em ước gì tim mình cạn máu<br />Để dòng đời đỏ thắm lại tuôn chảy trong huyết quản của anh,<br />Và lương tâm em được xoa dịu – nhìn xem này –<br />Anh đang chìa nó về phía em. ** "This living hand" (1819) * Hỡi vì sao sáng! Ước gì ta kiên định như người –<br />Chẳng phải treo lơ lửng giữa trời đêm trong vẻ tráng lệ cô đơn<br />Và dõi mắt trông với hàng mi muôn đời hé mở,<br />Tựa ẩn sĩ kiên nhẫn, thức thâu đêm của thiên nhiên,<br />Ngắm làn nước dạt dào thực hiện sứ mệnh tựa linh mục<br />Thanh tẩy thuần khiết quanh bờ cõi trần gian. ** "Bright star, would I were stedfast as thou art" (1819) * Không ai có thể chiếm đoạt đỉnh cao này...<br />Ngoại trừ những kẻ xem nỗi khốn cùng của thế gian<br />Chính là nỗi khốn cùng của mình, và điều đó không để họ được yên nghỉ. ** "The Fall of Hyperion: A Dream" (1819), Khúc I, dòng 147 * Ngày đã tàn, và mọi điều ngọt ngào cũng tan biến!<br />Giọng nói dịu dàng, làn môi êm ái, bàn tay mềm mại, và khuôn ngực càng êm ái hơn. ** Sonnet "The Day is Gone" (sáng tác 1819; xuất bản 1848) * Trước nhãn quan thi sĩ<br />Lớp vỏ của vạn vật tự nhiên mở toang<br />Tới tận cội lõi; và từng tinh túy thầm kín nơi đó<br />Đều hé lộ những yếu tố của cái thiện và cái mỹ;<br />Khiến người thấy được điều mà Học vấn chẳng rọi tới nguồn sáng nào. ** "The Poet", ''London Magazine'' (tháng 10 năm 1821) [[Tập tin:John Keats Tombstone in Rome 01.jpg|nhỏ|Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.]] * '''Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.''' ** Văn bia tự viết cho chính mình (1821) * Rương sách của tôi hãy chia đều cho những người bạn. ** Di chúc (1821) === Thư từ (1817–1820) === * Tôi không chắc chắn về điều gì ngoại trừ sự thiêng liêng của những rung cảm nơi con tim và chân lý của trí tưởng tượng – điều mà trí tưởng tượng nắm bắt như cái đẹp thì ắt phải là chân lý – bất kể nó từng tồn tại trước đó hay chưa. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Trí tưởng tượng có thể ví như giấc mơ của Adam – ông thức giấc và thấy đó là hiện thực. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Ôi, ước gì có được một cuộc đời ngập tràn Cảm giác hơn là đầy ắp Tư tưởng! ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Tôi khó lòng nhớ được việc mình từng trông đợi vào hạnh phúc – tôi không tìm kiếm nó nếu nó chẳng nằm trong hiện tại – chẳng điều gì làm tôi kinh ngạc vượt ngoài khoảnh khắc này. Mặt trời lặn sẽ luôn đưa tôi về trạng thái cân bằng, hoặc nếu một cánh chim sẻ bay đến đậu trước cửa sổ, tôi dự phần vào sự tồn tại của nó và cùng nhặt nhạnh quanh đám sỏi. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Sự xuất sắc của mọi nghệ thuật nằm ở cường độ của nó, có khả năng làm bốc hơi mọi điều khó chịu, bởi chúng gắn bó mật thiết với vẻ đẹp và chân lý. ** Gửi G. và F. Keats (21 tháng 12 năm 1817) * Bất chợt tôi nhận ra phẩm chất làm nên một con người thành tựu, đặc biệt trong văn học, và là điều Shakespeare sở hữu ở mức độ phi thường – ý tôi là ''năng lực tiêu cực'' (negative capability), tức là khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ. ** Gửi George và Thomas Keats (22 tháng 12 năm 1817) * Chúng sẽ tự giải thích cho chính mình – như mọi bài thơ đều nên làm mà chẳng cần tới bất kỳ lời bình giải nào. ** Gửi George Keats (1818) * Các tác phẩm thiên tài là những điều đứng hàng đầu trên thế gian này. ** Gửi G. và F. Keats (13 tháng 1 năm 1818) * Chẳng có gì tốt hơn cho mục đích tạo ra các trước tác vĩ đại bằng sự chín muồi dần dần của các năng lực trí tuệ. ** Gửi em trai George Keats (23 tháng 1 năm 1818) * '''Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một điều gì đó đi sâu vào tâm hồn con người, không làm nó giật mình hay sửng sốt bởi chính bản thân bài thơ, mà bởi chủ đề của nó.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * Chúng ta ghét thứ thơ ca có mưu toan lộ liễu nhắm vào mình – và nếu ta không đồng thuận, nó dường như đút tay vào túi quần quay đi. Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một thứ bước vào tâm hồn, không làm người ta giật mình hay choáng ngợp bởi chính hình thức của nó, mà bởi điều nó chuyển tải. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * '''Nhiều người sở hữu tâm trí độc đáo mà không hề hay biết – họ bị thói quen dẫn dụ đi lạc – Giờ đây đối với tôi, dường như bất kỳ ai cũng có thể như loài nhện, tự rút từ nội tâm mình ra tòa thành quách của riêng mình.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (19 tháng 2 năm 1818) [[Tập tin:John Keats, portrait by Joseph Severn.jpg|nhỏ|Nếu [[thơ ca]] không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn.]] * Trong Thi ca tôi có một vài định đề, và bạn sẽ thấy tôi còn cách xa tâm điểm của chúng dường nào. Tôi nghĩ Thơ ca nên gây ngạc nhiên bằng sự dồi dào tinh tế chứ không phải bằng sự lập dị kỳ quặc – nó phải tác động tới độc giả như cách diễn đạt những suy nghĩ cao quý nhất của chính họ, và hiện lên gần như một miền hồi ức – Những nét chấm phá của Cái đẹp không bao giờ được dừng ở nửa chừng khiến độc giả hụt hơi thay vì thỏa nguyện: sự khởi phát, diễn tiến, và lắng đọng của hình ảnh phải đến tự nhiên với họ như vầng Thái dương – chiếu rọi và lặn xuống bình dị dù trong vẻ huy hoàng, để họ lại trong sự êm đềm của ánh hoàng hôn – nhưng nghĩ xem Thơ ca nên là gì thì dễ hơn viết ra nó nhiều – và điều này dẫn tôi tới một định đề khác: Rằng nếu Thơ ca không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn. ** Gửi John Taylor (27 tháng 2 năm 1818) * Cảnh sắc thật tuyệt mỹ – nhưng bản tính con người còn tuyệt mỹ hơn. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Mọi sự theo đuổi tinh thần đều nhận lấy tính hiện thực và giá trị từ lòng nhiệt thành của người theo đuổi. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Các định đề trong triết học không phải là định đề cho đến khi chúng được kiểm chứng qua từng nhịp đập nơi mạch máu của chúng ta: ta đọc những điều hay nhưng chẳng bao giờ cảm nhận trọn vẹn cho tới khi đã trải qua những bước đi hệt như tác giả. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi so sánh đời người với một dinh thự lớn có nhiều gian phòng, trong đó tôi mới chỉ có thể mô tả được hai gian, những cánh cửa của các phòng còn lại hiện vẫn đóng chặt trước mắt tôi. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi chắc chắn rằng mình không có cảm nhận đúng mực về phụ nữ – lúc này tôi đang nỗ lực đối xử công bằng với họ, nhưng không thể. Phải chăng bởi họ cách quá xa trí tưởng tượng thời niên thiếu của tôi? Khi còn là cậu học trò, tôi ngỡ người phụ nữ đẹp là Nữ thần thuần khiết; tâm trí tôi là tổ ấm êm đềm nơi một người trong số họ ngả lưng say ngủ, dẫu nàng chẳng hề hay biết. ** Gửi Benjamin Bailey (18 tháng 7 năm 1818) * Có một sự ấm áp thiêng liêng quanh trái tim tôi tựa hồ gánh nặng của sự bất tử. ** Gửi John Hamilton Reynolds (22 tháng 9 năm 1818) * Tôi bắt đầu thấu hiểu đôi chút về sức mạnh và điểm yếu của chính mình. Lời khen hay tiếng chê chỉ có tác động thoáng qua đối với người mà tình yêu cái đẹp trừu tượng đã biến anh ta thành kẻ phê bình khắt khe nhất đối với chính tác phẩm của mình. ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi từng viết một cách độc lập ''khi chưa có sự phán xét''. Về sau tôi có thể viết một cách độc lập, và ''kèm theo sự phán xét''. '''Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong một con người: Nó không thể chín muồi nhờ luật lệ hay huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân''' – Thứ gì mang tính sáng tạo phải tự tạo ra chính nó – Trong Endymion, tôi đã lao đầu xuống biển, và nhờ đó hiểu rõ hơn về các phép dò độ sâu, bãi cát lún và rạn đá ngầm, hơn là cứ quanh quẩn trên bờ cỏ xanh, thổi chiếc sáo ngớ ngẩn, uống trà và đón nhận những lời khuyên dễ chịu. '''Tôi chưa bao giờ sợ thất bại; bởi tôi thà thất bại còn hơn không đứng vào hàng ngũ những người vĩ đại nhất.''' ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi nghĩ rằng sau khi qua đời, tôi sẽ có một chỗ đứng giữa những Nhà thơ Anh quốc. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 10 năm 1818) * '''Phẩm chất thi sĩ'''... không phải là chính nó – nó không có bản ngã riêng – nó là tất cả và không là gì cả – Nó không có cá tính – nó tận hưởng cả ánh sáng lẫn bóng tối; nó sống trong sự say mê tột cùng, dù thanh cao hay nhơ bẩn, cao sang hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó, hèn mọn hay tôn quý. – Nó tìm thấy niềm thích thú khi hoài thai một Iago cũng nhiều ngang như một Imogen. Điều làm triết gia đạo đức kinh sợ lại là niềm hân hoan của nhà thơ tắc kè hoa. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Nhà thơ là thực thể phi-thi-vị nhất trong vạn vật tồn tại; bởi vì người đó không có bản sắc cố định''' – anh ta liên tục truyền nhận – và lấp đầy một thân xác khác. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Cuộc đời của một con người có giá trị là một câu chuyện phúng dụ liên tục – và rất ít đôi mắt nhìn thấy được sự mầu nhiệm của đời sống''' – một cuộc đời tựa Kinh Thánh mang tính tượng trưng... Lãnh chúa Byron tạo ra một hình bóng nổi bật, nhưng ông ấy không mang tính tượng trưng. '''[[William Shakespeare|Shakespeare]] đã sống một cuộc đời phúng dụ: các tác phẩm của ông chính là những lời chú giải cho cuộc đời đó.''' ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * '''Chẳng điều gì trở nên có thực cho đến khi nó được trải nghiệm''' – Ngay cả một câu cách ngôn cũng chẳng là cách ngôn với bạn cho đến khi Đời bạn minh chứng cho nó. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * Bản thân tôi đang theo đuổi tiến trình bản năng hệt như sinh vật trần tục nhất mà bạn có thể nghĩ tới – dẫu còn trẻ, tôi đang viết trong ngẫu hứng – gồng mình tìm kiếm những hạt ánh sáng giữa bóng tối mịt mùng – mà chẳng hay biết sức nặng của bất kỳ khẳng định hay định kiến nào. Nhưng liệu trong điều này tôi có thể thoát khỏi tội lỗi chăng? ** Gửi George và Georgiana Keats (19 tháng 3 năm 1819) * Nếu bạn muốn, hãy gọi thế gian này là "Thung lũng tôi luyện linh hồn." ** Gửi George và Georgiana Keats (21 tháng 4 năm 1819) * Tôi có hai điều xa xỉ để trầm ngâm trong những chuyến dạo bước: vẻ kiều diễm của em và giờ phút lìa đời của tôi. Ôi ước gì tôi có thể sở hữu cả hai điều ấy trong cùng một phút giây. ** Gửi Fanny Brawne (25 tháng 7 năm 1819) * Tôi chẳng có gì để nói ngoại trừ về bản thân mình – và tôi có thể nói gì ngoài những gì tôi cảm nhận? ** Gửi John Hamilton Reynolds (24 tháng 8 năm 1819) * '''Một số người nghĩ tôi đã đánh mất ngọn lửa thi ca nồng nhiệt thuở nào – thực tế có lẽ đúng là vậy; nhưng bù lại, tôi hy vọng sẽ thay thế nó bằng một sức mạnh trầm tĩnh và sâu sắc hơn.''' ** Gửi George Keats (21 tháng 9 năm 1819) * Tôi từng kinh ngạc khi thấy người ta có thể tử vì đạo cho tôn giáo – tôi từng rùng mình vì điều đó – nhưng giờ không còn rùng mình nữa – tôi có thể tử đạo vì Tôn giáo của mình – Tình yêu là tôn giáo của tôi – tôi có thể chết vì điều đó – tôi có thể chết vì em. Giáo lý của tôi là Tình yêu và em là tín điều duy nhất. ** Gửi Fanny Brawne (13 tháng 10 năm 1820) * "Nếu phải chết," tôi tự nhủ, "ta chẳng để lại tác phẩm bất hủ nào – chẳng có gì để bạn bè tự hào về ký ức của ta – nhưng '''ta đã yêu nguyên lý của cái đẹp trong vạn vật, và nếu có thời gian, ta đã khiến người đời phải nhớ đến mình.'''" ** Gửi Fanny Brawne (khoảng tháng 2 năm 1820) * Em luôn luôn mới mẻ. Nụ hôn cuối cùng của em bao giờ cũng ngọt ngào nhất; nụ cười sau cùng luôn rạng rỡ nhất; cử chỉ sau cùng luôn duyên dáng nhất. ** Gửi Fanny Brawne (tháng 3 năm 1820) * Bạn có thể kiềm chế sự hào phóng của mình lại, để trở thành một nghệ sĩ đúng nghĩa hơn, và lấp đầy mọi kẽ hở của chủ đề bằng quặng quý. ** Gửi [[Percy Bysshe Shelley]] (tháng 8 năm 1820) * Tôi khó lòng nói lời từ biệt với anh, ngay cả trong một bức thư. Tôi luôn vụng về khi cúi chào. Cầu Chúa ban phúc cho anh! ** Gửi Charles Armitage Brown (30 tháng 11 năm 1820) === ''Poems'' (1817) === * Ta nhón chân đứng trên ngọn đồi nhỏ,<br />Không khí mát lành và tĩnh lặng xiết bao,<br />Đến nỗi những nụ hoa e ấp khiêm nhường<br />Nghiêng nghiêng rủ xuống theo đường cong thoai thoải,<br />Thân mảnh khảnh, lơ thơ đôi nhánh lá,<br />Vẫn chưa làm rơi những vương miện ngàn sao<br />Đón lấy từ tiếng thổn thức ban mai. ** "I Stood Tiptoe", dòng 1 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và rồi len lỏi khẽ khàng<br />Một thanh âm không tiếng động giữa vòm lá xôn xao,<br />Sinh ra từ chính tiếng thở dài mà tĩnh lặng trút ra. ** "I Stood Tiptoe", dòng 10 * Hãy mở toang lần nữa vòng cánh hoa ngàn sao,<br />Hỡi những bông cúc vạn thọ nồng nàn! ** "I Stood Tiptoe", dòng 47 * Kìa, bạn có thể đọc xong hai bài sonnet, trước khi chúng bơi tới<br />Nơi dòng nước mát lành hối hả luôn cất lời giảng giải<br />Một bài thuyết pháp tự nhiên qua những đáy sỏi gập ghềnh;<br />'''Nơi bầy cá nhỏ nhô những cái đầu bé xíu,<br />Giữ thân mình lượn sóng ngược dòng trôi''',<br />Để nếm trải cảm giác xa hoa của những tia nắng ấm<br />Được xoa dịu bởi làn nước mát lành. ** "I Stood Tiptoe", dòng 72 * Đôi khi những chú chim sẻ vàng sà xuống từng con một<br />Từ những cành cây la đà thấp thoáng; chỉ dừng lại một thoáng giây;<br />Nhấp chút nước, ríu rít, rỉa mượt bộ lông mềm;<br />Rồi vụt bay đi ngay, như trong cơn bốc đồng nghịch ngợm:<br />Hoặc có lẽ để khoe đôi cánh đen điểm ánh vàng<br />Chao lượn ngập ngừng trong sắc vàng óng ả. ** "I Stood Tiptoe", dòng 87 * Chẳng có gì ngoài tiếng thở dài êm dịu của làn gió<br />Dọc theo dòng suối đầy lau sậy; một giai điệu vẳng nghe mờ nhạt,<br />Tràn ngập nỗi tiêu điều ngọt ngào – niềm đau dịu dàng. ** "I Stood Tip-toe" * Hỡi phụ nữ! Khi ta thấy nàng nông nổi, phù phiếm,<br />Thất thường, trẻ con, kiêu kỳ và đầy rẫy những đỏng đảnh. ** "When I Behold Thee Flippant, Vain", khổ 1 * Với kẻ đã bị giam hãm quá lâu chốn thị thành,<br />Thật ngọt ngào biết bao khi được ngắm nhìn gương mặt thanh tú<br />Và rộng mở của bầu trời. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * Tựa hồ như giọt nước mắt thiên thần rơi xuống<br />Lướt qua tầng không trong vắt giữa thinh lặng. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * '''Ta đã chu du nhiều nơi trong cõi hoàng kim,<br />Từng thấy biết bao vương quốc và lãnh địa tráng lệ;<br />Đã từng qua nhiều hải đảo phía tây<br />Nơi các thi sĩ giữ lòng trung thành với thần Apollo.'''<br />Thường nghe kể về một miền rộng lớn bao la<br />Mà thi hào Homer trán rộng cai quản tựa lãnh địa của mình,<br />Song ta chưa từng hít thở bầu thanh khí thuần khiết ấy<br />Cho tới khi nghe Chapman cất tiếng sang sảng và can trường:<br />'''Khi ấy ta cảm thấy mình như kẻ dõi mắt ngắm bầu trời<br />Lúc một hành tinh mới bơi vào tầm ngắm;<br />Hoặc như Cortez quả cảm khi với đôi mắt chim ưng<br />Ông nhìn đăm đăm ra Thái Bình Dương, và toàn thể thuộc hạ<br />Nhìn nhau với nỗi hoài nghi hoang dại,<br />Lặng câm, trên đỉnh núi chót vót ở Darien.''' ** "On First Looking into Chapman's Homer" * Và những tâm hồn khác đang đứng riêng biệt<br />Nơi vầng trán của thời đại tương lai;<br />Họ, chính họ sẽ ban cho thế gian một trái tim khác,<br />Và những nhịp đập khác. Các ngươi không nghe thấy tiếng rì rầm<br />Của những chuyển dịch vĩ đại nơi thương trường xa xôi ư?<br />Hãy lắng nghe trong giây lát hỡi các dân tộc, và hãy lặng im. ** "Sonnet. Addressed to the Same" (Benjamin Robert Haydon) * Thi ca của đất trời chẳng bao giờ lụi tàn. ** "Sonnet. On the Grasshopper and the Cricket" * Hãy dừng lại và ngẫm suy! Cuộc đời chỉ tựa một ngày;<br />Một giọt sương mong manh trên hành trình hiểm trở<br />Rơi từ ngọn cây cao. ** "Sleep and Poetry", khổ 5 * Ôi ước gì có được mười năm, để ta có thể đắm chìm<br />Bản thân vào thi ca; ngõ hầu ta thực hiện được kỳ tích<br />Mà chính tâm hồn ta đã tự định đoạt cho mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 6 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một cơn mưa ánh sáng<br />Bất tận chính là thi ca; đó là quyền năng tối thượng;<br />Là sức mạnh tựa nửa say ngủ trên cánh tay phải của chính mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Nhưng sức mạnh đơn độc dẫu sinh ra từ các Nàng Thơ<br />Cũng tựa như thiên thần sa ngã: những thân cây bật gốc,<br />Bóng tối, sâu bọ, vải liệm và mồ mả<br />Lại làm nó thích thú; bởi nó nuôi mình bằng những gai góc,<br />Và chông gai của cuộc đời; quên mất mục đích lớn lao<br />Của thi ca, là phải trở thành người bạn<br />Xoa dịu những âu lo và nâng đỡ tâm tư con người. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Cuộc trò chuyện ngọt ngào của một tâm hồn thơ ngây. ** Sonnet: "Solitude" === ''{{w|Endymion (thơ)|Endymion}}'' (1818) === [[Tập tin:Endymion.JPG|nhỏ|Một điều [[cái đẹp|xinh đẹp]] là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không.]] [[Tập tin:Girodet - Sommeil Endymion.jpg|nhỏ|Ôi [[giấc ngủ]] diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng!]] * '''Chẳng có địa ngục nào khốc liệt hơn sự thất bại trong một mục tiêu vĩ đại.''' ** Lời tựa * Trí tưởng tượng của một cậu bé thì lành mạnh, và trí tưởng tượng chín chắn của một người đàn ông cũng lành mạnh; nhưng có một khoảng đời ở giữa, khi tâm hồn đang lên men, tính cách chưa định hình, lối sống còn bấp bênh, tham vọng còn mờ mịt: từ đó nảy sinh sự ủy mị, cùng hàng ngàn vị đắng cay mà những người tôi nói tới ắt phải nếm trải khi lật qua những trang sau. ** Lời tựa * '''Một điều xinh đẹp là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không'''; mà vẫn luôn giữ cho ta<br />Một chòi lá thanh bình, và một giấc nồng<br />Đầy những giấc mơ êm ái, sức khỏe và hơi thở an yên. ** Quyển I, dòng 1 * '''Bất chấp tất cả,<br />Một hình bóng của cái đẹp sẽ xua tan tấm màn che<br />Khỏi tâm hồn u tối của chúng ta.''' ** Quyển I, dòng 11 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vẻ bi tráng của định mệnh<br />Mà chúng ta tưởng tượng về những người đã khuất lẫy lừng;<br />Mọi câu chuyện đáng yêu ta từng nghe hay đọc:<br />Là dòng suối bất tận của thức uống trường sinh,<br />Rót xuống chúng ta từ bờ cõi thiên đường. ** Quyển I, dòng 20 * Ta đâu chỉ cảm nhận những tinh túy ấy<br />Trong một giờ ngắn ngủi; không, cũng như những hàng cây<br />Thì thầm quanh ngôi đền sẽ sớm trở nên<br />Thân thương như chính ngôi đền, vầng trăng cũng vậy,<br />Niềm đam mê thi ca, những vinh quang vô tận,<br />Ám ảnh ta cho đến khi chúng trở thành nguồn sáng reo vui<br />Chiếu rọi tâm hồn, và gắn kết với ta chặt chẽ,<br />Đến mức, '''dù trời rạng rỡ hay u ám mây mờ,<br />Chúng luôn phải ở bên ta, bằng không ta sẽ chết.''' ** Quyển I, dòng 25 * Ôi giấc ngủ diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng! ** Quyển I, dòng 453 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thời gian, bà vú già nua ấy,<br />Đã ru ta vào sự nhẫn nại. ** Quyển I, dòng 705 * '''Hạnh phúc nằm ở đâu? Nằm ở điều vẫy gọi<br />Tâm trí sẵn sàng của ta bước vào mối giao hảo thần thánh,<br />Mối giao cảm với bản thể; cho đến khi ta tỏa sáng,<br />Được biến đổi hoàn toàn, và tự do ngoài không gian. Kìa trông<br />Tín ngưỡng quang đãng của cõi trời!''' ** Quyển I, dòng 777 * '''Những bóng ma của lời tiên tri du dương gào thét<br />Quanh mọi dấu chân nơi Apollo từng bước qua''';<br />Những chiếc tù và đồng thức giấc, và khẽ vang lên,<br />Nơi xưa kia từng diễn ra trận chiến khổng lồ;<br />Và, từ thảm cỏ, một khúc hát ru lướt qua<br />Khắp mọi nơi Orpheus thuở ấu thơ từng yên giấc.<br />'''Ta có cảm nhận được những điều này chăng? – khoảnh khắc đó ta đã bước<br />Vào một trạng thái duy nhất, và tâm thế của ta<br />Tựa hồ một linh hồn đang trôi nổi.''' Nhưng còn có<br />Những vướng bận phong phú hơn, những say mê<br />Tự hủy diệt hơn nhiều, từng bước dẫn lối<br />Tới cường độ tột đỉnh: '''chiếc vương miện của những điều này<br />Được kết bằng tình yêu và tình bạn, ngự trị uy nghi<br />Trên vầng trán của nhân loại.''' ** Quyển I, dòng 789 * Tâm hồn không ngơi nghỉ của ta chẳng bao giờ chịu đựng nổi<br />Việc chìm đắm quá lâu vào một nỗi xa hoa duy nhất,<br />Trừ phi, dù trong âu lo, nó thoáng nhận ra<br />'''Một niềm hy vọng vượt lên trên bóng hình của một giấc mơ.''' ** Quyển I, dòng 854 * Khoái lạc thường chỉ là khách qua đường; nhưng nỗi đau<br />Lại bám riết lấy ta một cách tàn nhẫn. ** Quyển I, dòng 906 * '''Kẻ nào e sợ dấn bước theo<br />Nơi những tiếng nói hư không dẫn đường<br />Sẽ chẳng bao giờ được đội vương miện bất tử.''' ** Quyển II, dòng 211 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đó là tai ương<br />Của ái tình: những niềm vui đẹp đẽ nhất lại đem đến nhiều bất an nhất. ** Quyển II, dòng 365 * &nbsp;&nbsp; Với Nỗi Sầu Đau<br />&nbsp;&nbsp;Ta cất lời chào buổi sớm,<br />Tưởng rằng đã bỏ nàng lại phía sau xa xôi;<br />&nbsp;&nbsp;Nhưng vui vẻ thay, rạng rỡ thay,<br />&nbsp;&nbsp;Nàng yêu ta tha thiết;<br />Nàng son sắt với ta dường bao, và quá đỗi ân cần:<br />Ta toan dối lừa nàng<br />Và bỏ nàng ra đi,<br />Nhưng ôi! Nàng quá đỗi thủy chung và ân cần. ** Quyển IV, dòng 173 * Thật nhiều, thật nhiều, và hân hoan xiết bao. ** Quyển IV === ''{{w|La Belle Dame sans Merci}}'' (1819) === [[Tập tin:La Belle Dame Sans Merci, by John William Waterhouse, 1893, oil on canvas - Hessisches Landesmuseum Darmstadt - Darmstadt, Germany - DSC01228.jpg|nhỏ|Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang.]] * Ôi, điều gì làm chàng phiền muộn, hỡi hiệp sĩ mang giáp phục,<br />Đơn độc và tha thẩn với gương mặt nhợt nhạt?<br />Cỏ lác đã héo tàn nơi bờ hồ,<br />Và chẳng còn tiếng chim ca. ** Khổ I * Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang. ** Khổ IV * Ta kết cho nàng một vòng hoa cài đầu,<br />Cả những chuỗi vòng tay, và chiếc thắt lưng hương ngát;<br />Nàng nhìn ta tựa hồ trao trọn yêu thương,<br />Và khẽ buông tiếng than êm ái. ** Khổ V * Ta thấy những vị vua cùng hoàng tử tái nhợt,<br />Những chiến binh nhợt nhạt, tất cả đều mang sắc mặt tái mét như tử thi;<br />Họ gào thét: "La Belle Dame sans Merci<br />Đã giam cầm ngươi trong bùa mê!" ** Khổ X === ''Hyperion: Đoạn thơ dang dở'' (1819) === * Sâu trong nỗi u sầu râm mát của thung lũng<br />Chìm khuất xa khỏi hơi thở trong lành của ban mai,<br />Xa buổi trưa rực lửa, và ánh sao hôm lẻ loi,<br />Saturn tóc hoa râm ngồi đó, lặng lẽ như phiến đá,<br />Bất động tựa cõi tĩnh mịch vây quanh hang ổ của mình;<br />Rừng tiếp rừng trĩu nặng trên đầu ông<br />Như mây tầng mây. ** Quyển I, dòng 1 * Lời phán truyền uy nghiêm của những vị thần thuở sơ khai! ** Quyển I * Tựa như, trong đêm hè mê đắm,<br />Những vị nghị viên áo xanh của đại ngàn hùng vĩ,<br />Những cây sồi sừng sững, được những vì sao ân cần ru ngủ cành lá,<br />Mơ màng, và mơ màng suốt đêm chẳng hề lay động,<br />Ngoại trừ một luồng gió cô đơn thoảng qua<br />Chợt đến giữa thinh không rồi vụt tắt,<br />Như thể làn không khí thoái trào chỉ có một gợn sóng duy nhất. ** Quyển I, dòng 72 * Những ngày tháng thanh bình và tĩnh lặng êm đềm đã qua đi. ** Quyển II * '''Giờ đây nỗi đau của [[chân lý]] đã đến, với kẻ xem đó là nỗi đau;<br />Ôi điên rồ thay! Bởi gánh chịu mọi chân lý trần trụi,<br />Và điềm nhiên đối diện cảnh ngộ,<br />Đó mới là đỉnh cao của quyền uy tối thượng.''' Hãy ghi nhớ lấy. ** Quyển II, dòng 202 * Tri thức bao la biến ta thành một vị Thần. ** Quyển III, dòng 113 === ''Poems'' (1820) === * Còn về đôi mắt nàng: đôi mắt ấy có thể làm gì nơi đó<br />Ngoài tuôn rơi, tuôn rơi dòng lệ, vì sinh ra quá đỗi kiều diễm? ** "Lamia", Phần I, dòng 61 * Tình yêu trong túp lều tranh, với mẩu bánh mì và ngụm nước lã,<br />Chỉ là – Tình yêu ơi xin thứ tha! – tro tàn, xỉ rác, bụi mờ. ** "Lamia", Phần II, dòng 1 * Đã từng có một cầu vồng uy nghiêm ngự nơi thiên giới:<br />Chúng ta biết đường dệt, cấu trúc của nó; nó bị đưa vào<br />Danh mục tẻ nhạt của những vật tầm thường.<br />'''Triết học sẽ xén bớt đôi cánh của Thiên thần''',<br />Chinh phục mọi điều huyền bí bằng thước dây và quy tắc,<br />Làm trống rỗng bầu không khí ma mị, và những mỏ thần lùn –<br />Tháo gỡ một chiếc cầu vồng, như cách nó từng khiến<br />Nàng Lamia dịu dàng tan biến vào bóng hư vô. ** "Lamia", Phần II, dòng 229 [[Tập tin:William Holman Hunt - Isabella and the Pot of Basil, 1867.jpg|nhỏ|“Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.”]] * “Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.” ** "Isabella; or, The Pot of Basil", khổ 62 * Vậy hãy để ta làm dàn hợp xướng của nàng, và cất tiếng thở than<br />Trong những giờ khắc nửa đêm ** "Ode to Psyche", khổ 3 * Và nơi đó sẽ dành cho nàng mọi niềm hoan lạc êm dịu<br />Mà ý nghĩ mông lung có thể đạt tới,<br />Một ngọn đuốc sáng, và khung cửa sổ mở toang trong đêm,<br />Để đón Tình Yêu nồng ấm bước vào! ** "Ode to Psyche", khổ 5 * Cứ để Trí Tưởng Tượng mặc sức rong chơi,<br />Khoái lạc chẳng bao giờ chịu ở yên trong nhà. ** "Fancy", dòng 1 * Những thi sĩ của Đam mê và Hoan lạc,<br />Các người đã để lại linh hồn mình nơi trần thế!<br />Liệu các người có linh hồn nơi thiên đường chăng,<br />Sống cuộc đời nhân đôi ở những cõi giới mới mẻ? ** "Ode: The Fair Maid of the Inn" * Hỡi linh hồn của những Thi sĩ đã khuất bóng,<br />Cõi Elysium nào các người từng hay biết,<br />Cánh đồng hạnh phúc hay hang động phủ rêu phong,<br />Có tuyệt diệu hơn Quán trọ Nàng tiên cá? ** "Lines on the Mermaid Tavern", dòng 1–4 [[Tập tin:Autumn-slovakia.JPG|nhỏ|Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh.]] * '''Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh''';<br />Uốn cong những thân cây quanh mái nhà rêu phong bằng trĩu nặng táo thơm,<br />Và làm căng tràn mọi quả ngọt đến tận cội lõi;<br />Làm nứt đất ngầm, vỗ béo những hạt phỉ<br />Bằng nhân ngọt ngào; giục giã đâm chồi thêm nữa,<br />Thêm nữa những đóa hoa muộn màng cho bầy ong,<br />Cho tới khi chúng ngỡ những ngày ấm áp sẽ chẳng bao giờ ngưng nghỉ,<br />Bởi Mùa Hè đã rót tràn trề vào những tầng tổ dính sánh. ** To Autumn", khổ 1 * '''Ai từng chẳng thường thấy bóng ngươi giữa kho lúa của mình?'''<br />Đôi khi kẻ nào cất bước tìm kiếm có thể thấy<br />Ngươi ngồi thảnh thơi trên sàn kho thóc,<br />Mái tóc khẽ bay trong làn gió sảy;<br />Hoặc ngủ say sưa trên luống cày gặt dở,<br />Mê man trong hương thuốc phiện, khi lưỡi liềm của ngươi<br />Dung tha vạt lúa kế bên cùng muôn hoa đan cài. ** "To Autumn", khổ 2 * Rồi trong dàn đồng ca than vãn, bầy muỗi nhỏ cất tiếng sầu<br />Giữa rặng liễu ven sông, bay bổng lên cao<br />Hay chìm xuống theo từng hơi thở tàn hay sống của ngọn gió thoảng. ** "To Autumn", khổ 3 * '''Không, đừng, chớ tìm đến sông Lethe,''' cũng đừng vặn xoắn<br />Rễ cây phụ tử bám chặt, để chưng cất thứ rượu độc;<br />Cũng đừng để vầng trán nhợt nhạt của ngươi bị hôn lấy<br />Bởi hoa cà độc dược. ** "Ode on Melancholy", khổ 1 * Nhưng khi cơn u sầu chợt đổ ập xuống<br />Bất ngờ từ trời cao tựa đám mây tuôn lệ,<br />Nuôi dưỡng muôn hoa đang ủ rũ gục đầu,<br />Và giấu ngọn đồi xanh trong tấm khăn liệm tháng Tư;<br />Thì hãy thỏa mãn nỗi đau buồn của ngươi nơi đóa hồng sớm mai. ** "Ode on Melancholy", khổ 2 * Nàng ngự cùng Cái Đẹp – Cái Đẹp phải tàn phai;<br />Và Niềm Vui, kẻ luôn đặt tay lên môi<br />Để cất lời từ biệt; cùng Khoái Lạc nhức nhối cận kề,<br />Hóa thành độc dược ngay lúc miệng ong hút nhụy.<br />Phải, ngay trong đền thờ của Lạc Thú<br />Nàng U Sầu che mạng có thánh điện tối cao của mình,<br />Dẫu chẳng ai thấy ngoại trừ kẻ có chiếc lưỡi dũng mãnh<br />Dám nghiền nát trái nho Hoan Lạc nơi vòm họng tinh tế;<br />Linh hồn người đó sẽ nếm trải nỗi buồn từ quyền năng của nàng,<br />Và bị treo lơ lửng giữa những chiến tích mây mờ của nàng. ** "Ode on Melancholy", khổ 3 ==== ''The Eve of St. Agnes'' ==== * Đêm trước ngày Thánh Agnes – Ôi, buốt giá đắng cay làm sao!<br />Cú vọ, dù mang đủ lông vũ, vẫn run rẩy vì giá rét;<br />Thỏ rừng khập khiễng rụt rè bước qua thảm cỏ đóng băng,<br />Và bầy cừu im lìm cuộn mình trong chuồng len ấm. ** Khổ 1 * Giọng lưỡi hoàng kim của âm nhạc<br />Đã dỗ dành người đàn ông già nua nghèo khó này đến trào nước mắt. ** Khổ 3 * Tiếng kèn bạc gắt gỏng bắt đầu cất lời quở trách. ** Khổ 4 * Khúc nhạc khắc khoải tựa một vị Thần trong cơn đau đớn. ** Khổ 7 * Nàng thở dài mong ngóng những giấc mơ ngày lễ Agnes, giấc mơ ngọt ngào nhất trong năm. ** Khổ 7 * Say ngủ trong lòng những truyền thuyết xa xưa. ** Khổ 15 * Chợt một ý nghĩ hiện về tựa đóa hồng nở rộ,<br />Làm bừng đỏ vầng trán chàng, và trong trái tim đau đớn<br />Dấy lên một cơn bạo loạn sắc tía. ** Khổ 16 * Một sinh linh già yếu, bất lực, run rẩy nơi nghĩa địa. ** Khổ 18 * Như thể chú chim sơn ca không lưỡi cố phồng căng<br />Cuống họng trong vô vọng, rồi chết vì nghẹn thở nơi khe núi hẻo lánh. ** Khổ 23 * Trăng mùa đông chiếu rọi thẳng vào ô cửa sổ này,<br />'''Và hắt sắc đỏ ấm áp lên khuôn ngực trắng ngần của Madeline''',<br />Khi nàng quỳ gối cầu xin ân huệ và phước lành của thiên đường;<br />Sắc hồng rơi trên đôi bàn tay nàng đang chắp lại. ** Khổ 25 * Nàng tháo từng món trang sức ấm áp của mình;<br />Nới lỏng vạt áo ngực ngát hương; dần dà<br />Tấm xiêm y lộng lẫy trượt sột soạt xuống đầu gối nàng. ** Khổ 26 * Tựa như đóa hồng khép cánh lại để trở về làm nụ non. ** Khổ 27 * Và nàng vẫn chìm trong giấc ngủ mi mắt biếc xanh,<br />Trên tấm vải lanh trắng tinh, êm ái và thoang thoảng hương hoa oải hương. ** Khổ 30 * Cùng những thứ siro trong vắt, đượm hương quế. ** Khổ 30 * Chàng tấu lên một khúc dân ca cổ từ lâu đã im tiếng,<br />Xứ Provence gọi là "La belle dame sans mercy." ** Khổ 33 * Nàng vội vã theo lời chàng, lòng đầy sợ hãi,<br />Bởi quanh đây muôn loài rồng đang say ngủ,<br />Có lẽ đang trừng mắt canh chừng với những ngọn giáo sẵn sàng –<br />Họ lần tìm lối đi trong bóng tối bước xuống cầu thang rộng. –<br />Khắp ngôi nhà chẳng nghe thấy một tiếng động nhân gian.<br />Ngọn đèn treo dây xích chập chờn bên mỗi cánh cửa;<br />Tấm thảm thêu cảnh kỵ sĩ, chim ưng và chó săn,<br />Phấp phới trong tiếng gầm gào của cơn gió bủa vây;<br />'''Và những tấm thảm dài phập phồng dọc sàn nhà lộng gió.''' ** Khổ 40 * Và họ đã ra đi: phải, từ muôn vàn năm trước<br />Đôi tình nhân ấy đã trốn chạy vào cơn bão tố. ** Khổ 42 ==== ''Ode to a Nightingale'' ==== :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> [[Tập tin:W. J. Neatby - Keats - Nightingale.jpg|nhỏ|Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề.]] * Tim ta đau nhói, và cơn tê dại mơ màng làm buốt giá<br />Các giác quan, như thể ta vừa uống cạn chén độc cần,<br />Hay vừa nốc cạn liều thuốc phiện đắng ngắt<br />Chỉ một phút trước, rồi chìm dần về phía dòng sông Quên: <br />Chẳng phải vì ghen tị với số phận hạnh phúc của ngươi,<br />Mà bởi quá đỗi hân hoan trong niềm hạnh phúc của ngươi, –<br />Rằng ngươi, nàng Dryad cánh nhẹ của cây rừng,<br />Nơi vạt đất du dương<br />Của sắc xanh cây dẻ gai và bóng râm vô tận,<br />Đang cất cao tiếng hát ngợi ca mùa hè bằng tất cả sự thảnh thơi. ** Khổ 1 * '''Ôi, ước gì có một ngụm rượu nho cổ kính! Từng được<br />Làm mát qua bao niên kỷ trong lòng đất sâu thẳm.'''<br />Mang hương vị của Nữ thần Hoa và màu xanh đồng nội,<br />Điệu vũ khúc, câu hò xứ Provence, và niềm vui rám nắng!<br />Ôi ước gì có một chén đầy ắp phương Nam ấm áp,<br />Tràn đầy dòng suối nguồn Hippocrene chân thật, ửng hồng,<br />Với những bọt tăm lấp lánh chớp mắt nơi miệng chén,<br />Và bờ môi nhuốm sắc tím nồng nàn. ** Khổ 2 * Hãy tan biến thật xa, hòa tan, và quên lãng hoàn toàn<br />Điều mà ngươi giữa vòm lá chưa từng hay biết,<br />Sự mệt mỏi, cơn sốt và nỗi bồn chồn<br />Nơi chốn này, nơi con người ngồi nghe tiếng rên xiết của nhau;<br />Nơi chứng bại liệt làm rung rinh vài sợi tóc bạc buồn bã cuối cùng,<br />Nơi tuổi trẻ tái nhợt, gầy guộc như bóng ma rồi chết mòn;<br />Nơi chỉ cần suy nghĩ thôi cũng đã ngập tràn phiền muộn<br />Và những nỗi tuyệt vọng với đôi mắt màu chì. ** Khổ 3 * '''Đã ở bên ngươi rồi! Đêm thật dịu dàng.''' ** Khổ 4 * Ta chẳng thể nhìn thấy những đóa hoa nào dưới chân mình,<br />Cũng không thấy làn hương êm dịu nào vương trên cành biếc,<br />Nhưng giữa bóng tối ướp hương, ta đoán từng vị ngọt ngào. ** Khổ 5 * Và đứa con đầu lòng của giữa tháng Năm,<br />Đóa hồng xạ hương sắp nở, đượm đầy men rượu sương đêm,<br />'''Chốn lui tới vo ve của bầy ruồi trong những chiều hè.''' ** Khổ 5 [[Tập tin:Portrait of Keats - HH.jpg|nhỏ|Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?]] * '''Trong bóng tối ta lắng nghe; và đã biết bao lần<br />Ta gần như phải lòng cái [[Chết]] thanh thản''',<br />Gọi tên Người bằng những danh xưng êm ái trong bao vần thơ ngẫm ngợi,<br />Để gửi gắm vào không trung hơi thở bình yên của mình;<br />Giờ đây hơn bao giờ hết, chết đi dường như là điều phong phú xiết bao,<br />Để chấm dứt giữa đêm trường mà không một chút đớn đau,<br />Khi ngươi đang trút trọn linh hồn mình ra ngoài<br />Trong cơn xuất thần cuồng nhiệt dường ấy!<br />Ngươi vẫn sẽ hót, còn tai ta hóa thành vô ích –<br />Trước khúc chiêu hồn cao cả của ngươi, ta chỉ còn là một mảnh đất cằn. ** Khổ 6 * '''Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề''':<br />Có lẽ chính khúc ca ấy đã tìm được lối đi<br />Qua trái tim sầu muộn của nàng Ruth, khi nhớ nhà quay quắt,<br />Nàng đứng rơi lệ giữa ruộng ngô xa lạ;<br />Cũng chính khúc ca ấy đã biết bao lần<br />Quyến rũ những ô cửa sổ ma thuật, mở ra đầu ngọn sóng<br />Của những vùng biển hiểm nguy, nơi xứ sở thần tiên hoang phế. ** Khổ 7 * Hoang phế! Chính từ ngữ ấy như một hồi chuông<br />Kéo giật ta từ ngươi trở về với cái tôi cô độc! ** Khổ 8 * '''Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?''' ** Khổ 8 ==== ''Ode on a Grecian Urn|Ode on a Grecian Urn'' ==== [[Tập tin:keats urn.jpg|nhỏ|"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.]] :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> * Hỡi cô dâu chưa vấy bụi trần của sự tĩnh lặng,<br />Hỡi đứa con nuôi của thinh lặng và thời gian chậm rãi,<br />Sử gia của chốn rừng già, kẻ có thể diễn bày<br />Một tích truyện ngát hoa ngọt ngào hơn vần thơ chúng ta:<br />Truyền thuyết viền lá nào đang ám ảnh quanh dáng hình ngươi?<br />Của thần linh hay người phàm, hay của cả hai,<br />Nơi thung lũng Tempe hay những hẻm núi xứ Arcady?<br />'''Họ là những người phàm hay thần thánh nào đây? Những thiếu nữ ngập ngừng nào kia?<br />Cuộc rượt đuổi điên cuồng nào? Nỗ lực trốn thoát nào?<br />Tiếng sáo và tiếng trống lục lạc nào? Cơn ngây ngất hoang dại nào?''' ** Khổ 1 * '''Những giai điệu nghe thấy thì ngọt ngào, nhưng những giai điệu không nghe thấy<br />Còn ngọt ngào hơn: vì thế, hỡi những chiếc sáo êm dịu, hãy tấu tiếp đi;<br />Không phải cho đôi tai trần tục, mà đáng trân quý hơn,<br />Hãy thổi cho tâm linh những khúc ca không thành tiếng.'''<br />Chàng trai trẻ khôi ngô, dưới bóng cây, ngươi không thể dứt khỏi<br />Bài ca của mình, và những tán cây kia cũng chẳng bao giờ trơ trụi;<br />Hỡi Tình Nhân táo bạo, chẳng bao giờ, chẳng bao giờ ngươi hôn được nàng,<br />Dẫu đã cận kề đích đến – nhưng, chớ đau buồn;<br />Nàng không thể phai tàn, dẫu ngươi chưa chạm tới niềm hoan lạc,<br />Ngươi sẽ mãi yêu thương, và nàng sẽ mãi vẹn toàn nét xuân thì! ** Khổ 2 * Những ai đang tiến đến buổi hiến tế kia?<br />Tới bàn thờ xanh tươi nào, hỡi vị tư tế huyền bí,<br />Ngươi đang dắt theo con bò cái tơ rống lên trời xanh,<br />Và toàn bộ mạn sườn mượt mà của nó được kết đầy vòng hoa? ** Khổ 4 * Hỡi hình hài câm lặng, ngươi trêu ngươi tư tưởng chúng ta<br />Tựa hồ cõi vĩnh hằng: Khúc Điền Viên Lạnh Giá!<br />Khi tuổi già tàn phá thế hệ này,<br />Ngươi sẽ vẫn ở lại, giữa những nỗi đau khác<br />Không phải của chúng ta, như một người bạn của con người, người mà ngươi nhắn nhủ,<br />'''"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.''' ** Khổ 5 == Nhận định về Keats == * Nhóm người khác mà tôi sinh ra để dành trọn tâm hồn là các nhà thơ Lãng mạn. Đặc biệt là Shelley, và Keats. ** Paula Gunn Allen, phỏng vấn trong ''Survival This Way: Interviews with American Indian Poets'' của Joseph Bruchac (1987) * Ông ấy đã gây ra tổn hại dường nào cho Thi ca Anh quốc. Giống như Robert Browning là người có tài năng vừa phải nhưng khát khao mãnh liệt sự chuyển động và viên mãn, để rồi chỉ thu về một sự bề bộn hỗn loạn, thì Keats với tài năng xuất chúng tột bậc, cũng bị thiêu đốt bởi khát vọng này; và không thể tạo ra những tác phẩm thực sự sống động và lay động, như lương tâm ông vẫn không ngừng mách bảo. Họ không chịu kiên nhẫn cũng chẳng hiểu rằng họ phải bắt đầu bằng một Ý niệm về thế giới để không bị sự bề bộn của thế giới đè bẹp: hoặc nếu không đạt được điều đó, thì ít nhất phải bằng những ý niệm độc lập; và mọi thứ khác rồi (có lẽ) sẽ được thêm vào cho họ. ** Matthew Arnold, thư gửi Arthur Clough, 1848/9, trong ''John Keats: The Critical Heritage'', G.M. Matthews chủ biên (1995) * Tôi nghĩ mình thưởng thức những bức thư của ông ấy còn nhiều hơn cả thơ ca. Ông ấy có một bộ óc tuyệt vời và một cá tính rất kiên cường. ** Elizabeth Bishop, phỏng vấn năm 1966 trong ''Conversations with Elizabeth Bishop'', George Monteiro chủ biên (1996) * [Về cuốn ''Cuộc đời Keats'' của Monckton Milne] Một nỗ lực bắt chúng ta ăn thịt chó chết bằng cách nêm nếm gia vị và nấu nướng tinh vi [...] Kiểu người như Keats ngày càng trở nên kinh tởm đối với tôi. Cơn đói khát mọi thứ khoái lạc thuộc mọi thể loại, kết hợp với sự thiếu hụt mọi sức mạnh khác – quả là một sự kết hợp! Một cấu trúc tâm hồn như vậy, thời xưa hẳn đã quá rõ ràng, là một 'Chiếc bình được chọn của Địa ngục' [...] ** Thomas Carlyle, trong cuốn ''Thomas Carlyle: A History of His Life in London, 1834 - 1881'' của J.A. Froude (1884) * Đây là thứ thơ ca đái dầm của thằng nhóc Johnny Keats [...] Trên bàn của tôi la liệt thứ rác rưởi của Keats và những kẻ tương tự, đến nỗi tôi xấu hổ khi phải nhìn vào chúng [...] Tôi van xin đấy, đừng đưa Keats ra nữa: hãy lột da sống hắn đi; nếu mấy người không làm thì chính tôi sẽ tự tay lột da hắn: không thể nào chịu nổi thói ngớ ngẩn lảm nhảm của cái thằng người lùn ấy. :Tờ ''Edinburgh'' ca ngợi Jack Keats hay Ketch, hay bất kể tên hắn là gì [...] trời ạ, thơ của hắn là thứ Thủ dâm Thi ca – tương tự như khoái lạc mà một gã kéo vĩ cầm người Ý tìm thấy khi bị một ả gái điếm treo lơ lửng mỗi ngày ở phố Drury Lane. Chuyện này diễn ra vài tuần: cuối cùng ả đi mua một panh rượu Gin – gặp một ả khác, tán gẫu quá lâu, và Cornelli bị treo cổ chết thẳng cẳng trước khi ả quay về. Đó chính là thứ rác rưởi mà họ ca tụng, và đó sẽ là hồi kết cho thứ thơ ca vươn dài của kẻ Tự làm ô uế tâm trí con người một cách khốn khổ này. :Ông Keats, người mà anh hỏi thăm thơ phú, đối với tôi hiện lên đúng như những gì tôi đã nói: lối viết như vậy là một kiểu thủ dâm tinh thần – hắn luôn tự kích thích Trí tưởng tượng của mình. Ý tôi không phải hắn khiêu dâm, mà là hắn mồi chài các ý niệm của mình vào một trạng thái suy đồi, thứ chẳng phải thơ ca cũng chẳng phải điều gì khác ngoài ảo ảnh nhà thương điên sinh ra từ thịt lợn sống và thuốc phiện. :* Lord Byron, thư gửi John Murray, 12 tháng 8 – 9 tháng 9 năm 1820, trong ''The Routledge Literary Sourcebook on the Poems of John Keats'', J. Strachan chủ biên (2003) * Sự phẫn nộ của tôi trước việc ông Keats đánh giá thấp Pope khó lòng cho phép tôi đánh giá công bằng thiên tài của ông ấy, người mà bất chấp mọi sự hào nhoáng kỳ quặc trong phong cách, chắc chắn là một tài năng đầy hứa hẹn. Đoạn thơ dang dở Hyperion của ông dường như thực sự được truyền cảm hứng từ các thần Titan, và tráng lệ tựa như tác phẩm của Aeschylus. Ông là một mất mát lớn cho nền văn học của chúng ta. ** Lord Byron, 12 tháng 11 năm 1821 * '''Keats, một người hoàn toàn xa lạ với sự nhầm lẫn, có thể tin rằng con chim sơn ca mê hoặc ông chính là con chim mà nàng Ruth từng nghe thấy giữa ruộng ngô xa lạ ở xứ Bethlehem thuộc Judah'''; Stevenson đưa ra giả thuyết về một cánh chim duy nhất nuốt chửng nhiều thế kỷ: "con chim sơn ca nuốt chửng thời gian." Arthur Schopenhauer – một Schopenhauer nồng nhiệt và sáng suốt – đưa ra lý do: sự trực tiếp thuần túy thuộc về thể xác mà loài vật sinh sống, không hề bận tâm đến cái chết và ký ức. Sau đó ông nói thêm, không giấu nổi một nụ cười: Bất cứ ai nghe tôi quả quyết rằng con mèo xám đang chơi đùa ngoài sân lúc này chính là con mèo từng nhảy nhót và làm trò ở đó năm trăm năm trước sẽ nghĩ bất cứ điều gì họ thích về tôi, nhưng sẽ là một dạng điên rồ kỳ lạ hơn nếu hình dung rằng con mèo ngày nay về cơ bản là một con mèo hoàn toàn khác. ** Jorge Luis Borges, trong "A History of Eternity", dịch trong ''Selected Non-Fictions'' Tập 1 (1999), Eliot Weinberger chủ biên * Vào phần sau của mùa hè năm ấy [1817], lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông. Chúng tôi được giới thiệu với nhau trên đường Hampstead.... ...trong cuộc gặp gỡ kéo dài một phút ấy, tự đáy lòng tôi đã khao khát được làm quen, nếu không muốn nói là làm bạn với ông... Ông có vóc dáng nhỏ bé, cân đối, thân hình gọn gàng, và tuy gầy nhưng khá săn chắc; – một trong số nhiều người chứng minh rằng khí phách nam nhi khác biệt với chiều cao và thể xác vạm vỡ. '''Không có ma thuật nào sánh bằng một gương mặt chân thành, và tôi chưa từng thấy gương mặt của sinh linh nào chân thành như của ông.''' Đôi mắt to đẹp của ông ánh lên vẻ trí tuệ rạng rỡ, và ngời sáng (vào thời điểm đó!) niềm hy vọng cùng niềm vui. Người ta từng nhận xét rằng nét khiếm khuyết nhất là khuôn miệng của ông; và đôi khi đúng là như vậy. Nhưng bất cứ khi nào ông cất lời, hoặc hào hứng về điều gì, biểu cảm của làn môi lại biến đổi và tinh tế đến mức có thể gọi là khôi ngô. ** Charles Armitage Brown, ''Life of John Keats'', tr. 44 * '''Một chàng trai trẻ rất kỳ lạ, nhưng tính tình hòa nhã, tốt bụng, và thực sự rất thông minh.''' ** Bà Maria Dilke, dẫn trong ‘Papers of a Critic’, Sir Charles Dilke, I, tr. 8 * Tôi cũng thích các nhà thơ Lãng mạn. Wordsworth, Keats, Burns và Blake là một vài trong số những tác giả yêu thích của tôi. Có điều gì đó trong tinh thần nổi loạn của họ chống lại những tệ nạn của quá trình công nghiệp hóa đã làm tôi xúc động. Dĩ nhiên giờ đây, một phần sự bi quan, chủ nghĩa thần bí và nhãn quan hiện thực phê phán hạn hẹp của họ khiến tôi cảm thấy khá khó chịu. ** Micere Githae Mugo, trong ''Talking with African Writers'', Jane Wilkinson chủ biên * '''Thời thơ ấu Keats chẳng hề gắn bó với sách vở. Sở thích của cậu là đánh nhau. Cậu sẵn sàng đấm nhau với bất kỳ ai – sáng, trưa và tối, kể cả với em trai mình. Đó là cơm ăn nước uống của cậu.''' Người họ hàng thủy thủ Jennings luôn ngự trị trong suy nghĩ của mấy anh em, và họ quyết tâm giữ vững danh tiếng dũng cảm của gia đình; George theo cách thụ động; John và Tom thì dữ dội hơn. Những người bạn thân của John rất ít; sau khi được biết đến là kẻ sẵn sàng ẩu đả, cậu dường như thích họ vì một thứ tính cách hài hước kệch cỡm và hề hước. Lúc này tôi nhớ lại niềm thích thú của cậu trước những cử chỉ và trò nghịch ngợm phi thường của một cậu bé tên Wade vốn nổi tiếng vì điều này.... Cậu là một đứa trẻ mà bất kỳ ai nhìn vào sự hoạt bát phi thường và vẻ đẹp ngoại hình đều có thể dễ dàng hình dung sẽ trở thành một vĩ nhân – nhưng là trong quân sự hơn là văn học. ** Edward Holmes, bạn học tại Trường Clarke ở Enfield * Cậu ấy được các bạn đồng môn gọi là 'Keats bé nhỏ', khi trưởng thành tối đa cũng không cao quá một mét rưỡi.... Trong phòng, cậu luôn đứng bên cửa sổ, nhìn đăm đăm vào không gian, đến mức chỗ ngồi bên cửa sổ được các bạn gọi là chỗ của Keats.... Trong giảng đường, cậu dường như ngồi tách biệt và mải mê với điều gì khác, như thể chủ đề bài giảng gợi cho cậu những suy nghĩ không liên quan thực tế đến nó. Cậu thường lúc thì nhập tâm, lúc thì lơ đễnh trôi dạt ra ngoài theo một cách mơ màng. <br />Cậu chưa từng đặt nhiều tầm quan trọng vào việc học y của mình, và thực sự coi nghề y là nghề để mưu sinh trong một thế giới bận rộn, mà không chắc liệu mình có thể chịu đựng nổi áp lực của nó hay không. Tuy nhiên, cậu có ý thức về năng lực của chính mình, và thậm chí về sự vĩ đại của mình, dẫu nó có thể không bao giờ được công nhận.... '''Thi ca trong tâm trí cậu là đỉnh cao của mọi khát vọng: điều duy nhất xứng đáng với sự chú ý của những bộ óc siêu việt: cậu nghĩ như vậy: mọi mưu cầu khác đều tầm thường và tẻ nhạt.''' Cậu không có khái niệm nào về danh vọng hay sự vĩ đại ngoại trừ việc nó gắn liền với sự theo đuổi thi ca, hoặc việc đạt tới sự xuất sắc trong thơ ca.... Cậu có phong thái lịch thiệp và khi hạ mình nói về các chủ đề khác, cậu tỏ ra dễ mến và thông minh. Cậu tiếp thu rất nhanh và nhạy bén khi chọn chú tâm vào bất kỳ chủ đề nào. Cậu là một người điềm tĩnh, trầm lặng và cư xử đúng mực, không bao giờ hướng tới những thú vui thấp hèn hay đồi bại. ** Henry Stephens, bạn học tại Bệnh viện Guy * Ông thấp hơn chiều cao trung bình; phần chi dưới nhỏ nhắn so với phần thân trên, nhưng gọn gàng và cân đối. Vai ông rất rộng so với tầm vóc; ông có một gương mặt nơi năng lượng và sự nhạy cảm hòa quyện một cách đáng kinh ngạc, một sức mạnh hăm hở bị kìm hãm và nhẫn nại bởi bệnh tật. Từng đường nét vừa sắc sảo rõ ràng lại vừa sống động tinh tế. Nếu có nét biểu cảm nào khiếm khuyết thì đó là ở khuôn miệng, nơi phảng phất đôi chút tính hiếu chiến... Đầu ông là một câu đố kỳ lạ đối với các nhà nhân tướng học, với hộp sọ nhỏ khác thường; một nét kỳ dị mà ông có điểm chung với Lãnh chúa Byron và ông Shelley, không chiếc mũ nào của họ mà tôi có thể đội vừa. ** Leigh Hunt, "Mr. Keats" * Và anh không nhớ chuyện Keats từng đề nghị nâng ly 'Chúc cho ký ức về Newton bị đảo lộn' và khi anh nài nỉ đòi giải thích trước khi uống, ông ấy đã nói: 'Bởi vì ông ta đã phá hủy chất thơ của chiếc cầu vồng khi quy nó về một lăng kính'? Ôi, người bạn già thân mến của tôi, anh và tôi sẽ chẳng bao giờ còn thấy lại những ngày tháng như thế nữa! ** Benjamin Haydon, Hồi ký và Tự truyện * Tôi nhớ... lần đầu tiên ông được giới thiệu với ông Haydon; và khi trong cuộc trò chuyện, người nghệ sĩ vĩ đại ấy hỏi ông "liệu ông có yêu đất nước mình không", máu đã dồn lên má và nước mắt trào ra nơi khóe mắt ông trước câu trả lời đầy nhiệt huyết. '''Tình yêu tự do của ông thật nồng nàn và cao cả.''' ** Charles Cowden Clarke, bài viết trên tờ ''Morning Chronicle'' (27 tháng 7 năm 1821) * Cậu ấy đang chăm chỉ học tập, ôn lại tiếng Latinh, chuẩn bị học tiếng Hy Lạp, và dường như nhìn chung có lý trí hơn bình thường – nhưng '''cậu ấy là một kẻ bốc đồng thất thường, không thể trông cậy được nhiều. Song cậu ấy chẳng nghĩ tới điều gì ngoài thi ca như mục đích và cùng đích của đời mình, và rồi lúc này hay lúc khác, tôi không nghi ngờ rằng cậu ấy sẽ làm nên điều gì đó có giá trị.''' ** James Augustus Hessey gửi John Taylor (16 tháng 9 năm 1818), dẫn lại bởi Edmund Blunden trong ''Keats's Publisher'', tr. 56 * Người đã khuất là một trong những người bạn ân cần nhất mà tôi từng có, ấy vậy mà có lẽ ông đối với tôi cũng chẳng ân cần hơn đối với những người khác. Trí tuệ mãnh liệt và cảm xúc mạnh mẽ của ông, tôi thực sự tin rằng, lẽ ra đã cống hiến được điều gì đó cho đời nếu cuộc đời dung tha cho ông – nhưng ông mang bản tính quá đỗi nhạy cảm – và vì thế ông đã bị hủy hoại! ** John Hamilton Reynolds * [Keats] chính là linh hồn của lòng dũng cảm và khí phách trượng phu, và giống như ''Đức Thánh Linh'' nhiều ngang như ''chú nhóc Johnny Keats''. ** George Keats * Khi có người bày tỏ sự kinh ngạc với Shelley rằng Keats, người vốn không thông thạo tiếng Hy Lạp, lại có thể viết một cách tao nhã và chuẩn mực cổ điển về các vị thần và nữ thần của họ đến thế, Shelley đã đáp: “Anh ấy ''chính là'' một người Hy Lạp.” ** Richard H. Horne, ''A New Spirit of the Age'' (1844) * hãy nghĩ xem: những vần thơ đã gắn chặt cảnh quan này: Blake, Donne, Keats ** Tuyển tập thơ của Muriel Rukeyser * Với Wordsworth, cõi chết thường ẩn hiện ngay dưới bề mặt, và với Keats cũng vậy, một đứa con khác của thời đại mình, người tin rằng – chịu ảnh hưởng từ {{w:Thời kỳ Khai sáng}} – chúng ta là những thực thể vật chất trong một vũ trụ vật chất và ta buộc phải chấp nhận số phận đó. Chúng ta phải chết, nhưng không có bờ vai thần thánh nào để tựa vào, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được những chân lý sâu xa nhất, những điều mà trái ngược với mọi tuyên bố của Thời kỳ Khai sáng, cả lý trí lẫn khoa học đều không thể chạm tới. Keats mang một nhãn quan bi kịch về cuộc đời. Ông rõ ràng là một người thuộc {{w:Chủ nghĩa lãng mạn}}; chẳng có Miền đất hứa Khai sáng nào chờ đợi ông cả. ** Brian L. Silver, ''The Ascent of Science'' (1998) * Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu chỉ là một người mà văn bia của Keats mô tả: “Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.” ** Rebecca Solnit, phỏng vấn trên tạp chí New York Times (2018) * Tôi dành một tình yêu trọn đời cho John Keats, nhà thơ vĩ đại nhất trong số các nhà thơ Lãng mạn Anh sống vào thế kỷ thứ mười chín. Khả năng kỳ diệu trong việc tạo ra cái đẹp bằng ngôn từ của ông đã chạm thấu tâm hồn tôi. Tôi vẫn còn rất trẻ khi đọc bức thư Keats gửi cho em trai mình năm 1817. Trong đó, ông viết về "năng lực tiêu cực", điều mà ông giải thích là phẩm chất "khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ." Tôi bị cuốn hút bởi ý tưởng này vì rất nhiều điều tôi từng trải qua khi còn là một đứa trẻ, thiếu niên và chàng trai trẻ dường như đều bị bao phủ trong bức màn huyền bí. ** Cornel West, ''Brother West: Living and Loving Out Loud, A Memoir'' (2009) == Xem thêm == * {{w|Văn học lãng mạn}} * {{w|Percy Bysshe Shelley}} * {{w|Lord Byron}} * {{w|William Wordsworth}} == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} * [http://bartleby.com/126/ Toàn tập tác phẩm thi ca] * [http://www.john-keats.com/ John Keats.com] * [http://englishhistory.net/keats/contents.html Cuộc đời và tác phẩm của John Keats] * [http://keatsian.com/ Keatsian.com] [[Thể loại:Sinh năm 1795]] [[Thể loại:Mất năm 1821]] [[Thể loại:Nhà thơ Anh]] pd8k96iieedubfchtvvwouqw7s8bqqq 63747 63710 2026-10-08T10:37:00Z Mai Thanh Bang 3613 /* Xem thêm */ 63747 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:John Keats by William Hilton.jpg|nhỏ|phải|Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong chính con người mình; nó không thể chín muồi bằng luật lệ và huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân.]] '''{{w|John Keats}}''' (31 tháng 10 năm 1795 – 23 tháng 2 năm 1821) là một trong những nhà thơ kiệt xuất nhất của phong trào {{w|Chủ nghĩa lãng mạn|lãng mạn}} Anh. == Danh ngôn == [[Tập tin:John keats.jpg|nhỏ|phải|Từng đỉnh cao và dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh.]] * Ngọt ngào xiết bao những thú vui thuộc về thơ ca,<br />Và ngọt ngào gấp bội tình huynh đệ trong câu hát. ** "To George Felton Mathew" (tháng 11 năm 1815) * '''Tâm hồn ta quá đỗi yếu mềm – sự phù sinh<br />Đè nặng lên ta tựa giấc ngủ chẳng hề mong muốn''',<br />Và từng đỉnh cao cùng dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh. ** "On Seeing the Elgin Marbles|On Seeing the Elgin Marbles" (1817) * Giữa tháng Chạp đêm dài u tối,<br />Hỡi cái cây quá đỗi hạnh phúc kia,<br />Cành lá ngươi chẳng hề vương vấn<br />Niềm hoan lạc xanh tươi thuở nào. ** "In drear-nighted December", khổ 1 (1817) * Nhưng liệu đã từng có ai<br />Chẳng quằn quại trước niềm vui đã mất?<br />Cái cảm giác không còn cảm thấy,<br />Khi chẳng có điều chi hàn gắn,<br />Cũng không có giác quan tê dại để tôi rèn,<br />Chưa từng được cất lên thành vần điệu. ** "Stanzas", khổ 3 * Biển cất tiếng thì thầm muôn thuở quanh<br />Những bờ hoang vắng, và với ngọn triều cuộn dâng dũng mãnh<br />Nó vỗ ngập hai vạn hang sâu, cho tới khi phép thuật<br />Của Hecate trả lại cho chúng âm vang mờ ảo xưa cũ. ** "On the Sea" (1817) [[Tập tin:John Keats by Benjamin Robert Haydon.jpg|nhỏ|phải|Nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.]] * Khi ta lo sợ mình sẽ lìa đời<br />Trước lúc ngòi bút kịp gặt hái bộ não đang trào dâng ý niệm,<br />Trước khi những trang sách chất cao, bằng chữ nghĩa,<br />Chứa đựng tựa vựa lúa đầy hạt mẩy chín vàng;<br />Khi ta chiêm ngưỡng, trên gương mặt ngàn sao của màn đêm,<br />Những biểu tượng mây mờ kỳ vĩ của cõi diễm tình cao thượng,<br />Và nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ sống để lần theo<br />Bóng hình chúng bằng bàn tay nhiệm màu của cơ duyên;<br />Và khi ta cảm thấy, hỡi tạo vật kiều diễm của một thoáng giây!<br />Rằng ta sẽ không bao giờ được nhìn ngắm nàng thêm nữa,<br />Chẳng bao giờ còn được tận hưởng năng lực diệu kỳ<br />Của tình yêu thuần khiết vô tư! – '''thế rồi nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.''' ** "When I have fears that I may cease to be" (1817) * '''Chớ rơi lệ! Ôi đừng rơi lệ!<br />Đóa hoa kia sẽ nở lại vào năm sau.'''<br />Thôi đừng khóc! Ôi đừng khóc nữa!<br />Nụ non đang say ngủ nơi lõi trắng của cội rễ. ** "Faery Songs", I (1818) * Bàn tay sống động này, giờ đây ấm áp và đủ sức<br />Nắm chặt ân cần, nếu một mai lạnh ngắt<br />Trong cõi tĩnh lặng băng giá của nấm mồ,<br />Sẽ ám ảnh chuỗi ngày của em và làm tê buốt những đêm mơ<br />Đến mức em ước gì tim mình cạn máu<br />Để dòng đời đỏ thắm lại tuôn chảy trong huyết quản của anh,<br />Và lương tâm em được xoa dịu – nhìn xem này –<br />Anh đang chìa nó về phía em. ** "This living hand" (1819) * Hỡi vì sao sáng! Ước gì ta kiên định như người –<br />Chẳng phải treo lơ lửng giữa trời đêm trong vẻ tráng lệ cô đơn<br />Và dõi mắt trông với hàng mi muôn đời hé mở,<br />Tựa ẩn sĩ kiên nhẫn, thức thâu đêm của thiên nhiên,<br />Ngắm làn nước dạt dào thực hiện sứ mệnh tựa linh mục<br />Thanh tẩy thuần khiết quanh bờ cõi trần gian. ** "Bright star, would I were stedfast as thou art" (1819) * Không ai có thể chiếm đoạt đỉnh cao này...<br />Ngoại trừ những kẻ xem nỗi khốn cùng của thế gian<br />Chính là nỗi khốn cùng của mình, và điều đó không để họ được yên nghỉ. ** "The Fall of Hyperion: A Dream" (1819), Khúc I, dòng 147 * Ngày đã tàn, và mọi điều ngọt ngào cũng tan biến!<br />Giọng nói dịu dàng, làn môi êm ái, bàn tay mềm mại, và khuôn ngực càng êm ái hơn. ** Sonnet "The Day is Gone" (sáng tác 1819; xuất bản 1848) * Trước nhãn quan thi sĩ<br />Lớp vỏ của vạn vật tự nhiên mở toang<br />Tới tận cội lõi; và từng tinh túy thầm kín nơi đó<br />Đều hé lộ những yếu tố của cái thiện và cái mỹ;<br />Khiến người thấy được điều mà Học vấn chẳng rọi tới nguồn sáng nào. ** "The Poet", ''London Magazine'' (tháng 10 năm 1821) [[Tập tin:John Keats Tombstone in Rome 01.jpg|nhỏ|Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.]] * '''Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.''' ** Văn bia tự viết cho chính mình (1821) * Rương sách của tôi hãy chia đều cho những người bạn. ** Di chúc (1821) === Thư từ (1817–1820) === * Tôi không chắc chắn về điều gì ngoại trừ sự thiêng liêng của những rung cảm nơi con tim và chân lý của trí tưởng tượng – điều mà trí tưởng tượng nắm bắt như cái đẹp thì ắt phải là chân lý – bất kể nó từng tồn tại trước đó hay chưa. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Trí tưởng tượng có thể ví như giấc mơ của Adam – ông thức giấc và thấy đó là hiện thực. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Ôi, ước gì có được một cuộc đời ngập tràn Cảm giác hơn là đầy ắp Tư tưởng! ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Tôi khó lòng nhớ được việc mình từng trông đợi vào hạnh phúc – tôi không tìm kiếm nó nếu nó chẳng nằm trong hiện tại – chẳng điều gì làm tôi kinh ngạc vượt ngoài khoảnh khắc này. Mặt trời lặn sẽ luôn đưa tôi về trạng thái cân bằng, hoặc nếu một cánh chim sẻ bay đến đậu trước cửa sổ, tôi dự phần vào sự tồn tại của nó và cùng nhặt nhạnh quanh đám sỏi. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Sự xuất sắc của mọi nghệ thuật nằm ở cường độ của nó, có khả năng làm bốc hơi mọi điều khó chịu, bởi chúng gắn bó mật thiết với vẻ đẹp và chân lý. ** Gửi G. và F. Keats (21 tháng 12 năm 1817) * Bất chợt tôi nhận ra phẩm chất làm nên một con người thành tựu, đặc biệt trong văn học, và là điều Shakespeare sở hữu ở mức độ phi thường – ý tôi là ''năng lực tiêu cực'' (negative capability), tức là khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ. ** Gửi George và Thomas Keats (22 tháng 12 năm 1817) * Chúng sẽ tự giải thích cho chính mình – như mọi bài thơ đều nên làm mà chẳng cần tới bất kỳ lời bình giải nào. ** Gửi George Keats (1818) * Các tác phẩm thiên tài là những điều đứng hàng đầu trên thế gian này. ** Gửi G. và F. Keats (13 tháng 1 năm 1818) * Chẳng có gì tốt hơn cho mục đích tạo ra các trước tác vĩ đại bằng sự chín muồi dần dần của các năng lực trí tuệ. ** Gửi em trai George Keats (23 tháng 1 năm 1818) * '''Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một điều gì đó đi sâu vào tâm hồn con người, không làm nó giật mình hay sửng sốt bởi chính bản thân bài thơ, mà bởi chủ đề của nó.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * Chúng ta ghét thứ thơ ca có mưu toan lộ liễu nhắm vào mình – và nếu ta không đồng thuận, nó dường như đút tay vào túi quần quay đi. Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một thứ bước vào tâm hồn, không làm người ta giật mình hay choáng ngợp bởi chính hình thức của nó, mà bởi điều nó chuyển tải. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * '''Nhiều người sở hữu tâm trí độc đáo mà không hề hay biết – họ bị thói quen dẫn dụ đi lạc – Giờ đây đối với tôi, dường như bất kỳ ai cũng có thể như loài nhện, tự rút từ nội tâm mình ra tòa thành quách của riêng mình.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (19 tháng 2 năm 1818) [[Tập tin:John Keats, portrait by Joseph Severn.jpg|nhỏ|Nếu [[thơ ca]] không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn.]] * Trong Thi ca tôi có một vài định đề, và bạn sẽ thấy tôi còn cách xa tâm điểm của chúng dường nào. Tôi nghĩ Thơ ca nên gây ngạc nhiên bằng sự dồi dào tinh tế chứ không phải bằng sự lập dị kỳ quặc – nó phải tác động tới độc giả như cách diễn đạt những suy nghĩ cao quý nhất của chính họ, và hiện lên gần như một miền hồi ức – Những nét chấm phá của Cái đẹp không bao giờ được dừng ở nửa chừng khiến độc giả hụt hơi thay vì thỏa nguyện: sự khởi phát, diễn tiến, và lắng đọng của hình ảnh phải đến tự nhiên với họ như vầng Thái dương – chiếu rọi và lặn xuống bình dị dù trong vẻ huy hoàng, để họ lại trong sự êm đềm của ánh hoàng hôn – nhưng nghĩ xem Thơ ca nên là gì thì dễ hơn viết ra nó nhiều – và điều này dẫn tôi tới một định đề khác: Rằng nếu Thơ ca không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn. ** Gửi John Taylor (27 tháng 2 năm 1818) * Cảnh sắc thật tuyệt mỹ – nhưng bản tính con người còn tuyệt mỹ hơn. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Mọi sự theo đuổi tinh thần đều nhận lấy tính hiện thực và giá trị từ lòng nhiệt thành của người theo đuổi. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Các định đề trong triết học không phải là định đề cho đến khi chúng được kiểm chứng qua từng nhịp đập nơi mạch máu của chúng ta: ta đọc những điều hay nhưng chẳng bao giờ cảm nhận trọn vẹn cho tới khi đã trải qua những bước đi hệt như tác giả. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi so sánh đời người với một dinh thự lớn có nhiều gian phòng, trong đó tôi mới chỉ có thể mô tả được hai gian, những cánh cửa của các phòng còn lại hiện vẫn đóng chặt trước mắt tôi. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi chắc chắn rằng mình không có cảm nhận đúng mực về phụ nữ – lúc này tôi đang nỗ lực đối xử công bằng với họ, nhưng không thể. Phải chăng bởi họ cách quá xa trí tưởng tượng thời niên thiếu của tôi? Khi còn là cậu học trò, tôi ngỡ người phụ nữ đẹp là Nữ thần thuần khiết; tâm trí tôi là tổ ấm êm đềm nơi một người trong số họ ngả lưng say ngủ, dẫu nàng chẳng hề hay biết. ** Gửi Benjamin Bailey (18 tháng 7 năm 1818) * Có một sự ấm áp thiêng liêng quanh trái tim tôi tựa hồ gánh nặng của sự bất tử. ** Gửi John Hamilton Reynolds (22 tháng 9 năm 1818) * Tôi bắt đầu thấu hiểu đôi chút về sức mạnh và điểm yếu của chính mình. Lời khen hay tiếng chê chỉ có tác động thoáng qua đối với người mà tình yêu cái đẹp trừu tượng đã biến anh ta thành kẻ phê bình khắt khe nhất đối với chính tác phẩm của mình. ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi từng viết một cách độc lập ''khi chưa có sự phán xét''. Về sau tôi có thể viết một cách độc lập, và ''kèm theo sự phán xét''. '''Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong một con người: Nó không thể chín muồi nhờ luật lệ hay huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân''' – Thứ gì mang tính sáng tạo phải tự tạo ra chính nó – Trong Endymion, tôi đã lao đầu xuống biển, và nhờ đó hiểu rõ hơn về các phép dò độ sâu, bãi cát lún và rạn đá ngầm, hơn là cứ quanh quẩn trên bờ cỏ xanh, thổi chiếc sáo ngớ ngẩn, uống trà và đón nhận những lời khuyên dễ chịu. '''Tôi chưa bao giờ sợ thất bại; bởi tôi thà thất bại còn hơn không đứng vào hàng ngũ những người vĩ đại nhất.''' ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi nghĩ rằng sau khi qua đời, tôi sẽ có một chỗ đứng giữa những Nhà thơ Anh quốc. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 10 năm 1818) * '''Phẩm chất thi sĩ'''... không phải là chính nó – nó không có bản ngã riêng – nó là tất cả và không là gì cả – Nó không có cá tính – nó tận hưởng cả ánh sáng lẫn bóng tối; nó sống trong sự say mê tột cùng, dù thanh cao hay nhơ bẩn, cao sang hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó, hèn mọn hay tôn quý. – Nó tìm thấy niềm thích thú khi hoài thai một Iago cũng nhiều ngang như một Imogen. Điều làm triết gia đạo đức kinh sợ lại là niềm hân hoan của nhà thơ tắc kè hoa. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Nhà thơ là thực thể phi-thi-vị nhất trong vạn vật tồn tại; bởi vì người đó không có bản sắc cố định''' – anh ta liên tục truyền nhận – và lấp đầy một thân xác khác. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Cuộc đời của một con người có giá trị là một câu chuyện phúng dụ liên tục – và rất ít đôi mắt nhìn thấy được sự mầu nhiệm của đời sống''' – một cuộc đời tựa Kinh Thánh mang tính tượng trưng... Lãnh chúa Byron tạo ra một hình bóng nổi bật, nhưng ông ấy không mang tính tượng trưng. '''[[William Shakespeare|Shakespeare]] đã sống một cuộc đời phúng dụ: các tác phẩm của ông chính là những lời chú giải cho cuộc đời đó.''' ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * '''Chẳng điều gì trở nên có thực cho đến khi nó được trải nghiệm''' – Ngay cả một câu cách ngôn cũng chẳng là cách ngôn với bạn cho đến khi Đời bạn minh chứng cho nó. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * Bản thân tôi đang theo đuổi tiến trình bản năng hệt như sinh vật trần tục nhất mà bạn có thể nghĩ tới – dẫu còn trẻ, tôi đang viết trong ngẫu hứng – gồng mình tìm kiếm những hạt ánh sáng giữa bóng tối mịt mùng – mà chẳng hay biết sức nặng của bất kỳ khẳng định hay định kiến nào. Nhưng liệu trong điều này tôi có thể thoát khỏi tội lỗi chăng? ** Gửi George và Georgiana Keats (19 tháng 3 năm 1819) * Nếu bạn muốn, hãy gọi thế gian này là "Thung lũng tôi luyện linh hồn." ** Gửi George và Georgiana Keats (21 tháng 4 năm 1819) * Tôi có hai điều xa xỉ để trầm ngâm trong những chuyến dạo bước: vẻ kiều diễm của em và giờ phút lìa đời của tôi. Ôi ước gì tôi có thể sở hữu cả hai điều ấy trong cùng một phút giây. ** Gửi Fanny Brawne (25 tháng 7 năm 1819) * Tôi chẳng có gì để nói ngoại trừ về bản thân mình – và tôi có thể nói gì ngoài những gì tôi cảm nhận? ** Gửi John Hamilton Reynolds (24 tháng 8 năm 1819) * '''Một số người nghĩ tôi đã đánh mất ngọn lửa thi ca nồng nhiệt thuở nào – thực tế có lẽ đúng là vậy; nhưng bù lại, tôi hy vọng sẽ thay thế nó bằng một sức mạnh trầm tĩnh và sâu sắc hơn.''' ** Gửi George Keats (21 tháng 9 năm 1819) * Tôi từng kinh ngạc khi thấy người ta có thể tử vì đạo cho tôn giáo – tôi từng rùng mình vì điều đó – nhưng giờ không còn rùng mình nữa – tôi có thể tử đạo vì Tôn giáo của mình – Tình yêu là tôn giáo của tôi – tôi có thể chết vì điều đó – tôi có thể chết vì em. Giáo lý của tôi là Tình yêu và em là tín điều duy nhất. ** Gửi Fanny Brawne (13 tháng 10 năm 1820) * "Nếu phải chết," tôi tự nhủ, "ta chẳng để lại tác phẩm bất hủ nào – chẳng có gì để bạn bè tự hào về ký ức của ta – nhưng '''ta đã yêu nguyên lý của cái đẹp trong vạn vật, và nếu có thời gian, ta đã khiến người đời phải nhớ đến mình.'''" ** Gửi Fanny Brawne (khoảng tháng 2 năm 1820) * Em luôn luôn mới mẻ. Nụ hôn cuối cùng của em bao giờ cũng ngọt ngào nhất; nụ cười sau cùng luôn rạng rỡ nhất; cử chỉ sau cùng luôn duyên dáng nhất. ** Gửi Fanny Brawne (tháng 3 năm 1820) * Bạn có thể kiềm chế sự hào phóng của mình lại, để trở thành một nghệ sĩ đúng nghĩa hơn, và lấp đầy mọi kẽ hở của chủ đề bằng quặng quý. ** Gửi [[Percy Bysshe Shelley]] (tháng 8 năm 1820) * Tôi khó lòng nói lời từ biệt với anh, ngay cả trong một bức thư. Tôi luôn vụng về khi cúi chào. Cầu Chúa ban phúc cho anh! ** Gửi Charles Armitage Brown (30 tháng 11 năm 1820) === ''Poems'' (1817) === * Ta nhón chân đứng trên ngọn đồi nhỏ,<br />Không khí mát lành và tĩnh lặng xiết bao,<br />Đến nỗi những nụ hoa e ấp khiêm nhường<br />Nghiêng nghiêng rủ xuống theo đường cong thoai thoải,<br />Thân mảnh khảnh, lơ thơ đôi nhánh lá,<br />Vẫn chưa làm rơi những vương miện ngàn sao<br />Đón lấy từ tiếng thổn thức ban mai. ** "I Stood Tiptoe", dòng 1 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và rồi len lỏi khẽ khàng<br />Một thanh âm không tiếng động giữa vòm lá xôn xao,<br />Sinh ra từ chính tiếng thở dài mà tĩnh lặng trút ra. ** "I Stood Tiptoe", dòng 10 * Hãy mở toang lần nữa vòng cánh hoa ngàn sao,<br />Hỡi những bông cúc vạn thọ nồng nàn! ** "I Stood Tiptoe", dòng 47 * Kìa, bạn có thể đọc xong hai bài sonnet, trước khi chúng bơi tới<br />Nơi dòng nước mát lành hối hả luôn cất lời giảng giải<br />Một bài thuyết pháp tự nhiên qua những đáy sỏi gập ghềnh;<br />'''Nơi bầy cá nhỏ nhô những cái đầu bé xíu,<br />Giữ thân mình lượn sóng ngược dòng trôi''',<br />Để nếm trải cảm giác xa hoa của những tia nắng ấm<br />Được xoa dịu bởi làn nước mát lành. ** "I Stood Tiptoe", dòng 72 * Đôi khi những chú chim sẻ vàng sà xuống từng con một<br />Từ những cành cây la đà thấp thoáng; chỉ dừng lại một thoáng giây;<br />Nhấp chút nước, ríu rít, rỉa mượt bộ lông mềm;<br />Rồi vụt bay đi ngay, như trong cơn bốc đồng nghịch ngợm:<br />Hoặc có lẽ để khoe đôi cánh đen điểm ánh vàng<br />Chao lượn ngập ngừng trong sắc vàng óng ả. ** "I Stood Tiptoe", dòng 87 * Chẳng có gì ngoài tiếng thở dài êm dịu của làn gió<br />Dọc theo dòng suối đầy lau sậy; một giai điệu vẳng nghe mờ nhạt,<br />Tràn ngập nỗi tiêu điều ngọt ngào – niềm đau dịu dàng. ** "I Stood Tip-toe" * Hỡi phụ nữ! Khi ta thấy nàng nông nổi, phù phiếm,<br />Thất thường, trẻ con, kiêu kỳ và đầy rẫy những đỏng đảnh. ** "When I Behold Thee Flippant, Vain", khổ 1 * Với kẻ đã bị giam hãm quá lâu chốn thị thành,<br />Thật ngọt ngào biết bao khi được ngắm nhìn gương mặt thanh tú<br />Và rộng mở của bầu trời. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * Tựa hồ như giọt nước mắt thiên thần rơi xuống<br />Lướt qua tầng không trong vắt giữa thinh lặng. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * '''Ta đã chu du nhiều nơi trong cõi hoàng kim,<br />Từng thấy biết bao vương quốc và lãnh địa tráng lệ;<br />Đã từng qua nhiều hải đảo phía tây<br />Nơi các thi sĩ giữ lòng trung thành với thần Apollo.'''<br />Thường nghe kể về một miền rộng lớn bao la<br />Mà thi hào Homer trán rộng cai quản tựa lãnh địa của mình,<br />Song ta chưa từng hít thở bầu thanh khí thuần khiết ấy<br />Cho tới khi nghe Chapman cất tiếng sang sảng và can trường:<br />'''Khi ấy ta cảm thấy mình như kẻ dõi mắt ngắm bầu trời<br />Lúc một hành tinh mới bơi vào tầm ngắm;<br />Hoặc như Cortez quả cảm khi với đôi mắt chim ưng<br />Ông nhìn đăm đăm ra Thái Bình Dương, và toàn thể thuộc hạ<br />Nhìn nhau với nỗi hoài nghi hoang dại,<br />Lặng câm, trên đỉnh núi chót vót ở Darien.''' ** "On First Looking into Chapman's Homer" * Và những tâm hồn khác đang đứng riêng biệt<br />Nơi vầng trán của thời đại tương lai;<br />Họ, chính họ sẽ ban cho thế gian một trái tim khác,<br />Và những nhịp đập khác. Các ngươi không nghe thấy tiếng rì rầm<br />Của những chuyển dịch vĩ đại nơi thương trường xa xôi ư?<br />Hãy lắng nghe trong giây lát hỡi các dân tộc, và hãy lặng im. ** "Sonnet. Addressed to the Same" (Benjamin Robert Haydon) * Thi ca của đất trời chẳng bao giờ lụi tàn. ** "Sonnet. On the Grasshopper and the Cricket" * Hãy dừng lại và ngẫm suy! Cuộc đời chỉ tựa một ngày;<br />Một giọt sương mong manh trên hành trình hiểm trở<br />Rơi từ ngọn cây cao. ** "Sleep and Poetry", khổ 5 * Ôi ước gì có được mười năm, để ta có thể đắm chìm<br />Bản thân vào thi ca; ngõ hầu ta thực hiện được kỳ tích<br />Mà chính tâm hồn ta đã tự định đoạt cho mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 6 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một cơn mưa ánh sáng<br />Bất tận chính là thi ca; đó là quyền năng tối thượng;<br />Là sức mạnh tựa nửa say ngủ trên cánh tay phải của chính mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Nhưng sức mạnh đơn độc dẫu sinh ra từ các Nàng Thơ<br />Cũng tựa như thiên thần sa ngã: những thân cây bật gốc,<br />Bóng tối, sâu bọ, vải liệm và mồ mả<br />Lại làm nó thích thú; bởi nó nuôi mình bằng những gai góc,<br />Và chông gai của cuộc đời; quên mất mục đích lớn lao<br />Của thi ca, là phải trở thành người bạn<br />Xoa dịu những âu lo và nâng đỡ tâm tư con người. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Cuộc trò chuyện ngọt ngào của một tâm hồn thơ ngây. ** Sonnet: "Solitude" === ''{{w|Endymion (thơ)|Endymion}}'' (1818) === [[Tập tin:Endymion.JPG|nhỏ|Một điều [[cái đẹp|xinh đẹp]] là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không.]] [[Tập tin:Girodet - Sommeil Endymion.jpg|nhỏ|Ôi [[giấc ngủ]] diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng!]] * '''Chẳng có địa ngục nào khốc liệt hơn sự thất bại trong một mục tiêu vĩ đại.''' ** Lời tựa * Trí tưởng tượng của một cậu bé thì lành mạnh, và trí tưởng tượng chín chắn của một người đàn ông cũng lành mạnh; nhưng có một khoảng đời ở giữa, khi tâm hồn đang lên men, tính cách chưa định hình, lối sống còn bấp bênh, tham vọng còn mờ mịt: từ đó nảy sinh sự ủy mị, cùng hàng ngàn vị đắng cay mà những người tôi nói tới ắt phải nếm trải khi lật qua những trang sau. ** Lời tựa * '''Một điều xinh đẹp là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không'''; mà vẫn luôn giữ cho ta<br />Một chòi lá thanh bình, và một giấc nồng<br />Đầy những giấc mơ êm ái, sức khỏe và hơi thở an yên. ** Quyển I, dòng 1 * '''Bất chấp tất cả,<br />Một hình bóng của cái đẹp sẽ xua tan tấm màn che<br />Khỏi tâm hồn u tối của chúng ta.''' ** Quyển I, dòng 11 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vẻ bi tráng của định mệnh<br />Mà chúng ta tưởng tượng về những người đã khuất lẫy lừng;<br />Mọi câu chuyện đáng yêu ta từng nghe hay đọc:<br />Là dòng suối bất tận của thức uống trường sinh,<br />Rót xuống chúng ta từ bờ cõi thiên đường. ** Quyển I, dòng 20 * Ta đâu chỉ cảm nhận những tinh túy ấy<br />Trong một giờ ngắn ngủi; không, cũng như những hàng cây<br />Thì thầm quanh ngôi đền sẽ sớm trở nên<br />Thân thương như chính ngôi đền, vầng trăng cũng vậy,<br />Niềm đam mê thi ca, những vinh quang vô tận,<br />Ám ảnh ta cho đến khi chúng trở thành nguồn sáng reo vui<br />Chiếu rọi tâm hồn, và gắn kết với ta chặt chẽ,<br />Đến mức, '''dù trời rạng rỡ hay u ám mây mờ,<br />Chúng luôn phải ở bên ta, bằng không ta sẽ chết.''' ** Quyển I, dòng 25 * Ôi giấc ngủ diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng! ** Quyển I, dòng 453 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thời gian, bà vú già nua ấy,<br />Đã ru ta vào sự nhẫn nại. ** Quyển I, dòng 705 * '''Hạnh phúc nằm ở đâu? Nằm ở điều vẫy gọi<br />Tâm trí sẵn sàng của ta bước vào mối giao hảo thần thánh,<br />Mối giao cảm với bản thể; cho đến khi ta tỏa sáng,<br />Được biến đổi hoàn toàn, và tự do ngoài không gian. Kìa trông<br />Tín ngưỡng quang đãng của cõi trời!''' ** Quyển I, dòng 777 * '''Những bóng ma của lời tiên tri du dương gào thét<br />Quanh mọi dấu chân nơi Apollo từng bước qua''';<br />Những chiếc tù và đồng thức giấc, và khẽ vang lên,<br />Nơi xưa kia từng diễn ra trận chiến khổng lồ;<br />Và, từ thảm cỏ, một khúc hát ru lướt qua<br />Khắp mọi nơi Orpheus thuở ấu thơ từng yên giấc.<br />'''Ta có cảm nhận được những điều này chăng? – khoảnh khắc đó ta đã bước<br />Vào một trạng thái duy nhất, và tâm thế của ta<br />Tựa hồ một linh hồn đang trôi nổi.''' Nhưng còn có<br />Những vướng bận phong phú hơn, những say mê<br />Tự hủy diệt hơn nhiều, từng bước dẫn lối<br />Tới cường độ tột đỉnh: '''chiếc vương miện của những điều này<br />Được kết bằng tình yêu và tình bạn, ngự trị uy nghi<br />Trên vầng trán của nhân loại.''' ** Quyển I, dòng 789 * Tâm hồn không ngơi nghỉ của ta chẳng bao giờ chịu đựng nổi<br />Việc chìm đắm quá lâu vào một nỗi xa hoa duy nhất,<br />Trừ phi, dù trong âu lo, nó thoáng nhận ra<br />'''Một niềm hy vọng vượt lên trên bóng hình của một giấc mơ.''' ** Quyển I, dòng 854 * Khoái lạc thường chỉ là khách qua đường; nhưng nỗi đau<br />Lại bám riết lấy ta một cách tàn nhẫn. ** Quyển I, dòng 906 * '''Kẻ nào e sợ dấn bước theo<br />Nơi những tiếng nói hư không dẫn đường<br />Sẽ chẳng bao giờ được đội vương miện bất tử.''' ** Quyển II, dòng 211 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đó là tai ương<br />Của ái tình: những niềm vui đẹp đẽ nhất lại đem đến nhiều bất an nhất. ** Quyển II, dòng 365 * &nbsp;&nbsp; Với Nỗi Sầu Đau<br />&nbsp;&nbsp;Ta cất lời chào buổi sớm,<br />Tưởng rằng đã bỏ nàng lại phía sau xa xôi;<br />&nbsp;&nbsp;Nhưng vui vẻ thay, rạng rỡ thay,<br />&nbsp;&nbsp;Nàng yêu ta tha thiết;<br />Nàng son sắt với ta dường bao, và quá đỗi ân cần:<br />Ta toan dối lừa nàng<br />Và bỏ nàng ra đi,<br />Nhưng ôi! Nàng quá đỗi thủy chung và ân cần. ** Quyển IV, dòng 173 * Thật nhiều, thật nhiều, và hân hoan xiết bao. ** Quyển IV === ''{{w|La Belle Dame sans Merci}}'' (1819) === [[Tập tin:La Belle Dame Sans Merci, by John William Waterhouse, 1893, oil on canvas - Hessisches Landesmuseum Darmstadt - Darmstadt, Germany - DSC01228.jpg|nhỏ|Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang.]] * Ôi, điều gì làm chàng phiền muộn, hỡi hiệp sĩ mang giáp phục,<br />Đơn độc và tha thẩn với gương mặt nhợt nhạt?<br />Cỏ lác đã héo tàn nơi bờ hồ,<br />Và chẳng còn tiếng chim ca. ** Khổ I * Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang. ** Khổ IV * Ta kết cho nàng một vòng hoa cài đầu,<br />Cả những chuỗi vòng tay, và chiếc thắt lưng hương ngát;<br />Nàng nhìn ta tựa hồ trao trọn yêu thương,<br />Và khẽ buông tiếng than êm ái. ** Khổ V * Ta thấy những vị vua cùng hoàng tử tái nhợt,<br />Những chiến binh nhợt nhạt, tất cả đều mang sắc mặt tái mét như tử thi;<br />Họ gào thét: "La Belle Dame sans Merci<br />Đã giam cầm ngươi trong bùa mê!" ** Khổ X === ''Hyperion: Đoạn thơ dang dở'' (1819) === * Sâu trong nỗi u sầu râm mát của thung lũng<br />Chìm khuất xa khỏi hơi thở trong lành của ban mai,<br />Xa buổi trưa rực lửa, và ánh sao hôm lẻ loi,<br />Saturn tóc hoa râm ngồi đó, lặng lẽ như phiến đá,<br />Bất động tựa cõi tĩnh mịch vây quanh hang ổ của mình;<br />Rừng tiếp rừng trĩu nặng trên đầu ông<br />Như mây tầng mây. ** Quyển I, dòng 1 * Lời phán truyền uy nghiêm của những vị thần thuở sơ khai! ** Quyển I * Tựa như, trong đêm hè mê đắm,<br />Những vị nghị viên áo xanh của đại ngàn hùng vĩ,<br />Những cây sồi sừng sững, được những vì sao ân cần ru ngủ cành lá,<br />Mơ màng, và mơ màng suốt đêm chẳng hề lay động,<br />Ngoại trừ một luồng gió cô đơn thoảng qua<br />Chợt đến giữa thinh không rồi vụt tắt,<br />Như thể làn không khí thoái trào chỉ có một gợn sóng duy nhất. ** Quyển I, dòng 72 * Những ngày tháng thanh bình và tĩnh lặng êm đềm đã qua đi. ** Quyển II * '''Giờ đây nỗi đau của [[chân lý]] đã đến, với kẻ xem đó là nỗi đau;<br />Ôi điên rồ thay! Bởi gánh chịu mọi chân lý trần trụi,<br />Và điềm nhiên đối diện cảnh ngộ,<br />Đó mới là đỉnh cao của quyền uy tối thượng.''' Hãy ghi nhớ lấy. ** Quyển II, dòng 202 * Tri thức bao la biến ta thành một vị Thần. ** Quyển III, dòng 113 === ''Poems'' (1820) === * Còn về đôi mắt nàng: đôi mắt ấy có thể làm gì nơi đó<br />Ngoài tuôn rơi, tuôn rơi dòng lệ, vì sinh ra quá đỗi kiều diễm? ** "Lamia", Phần I, dòng 61 * Tình yêu trong túp lều tranh, với mẩu bánh mì và ngụm nước lã,<br />Chỉ là – Tình yêu ơi xin thứ tha! – tro tàn, xỉ rác, bụi mờ. ** "Lamia", Phần II, dòng 1 * Đã từng có một cầu vồng uy nghiêm ngự nơi thiên giới:<br />Chúng ta biết đường dệt, cấu trúc của nó; nó bị đưa vào<br />Danh mục tẻ nhạt của những vật tầm thường.<br />'''Triết học sẽ xén bớt đôi cánh của Thiên thần''',<br />Chinh phục mọi điều huyền bí bằng thước dây và quy tắc,<br />Làm trống rỗng bầu không khí ma mị, và những mỏ thần lùn –<br />Tháo gỡ một chiếc cầu vồng, như cách nó từng khiến<br />Nàng Lamia dịu dàng tan biến vào bóng hư vô. ** "Lamia", Phần II, dòng 229 [[Tập tin:William Holman Hunt - Isabella and the Pot of Basil, 1867.jpg|nhỏ|“Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.”]] * “Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.” ** "Isabella; or, The Pot of Basil", khổ 62 * Vậy hãy để ta làm dàn hợp xướng của nàng, và cất tiếng thở than<br />Trong những giờ khắc nửa đêm ** "Ode to Psyche", khổ 3 * Và nơi đó sẽ dành cho nàng mọi niềm hoan lạc êm dịu<br />Mà ý nghĩ mông lung có thể đạt tới,<br />Một ngọn đuốc sáng, và khung cửa sổ mở toang trong đêm,<br />Để đón Tình Yêu nồng ấm bước vào! ** "Ode to Psyche", khổ 5 * Cứ để Trí Tưởng Tượng mặc sức rong chơi,<br />Khoái lạc chẳng bao giờ chịu ở yên trong nhà. ** "Fancy", dòng 1 * Những thi sĩ của Đam mê và Hoan lạc,<br />Các người đã để lại linh hồn mình nơi trần thế!<br />Liệu các người có linh hồn nơi thiên đường chăng,<br />Sống cuộc đời nhân đôi ở những cõi giới mới mẻ? ** "Ode: The Fair Maid of the Inn" * Hỡi linh hồn của những Thi sĩ đã khuất bóng,<br />Cõi Elysium nào các người từng hay biết,<br />Cánh đồng hạnh phúc hay hang động phủ rêu phong,<br />Có tuyệt diệu hơn Quán trọ Nàng tiên cá? ** "Lines on the Mermaid Tavern", dòng 1–4 [[Tập tin:Autumn-slovakia.JPG|nhỏ|Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh.]] * '''Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh''';<br />Uốn cong những thân cây quanh mái nhà rêu phong bằng trĩu nặng táo thơm,<br />Và làm căng tràn mọi quả ngọt đến tận cội lõi;<br />Làm nứt đất ngầm, vỗ béo những hạt phỉ<br />Bằng nhân ngọt ngào; giục giã đâm chồi thêm nữa,<br />Thêm nữa những đóa hoa muộn màng cho bầy ong,<br />Cho tới khi chúng ngỡ những ngày ấm áp sẽ chẳng bao giờ ngưng nghỉ,<br />Bởi Mùa Hè đã rót tràn trề vào những tầng tổ dính sánh. ** To Autumn", khổ 1 * '''Ai từng chẳng thường thấy bóng ngươi giữa kho lúa của mình?'''<br />Đôi khi kẻ nào cất bước tìm kiếm có thể thấy<br />Ngươi ngồi thảnh thơi trên sàn kho thóc,<br />Mái tóc khẽ bay trong làn gió sảy;<br />Hoặc ngủ say sưa trên luống cày gặt dở,<br />Mê man trong hương thuốc phiện, khi lưỡi liềm của ngươi<br />Dung tha vạt lúa kế bên cùng muôn hoa đan cài. ** "To Autumn", khổ 2 * Rồi trong dàn đồng ca than vãn, bầy muỗi nhỏ cất tiếng sầu<br />Giữa rặng liễu ven sông, bay bổng lên cao<br />Hay chìm xuống theo từng hơi thở tàn hay sống của ngọn gió thoảng. ** "To Autumn", khổ 3 * '''Không, đừng, chớ tìm đến sông Lethe,''' cũng đừng vặn xoắn<br />Rễ cây phụ tử bám chặt, để chưng cất thứ rượu độc;<br />Cũng đừng để vầng trán nhợt nhạt của ngươi bị hôn lấy<br />Bởi hoa cà độc dược. ** "Ode on Melancholy", khổ 1 * Nhưng khi cơn u sầu chợt đổ ập xuống<br />Bất ngờ từ trời cao tựa đám mây tuôn lệ,<br />Nuôi dưỡng muôn hoa đang ủ rũ gục đầu,<br />Và giấu ngọn đồi xanh trong tấm khăn liệm tháng Tư;<br />Thì hãy thỏa mãn nỗi đau buồn của ngươi nơi đóa hồng sớm mai. ** "Ode on Melancholy", khổ 2 * Nàng ngự cùng Cái Đẹp – Cái Đẹp phải tàn phai;<br />Và Niềm Vui, kẻ luôn đặt tay lên môi<br />Để cất lời từ biệt; cùng Khoái Lạc nhức nhối cận kề,<br />Hóa thành độc dược ngay lúc miệng ong hút nhụy.<br />Phải, ngay trong đền thờ của Lạc Thú<br />Nàng U Sầu che mạng có thánh điện tối cao của mình,<br />Dẫu chẳng ai thấy ngoại trừ kẻ có chiếc lưỡi dũng mãnh<br />Dám nghiền nát trái nho Hoan Lạc nơi vòm họng tinh tế;<br />Linh hồn người đó sẽ nếm trải nỗi buồn từ quyền năng của nàng,<br />Và bị treo lơ lửng giữa những chiến tích mây mờ của nàng. ** "Ode on Melancholy", khổ 3 ==== ''The Eve of St. Agnes'' ==== * Đêm trước ngày Thánh Agnes – Ôi, buốt giá đắng cay làm sao!<br />Cú vọ, dù mang đủ lông vũ, vẫn run rẩy vì giá rét;<br />Thỏ rừng khập khiễng rụt rè bước qua thảm cỏ đóng băng,<br />Và bầy cừu im lìm cuộn mình trong chuồng len ấm. ** Khổ 1 * Giọng lưỡi hoàng kim của âm nhạc<br />Đã dỗ dành người đàn ông già nua nghèo khó này đến trào nước mắt. ** Khổ 3 * Tiếng kèn bạc gắt gỏng bắt đầu cất lời quở trách. ** Khổ 4 * Khúc nhạc khắc khoải tựa một vị Thần trong cơn đau đớn. ** Khổ 7 * Nàng thở dài mong ngóng những giấc mơ ngày lễ Agnes, giấc mơ ngọt ngào nhất trong năm. ** Khổ 7 * Say ngủ trong lòng những truyền thuyết xa xưa. ** Khổ 15 * Chợt một ý nghĩ hiện về tựa đóa hồng nở rộ,<br />Làm bừng đỏ vầng trán chàng, và trong trái tim đau đớn<br />Dấy lên một cơn bạo loạn sắc tía. ** Khổ 16 * Một sinh linh già yếu, bất lực, run rẩy nơi nghĩa địa. ** Khổ 18 * Như thể chú chim sơn ca không lưỡi cố phồng căng<br />Cuống họng trong vô vọng, rồi chết vì nghẹn thở nơi khe núi hẻo lánh. ** Khổ 23 * Trăng mùa đông chiếu rọi thẳng vào ô cửa sổ này,<br />'''Và hắt sắc đỏ ấm áp lên khuôn ngực trắng ngần của Madeline''',<br />Khi nàng quỳ gối cầu xin ân huệ và phước lành của thiên đường;<br />Sắc hồng rơi trên đôi bàn tay nàng đang chắp lại. ** Khổ 25 * Nàng tháo từng món trang sức ấm áp của mình;<br />Nới lỏng vạt áo ngực ngát hương; dần dà<br />Tấm xiêm y lộng lẫy trượt sột soạt xuống đầu gối nàng. ** Khổ 26 * Tựa như đóa hồng khép cánh lại để trở về làm nụ non. ** Khổ 27 * Và nàng vẫn chìm trong giấc ngủ mi mắt biếc xanh,<br />Trên tấm vải lanh trắng tinh, êm ái và thoang thoảng hương hoa oải hương. ** Khổ 30 * Cùng những thứ siro trong vắt, đượm hương quế. ** Khổ 30 * Chàng tấu lên một khúc dân ca cổ từ lâu đã im tiếng,<br />Xứ Provence gọi là "La belle dame sans mercy." ** Khổ 33 * Nàng vội vã theo lời chàng, lòng đầy sợ hãi,<br />Bởi quanh đây muôn loài rồng đang say ngủ,<br />Có lẽ đang trừng mắt canh chừng với những ngọn giáo sẵn sàng –<br />Họ lần tìm lối đi trong bóng tối bước xuống cầu thang rộng. –<br />Khắp ngôi nhà chẳng nghe thấy một tiếng động nhân gian.<br />Ngọn đèn treo dây xích chập chờn bên mỗi cánh cửa;<br />Tấm thảm thêu cảnh kỵ sĩ, chim ưng và chó săn,<br />Phấp phới trong tiếng gầm gào của cơn gió bủa vây;<br />'''Và những tấm thảm dài phập phồng dọc sàn nhà lộng gió.''' ** Khổ 40 * Và họ đã ra đi: phải, từ muôn vàn năm trước<br />Đôi tình nhân ấy đã trốn chạy vào cơn bão tố. ** Khổ 42 ==== ''Ode to a Nightingale'' ==== :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> [[Tập tin:W. J. Neatby - Keats - Nightingale.jpg|nhỏ|Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề.]] * Tim ta đau nhói, và cơn tê dại mơ màng làm buốt giá<br />Các giác quan, như thể ta vừa uống cạn chén độc cần,<br />Hay vừa nốc cạn liều thuốc phiện đắng ngắt<br />Chỉ một phút trước, rồi chìm dần về phía dòng sông Quên: <br />Chẳng phải vì ghen tị với số phận hạnh phúc của ngươi,<br />Mà bởi quá đỗi hân hoan trong niềm hạnh phúc của ngươi, –<br />Rằng ngươi, nàng Dryad cánh nhẹ của cây rừng,<br />Nơi vạt đất du dương<br />Của sắc xanh cây dẻ gai và bóng râm vô tận,<br />Đang cất cao tiếng hát ngợi ca mùa hè bằng tất cả sự thảnh thơi. ** Khổ 1 * '''Ôi, ước gì có một ngụm rượu nho cổ kính! Từng được<br />Làm mát qua bao niên kỷ trong lòng đất sâu thẳm.'''<br />Mang hương vị của Nữ thần Hoa và màu xanh đồng nội,<br />Điệu vũ khúc, câu hò xứ Provence, và niềm vui rám nắng!<br />Ôi ước gì có một chén đầy ắp phương Nam ấm áp,<br />Tràn đầy dòng suối nguồn Hippocrene chân thật, ửng hồng,<br />Với những bọt tăm lấp lánh chớp mắt nơi miệng chén,<br />Và bờ môi nhuốm sắc tím nồng nàn. ** Khổ 2 * Hãy tan biến thật xa, hòa tan, và quên lãng hoàn toàn<br />Điều mà ngươi giữa vòm lá chưa từng hay biết,<br />Sự mệt mỏi, cơn sốt và nỗi bồn chồn<br />Nơi chốn này, nơi con người ngồi nghe tiếng rên xiết của nhau;<br />Nơi chứng bại liệt làm rung rinh vài sợi tóc bạc buồn bã cuối cùng,<br />Nơi tuổi trẻ tái nhợt, gầy guộc như bóng ma rồi chết mòn;<br />Nơi chỉ cần suy nghĩ thôi cũng đã ngập tràn phiền muộn<br />Và những nỗi tuyệt vọng với đôi mắt màu chì. ** Khổ 3 * '''Đã ở bên ngươi rồi! Đêm thật dịu dàng.''' ** Khổ 4 * Ta chẳng thể nhìn thấy những đóa hoa nào dưới chân mình,<br />Cũng không thấy làn hương êm dịu nào vương trên cành biếc,<br />Nhưng giữa bóng tối ướp hương, ta đoán từng vị ngọt ngào. ** Khổ 5 * Và đứa con đầu lòng của giữa tháng Năm,<br />Đóa hồng xạ hương sắp nở, đượm đầy men rượu sương đêm,<br />'''Chốn lui tới vo ve của bầy ruồi trong những chiều hè.''' ** Khổ 5 [[Tập tin:Portrait of Keats - HH.jpg|nhỏ|Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?]] * '''Trong bóng tối ta lắng nghe; và đã biết bao lần<br />Ta gần như phải lòng cái [[Chết]] thanh thản''',<br />Gọi tên Người bằng những danh xưng êm ái trong bao vần thơ ngẫm ngợi,<br />Để gửi gắm vào không trung hơi thở bình yên của mình;<br />Giờ đây hơn bao giờ hết, chết đi dường như là điều phong phú xiết bao,<br />Để chấm dứt giữa đêm trường mà không một chút đớn đau,<br />Khi ngươi đang trút trọn linh hồn mình ra ngoài<br />Trong cơn xuất thần cuồng nhiệt dường ấy!<br />Ngươi vẫn sẽ hót, còn tai ta hóa thành vô ích –<br />Trước khúc chiêu hồn cao cả của ngươi, ta chỉ còn là một mảnh đất cằn. ** Khổ 6 * '''Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề''':<br />Có lẽ chính khúc ca ấy đã tìm được lối đi<br />Qua trái tim sầu muộn của nàng Ruth, khi nhớ nhà quay quắt,<br />Nàng đứng rơi lệ giữa ruộng ngô xa lạ;<br />Cũng chính khúc ca ấy đã biết bao lần<br />Quyến rũ những ô cửa sổ ma thuật, mở ra đầu ngọn sóng<br />Của những vùng biển hiểm nguy, nơi xứ sở thần tiên hoang phế. ** Khổ 7 * Hoang phế! Chính từ ngữ ấy như một hồi chuông<br />Kéo giật ta từ ngươi trở về với cái tôi cô độc! ** Khổ 8 * '''Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?''' ** Khổ 8 ==== ''Ode on a Grecian Urn|Ode on a Grecian Urn'' ==== [[Tập tin:keats urn.jpg|nhỏ|"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.]] :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> * Hỡi cô dâu chưa vấy bụi trần của sự tĩnh lặng,<br />Hỡi đứa con nuôi của thinh lặng và thời gian chậm rãi,<br />Sử gia của chốn rừng già, kẻ có thể diễn bày<br />Một tích truyện ngát hoa ngọt ngào hơn vần thơ chúng ta:<br />Truyền thuyết viền lá nào đang ám ảnh quanh dáng hình ngươi?<br />Của thần linh hay người phàm, hay của cả hai,<br />Nơi thung lũng Tempe hay những hẻm núi xứ Arcady?<br />'''Họ là những người phàm hay thần thánh nào đây? Những thiếu nữ ngập ngừng nào kia?<br />Cuộc rượt đuổi điên cuồng nào? Nỗ lực trốn thoát nào?<br />Tiếng sáo và tiếng trống lục lạc nào? Cơn ngây ngất hoang dại nào?''' ** Khổ 1 * '''Những giai điệu nghe thấy thì ngọt ngào, nhưng những giai điệu không nghe thấy<br />Còn ngọt ngào hơn: vì thế, hỡi những chiếc sáo êm dịu, hãy tấu tiếp đi;<br />Không phải cho đôi tai trần tục, mà đáng trân quý hơn,<br />Hãy thổi cho tâm linh những khúc ca không thành tiếng.'''<br />Chàng trai trẻ khôi ngô, dưới bóng cây, ngươi không thể dứt khỏi<br />Bài ca của mình, và những tán cây kia cũng chẳng bao giờ trơ trụi;<br />Hỡi Tình Nhân táo bạo, chẳng bao giờ, chẳng bao giờ ngươi hôn được nàng,<br />Dẫu đã cận kề đích đến – nhưng, chớ đau buồn;<br />Nàng không thể phai tàn, dẫu ngươi chưa chạm tới niềm hoan lạc,<br />Ngươi sẽ mãi yêu thương, và nàng sẽ mãi vẹn toàn nét xuân thì! ** Khổ 2 * Những ai đang tiến đến buổi hiến tế kia?<br />Tới bàn thờ xanh tươi nào, hỡi vị tư tế huyền bí,<br />Ngươi đang dắt theo con bò cái tơ rống lên trời xanh,<br />Và toàn bộ mạn sườn mượt mà của nó được kết đầy vòng hoa? ** Khổ 4 * Hỡi hình hài câm lặng, ngươi trêu ngươi tư tưởng chúng ta<br />Tựa hồ cõi vĩnh hằng: Khúc Điền Viên Lạnh Giá!<br />Khi tuổi già tàn phá thế hệ này,<br />Ngươi sẽ vẫn ở lại, giữa những nỗi đau khác<br />Không phải của chúng ta, như một người bạn của con người, người mà ngươi nhắn nhủ,<br />'''"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.''' ** Khổ 5 == Nhận định về Keats == * Nhóm người khác mà tôi sinh ra để dành trọn tâm hồn là các nhà thơ Lãng mạn. Đặc biệt là Shelley, và Keats. ** Paula Gunn Allen, phỏng vấn trong ''Survival This Way: Interviews with American Indian Poets'' của Joseph Bruchac (1987) * Ông ấy đã gây ra tổn hại dường nào cho Thi ca Anh quốc. Giống như Robert Browning là người có tài năng vừa phải nhưng khát khao mãnh liệt sự chuyển động và viên mãn, để rồi chỉ thu về một sự bề bộn hỗn loạn, thì Keats với tài năng xuất chúng tột bậc, cũng bị thiêu đốt bởi khát vọng này; và không thể tạo ra những tác phẩm thực sự sống động và lay động, như lương tâm ông vẫn không ngừng mách bảo. Họ không chịu kiên nhẫn cũng chẳng hiểu rằng họ phải bắt đầu bằng một Ý niệm về thế giới để không bị sự bề bộn của thế giới đè bẹp: hoặc nếu không đạt được điều đó, thì ít nhất phải bằng những ý niệm độc lập; và mọi thứ khác rồi (có lẽ) sẽ được thêm vào cho họ. ** Matthew Arnold, thư gửi Arthur Clough, 1848/9, trong ''John Keats: The Critical Heritage'', G.M. Matthews chủ biên (1995) * Tôi nghĩ mình thưởng thức những bức thư của ông ấy còn nhiều hơn cả thơ ca. Ông ấy có một bộ óc tuyệt vời và một cá tính rất kiên cường. ** Elizabeth Bishop, phỏng vấn năm 1966 trong ''Conversations with Elizabeth Bishop'', George Monteiro chủ biên (1996) * [Về cuốn ''Cuộc đời Keats'' của Monckton Milne] Một nỗ lực bắt chúng ta ăn thịt chó chết bằng cách nêm nếm gia vị và nấu nướng tinh vi [...] Kiểu người như Keats ngày càng trở nên kinh tởm đối với tôi. Cơn đói khát mọi thứ khoái lạc thuộc mọi thể loại, kết hợp với sự thiếu hụt mọi sức mạnh khác – quả là một sự kết hợp! Một cấu trúc tâm hồn như vậy, thời xưa hẳn đã quá rõ ràng, là một 'Chiếc bình được chọn của Địa ngục' [...] ** Thomas Carlyle, trong cuốn ''Thomas Carlyle: A History of His Life in London, 1834 - 1881'' của J.A. Froude (1884) * Đây là thứ thơ ca đái dầm của thằng nhóc Johnny Keats [...] Trên bàn của tôi la liệt thứ rác rưởi của Keats và những kẻ tương tự, đến nỗi tôi xấu hổ khi phải nhìn vào chúng [...] Tôi van xin đấy, đừng đưa Keats ra nữa: hãy lột da sống hắn đi; nếu mấy người không làm thì chính tôi sẽ tự tay lột da hắn: không thể nào chịu nổi thói ngớ ngẩn lảm nhảm của cái thằng người lùn ấy. :Tờ ''Edinburgh'' ca ngợi Jack Keats hay Ketch, hay bất kể tên hắn là gì [...] trời ạ, thơ của hắn là thứ Thủ dâm Thi ca – tương tự như khoái lạc mà một gã kéo vĩ cầm người Ý tìm thấy khi bị một ả gái điếm treo lơ lửng mỗi ngày ở phố Drury Lane. Chuyện này diễn ra vài tuần: cuối cùng ả đi mua một panh rượu Gin – gặp một ả khác, tán gẫu quá lâu, và Cornelli bị treo cổ chết thẳng cẳng trước khi ả quay về. Đó chính là thứ rác rưởi mà họ ca tụng, và đó sẽ là hồi kết cho thứ thơ ca vươn dài của kẻ Tự làm ô uế tâm trí con người một cách khốn khổ này. :Ông Keats, người mà anh hỏi thăm thơ phú, đối với tôi hiện lên đúng như những gì tôi đã nói: lối viết như vậy là một kiểu thủ dâm tinh thần – hắn luôn tự kích thích Trí tưởng tượng của mình. Ý tôi không phải hắn khiêu dâm, mà là hắn mồi chài các ý niệm của mình vào một trạng thái suy đồi, thứ chẳng phải thơ ca cũng chẳng phải điều gì khác ngoài ảo ảnh nhà thương điên sinh ra từ thịt lợn sống và thuốc phiện. :* Lord Byron, thư gửi John Murray, 12 tháng 8 – 9 tháng 9 năm 1820, trong ''The Routledge Literary Sourcebook on the Poems of John Keats'', J. Strachan chủ biên (2003) * Sự phẫn nộ của tôi trước việc ông Keats đánh giá thấp Pope khó lòng cho phép tôi đánh giá công bằng thiên tài của ông ấy, người mà bất chấp mọi sự hào nhoáng kỳ quặc trong phong cách, chắc chắn là một tài năng đầy hứa hẹn. Đoạn thơ dang dở Hyperion của ông dường như thực sự được truyền cảm hứng từ các thần Titan, và tráng lệ tựa như tác phẩm của Aeschylus. Ông là một mất mát lớn cho nền văn học của chúng ta. ** Lord Byron, 12 tháng 11 năm 1821 * '''Keats, một người hoàn toàn xa lạ với sự nhầm lẫn, có thể tin rằng con chim sơn ca mê hoặc ông chính là con chim mà nàng Ruth từng nghe thấy giữa ruộng ngô xa lạ ở xứ Bethlehem thuộc Judah'''; Stevenson đưa ra giả thuyết về một cánh chim duy nhất nuốt chửng nhiều thế kỷ: "con chim sơn ca nuốt chửng thời gian." Arthur Schopenhauer – một Schopenhauer nồng nhiệt và sáng suốt – đưa ra lý do: sự trực tiếp thuần túy thuộc về thể xác mà loài vật sinh sống, không hề bận tâm đến cái chết và ký ức. Sau đó ông nói thêm, không giấu nổi một nụ cười: Bất cứ ai nghe tôi quả quyết rằng con mèo xám đang chơi đùa ngoài sân lúc này chính là con mèo từng nhảy nhót và làm trò ở đó năm trăm năm trước sẽ nghĩ bất cứ điều gì họ thích về tôi, nhưng sẽ là một dạng điên rồ kỳ lạ hơn nếu hình dung rằng con mèo ngày nay về cơ bản là một con mèo hoàn toàn khác. ** Jorge Luis Borges, trong "A History of Eternity", dịch trong ''Selected Non-Fictions'' Tập 1 (1999), Eliot Weinberger chủ biên * Vào phần sau của mùa hè năm ấy [1817], lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông. Chúng tôi được giới thiệu với nhau trên đường Hampstead.... ...trong cuộc gặp gỡ kéo dài một phút ấy, tự đáy lòng tôi đã khao khát được làm quen, nếu không muốn nói là làm bạn với ông... Ông có vóc dáng nhỏ bé, cân đối, thân hình gọn gàng, và tuy gầy nhưng khá săn chắc; – một trong số nhiều người chứng minh rằng khí phách nam nhi khác biệt với chiều cao và thể xác vạm vỡ. '''Không có ma thuật nào sánh bằng một gương mặt chân thành, và tôi chưa từng thấy gương mặt của sinh linh nào chân thành như của ông.''' Đôi mắt to đẹp của ông ánh lên vẻ trí tuệ rạng rỡ, và ngời sáng (vào thời điểm đó!) niềm hy vọng cùng niềm vui. Người ta từng nhận xét rằng nét khiếm khuyết nhất là khuôn miệng của ông; và đôi khi đúng là như vậy. Nhưng bất cứ khi nào ông cất lời, hoặc hào hứng về điều gì, biểu cảm của làn môi lại biến đổi và tinh tế đến mức có thể gọi là khôi ngô. ** Charles Armitage Brown, ''Life of John Keats'', tr. 44 * '''Một chàng trai trẻ rất kỳ lạ, nhưng tính tình hòa nhã, tốt bụng, và thực sự rất thông minh.''' ** Bà Maria Dilke, dẫn trong ‘Papers of a Critic’, Sir Charles Dilke, I, tr. 8 * Tôi cũng thích các nhà thơ Lãng mạn. Wordsworth, Keats, Burns và Blake là một vài trong số những tác giả yêu thích của tôi. Có điều gì đó trong tinh thần nổi loạn của họ chống lại những tệ nạn của quá trình công nghiệp hóa đã làm tôi xúc động. Dĩ nhiên giờ đây, một phần sự bi quan, chủ nghĩa thần bí và nhãn quan hiện thực phê phán hạn hẹp của họ khiến tôi cảm thấy khá khó chịu. ** Micere Githae Mugo, trong ''Talking with African Writers'', Jane Wilkinson chủ biên * '''Thời thơ ấu Keats chẳng hề gắn bó với sách vở. Sở thích của cậu là đánh nhau. Cậu sẵn sàng đấm nhau với bất kỳ ai – sáng, trưa và tối, kể cả với em trai mình. Đó là cơm ăn nước uống của cậu.''' Người họ hàng thủy thủ Jennings luôn ngự trị trong suy nghĩ của mấy anh em, và họ quyết tâm giữ vững danh tiếng dũng cảm của gia đình; George theo cách thụ động; John và Tom thì dữ dội hơn. Những người bạn thân của John rất ít; sau khi được biết đến là kẻ sẵn sàng ẩu đả, cậu dường như thích họ vì một thứ tính cách hài hước kệch cỡm và hề hước. Lúc này tôi nhớ lại niềm thích thú của cậu trước những cử chỉ và trò nghịch ngợm phi thường của một cậu bé tên Wade vốn nổi tiếng vì điều này.... Cậu là một đứa trẻ mà bất kỳ ai nhìn vào sự hoạt bát phi thường và vẻ đẹp ngoại hình đều có thể dễ dàng hình dung sẽ trở thành một vĩ nhân – nhưng là trong quân sự hơn là văn học. ** Edward Holmes, bạn học tại Trường Clarke ở Enfield * Cậu ấy được các bạn đồng môn gọi là 'Keats bé nhỏ', khi trưởng thành tối đa cũng không cao quá một mét rưỡi.... Trong phòng, cậu luôn đứng bên cửa sổ, nhìn đăm đăm vào không gian, đến mức chỗ ngồi bên cửa sổ được các bạn gọi là chỗ của Keats.... Trong giảng đường, cậu dường như ngồi tách biệt và mải mê với điều gì khác, như thể chủ đề bài giảng gợi cho cậu những suy nghĩ không liên quan thực tế đến nó. Cậu thường lúc thì nhập tâm, lúc thì lơ đễnh trôi dạt ra ngoài theo một cách mơ màng. <br />Cậu chưa từng đặt nhiều tầm quan trọng vào việc học y của mình, và thực sự coi nghề y là nghề để mưu sinh trong một thế giới bận rộn, mà không chắc liệu mình có thể chịu đựng nổi áp lực của nó hay không. Tuy nhiên, cậu có ý thức về năng lực của chính mình, và thậm chí về sự vĩ đại của mình, dẫu nó có thể không bao giờ được công nhận.... '''Thi ca trong tâm trí cậu là đỉnh cao của mọi khát vọng: điều duy nhất xứng đáng với sự chú ý của những bộ óc siêu việt: cậu nghĩ như vậy: mọi mưu cầu khác đều tầm thường và tẻ nhạt.''' Cậu không có khái niệm nào về danh vọng hay sự vĩ đại ngoại trừ việc nó gắn liền với sự theo đuổi thi ca, hoặc việc đạt tới sự xuất sắc trong thơ ca.... Cậu có phong thái lịch thiệp và khi hạ mình nói về các chủ đề khác, cậu tỏ ra dễ mến và thông minh. Cậu tiếp thu rất nhanh và nhạy bén khi chọn chú tâm vào bất kỳ chủ đề nào. Cậu là một người điềm tĩnh, trầm lặng và cư xử đúng mực, không bao giờ hướng tới những thú vui thấp hèn hay đồi bại. ** Henry Stephens, bạn học tại Bệnh viện Guy * Ông thấp hơn chiều cao trung bình; phần chi dưới nhỏ nhắn so với phần thân trên, nhưng gọn gàng và cân đối. Vai ông rất rộng so với tầm vóc; ông có một gương mặt nơi năng lượng và sự nhạy cảm hòa quyện một cách đáng kinh ngạc, một sức mạnh hăm hở bị kìm hãm và nhẫn nại bởi bệnh tật. Từng đường nét vừa sắc sảo rõ ràng lại vừa sống động tinh tế. Nếu có nét biểu cảm nào khiếm khuyết thì đó là ở khuôn miệng, nơi phảng phất đôi chút tính hiếu chiến... Đầu ông là một câu đố kỳ lạ đối với các nhà nhân tướng học, với hộp sọ nhỏ khác thường; một nét kỳ dị mà ông có điểm chung với Lãnh chúa Byron và ông Shelley, không chiếc mũ nào của họ mà tôi có thể đội vừa. ** Leigh Hunt, "Mr. Keats" * Và anh không nhớ chuyện Keats từng đề nghị nâng ly 'Chúc cho ký ức về Newton bị đảo lộn' và khi anh nài nỉ đòi giải thích trước khi uống, ông ấy đã nói: 'Bởi vì ông ta đã phá hủy chất thơ của chiếc cầu vồng khi quy nó về một lăng kính'? Ôi, người bạn già thân mến của tôi, anh và tôi sẽ chẳng bao giờ còn thấy lại những ngày tháng như thế nữa! ** Benjamin Haydon, Hồi ký và Tự truyện * Tôi nhớ... lần đầu tiên ông được giới thiệu với ông Haydon; và khi trong cuộc trò chuyện, người nghệ sĩ vĩ đại ấy hỏi ông "liệu ông có yêu đất nước mình không", máu đã dồn lên má và nước mắt trào ra nơi khóe mắt ông trước câu trả lời đầy nhiệt huyết. '''Tình yêu tự do của ông thật nồng nàn và cao cả.''' ** Charles Cowden Clarke, bài viết trên tờ ''Morning Chronicle'' (27 tháng 7 năm 1821) * Cậu ấy đang chăm chỉ học tập, ôn lại tiếng Latinh, chuẩn bị học tiếng Hy Lạp, và dường như nhìn chung có lý trí hơn bình thường – nhưng '''cậu ấy là một kẻ bốc đồng thất thường, không thể trông cậy được nhiều. Song cậu ấy chẳng nghĩ tới điều gì ngoài thi ca như mục đích và cùng đích của đời mình, và rồi lúc này hay lúc khác, tôi không nghi ngờ rằng cậu ấy sẽ làm nên điều gì đó có giá trị.''' ** James Augustus Hessey gửi John Taylor (16 tháng 9 năm 1818), dẫn lại bởi Edmund Blunden trong ''Keats's Publisher'', tr. 56 * Người đã khuất là một trong những người bạn ân cần nhất mà tôi từng có, ấy vậy mà có lẽ ông đối với tôi cũng chẳng ân cần hơn đối với những người khác. Trí tuệ mãnh liệt và cảm xúc mạnh mẽ của ông, tôi thực sự tin rằng, lẽ ra đã cống hiến được điều gì đó cho đời nếu cuộc đời dung tha cho ông – nhưng ông mang bản tính quá đỗi nhạy cảm – và vì thế ông đã bị hủy hoại! ** John Hamilton Reynolds * [Keats] chính là linh hồn của lòng dũng cảm và khí phách trượng phu, và giống như ''Đức Thánh Linh'' nhiều ngang như ''chú nhóc Johnny Keats''. ** George Keats * Khi có người bày tỏ sự kinh ngạc với Shelley rằng Keats, người vốn không thông thạo tiếng Hy Lạp, lại có thể viết một cách tao nhã và chuẩn mực cổ điển về các vị thần và nữ thần của họ đến thế, Shelley đã đáp: “Anh ấy ''chính là'' một người Hy Lạp.” ** Richard H. Horne, ''A New Spirit of the Age'' (1844) * hãy nghĩ xem: những vần thơ đã gắn chặt cảnh quan này: Blake, Donne, Keats ** Tuyển tập thơ của Muriel Rukeyser * Với Wordsworth, cõi chết thường ẩn hiện ngay dưới bề mặt, và với Keats cũng vậy, một đứa con khác của thời đại mình, người tin rằng – chịu ảnh hưởng từ {{w:Thời kỳ Khai sáng}} – chúng ta là những thực thể vật chất trong một vũ trụ vật chất và ta buộc phải chấp nhận số phận đó. Chúng ta phải chết, nhưng không có bờ vai thần thánh nào để tựa vào, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được những chân lý sâu xa nhất, những điều mà trái ngược với mọi tuyên bố của Thời kỳ Khai sáng, cả lý trí lẫn khoa học đều không thể chạm tới. Keats mang một nhãn quan bi kịch về cuộc đời. Ông rõ ràng là một người thuộc {{w:Chủ nghĩa lãng mạn}}; chẳng có Miền đất hứa Khai sáng nào chờ đợi ông cả. ** Brian L. Silver, ''The Ascent of Science'' (1998) * Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu chỉ là một người mà văn bia của Keats mô tả: “Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.” ** Rebecca Solnit, phỏng vấn trên tạp chí New York Times (2018) * Tôi dành một tình yêu trọn đời cho John Keats, nhà thơ vĩ đại nhất trong số các nhà thơ Lãng mạn Anh sống vào thế kỷ thứ mười chín. Khả năng kỳ diệu trong việc tạo ra cái đẹp bằng ngôn từ của ông đã chạm thấu tâm hồn tôi. Tôi vẫn còn rất trẻ khi đọc bức thư Keats gửi cho em trai mình năm 1817. Trong đó, ông viết về "năng lực tiêu cực", điều mà ông giải thích là phẩm chất "khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ." Tôi bị cuốn hút bởi ý tưởng này vì rất nhiều điều tôi từng trải qua khi còn là một đứa trẻ, thiếu niên và chàng trai trẻ dường như đều bị bao phủ trong bức màn huyền bí. ** Cornel West, ''Brother West: Living and Loving Out Loud, A Memoir'' (2009) == Xem thêm == * {{w|Văn học lãng mạn}} * [[Percy Bysshe Shelley]] * [[w|Lord Byron]] * [[w|William Wordsworth]] == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} * [http://bartleby.com/126/ Toàn tập tác phẩm thi ca] * [http://www.john-keats.com/ John Keats.com] * [http://englishhistory.net/keats/contents.html Cuộc đời và tác phẩm của John Keats] * [http://keatsian.com/ Keatsian.com] [[Thể loại:Sinh năm 1795]] [[Thể loại:Mất năm 1821]] [[Thể loại:Nhà thơ Anh]] 11z989u4v23vn8ktmnd9kd873so6qsi 63749 63747 2026-10-08T11:30:24Z Mai Thanh Bang 3613 /* Xem thêm */ 63749 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:John Keats by William Hilton.jpg|nhỏ|phải|Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong chính con người mình; nó không thể chín muồi bằng luật lệ và huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân.]] '''{{w|John Keats}}''' (31 tháng 10 năm 1795 – 23 tháng 2 năm 1821) là một trong những nhà thơ kiệt xuất nhất của phong trào {{w|Chủ nghĩa lãng mạn|lãng mạn}} Anh. == Danh ngôn == [[Tập tin:John keats.jpg|nhỏ|phải|Từng đỉnh cao và dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh.]] * Ngọt ngào xiết bao những thú vui thuộc về thơ ca,<br />Và ngọt ngào gấp bội tình huynh đệ trong câu hát. ** "To George Felton Mathew" (tháng 11 năm 1815) * '''Tâm hồn ta quá đỗi yếu mềm – sự phù sinh<br />Đè nặng lên ta tựa giấc ngủ chẳng hề mong muốn''',<br />Và từng đỉnh cao cùng dốc đứng huyễn hoặc<br />Của nỗi gian truân tựa thần thánh mách bảo ta phải chết<br />Như đại bàng đau ốm ngước nhìn trời xanh. ** "On Seeing the Elgin Marbles|On Seeing the Elgin Marbles" (1817) * Giữa tháng Chạp đêm dài u tối,<br />Hỡi cái cây quá đỗi hạnh phúc kia,<br />Cành lá ngươi chẳng hề vương vấn<br />Niềm hoan lạc xanh tươi thuở nào. ** "In drear-nighted December", khổ 1 (1817) * Nhưng liệu đã từng có ai<br />Chẳng quằn quại trước niềm vui đã mất?<br />Cái cảm giác không còn cảm thấy,<br />Khi chẳng có điều chi hàn gắn,<br />Cũng không có giác quan tê dại để tôi rèn,<br />Chưa từng được cất lên thành vần điệu. ** "Stanzas", khổ 3 * Biển cất tiếng thì thầm muôn thuở quanh<br />Những bờ hoang vắng, và với ngọn triều cuộn dâng dũng mãnh<br />Nó vỗ ngập hai vạn hang sâu, cho tới khi phép thuật<br />Của Hecate trả lại cho chúng âm vang mờ ảo xưa cũ. ** "On the Sea" (1817) [[Tập tin:John Keats by Benjamin Robert Haydon.jpg|nhỏ|phải|Nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.]] * Khi ta lo sợ mình sẽ lìa đời<br />Trước lúc ngòi bút kịp gặt hái bộ não đang trào dâng ý niệm,<br />Trước khi những trang sách chất cao, bằng chữ nghĩa,<br />Chứa đựng tựa vựa lúa đầy hạt mẩy chín vàng;<br />Khi ta chiêm ngưỡng, trên gương mặt ngàn sao của màn đêm,<br />Những biểu tượng mây mờ kỳ vĩ của cõi diễm tình cao thượng,<br />Và nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ sống để lần theo<br />Bóng hình chúng bằng bàn tay nhiệm màu của cơ duyên;<br />Và khi ta cảm thấy, hỡi tạo vật kiều diễm của một thoáng giây!<br />Rằng ta sẽ không bao giờ được nhìn ngắm nàng thêm nữa,<br />Chẳng bao giờ còn được tận hưởng năng lực diệu kỳ<br />Của tình yêu thuần khiết vô tư! – '''thế rồi nơi bờ bến<br />Của thế gian rộng lớn ta đứng đơn độc, và nghĩ suy<br />Cho đến khi Ái tình và Danh vọng chìm vào cõi hư không.''' ** "When I have fears that I may cease to be" (1817) * '''Chớ rơi lệ! Ôi đừng rơi lệ!<br />Đóa hoa kia sẽ nở lại vào năm sau.'''<br />Thôi đừng khóc! Ôi đừng khóc nữa!<br />Nụ non đang say ngủ nơi lõi trắng của cội rễ. ** "Faery Songs", I (1818) * Bàn tay sống động này, giờ đây ấm áp và đủ sức<br />Nắm chặt ân cần, nếu một mai lạnh ngắt<br />Trong cõi tĩnh lặng băng giá của nấm mồ,<br />Sẽ ám ảnh chuỗi ngày của em và làm tê buốt những đêm mơ<br />Đến mức em ước gì tim mình cạn máu<br />Để dòng đời đỏ thắm lại tuôn chảy trong huyết quản của anh,<br />Và lương tâm em được xoa dịu – nhìn xem này –<br />Anh đang chìa nó về phía em. ** "This living hand" (1819) * Hỡi vì sao sáng! Ước gì ta kiên định như người –<br />Chẳng phải treo lơ lửng giữa trời đêm trong vẻ tráng lệ cô đơn<br />Và dõi mắt trông với hàng mi muôn đời hé mở,<br />Tựa ẩn sĩ kiên nhẫn, thức thâu đêm của thiên nhiên,<br />Ngắm làn nước dạt dào thực hiện sứ mệnh tựa linh mục<br />Thanh tẩy thuần khiết quanh bờ cõi trần gian. ** "Bright star, would I were stedfast as thou art" (1819) * Không ai có thể chiếm đoạt đỉnh cao này...<br />Ngoại trừ những kẻ xem nỗi khốn cùng của thế gian<br />Chính là nỗi khốn cùng của mình, và điều đó không để họ được yên nghỉ. ** "The Fall of Hyperion: A Dream" (1819), Khúc I, dòng 147 * Ngày đã tàn, và mọi điều ngọt ngào cũng tan biến!<br />Giọng nói dịu dàng, làn môi êm ái, bàn tay mềm mại, và khuôn ngực càng êm ái hơn. ** Sonnet "The Day is Gone" (sáng tác 1819; xuất bản 1848) * Trước nhãn quan thi sĩ<br />Lớp vỏ của vạn vật tự nhiên mở toang<br />Tới tận cội lõi; và từng tinh túy thầm kín nơi đó<br />Đều hé lộ những yếu tố của cái thiện và cái mỹ;<br />Khiến người thấy được điều mà Học vấn chẳng rọi tới nguồn sáng nào. ** "The Poet", ''London Magazine'' (tháng 10 năm 1821) [[Tập tin:John Keats Tombstone in Rome 01.jpg|nhỏ|Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.]] * '''Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.''' ** Văn bia tự viết cho chính mình (1821) * Rương sách của tôi hãy chia đều cho những người bạn. ** Di chúc (1821) === Thư từ (1817–1820) === * Tôi không chắc chắn về điều gì ngoại trừ sự thiêng liêng của những rung cảm nơi con tim và chân lý của trí tưởng tượng – điều mà trí tưởng tượng nắm bắt như cái đẹp thì ắt phải là chân lý – bất kể nó từng tồn tại trước đó hay chưa. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Trí tưởng tượng có thể ví như giấc mơ của Adam – ông thức giấc và thấy đó là hiện thực. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Ôi, ước gì có được một cuộc đời ngập tràn Cảm giác hơn là đầy ắp Tư tưởng! ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Tôi khó lòng nhớ được việc mình từng trông đợi vào hạnh phúc – tôi không tìm kiếm nó nếu nó chẳng nằm trong hiện tại – chẳng điều gì làm tôi kinh ngạc vượt ngoài khoảnh khắc này. Mặt trời lặn sẽ luôn đưa tôi về trạng thái cân bằng, hoặc nếu một cánh chim sẻ bay đến đậu trước cửa sổ, tôi dự phần vào sự tồn tại của nó và cùng nhặt nhạnh quanh đám sỏi. ** Gửi Benjamin Bailey (22 tháng 11 năm 1817) * Sự xuất sắc của mọi nghệ thuật nằm ở cường độ của nó, có khả năng làm bốc hơi mọi điều khó chịu, bởi chúng gắn bó mật thiết với vẻ đẹp và chân lý. ** Gửi G. và F. Keats (21 tháng 12 năm 1817) * Bất chợt tôi nhận ra phẩm chất làm nên một con người thành tựu, đặc biệt trong văn học, và là điều Shakespeare sở hữu ở mức độ phi thường – ý tôi là ''năng lực tiêu cực'' (negative capability), tức là khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ. ** Gửi George và Thomas Keats (22 tháng 12 năm 1817) * Chúng sẽ tự giải thích cho chính mình – như mọi bài thơ đều nên làm mà chẳng cần tới bất kỳ lời bình giải nào. ** Gửi George Keats (1818) * Các tác phẩm thiên tài là những điều đứng hàng đầu trên thế gian này. ** Gửi G. và F. Keats (13 tháng 1 năm 1818) * Chẳng có gì tốt hơn cho mục đích tạo ra các trước tác vĩ đại bằng sự chín muồi dần dần của các năng lực trí tuệ. ** Gửi em trai George Keats (23 tháng 1 năm 1818) * '''Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một điều gì đó đi sâu vào tâm hồn con người, không làm nó giật mình hay sửng sốt bởi chính bản thân bài thơ, mà bởi chủ đề của nó.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * Chúng ta ghét thứ thơ ca có mưu toan lộ liễu nhắm vào mình – và nếu ta không đồng thuận, nó dường như đút tay vào túi quần quay đi. Thơ ca nên vĩ đại và kín đáo, một thứ bước vào tâm hồn, không làm người ta giật mình hay choáng ngợp bởi chính hình thức của nó, mà bởi điều nó chuyển tải. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 2 năm 1818) * '''Nhiều người sở hữu tâm trí độc đáo mà không hề hay biết – họ bị thói quen dẫn dụ đi lạc – Giờ đây đối với tôi, dường như bất kỳ ai cũng có thể như loài nhện, tự rút từ nội tâm mình ra tòa thành quách của riêng mình.''' ** Gửi John Hamilton Reynolds (19 tháng 2 năm 1818) [[Tập tin:John Keats, portrait by Joseph Severn.jpg|nhỏ|Nếu [[thơ ca]] không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn.]] * Trong Thi ca tôi có một vài định đề, và bạn sẽ thấy tôi còn cách xa tâm điểm của chúng dường nào. Tôi nghĩ Thơ ca nên gây ngạc nhiên bằng sự dồi dào tinh tế chứ không phải bằng sự lập dị kỳ quặc – nó phải tác động tới độc giả như cách diễn đạt những suy nghĩ cao quý nhất của chính họ, và hiện lên gần như một miền hồi ức – Những nét chấm phá của Cái đẹp không bao giờ được dừng ở nửa chừng khiến độc giả hụt hơi thay vì thỏa nguyện: sự khởi phát, diễn tiến, và lắng đọng của hình ảnh phải đến tự nhiên với họ như vầng Thái dương – chiếu rọi và lặn xuống bình dị dù trong vẻ huy hoàng, để họ lại trong sự êm đềm của ánh hoàng hôn – nhưng nghĩ xem Thơ ca nên là gì thì dễ hơn viết ra nó nhiều – và điều này dẫn tôi tới một định đề khác: Rằng nếu Thơ ca không đến tự nhiên như lá đâm chồi trên cây, thì thà đừng đến còn hơn. ** Gửi John Taylor (27 tháng 2 năm 1818) * Cảnh sắc thật tuyệt mỹ – nhưng bản tính con người còn tuyệt mỹ hơn. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Mọi sự theo đuổi tinh thần đều nhận lấy tính hiện thực và giá trị từ lòng nhiệt thành của người theo đuổi. ** Gửi Benjamin Bailey (13 tháng 3 năm 1818) * Các định đề trong triết học không phải là định đề cho đến khi chúng được kiểm chứng qua từng nhịp đập nơi mạch máu của chúng ta: ta đọc những điều hay nhưng chẳng bao giờ cảm nhận trọn vẹn cho tới khi đã trải qua những bước đi hệt như tác giả. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi so sánh đời người với một dinh thự lớn có nhiều gian phòng, trong đó tôi mới chỉ có thể mô tả được hai gian, những cánh cửa của các phòng còn lại hiện vẫn đóng chặt trước mắt tôi. ** Gửi John Hamilton Reynolds (3 tháng 5 năm 1818) * Tôi chắc chắn rằng mình không có cảm nhận đúng mực về phụ nữ – lúc này tôi đang nỗ lực đối xử công bằng với họ, nhưng không thể. Phải chăng bởi họ cách quá xa trí tưởng tượng thời niên thiếu của tôi? Khi còn là cậu học trò, tôi ngỡ người phụ nữ đẹp là Nữ thần thuần khiết; tâm trí tôi là tổ ấm êm đềm nơi một người trong số họ ngả lưng say ngủ, dẫu nàng chẳng hề hay biết. ** Gửi Benjamin Bailey (18 tháng 7 năm 1818) * Có một sự ấm áp thiêng liêng quanh trái tim tôi tựa hồ gánh nặng của sự bất tử. ** Gửi John Hamilton Reynolds (22 tháng 9 năm 1818) * Tôi bắt đầu thấu hiểu đôi chút về sức mạnh và điểm yếu của chính mình. Lời khen hay tiếng chê chỉ có tác động thoáng qua đối với người mà tình yêu cái đẹp trừu tượng đã biến anh ta thành kẻ phê bình khắt khe nhất đối với chính tác phẩm của mình. ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi từng viết một cách độc lập ''khi chưa có sự phán xét''. Về sau tôi có thể viết một cách độc lập, và ''kèm theo sự phán xét''. '''Thiên tài thi ca phải tự tìm lấy sự cứu rỗi trong một con người: Nó không thể chín muồi nhờ luật lệ hay huấn điều, mà phải bằng cảm thụ và sự tỉnh thức tự thân''' – Thứ gì mang tính sáng tạo phải tự tạo ra chính nó – Trong Endymion, tôi đã lao đầu xuống biển, và nhờ đó hiểu rõ hơn về các phép dò độ sâu, bãi cát lún và rạn đá ngầm, hơn là cứ quanh quẩn trên bờ cỏ xanh, thổi chiếc sáo ngớ ngẩn, uống trà và đón nhận những lời khuyên dễ chịu. '''Tôi chưa bao giờ sợ thất bại; bởi tôi thà thất bại còn hơn không đứng vào hàng ngũ những người vĩ đại nhất.''' ** Gửi James Hessey (9 tháng 10 năm 1818) * Tôi nghĩ rằng sau khi qua đời, tôi sẽ có một chỗ đứng giữa những Nhà thơ Anh quốc. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 10 năm 1818) * '''Phẩm chất thi sĩ'''... không phải là chính nó – nó không có bản ngã riêng – nó là tất cả và không là gì cả – Nó không có cá tính – nó tận hưởng cả ánh sáng lẫn bóng tối; nó sống trong sự say mê tột cùng, dù thanh cao hay nhơ bẩn, cao sang hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó, hèn mọn hay tôn quý. – Nó tìm thấy niềm thích thú khi hoài thai một Iago cũng nhiều ngang như một Imogen. Điều làm triết gia đạo đức kinh sợ lại là niềm hân hoan của nhà thơ tắc kè hoa. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Nhà thơ là thực thể phi-thi-vị nhất trong vạn vật tồn tại; bởi vì người đó không có bản sắc cố định''' – anh ta liên tục truyền nhận – và lấp đầy một thân xác khác. ** Gửi Richard Woodhouse (27 tháng 10 năm 1818) * '''Cuộc đời của một con người có giá trị là một câu chuyện phúng dụ liên tục – và rất ít đôi mắt nhìn thấy được sự mầu nhiệm của đời sống''' – một cuộc đời tựa Kinh Thánh mang tính tượng trưng... Lãnh chúa Byron tạo ra một hình bóng nổi bật, nhưng ông ấy không mang tính tượng trưng. '''[[William Shakespeare|Shakespeare]] đã sống một cuộc đời phúng dụ: các tác phẩm của ông chính là những lời chú giải cho cuộc đời đó.''' ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * '''Chẳng điều gì trở nên có thực cho đến khi nó được trải nghiệm''' – Ngay cả một câu cách ngôn cũng chẳng là cách ngôn với bạn cho đến khi Đời bạn minh chứng cho nó. ** Gửi George và Georgiana Keats (14 tháng 2 – 3 tháng 5 năm 1819) * Bản thân tôi đang theo đuổi tiến trình bản năng hệt như sinh vật trần tục nhất mà bạn có thể nghĩ tới – dẫu còn trẻ, tôi đang viết trong ngẫu hứng – gồng mình tìm kiếm những hạt ánh sáng giữa bóng tối mịt mùng – mà chẳng hay biết sức nặng của bất kỳ khẳng định hay định kiến nào. Nhưng liệu trong điều này tôi có thể thoát khỏi tội lỗi chăng? ** Gửi George và Georgiana Keats (19 tháng 3 năm 1819) * Nếu bạn muốn, hãy gọi thế gian này là "Thung lũng tôi luyện linh hồn." ** Gửi George và Georgiana Keats (21 tháng 4 năm 1819) * Tôi có hai điều xa xỉ để trầm ngâm trong những chuyến dạo bước: vẻ kiều diễm của em và giờ phút lìa đời của tôi. Ôi ước gì tôi có thể sở hữu cả hai điều ấy trong cùng một phút giây. ** Gửi Fanny Brawne (25 tháng 7 năm 1819) * Tôi chẳng có gì để nói ngoại trừ về bản thân mình – và tôi có thể nói gì ngoài những gì tôi cảm nhận? ** Gửi John Hamilton Reynolds (24 tháng 8 năm 1819) * '''Một số người nghĩ tôi đã đánh mất ngọn lửa thi ca nồng nhiệt thuở nào – thực tế có lẽ đúng là vậy; nhưng bù lại, tôi hy vọng sẽ thay thế nó bằng một sức mạnh trầm tĩnh và sâu sắc hơn.''' ** Gửi George Keats (21 tháng 9 năm 1819) * Tôi từng kinh ngạc khi thấy người ta có thể tử vì đạo cho tôn giáo – tôi từng rùng mình vì điều đó – nhưng giờ không còn rùng mình nữa – tôi có thể tử đạo vì Tôn giáo của mình – Tình yêu là tôn giáo của tôi – tôi có thể chết vì điều đó – tôi có thể chết vì em. Giáo lý của tôi là Tình yêu và em là tín điều duy nhất. ** Gửi Fanny Brawne (13 tháng 10 năm 1820) * "Nếu phải chết," tôi tự nhủ, "ta chẳng để lại tác phẩm bất hủ nào – chẳng có gì để bạn bè tự hào về ký ức của ta – nhưng '''ta đã yêu nguyên lý của cái đẹp trong vạn vật, và nếu có thời gian, ta đã khiến người đời phải nhớ đến mình.'''" ** Gửi Fanny Brawne (khoảng tháng 2 năm 1820) * Em luôn luôn mới mẻ. Nụ hôn cuối cùng của em bao giờ cũng ngọt ngào nhất; nụ cười sau cùng luôn rạng rỡ nhất; cử chỉ sau cùng luôn duyên dáng nhất. ** Gửi Fanny Brawne (tháng 3 năm 1820) * Bạn có thể kiềm chế sự hào phóng của mình lại, để trở thành một nghệ sĩ đúng nghĩa hơn, và lấp đầy mọi kẽ hở của chủ đề bằng quặng quý. ** Gửi [[Percy Bysshe Shelley]] (tháng 8 năm 1820) * Tôi khó lòng nói lời từ biệt với anh, ngay cả trong một bức thư. Tôi luôn vụng về khi cúi chào. Cầu Chúa ban phúc cho anh! ** Gửi Charles Armitage Brown (30 tháng 11 năm 1820) === ''Poems'' (1817) === * Ta nhón chân đứng trên ngọn đồi nhỏ,<br />Không khí mát lành và tĩnh lặng xiết bao,<br />Đến nỗi những nụ hoa e ấp khiêm nhường<br />Nghiêng nghiêng rủ xuống theo đường cong thoai thoải,<br />Thân mảnh khảnh, lơ thơ đôi nhánh lá,<br />Vẫn chưa làm rơi những vương miện ngàn sao<br />Đón lấy từ tiếng thổn thức ban mai. ** "I Stood Tiptoe", dòng 1 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Và rồi len lỏi khẽ khàng<br />Một thanh âm không tiếng động giữa vòm lá xôn xao,<br />Sinh ra từ chính tiếng thở dài mà tĩnh lặng trút ra. ** "I Stood Tiptoe", dòng 10 * Hãy mở toang lần nữa vòng cánh hoa ngàn sao,<br />Hỡi những bông cúc vạn thọ nồng nàn! ** "I Stood Tiptoe", dòng 47 * Kìa, bạn có thể đọc xong hai bài sonnet, trước khi chúng bơi tới<br />Nơi dòng nước mát lành hối hả luôn cất lời giảng giải<br />Một bài thuyết pháp tự nhiên qua những đáy sỏi gập ghềnh;<br />'''Nơi bầy cá nhỏ nhô những cái đầu bé xíu,<br />Giữ thân mình lượn sóng ngược dòng trôi''',<br />Để nếm trải cảm giác xa hoa của những tia nắng ấm<br />Được xoa dịu bởi làn nước mát lành. ** "I Stood Tiptoe", dòng 72 * Đôi khi những chú chim sẻ vàng sà xuống từng con một<br />Từ những cành cây la đà thấp thoáng; chỉ dừng lại một thoáng giây;<br />Nhấp chút nước, ríu rít, rỉa mượt bộ lông mềm;<br />Rồi vụt bay đi ngay, như trong cơn bốc đồng nghịch ngợm:<br />Hoặc có lẽ để khoe đôi cánh đen điểm ánh vàng<br />Chao lượn ngập ngừng trong sắc vàng óng ả. ** "I Stood Tiptoe", dòng 87 * Chẳng có gì ngoài tiếng thở dài êm dịu của làn gió<br />Dọc theo dòng suối đầy lau sậy; một giai điệu vẳng nghe mờ nhạt,<br />Tràn ngập nỗi tiêu điều ngọt ngào – niềm đau dịu dàng. ** "I Stood Tip-toe" * Hỡi phụ nữ! Khi ta thấy nàng nông nổi, phù phiếm,<br />Thất thường, trẻ con, kiêu kỳ và đầy rẫy những đỏng đảnh. ** "When I Behold Thee Flippant, Vain", khổ 1 * Với kẻ đã bị giam hãm quá lâu chốn thị thành,<br />Thật ngọt ngào biết bao khi được ngắm nhìn gương mặt thanh tú<br />Và rộng mở của bầu trời. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * Tựa hồ như giọt nước mắt thiên thần rơi xuống<br />Lướt qua tầng không trong vắt giữa thinh lặng. ** "Sonnet. To One Who Has Been Long in City Pent" * '''Ta đã chu du nhiều nơi trong cõi hoàng kim,<br />Từng thấy biết bao vương quốc và lãnh địa tráng lệ;<br />Đã từng qua nhiều hải đảo phía tây<br />Nơi các thi sĩ giữ lòng trung thành với thần Apollo.'''<br />Thường nghe kể về một miền rộng lớn bao la<br />Mà thi hào Homer trán rộng cai quản tựa lãnh địa của mình,<br />Song ta chưa từng hít thở bầu thanh khí thuần khiết ấy<br />Cho tới khi nghe Chapman cất tiếng sang sảng và can trường:<br />'''Khi ấy ta cảm thấy mình như kẻ dõi mắt ngắm bầu trời<br />Lúc một hành tinh mới bơi vào tầm ngắm;<br />Hoặc như Cortez quả cảm khi với đôi mắt chim ưng<br />Ông nhìn đăm đăm ra Thái Bình Dương, và toàn thể thuộc hạ<br />Nhìn nhau với nỗi hoài nghi hoang dại,<br />Lặng câm, trên đỉnh núi chót vót ở Darien.''' ** "On First Looking into Chapman's Homer" * Và những tâm hồn khác đang đứng riêng biệt<br />Nơi vầng trán của thời đại tương lai;<br />Họ, chính họ sẽ ban cho thế gian một trái tim khác,<br />Và những nhịp đập khác. Các ngươi không nghe thấy tiếng rì rầm<br />Của những chuyển dịch vĩ đại nơi thương trường xa xôi ư?<br />Hãy lắng nghe trong giây lát hỡi các dân tộc, và hãy lặng im. ** "Sonnet. Addressed to the Same" (Benjamin Robert Haydon) * Thi ca của đất trời chẳng bao giờ lụi tàn. ** "Sonnet. On the Grasshopper and the Cricket" * Hãy dừng lại và ngẫm suy! Cuộc đời chỉ tựa một ngày;<br />Một giọt sương mong manh trên hành trình hiểm trở<br />Rơi từ ngọn cây cao. ** "Sleep and Poetry", khổ 5 * Ôi ước gì có được mười năm, để ta có thể đắm chìm<br />Bản thân vào thi ca; ngõ hầu ta thực hiện được kỳ tích<br />Mà chính tâm hồn ta đã tự định đoạt cho mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 6 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Một cơn mưa ánh sáng<br />Bất tận chính là thi ca; đó là quyền năng tối thượng;<br />Là sức mạnh tựa nửa say ngủ trên cánh tay phải của chính mình. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Nhưng sức mạnh đơn độc dẫu sinh ra từ các Nàng Thơ<br />Cũng tựa như thiên thần sa ngã: những thân cây bật gốc,<br />Bóng tối, sâu bọ, vải liệm và mồ mả<br />Lại làm nó thích thú; bởi nó nuôi mình bằng những gai góc,<br />Và chông gai của cuộc đời; quên mất mục đích lớn lao<br />Của thi ca, là phải trở thành người bạn<br />Xoa dịu những âu lo và nâng đỡ tâm tư con người. ** "Sleep and Poetry", khổ 11 * Cuộc trò chuyện ngọt ngào của một tâm hồn thơ ngây. ** Sonnet: "Solitude" === ''{{w|Endymion (thơ)|Endymion}}'' (1818) === [[Tập tin:Endymion.JPG|nhỏ|Một điều [[cái đẹp|xinh đẹp]] là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không.]] [[Tập tin:Girodet - Sommeil Endymion.jpg|nhỏ|Ôi [[giấc ngủ]] diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng!]] * '''Chẳng có địa ngục nào khốc liệt hơn sự thất bại trong một mục tiêu vĩ đại.''' ** Lời tựa * Trí tưởng tượng của một cậu bé thì lành mạnh, và trí tưởng tượng chín chắn của một người đàn ông cũng lành mạnh; nhưng có một khoảng đời ở giữa, khi tâm hồn đang lên men, tính cách chưa định hình, lối sống còn bấp bênh, tham vọng còn mờ mịt: từ đó nảy sinh sự ủy mị, cùng hàng ngàn vị đắng cay mà những người tôi nói tới ắt phải nếm trải khi lật qua những trang sau. ** Lời tựa * '''Một điều xinh đẹp là niềm vui mãi mãi:<br />Vẻ đáng yêu của nó gia tăng; nó sẽ chẳng bao giờ<br />Chìm vào cõi hư không'''; mà vẫn luôn giữ cho ta<br />Một chòi lá thanh bình, và một giấc nồng<br />Đầy những giấc mơ êm ái, sức khỏe và hơi thở an yên. ** Quyển I, dòng 1 * '''Bất chấp tất cả,<br />Một hình bóng của cái đẹp sẽ xua tan tấm màn che<br />Khỏi tâm hồn u tối của chúng ta.''' ** Quyển I, dòng 11 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vẻ bi tráng của định mệnh<br />Mà chúng ta tưởng tượng về những người đã khuất lẫy lừng;<br />Mọi câu chuyện đáng yêu ta từng nghe hay đọc:<br />Là dòng suối bất tận của thức uống trường sinh,<br />Rót xuống chúng ta từ bờ cõi thiên đường. ** Quyển I, dòng 20 * Ta đâu chỉ cảm nhận những tinh túy ấy<br />Trong một giờ ngắn ngủi; không, cũng như những hàng cây<br />Thì thầm quanh ngôi đền sẽ sớm trở nên<br />Thân thương như chính ngôi đền, vầng trăng cũng vậy,<br />Niềm đam mê thi ca, những vinh quang vô tận,<br />Ám ảnh ta cho đến khi chúng trở thành nguồn sáng reo vui<br />Chiếu rọi tâm hồn, và gắn kết với ta chặt chẽ,<br />Đến mức, '''dù trời rạng rỡ hay u ám mây mờ,<br />Chúng luôn phải ở bên ta, bằng không ta sẽ chết.''' ** Quyển I, dòng 25 * Ôi giấc ngủ diệu kỳ! Ôi cánh chim êm ái,<br />Ấp ủ trên mặt biển dậy sóng của tâm trí<br />Cho đến khi nó lặng yên phẳng lặng! ** Quyển I, dòng 453 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Thời gian, bà vú già nua ấy,<br />Đã ru ta vào sự nhẫn nại. ** Quyển I, dòng 705 * '''Hạnh phúc nằm ở đâu? Nằm ở điều vẫy gọi<br />Tâm trí sẵn sàng của ta bước vào mối giao hảo thần thánh,<br />Mối giao cảm với bản thể; cho đến khi ta tỏa sáng,<br />Được biến đổi hoàn toàn, và tự do ngoài không gian. Kìa trông<br />Tín ngưỡng quang đãng của cõi trời!''' ** Quyển I, dòng 777 * '''Những bóng ma của lời tiên tri du dương gào thét<br />Quanh mọi dấu chân nơi Apollo từng bước qua''';<br />Những chiếc tù và đồng thức giấc, và khẽ vang lên,<br />Nơi xưa kia từng diễn ra trận chiến khổng lồ;<br />Và, từ thảm cỏ, một khúc hát ru lướt qua<br />Khắp mọi nơi Orpheus thuở ấu thơ từng yên giấc.<br />'''Ta có cảm nhận được những điều này chăng? – khoảnh khắc đó ta đã bước<br />Vào một trạng thái duy nhất, và tâm thế của ta<br />Tựa hồ một linh hồn đang trôi nổi.''' Nhưng còn có<br />Những vướng bận phong phú hơn, những say mê<br />Tự hủy diệt hơn nhiều, từng bước dẫn lối<br />Tới cường độ tột đỉnh: '''chiếc vương miện của những điều này<br />Được kết bằng tình yêu và tình bạn, ngự trị uy nghi<br />Trên vầng trán của nhân loại.''' ** Quyển I, dòng 789 * Tâm hồn không ngơi nghỉ của ta chẳng bao giờ chịu đựng nổi<br />Việc chìm đắm quá lâu vào một nỗi xa hoa duy nhất,<br />Trừ phi, dù trong âu lo, nó thoáng nhận ra<br />'''Một niềm hy vọng vượt lên trên bóng hình của một giấc mơ.''' ** Quyển I, dòng 854 * Khoái lạc thường chỉ là khách qua đường; nhưng nỗi đau<br />Lại bám riết lấy ta một cách tàn nhẫn. ** Quyển I, dòng 906 * '''Kẻ nào e sợ dấn bước theo<br />Nơi những tiếng nói hư không dẫn đường<br />Sẽ chẳng bao giờ được đội vương miện bất tử.''' ** Quyển II, dòng 211 * &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đó là tai ương<br />Của ái tình: những niềm vui đẹp đẽ nhất lại đem đến nhiều bất an nhất. ** Quyển II, dòng 365 * &nbsp;&nbsp; Với Nỗi Sầu Đau<br />&nbsp;&nbsp;Ta cất lời chào buổi sớm,<br />Tưởng rằng đã bỏ nàng lại phía sau xa xôi;<br />&nbsp;&nbsp;Nhưng vui vẻ thay, rạng rỡ thay,<br />&nbsp;&nbsp;Nàng yêu ta tha thiết;<br />Nàng son sắt với ta dường bao, và quá đỗi ân cần:<br />Ta toan dối lừa nàng<br />Và bỏ nàng ra đi,<br />Nhưng ôi! Nàng quá đỗi thủy chung và ân cần. ** Quyển IV, dòng 173 * Thật nhiều, thật nhiều, và hân hoan xiết bao. ** Quyển IV === ''{{w|La Belle Dame sans Merci}}'' (1819) === [[Tập tin:La Belle Dame Sans Merci, by John William Waterhouse, 1893, oil on canvas - Hessisches Landesmuseum Darmstadt - Darmstadt, Germany - DSC01228.jpg|nhỏ|Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang.]] * Ôi, điều gì làm chàng phiền muộn, hỡi hiệp sĩ mang giáp phục,<br />Đơn độc và tha thẩn với gương mặt nhợt nhạt?<br />Cỏ lác đã héo tàn nơi bờ hồ,<br />Và chẳng còn tiếng chim ca. ** Khổ I * Ta gặp một trang giai nhân nơi đồng cỏ,<br />Tuyệt mỹ khôn cùng – người con của cõi tiên,<br />Tóc nàng dài buông, bước chân thanh thoát,<br />Và đôi mắt nàng hoang dại mênh mang. ** Khổ IV * Ta kết cho nàng một vòng hoa cài đầu,<br />Cả những chuỗi vòng tay, và chiếc thắt lưng hương ngát;<br />Nàng nhìn ta tựa hồ trao trọn yêu thương,<br />Và khẽ buông tiếng than êm ái. ** Khổ V * Ta thấy những vị vua cùng hoàng tử tái nhợt,<br />Những chiến binh nhợt nhạt, tất cả đều mang sắc mặt tái mét như tử thi;<br />Họ gào thét: "La Belle Dame sans Merci<br />Đã giam cầm ngươi trong bùa mê!" ** Khổ X === ''Hyperion: Đoạn thơ dang dở'' (1819) === * Sâu trong nỗi u sầu râm mát của thung lũng<br />Chìm khuất xa khỏi hơi thở trong lành của ban mai,<br />Xa buổi trưa rực lửa, và ánh sao hôm lẻ loi,<br />Saturn tóc hoa râm ngồi đó, lặng lẽ như phiến đá,<br />Bất động tựa cõi tĩnh mịch vây quanh hang ổ của mình;<br />Rừng tiếp rừng trĩu nặng trên đầu ông<br />Như mây tầng mây. ** Quyển I, dòng 1 * Lời phán truyền uy nghiêm của những vị thần thuở sơ khai! ** Quyển I * Tựa như, trong đêm hè mê đắm,<br />Những vị nghị viên áo xanh của đại ngàn hùng vĩ,<br />Những cây sồi sừng sững, được những vì sao ân cần ru ngủ cành lá,<br />Mơ màng, và mơ màng suốt đêm chẳng hề lay động,<br />Ngoại trừ một luồng gió cô đơn thoảng qua<br />Chợt đến giữa thinh không rồi vụt tắt,<br />Như thể làn không khí thoái trào chỉ có một gợn sóng duy nhất. ** Quyển I, dòng 72 * Những ngày tháng thanh bình và tĩnh lặng êm đềm đã qua đi. ** Quyển II * '''Giờ đây nỗi đau của [[chân lý]] đã đến, với kẻ xem đó là nỗi đau;<br />Ôi điên rồ thay! Bởi gánh chịu mọi chân lý trần trụi,<br />Và điềm nhiên đối diện cảnh ngộ,<br />Đó mới là đỉnh cao của quyền uy tối thượng.''' Hãy ghi nhớ lấy. ** Quyển II, dòng 202 * Tri thức bao la biến ta thành một vị Thần. ** Quyển III, dòng 113 === ''Poems'' (1820) === * Còn về đôi mắt nàng: đôi mắt ấy có thể làm gì nơi đó<br />Ngoài tuôn rơi, tuôn rơi dòng lệ, vì sinh ra quá đỗi kiều diễm? ** "Lamia", Phần I, dòng 61 * Tình yêu trong túp lều tranh, với mẩu bánh mì và ngụm nước lã,<br />Chỉ là – Tình yêu ơi xin thứ tha! – tro tàn, xỉ rác, bụi mờ. ** "Lamia", Phần II, dòng 1 * Đã từng có một cầu vồng uy nghiêm ngự nơi thiên giới:<br />Chúng ta biết đường dệt, cấu trúc của nó; nó bị đưa vào<br />Danh mục tẻ nhạt của những vật tầm thường.<br />'''Triết học sẽ xén bớt đôi cánh của Thiên thần''',<br />Chinh phục mọi điều huyền bí bằng thước dây và quy tắc,<br />Làm trống rỗng bầu không khí ma mị, và những mỏ thần lùn –<br />Tháo gỡ một chiếc cầu vồng, như cách nó từng khiến<br />Nàng Lamia dịu dàng tan biến vào bóng hư vô. ** "Lamia", Phần II, dòng 229 [[Tập tin:William Holman Hunt - Isabella and the Pot of Basil, 1867.jpg|nhỏ|“Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.”]] * “Bởi thật tàn nhẫn thay,” nàng thốt lên,<br />“Khi cướp mất chậu húng quế khỏi tay tôi.” ** "Isabella; or, The Pot of Basil", khổ 62 * Vậy hãy để ta làm dàn hợp xướng của nàng, và cất tiếng thở than<br />Trong những giờ khắc nửa đêm ** "Ode to Psyche", khổ 3 * Và nơi đó sẽ dành cho nàng mọi niềm hoan lạc êm dịu<br />Mà ý nghĩ mông lung có thể đạt tới,<br />Một ngọn đuốc sáng, và khung cửa sổ mở toang trong đêm,<br />Để đón Tình Yêu nồng ấm bước vào! ** "Ode to Psyche", khổ 5 * Cứ để Trí Tưởng Tượng mặc sức rong chơi,<br />Khoái lạc chẳng bao giờ chịu ở yên trong nhà. ** "Fancy", dòng 1 * Những thi sĩ của Đam mê và Hoan lạc,<br />Các người đã để lại linh hồn mình nơi trần thế!<br />Liệu các người có linh hồn nơi thiên đường chăng,<br />Sống cuộc đời nhân đôi ở những cõi giới mới mẻ? ** "Ode: The Fair Maid of the Inn" * Hỡi linh hồn của những Thi sĩ đã khuất bóng,<br />Cõi Elysium nào các người từng hay biết,<br />Cánh đồng hạnh phúc hay hang động phủ rêu phong,<br />Có tuyệt diệu hơn Quán trọ Nàng tiên cá? ** "Lines on the Mermaid Tavern", dòng 1–4 [[Tập tin:Autumn-slovakia.JPG|nhỏ|Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh.]] * '''Mùa của sương mù và hoa trái chín ngọt mọng,<br />Bạn tri kỷ của vầng thái dương đang độ chín muồi;<br />Cùng người trù tính cách làm trĩu nặng và ban phước<br />Những chùm quả trên giàn nho chạy quanh mái tranh''';<br />Uốn cong những thân cây quanh mái nhà rêu phong bằng trĩu nặng táo thơm,<br />Và làm căng tràn mọi quả ngọt đến tận cội lõi;<br />Làm nứt đất ngầm, vỗ béo những hạt phỉ<br />Bằng nhân ngọt ngào; giục giã đâm chồi thêm nữa,<br />Thêm nữa những đóa hoa muộn màng cho bầy ong,<br />Cho tới khi chúng ngỡ những ngày ấm áp sẽ chẳng bao giờ ngưng nghỉ,<br />Bởi Mùa Hè đã rót tràn trề vào những tầng tổ dính sánh. ** To Autumn", khổ 1 * '''Ai từng chẳng thường thấy bóng ngươi giữa kho lúa của mình?'''<br />Đôi khi kẻ nào cất bước tìm kiếm có thể thấy<br />Ngươi ngồi thảnh thơi trên sàn kho thóc,<br />Mái tóc khẽ bay trong làn gió sảy;<br />Hoặc ngủ say sưa trên luống cày gặt dở,<br />Mê man trong hương thuốc phiện, khi lưỡi liềm của ngươi<br />Dung tha vạt lúa kế bên cùng muôn hoa đan cài. ** "To Autumn", khổ 2 * Rồi trong dàn đồng ca than vãn, bầy muỗi nhỏ cất tiếng sầu<br />Giữa rặng liễu ven sông, bay bổng lên cao<br />Hay chìm xuống theo từng hơi thở tàn hay sống của ngọn gió thoảng. ** "To Autumn", khổ 3 * '''Không, đừng, chớ tìm đến sông Lethe,''' cũng đừng vặn xoắn<br />Rễ cây phụ tử bám chặt, để chưng cất thứ rượu độc;<br />Cũng đừng để vầng trán nhợt nhạt của ngươi bị hôn lấy<br />Bởi hoa cà độc dược. ** "Ode on Melancholy", khổ 1 * Nhưng khi cơn u sầu chợt đổ ập xuống<br />Bất ngờ từ trời cao tựa đám mây tuôn lệ,<br />Nuôi dưỡng muôn hoa đang ủ rũ gục đầu,<br />Và giấu ngọn đồi xanh trong tấm khăn liệm tháng Tư;<br />Thì hãy thỏa mãn nỗi đau buồn của ngươi nơi đóa hồng sớm mai. ** "Ode on Melancholy", khổ 2 * Nàng ngự cùng Cái Đẹp – Cái Đẹp phải tàn phai;<br />Và Niềm Vui, kẻ luôn đặt tay lên môi<br />Để cất lời từ biệt; cùng Khoái Lạc nhức nhối cận kề,<br />Hóa thành độc dược ngay lúc miệng ong hút nhụy.<br />Phải, ngay trong đền thờ của Lạc Thú<br />Nàng U Sầu che mạng có thánh điện tối cao của mình,<br />Dẫu chẳng ai thấy ngoại trừ kẻ có chiếc lưỡi dũng mãnh<br />Dám nghiền nát trái nho Hoan Lạc nơi vòm họng tinh tế;<br />Linh hồn người đó sẽ nếm trải nỗi buồn từ quyền năng của nàng,<br />Và bị treo lơ lửng giữa những chiến tích mây mờ của nàng. ** "Ode on Melancholy", khổ 3 ==== ''The Eve of St. Agnes'' ==== * Đêm trước ngày Thánh Agnes – Ôi, buốt giá đắng cay làm sao!<br />Cú vọ, dù mang đủ lông vũ, vẫn run rẩy vì giá rét;<br />Thỏ rừng khập khiễng rụt rè bước qua thảm cỏ đóng băng,<br />Và bầy cừu im lìm cuộn mình trong chuồng len ấm. ** Khổ 1 * Giọng lưỡi hoàng kim của âm nhạc<br />Đã dỗ dành người đàn ông già nua nghèo khó này đến trào nước mắt. ** Khổ 3 * Tiếng kèn bạc gắt gỏng bắt đầu cất lời quở trách. ** Khổ 4 * Khúc nhạc khắc khoải tựa một vị Thần trong cơn đau đớn. ** Khổ 7 * Nàng thở dài mong ngóng những giấc mơ ngày lễ Agnes, giấc mơ ngọt ngào nhất trong năm. ** Khổ 7 * Say ngủ trong lòng những truyền thuyết xa xưa. ** Khổ 15 * Chợt một ý nghĩ hiện về tựa đóa hồng nở rộ,<br />Làm bừng đỏ vầng trán chàng, và trong trái tim đau đớn<br />Dấy lên một cơn bạo loạn sắc tía. ** Khổ 16 * Một sinh linh già yếu, bất lực, run rẩy nơi nghĩa địa. ** Khổ 18 * Như thể chú chim sơn ca không lưỡi cố phồng căng<br />Cuống họng trong vô vọng, rồi chết vì nghẹn thở nơi khe núi hẻo lánh. ** Khổ 23 * Trăng mùa đông chiếu rọi thẳng vào ô cửa sổ này,<br />'''Và hắt sắc đỏ ấm áp lên khuôn ngực trắng ngần của Madeline''',<br />Khi nàng quỳ gối cầu xin ân huệ và phước lành của thiên đường;<br />Sắc hồng rơi trên đôi bàn tay nàng đang chắp lại. ** Khổ 25 * Nàng tháo từng món trang sức ấm áp của mình;<br />Nới lỏng vạt áo ngực ngát hương; dần dà<br />Tấm xiêm y lộng lẫy trượt sột soạt xuống đầu gối nàng. ** Khổ 26 * Tựa như đóa hồng khép cánh lại để trở về làm nụ non. ** Khổ 27 * Và nàng vẫn chìm trong giấc ngủ mi mắt biếc xanh,<br />Trên tấm vải lanh trắng tinh, êm ái và thoang thoảng hương hoa oải hương. ** Khổ 30 * Cùng những thứ siro trong vắt, đượm hương quế. ** Khổ 30 * Chàng tấu lên một khúc dân ca cổ từ lâu đã im tiếng,<br />Xứ Provence gọi là "La belle dame sans mercy." ** Khổ 33 * Nàng vội vã theo lời chàng, lòng đầy sợ hãi,<br />Bởi quanh đây muôn loài rồng đang say ngủ,<br />Có lẽ đang trừng mắt canh chừng với những ngọn giáo sẵn sàng –<br />Họ lần tìm lối đi trong bóng tối bước xuống cầu thang rộng. –<br />Khắp ngôi nhà chẳng nghe thấy một tiếng động nhân gian.<br />Ngọn đèn treo dây xích chập chờn bên mỗi cánh cửa;<br />Tấm thảm thêu cảnh kỵ sĩ, chim ưng và chó săn,<br />Phấp phới trong tiếng gầm gào của cơn gió bủa vây;<br />'''Và những tấm thảm dài phập phồng dọc sàn nhà lộng gió.''' ** Khổ 40 * Và họ đã ra đi: phải, từ muôn vàn năm trước<br />Đôi tình nhân ấy đã trốn chạy vào cơn bão tố. ** Khổ 42 ==== ''Ode to a Nightingale'' ==== :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> [[Tập tin:W. J. Neatby - Keats - Nightingale.jpg|nhỏ|Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề.]] * Tim ta đau nhói, và cơn tê dại mơ màng làm buốt giá<br />Các giác quan, như thể ta vừa uống cạn chén độc cần,<br />Hay vừa nốc cạn liều thuốc phiện đắng ngắt<br />Chỉ một phút trước, rồi chìm dần về phía dòng sông Quên: <br />Chẳng phải vì ghen tị với số phận hạnh phúc của ngươi,<br />Mà bởi quá đỗi hân hoan trong niềm hạnh phúc của ngươi, –<br />Rằng ngươi, nàng Dryad cánh nhẹ của cây rừng,<br />Nơi vạt đất du dương<br />Của sắc xanh cây dẻ gai và bóng râm vô tận,<br />Đang cất cao tiếng hát ngợi ca mùa hè bằng tất cả sự thảnh thơi. ** Khổ 1 * '''Ôi, ước gì có một ngụm rượu nho cổ kính! Từng được<br />Làm mát qua bao niên kỷ trong lòng đất sâu thẳm.'''<br />Mang hương vị của Nữ thần Hoa và màu xanh đồng nội,<br />Điệu vũ khúc, câu hò xứ Provence, và niềm vui rám nắng!<br />Ôi ước gì có một chén đầy ắp phương Nam ấm áp,<br />Tràn đầy dòng suối nguồn Hippocrene chân thật, ửng hồng,<br />Với những bọt tăm lấp lánh chớp mắt nơi miệng chén,<br />Và bờ môi nhuốm sắc tím nồng nàn. ** Khổ 2 * Hãy tan biến thật xa, hòa tan, và quên lãng hoàn toàn<br />Điều mà ngươi giữa vòm lá chưa từng hay biết,<br />Sự mệt mỏi, cơn sốt và nỗi bồn chồn<br />Nơi chốn này, nơi con người ngồi nghe tiếng rên xiết của nhau;<br />Nơi chứng bại liệt làm rung rinh vài sợi tóc bạc buồn bã cuối cùng,<br />Nơi tuổi trẻ tái nhợt, gầy guộc như bóng ma rồi chết mòn;<br />Nơi chỉ cần suy nghĩ thôi cũng đã ngập tràn phiền muộn<br />Và những nỗi tuyệt vọng với đôi mắt màu chì. ** Khổ 3 * '''Đã ở bên ngươi rồi! Đêm thật dịu dàng.''' ** Khổ 4 * Ta chẳng thể nhìn thấy những đóa hoa nào dưới chân mình,<br />Cũng không thấy làn hương êm dịu nào vương trên cành biếc,<br />Nhưng giữa bóng tối ướp hương, ta đoán từng vị ngọt ngào. ** Khổ 5 * Và đứa con đầu lòng của giữa tháng Năm,<br />Đóa hồng xạ hương sắp nở, đượm đầy men rượu sương đêm,<br />'''Chốn lui tới vo ve của bầy ruồi trong những chiều hè.''' ** Khổ 5 [[Tập tin:Portrait of Keats - HH.jpg|nhỏ|Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?]] * '''Trong bóng tối ta lắng nghe; và đã biết bao lần<br />Ta gần như phải lòng cái [[Chết]] thanh thản''',<br />Gọi tên Người bằng những danh xưng êm ái trong bao vần thơ ngẫm ngợi,<br />Để gửi gắm vào không trung hơi thở bình yên của mình;<br />Giờ đây hơn bao giờ hết, chết đi dường như là điều phong phú xiết bao,<br />Để chấm dứt giữa đêm trường mà không một chút đớn đau,<br />Khi ngươi đang trút trọn linh hồn mình ra ngoài<br />Trong cơn xuất thần cuồng nhiệt dường ấy!<br />Ngươi vẫn sẽ hót, còn tai ta hóa thành vô ích –<br />Trước khúc chiêu hồn cao cả của ngươi, ta chỉ còn là một mảnh đất cằn. ** Khổ 6 * '''Ngươi đâu sinh ra để chết, hỡi Cánh Chim bất tử!<br />Chẳng thế hệ đói khát nào giẫm đạp được ngươi;<br />Tiếng hót ta nghe trong đêm tàn này từng được lắng nghe<br />Từ thời cổ đại bởi bậc hoàng đế lẫn gã hề''':<br />Có lẽ chính khúc ca ấy đã tìm được lối đi<br />Qua trái tim sầu muộn của nàng Ruth, khi nhớ nhà quay quắt,<br />Nàng đứng rơi lệ giữa ruộng ngô xa lạ;<br />Cũng chính khúc ca ấy đã biết bao lần<br />Quyến rũ những ô cửa sổ ma thuật, mở ra đầu ngọn sóng<br />Của những vùng biển hiểm nguy, nơi xứ sở thần tiên hoang phế. ** Khổ 7 * Hoang phế! Chính từ ngữ ấy như một hồi chuông<br />Kéo giật ta từ ngươi trở về với cái tôi cô độc! ** Khổ 8 * '''Đó là một thị kiến, hay giấc mơ khi thức?<br />Khúc nhạc kia đã bay biến: – Ta đang thức hay đang ngủ?''' ** Khổ 8 ==== ''Ode on a Grecian Urn|Ode on a Grecian Urn'' ==== [[Tập tin:keats urn.jpg|nhỏ|"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.]] :<small>Sáng tác tháng 5 năm 1819</small> * Hỡi cô dâu chưa vấy bụi trần của sự tĩnh lặng,<br />Hỡi đứa con nuôi của thinh lặng và thời gian chậm rãi,<br />Sử gia của chốn rừng già, kẻ có thể diễn bày<br />Một tích truyện ngát hoa ngọt ngào hơn vần thơ chúng ta:<br />Truyền thuyết viền lá nào đang ám ảnh quanh dáng hình ngươi?<br />Của thần linh hay người phàm, hay của cả hai,<br />Nơi thung lũng Tempe hay những hẻm núi xứ Arcady?<br />'''Họ là những người phàm hay thần thánh nào đây? Những thiếu nữ ngập ngừng nào kia?<br />Cuộc rượt đuổi điên cuồng nào? Nỗ lực trốn thoát nào?<br />Tiếng sáo và tiếng trống lục lạc nào? Cơn ngây ngất hoang dại nào?''' ** Khổ 1 * '''Những giai điệu nghe thấy thì ngọt ngào, nhưng những giai điệu không nghe thấy<br />Còn ngọt ngào hơn: vì thế, hỡi những chiếc sáo êm dịu, hãy tấu tiếp đi;<br />Không phải cho đôi tai trần tục, mà đáng trân quý hơn,<br />Hãy thổi cho tâm linh những khúc ca không thành tiếng.'''<br />Chàng trai trẻ khôi ngô, dưới bóng cây, ngươi không thể dứt khỏi<br />Bài ca của mình, và những tán cây kia cũng chẳng bao giờ trơ trụi;<br />Hỡi Tình Nhân táo bạo, chẳng bao giờ, chẳng bao giờ ngươi hôn được nàng,<br />Dẫu đã cận kề đích đến – nhưng, chớ đau buồn;<br />Nàng không thể phai tàn, dẫu ngươi chưa chạm tới niềm hoan lạc,<br />Ngươi sẽ mãi yêu thương, và nàng sẽ mãi vẹn toàn nét xuân thì! ** Khổ 2 * Những ai đang tiến đến buổi hiến tế kia?<br />Tới bàn thờ xanh tươi nào, hỡi vị tư tế huyền bí,<br />Ngươi đang dắt theo con bò cái tơ rống lên trời xanh,<br />Và toàn bộ mạn sườn mượt mà của nó được kết đầy vòng hoa? ** Khổ 4 * Hỡi hình hài câm lặng, ngươi trêu ngươi tư tưởng chúng ta<br />Tựa hồ cõi vĩnh hằng: Khúc Điền Viên Lạnh Giá!<br />Khi tuổi già tàn phá thế hệ này,<br />Ngươi sẽ vẫn ở lại, giữa những nỗi đau khác<br />Không phải của chúng ta, như một người bạn của con người, người mà ngươi nhắn nhủ,<br />'''"Cái đẹp là chân lý, chân lý là cái đẹp," – đó là tất cả<br />Những gì các người biết nơi trần thế, và là tất cả những gì các người cần biết.''' ** Khổ 5 == Nhận định về Keats == * Nhóm người khác mà tôi sinh ra để dành trọn tâm hồn là các nhà thơ Lãng mạn. Đặc biệt là Shelley, và Keats. ** Paula Gunn Allen, phỏng vấn trong ''Survival This Way: Interviews with American Indian Poets'' của Joseph Bruchac (1987) * Ông ấy đã gây ra tổn hại dường nào cho Thi ca Anh quốc. Giống như Robert Browning là người có tài năng vừa phải nhưng khát khao mãnh liệt sự chuyển động và viên mãn, để rồi chỉ thu về một sự bề bộn hỗn loạn, thì Keats với tài năng xuất chúng tột bậc, cũng bị thiêu đốt bởi khát vọng này; và không thể tạo ra những tác phẩm thực sự sống động và lay động, như lương tâm ông vẫn không ngừng mách bảo. Họ không chịu kiên nhẫn cũng chẳng hiểu rằng họ phải bắt đầu bằng một Ý niệm về thế giới để không bị sự bề bộn của thế giới đè bẹp: hoặc nếu không đạt được điều đó, thì ít nhất phải bằng những ý niệm độc lập; và mọi thứ khác rồi (có lẽ) sẽ được thêm vào cho họ. ** Matthew Arnold, thư gửi Arthur Clough, 1848/9, trong ''John Keats: The Critical Heritage'', G.M. Matthews chủ biên (1995) * Tôi nghĩ mình thưởng thức những bức thư của ông ấy còn nhiều hơn cả thơ ca. Ông ấy có một bộ óc tuyệt vời và một cá tính rất kiên cường. ** Elizabeth Bishop, phỏng vấn năm 1966 trong ''Conversations with Elizabeth Bishop'', George Monteiro chủ biên (1996) * [Về cuốn ''Cuộc đời Keats'' của Monckton Milne] Một nỗ lực bắt chúng ta ăn thịt chó chết bằng cách nêm nếm gia vị và nấu nướng tinh vi [...] Kiểu người như Keats ngày càng trở nên kinh tởm đối với tôi. Cơn đói khát mọi thứ khoái lạc thuộc mọi thể loại, kết hợp với sự thiếu hụt mọi sức mạnh khác – quả là một sự kết hợp! Một cấu trúc tâm hồn như vậy, thời xưa hẳn đã quá rõ ràng, là một 'Chiếc bình được chọn của Địa ngục' [...] ** Thomas Carlyle, trong cuốn ''Thomas Carlyle: A History of His Life in London, 1834 - 1881'' của J.A. Froude (1884) * Đây là thứ thơ ca đái dầm của thằng nhóc Johnny Keats [...] Trên bàn của tôi la liệt thứ rác rưởi của Keats và những kẻ tương tự, đến nỗi tôi xấu hổ khi phải nhìn vào chúng [...] Tôi van xin đấy, đừng đưa Keats ra nữa: hãy lột da sống hắn đi; nếu mấy người không làm thì chính tôi sẽ tự tay lột da hắn: không thể nào chịu nổi thói ngớ ngẩn lảm nhảm của cái thằng người lùn ấy. :Tờ ''Edinburgh'' ca ngợi Jack Keats hay Ketch, hay bất kể tên hắn là gì [...] trời ạ, thơ của hắn là thứ Thủ dâm Thi ca – tương tự như khoái lạc mà một gã kéo vĩ cầm người Ý tìm thấy khi bị một ả gái điếm treo lơ lửng mỗi ngày ở phố Drury Lane. Chuyện này diễn ra vài tuần: cuối cùng ả đi mua một panh rượu Gin – gặp một ả khác, tán gẫu quá lâu, và Cornelli bị treo cổ chết thẳng cẳng trước khi ả quay về. Đó chính là thứ rác rưởi mà họ ca tụng, và đó sẽ là hồi kết cho thứ thơ ca vươn dài của kẻ Tự làm ô uế tâm trí con người một cách khốn khổ này. :Ông Keats, người mà anh hỏi thăm thơ phú, đối với tôi hiện lên đúng như những gì tôi đã nói: lối viết như vậy là một kiểu thủ dâm tinh thần – hắn luôn tự kích thích Trí tưởng tượng của mình. Ý tôi không phải hắn khiêu dâm, mà là hắn mồi chài các ý niệm của mình vào một trạng thái suy đồi, thứ chẳng phải thơ ca cũng chẳng phải điều gì khác ngoài ảo ảnh nhà thương điên sinh ra từ thịt lợn sống và thuốc phiện. :* Lord Byron, thư gửi John Murray, 12 tháng 8 – 9 tháng 9 năm 1820, trong ''The Routledge Literary Sourcebook on the Poems of John Keats'', J. Strachan chủ biên (2003) * Sự phẫn nộ của tôi trước việc ông Keats đánh giá thấp Pope khó lòng cho phép tôi đánh giá công bằng thiên tài của ông ấy, người mà bất chấp mọi sự hào nhoáng kỳ quặc trong phong cách, chắc chắn là một tài năng đầy hứa hẹn. Đoạn thơ dang dở Hyperion của ông dường như thực sự được truyền cảm hứng từ các thần Titan, và tráng lệ tựa như tác phẩm của Aeschylus. Ông là một mất mát lớn cho nền văn học của chúng ta. ** Lord Byron, 12 tháng 11 năm 1821 * '''Keats, một người hoàn toàn xa lạ với sự nhầm lẫn, có thể tin rằng con chim sơn ca mê hoặc ông chính là con chim mà nàng Ruth từng nghe thấy giữa ruộng ngô xa lạ ở xứ Bethlehem thuộc Judah'''; Stevenson đưa ra giả thuyết về một cánh chim duy nhất nuốt chửng nhiều thế kỷ: "con chim sơn ca nuốt chửng thời gian." Arthur Schopenhauer – một Schopenhauer nồng nhiệt và sáng suốt – đưa ra lý do: sự trực tiếp thuần túy thuộc về thể xác mà loài vật sinh sống, không hề bận tâm đến cái chết và ký ức. Sau đó ông nói thêm, không giấu nổi một nụ cười: Bất cứ ai nghe tôi quả quyết rằng con mèo xám đang chơi đùa ngoài sân lúc này chính là con mèo từng nhảy nhót và làm trò ở đó năm trăm năm trước sẽ nghĩ bất cứ điều gì họ thích về tôi, nhưng sẽ là một dạng điên rồ kỳ lạ hơn nếu hình dung rằng con mèo ngày nay về cơ bản là một con mèo hoàn toàn khác. ** Jorge Luis Borges, trong "A History of Eternity", dịch trong ''Selected Non-Fictions'' Tập 1 (1999), Eliot Weinberger chủ biên * Vào phần sau của mùa hè năm ấy [1817], lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông. Chúng tôi được giới thiệu với nhau trên đường Hampstead.... ...trong cuộc gặp gỡ kéo dài một phút ấy, tự đáy lòng tôi đã khao khát được làm quen, nếu không muốn nói là làm bạn với ông... Ông có vóc dáng nhỏ bé, cân đối, thân hình gọn gàng, và tuy gầy nhưng khá săn chắc; – một trong số nhiều người chứng minh rằng khí phách nam nhi khác biệt với chiều cao và thể xác vạm vỡ. '''Không có ma thuật nào sánh bằng một gương mặt chân thành, và tôi chưa từng thấy gương mặt của sinh linh nào chân thành như của ông.''' Đôi mắt to đẹp của ông ánh lên vẻ trí tuệ rạng rỡ, và ngời sáng (vào thời điểm đó!) niềm hy vọng cùng niềm vui. Người ta từng nhận xét rằng nét khiếm khuyết nhất là khuôn miệng của ông; và đôi khi đúng là như vậy. Nhưng bất cứ khi nào ông cất lời, hoặc hào hứng về điều gì, biểu cảm của làn môi lại biến đổi và tinh tế đến mức có thể gọi là khôi ngô. ** Charles Armitage Brown, ''Life of John Keats'', tr. 44 * '''Một chàng trai trẻ rất kỳ lạ, nhưng tính tình hòa nhã, tốt bụng, và thực sự rất thông minh.''' ** Bà Maria Dilke, dẫn trong ‘Papers of a Critic’, Sir Charles Dilke, I, tr. 8 * Tôi cũng thích các nhà thơ Lãng mạn. Wordsworth, Keats, Burns và Blake là một vài trong số những tác giả yêu thích của tôi. Có điều gì đó trong tinh thần nổi loạn của họ chống lại những tệ nạn của quá trình công nghiệp hóa đã làm tôi xúc động. Dĩ nhiên giờ đây, một phần sự bi quan, chủ nghĩa thần bí và nhãn quan hiện thực phê phán hạn hẹp của họ khiến tôi cảm thấy khá khó chịu. ** Micere Githae Mugo, trong ''Talking with African Writers'', Jane Wilkinson chủ biên * '''Thời thơ ấu Keats chẳng hề gắn bó với sách vở. Sở thích của cậu là đánh nhau. Cậu sẵn sàng đấm nhau với bất kỳ ai – sáng, trưa và tối, kể cả với em trai mình. Đó là cơm ăn nước uống của cậu.''' Người họ hàng thủy thủ Jennings luôn ngự trị trong suy nghĩ của mấy anh em, và họ quyết tâm giữ vững danh tiếng dũng cảm của gia đình; George theo cách thụ động; John và Tom thì dữ dội hơn. Những người bạn thân của John rất ít; sau khi được biết đến là kẻ sẵn sàng ẩu đả, cậu dường như thích họ vì một thứ tính cách hài hước kệch cỡm và hề hước. Lúc này tôi nhớ lại niềm thích thú của cậu trước những cử chỉ và trò nghịch ngợm phi thường của một cậu bé tên Wade vốn nổi tiếng vì điều này.... Cậu là một đứa trẻ mà bất kỳ ai nhìn vào sự hoạt bát phi thường và vẻ đẹp ngoại hình đều có thể dễ dàng hình dung sẽ trở thành một vĩ nhân – nhưng là trong quân sự hơn là văn học. ** Edward Holmes, bạn học tại Trường Clarke ở Enfield * Cậu ấy được các bạn đồng môn gọi là 'Keats bé nhỏ', khi trưởng thành tối đa cũng không cao quá một mét rưỡi.... Trong phòng, cậu luôn đứng bên cửa sổ, nhìn đăm đăm vào không gian, đến mức chỗ ngồi bên cửa sổ được các bạn gọi là chỗ của Keats.... Trong giảng đường, cậu dường như ngồi tách biệt và mải mê với điều gì khác, như thể chủ đề bài giảng gợi cho cậu những suy nghĩ không liên quan thực tế đến nó. Cậu thường lúc thì nhập tâm, lúc thì lơ đễnh trôi dạt ra ngoài theo một cách mơ màng. <br />Cậu chưa từng đặt nhiều tầm quan trọng vào việc học y của mình, và thực sự coi nghề y là nghề để mưu sinh trong một thế giới bận rộn, mà không chắc liệu mình có thể chịu đựng nổi áp lực của nó hay không. Tuy nhiên, cậu có ý thức về năng lực của chính mình, và thậm chí về sự vĩ đại của mình, dẫu nó có thể không bao giờ được công nhận.... '''Thi ca trong tâm trí cậu là đỉnh cao của mọi khát vọng: điều duy nhất xứng đáng với sự chú ý của những bộ óc siêu việt: cậu nghĩ như vậy: mọi mưu cầu khác đều tầm thường và tẻ nhạt.''' Cậu không có khái niệm nào về danh vọng hay sự vĩ đại ngoại trừ việc nó gắn liền với sự theo đuổi thi ca, hoặc việc đạt tới sự xuất sắc trong thơ ca.... Cậu có phong thái lịch thiệp và khi hạ mình nói về các chủ đề khác, cậu tỏ ra dễ mến và thông minh. Cậu tiếp thu rất nhanh và nhạy bén khi chọn chú tâm vào bất kỳ chủ đề nào. Cậu là một người điềm tĩnh, trầm lặng và cư xử đúng mực, không bao giờ hướng tới những thú vui thấp hèn hay đồi bại. ** Henry Stephens, bạn học tại Bệnh viện Guy * Ông thấp hơn chiều cao trung bình; phần chi dưới nhỏ nhắn so với phần thân trên, nhưng gọn gàng và cân đối. Vai ông rất rộng so với tầm vóc; ông có một gương mặt nơi năng lượng và sự nhạy cảm hòa quyện một cách đáng kinh ngạc, một sức mạnh hăm hở bị kìm hãm và nhẫn nại bởi bệnh tật. Từng đường nét vừa sắc sảo rõ ràng lại vừa sống động tinh tế. Nếu có nét biểu cảm nào khiếm khuyết thì đó là ở khuôn miệng, nơi phảng phất đôi chút tính hiếu chiến... Đầu ông là một câu đố kỳ lạ đối với các nhà nhân tướng học, với hộp sọ nhỏ khác thường; một nét kỳ dị mà ông có điểm chung với Lãnh chúa Byron và ông Shelley, không chiếc mũ nào của họ mà tôi có thể đội vừa. ** Leigh Hunt, "Mr. Keats" * Và anh không nhớ chuyện Keats từng đề nghị nâng ly 'Chúc cho ký ức về Newton bị đảo lộn' và khi anh nài nỉ đòi giải thích trước khi uống, ông ấy đã nói: 'Bởi vì ông ta đã phá hủy chất thơ của chiếc cầu vồng khi quy nó về một lăng kính'? Ôi, người bạn già thân mến của tôi, anh và tôi sẽ chẳng bao giờ còn thấy lại những ngày tháng như thế nữa! ** Benjamin Haydon, Hồi ký và Tự truyện * Tôi nhớ... lần đầu tiên ông được giới thiệu với ông Haydon; và khi trong cuộc trò chuyện, người nghệ sĩ vĩ đại ấy hỏi ông "liệu ông có yêu đất nước mình không", máu đã dồn lên má và nước mắt trào ra nơi khóe mắt ông trước câu trả lời đầy nhiệt huyết. '''Tình yêu tự do của ông thật nồng nàn và cao cả.''' ** Charles Cowden Clarke, bài viết trên tờ ''Morning Chronicle'' (27 tháng 7 năm 1821) * Cậu ấy đang chăm chỉ học tập, ôn lại tiếng Latinh, chuẩn bị học tiếng Hy Lạp, và dường như nhìn chung có lý trí hơn bình thường – nhưng '''cậu ấy là một kẻ bốc đồng thất thường, không thể trông cậy được nhiều. Song cậu ấy chẳng nghĩ tới điều gì ngoài thi ca như mục đích và cùng đích của đời mình, và rồi lúc này hay lúc khác, tôi không nghi ngờ rằng cậu ấy sẽ làm nên điều gì đó có giá trị.''' ** James Augustus Hessey gửi John Taylor (16 tháng 9 năm 1818), dẫn lại bởi Edmund Blunden trong ''Keats's Publisher'', tr. 56 * Người đã khuất là một trong những người bạn ân cần nhất mà tôi từng có, ấy vậy mà có lẽ ông đối với tôi cũng chẳng ân cần hơn đối với những người khác. Trí tuệ mãnh liệt và cảm xúc mạnh mẽ của ông, tôi thực sự tin rằng, lẽ ra đã cống hiến được điều gì đó cho đời nếu cuộc đời dung tha cho ông – nhưng ông mang bản tính quá đỗi nhạy cảm – và vì thế ông đã bị hủy hoại! ** John Hamilton Reynolds * [Keats] chính là linh hồn của lòng dũng cảm và khí phách trượng phu, và giống như ''Đức Thánh Linh'' nhiều ngang như ''chú nhóc Johnny Keats''. ** George Keats * Khi có người bày tỏ sự kinh ngạc với Shelley rằng Keats, người vốn không thông thạo tiếng Hy Lạp, lại có thể viết một cách tao nhã và chuẩn mực cổ điển về các vị thần và nữ thần của họ đến thế, Shelley đã đáp: “Anh ấy ''chính là'' một người Hy Lạp.” ** Richard H. Horne, ''A New Spirit of the Age'' (1844) * hãy nghĩ xem: những vần thơ đã gắn chặt cảnh quan này: Blake, Donne, Keats ** Tuyển tập thơ của Muriel Rukeyser * Với Wordsworth, cõi chết thường ẩn hiện ngay dưới bề mặt, và với Keats cũng vậy, một đứa con khác của thời đại mình, người tin rằng – chịu ảnh hưởng từ {{w:Thời kỳ Khai sáng}} – chúng ta là những thực thể vật chất trong một vũ trụ vật chất và ta buộc phải chấp nhận số phận đó. Chúng ta phải chết, nhưng không có bờ vai thần thánh nào để tựa vào, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được những chân lý sâu xa nhất, những điều mà trái ngược với mọi tuyên bố của Thời kỳ Khai sáng, cả lý trí lẫn khoa học đều không thể chạm tới. Keats mang một nhãn quan bi kịch về cuộc đời. Ông rõ ràng là một người thuộc {{w:Chủ nghĩa lãng mạn}}; chẳng có Miền đất hứa Khai sáng nào chờ đợi ông cả. ** Brian L. Silver, ''The Ascent of Science'' (1998) * Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu chỉ là một người mà văn bia của Keats mô tả: “Nơi đây yên nghỉ một người mà tên tuổi được khắc trên mặt nước.” ** Rebecca Solnit, phỏng vấn trên tạp chí New York Times (2018) * Tôi dành một tình yêu trọn đời cho John Keats, nhà thơ vĩ đại nhất trong số các nhà thơ Lãng mạn Anh sống vào thế kỷ thứ mười chín. Khả năng kỳ diệu trong việc tạo ra cái đẹp bằng ngôn từ của ông đã chạm thấu tâm hồn tôi. Tôi vẫn còn rất trẻ khi đọc bức thư Keats gửi cho em trai mình năm 1817. Trong đó, ông viết về "năng lực tiêu cực", điều mà ông giải thích là phẩm chất "khi một người có khả năng tồn tại giữa những bất định, huyền bí, nghi ngờ mà không hề bồn chồn đuổi theo sự thật và lý lẽ." Tôi bị cuốn hút bởi ý tưởng này vì rất nhiều điều tôi từng trải qua khi còn là một đứa trẻ, thiếu niên và chàng trai trẻ dường như đều bị bao phủ trong bức màn huyền bí. ** Cornel West, ''Brother West: Living and Loving Out Loud, A Memoir'' (2009) == Xem thêm == * [[Percy Bysshe Shelley]] * [[w|Lord Byron]] * [[w|William Wordsworth]] == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} * [http://bartleby.com/126/ Toàn tập tác phẩm thi ca] * [http://www.john-keats.com/ John Keats.com] * [http://englishhistory.net/keats/contents.html Cuộc đời và tác phẩm của John Keats] * [http://keatsian.com/ Keatsian.com] [[Thể loại:Sinh năm 1795]] [[Thể loại:Mất năm 1821]] [[Thể loại:Nhà thơ Anh]] gpc25auhy9kysppypkp9moswbhcvv00 Bản mẫu:Harvard citation no brackets 10 10722 63729 2026-10-08T09:54:05Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “<includeonly>{{#gọi:Footnotes|harvard_citation}}</includeonly><noinclude> {{tài liệu}} </noinclude>” 63729 wikitext text/x-wiki <includeonly>{{#gọi:Footnotes|harvard_citation}}</includeonly><noinclude> {{tài liệu}} </noinclude> s9iscvt0c99t5jcfsnccrlobwmlzse0 63737 63729 2026-10-08T09:59:27Z Làm Việc Thiện 13742 Đã khóa “[[Bản mẫu:Harvard citation no brackets]]” ([Sửa đổi=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn) [Di chuyển=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn)) 63729 wikitext text/x-wiki <includeonly>{{#gọi:Footnotes|harvard_citation}}</includeonly><noinclude> {{tài liệu}} </noinclude> s9iscvt0c99t5jcfsnccrlobwmlzse0 Bản mẫu:Harvard citation no brackets/doc 10 10723 63730 2026-10-08T09:54:18Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{Trang con tài liệu}} {{Sử dụng nhiều}} {{lua|Mô đun:Footnotes}} Bản mẫu '''harvnb''' tạo ra một [[WP:Harvard reference|chú thích tác giả-ngày]] ngắn với liên kết một định hướng đến bản mẫu chú thích phù hợp đầu tiên trên cùng một trang. {{Harvard citation documentation|harvnb}} <includeonly> <!-- ADD CATEGORIES BELOW THIS LINE --> [[Thể loại:Bản mẫu chú thích tác giả-ngày]] </…” 63730 wikitext text/x-wiki {{Trang con tài liệu}} {{Sử dụng nhiều}} {{lua|Mô đun:Footnotes}} Bản mẫu '''harvnb''' tạo ra một [[WP:Harvard reference|chú thích tác giả-ngày]] ngắn với liên kết một định hướng đến bản mẫu chú thích phù hợp đầu tiên trên cùng một trang. {{Harvard citation documentation|harvnb}} <includeonly> <!-- ADD CATEGORIES BELOW THIS LINE --> [[Thể loại:Bản mẫu chú thích tác giả-ngày]] </includeonly> kvm80oqidphp7gitqw1zdh6zvjczjxb 63731 63730 2026-10-08T09:55:16Z Làm Việc Thiện 13742 63731 wikitext text/x-wiki {{Trang con tài liệu}} {{Sử dụng nhiều}} {{lua|Mô đun:Footnotes}} Bản mẫu '''harvnb''' tạo ra một [[WP:Harvard reference|chú thích tác giả-ngày]] ngắn với liên kết một định hướng đến bản mẫu chú thích phù hợp đầu tiên trên cùng một trang. {{Tài liệu chú thích Harvard}} <includeonly> <!-- ADD CATEGORIES BELOW THIS LINE --> [[Thể loại:Bản mẫu chú thích tác giả-ngày]] </includeonly> 4dpldyzc175n9gxmx0mh5fgmi41rp0h Bản mẫu:Tài liệu chú thích Harvard 10 10724 63732 2026-10-08T09:55:28Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “The '''Harv''' family of templates are used for creating ''short-cites'' (or "short citations"), typically used as ''in-line citations'', that link to the ''full citation'' (with the full bibliographic details) for a source. This enables a source to be cited multiple times, with each short-cite having an ''in-source specification'' (such as a page number) and any other details or comments pertinent to that specific instance. This functionality eliminate…” 63732 wikitext text/x-wiki The '''Harv''' family of templates are used for creating ''short-cites'' (or "short citations"), typically used as ''in-line citations'', that link to the ''full citation'' (with the full bibliographic details) for a source. This enables a source to be cited multiple times, with each short-cite having an ''in-source specification'' (such as a page number) and any other details or comments pertinent to that specific instance. This functionality eliminates the need for replicating notes with "named-refs" (the "&lt;ref name= ...>" construct). The '''sfn'''—"shortened footnote"—templates create notes (footnotes) containing harv templates. Note that the use (or even non-use) of these templates is an element of citation "style", and adding or removing them in articles with an established style should be consistent with that style. See [[WP:CITEVAR]]. ==Cách sử dụng== === Chế độ mặc định === In its default mode {{{1}}} generates an "author-date" style short-cite from the following parameters: : <code>&#123;&#123; {{{1}}} | &lt;{{var|last1}}*> | &lt;{{var|last2}}> | &lt;{{var|last3}}> | &lt;{{var|last4}}> | &lt;{{var|year}}*> | p= &lt;{{var|page}}> | loc= &lt;{{var|location}}> &#125;&#125;</code> with :- &lt;{{var|last1}}>–&lt;{{var|last4}}> – positional parameters; names of one to four authors; &lt;{{var|last1}}> required :- &lt;{{var|year}}> – required; four-digit year; may have a lowercase disambiguation letter :- {{para|p}} – specific page referenced in the source :- {{para|pp}} – comma separated list of individual pages and / or range(s) of pages referenced in the source :- {{para|loc}} – in-source location when {{para|p}} and {{para|pp}} are inappropriate; may be used to supplement {{para|p}} and {{para|pp}}; information such as a section or figure number. {{{1}}} follows the standard convention that a list of four author names is reduced to the name of the first author followed by "et al." (Latin for "and others"). Where two or more short-cites have the same author(s) and year, but refer to different citations, a lowercase letter can be appended to &lt;{{var|year}}> to disambiguate them. (E.g.: <code>&#123;&#123; {{{1}}} | Smith | 2000a&#125;&#125;</code>; <code>&#123;&#123; {{{1}}} | Smith | 2000b&#125;&#125;</code>). To link to a full citation, the author(s) and year must match those used in the cite or citation template. The {{tl|chú thích}} template automatically generates the proper "author-date" anchor. The {{tl|cite xxx}} family of templates do not do this unless {{para|ref|harv}} is added. This template can be placed in the text if so desired, but most commonly is placed inside a note (that is, between {{tag|ref}} tags). Additional information, comments, and even other short-cites can be placed in the same note. === Chế độ thay thế === While {{{1}}} requires an initial string of text, there is no requirement that it be a "proper" name. This permits some useful alternatives in the following form: : <code>&#123;&#123; {{{1}}} | &lt;{{var|identifying text}}*> | &lt;{{var|year}}*> | p= &lt;{{var|page}}> | loc= &lt;{{var|location}}> &#125;&#125;</code> ==== Ví dụ: báo ==== When citing newspaper articles the name of the newspaper is often considered more important than the actual authors (which often are not identified), and it is also conventional bibliographic practice that newspaper articles are listed chronologically under the name of the newspaper. Also, for daily or weekly publications a more precise date is usually required. In such cases a valid short-cite might be: :{{harvnb|''Los Angeles Times'', July 4,|2019}}. This is generated with the following template: :{{tlx|harvnb|<nowiki>''Los Angeles Times''</nowiki>, July 4,|2019}}. The anchor for the link is given to the {{tl|chú thích}} or the {{cite xxx}} template using a {{tl|harvid}} template in a {{para|ref}} parameter. In this case that would look like: :{{para|ref|{{tlx|harvid|<nowiki>''Los Angeles Times''</nowiki>, July 4,|2019}}}} The harvid template should be given exactly the same identifying text and year as used in the {{{1}}} template. ==== Ví dụ: tác phẩm nhiều cuốn sách ==== The ''Assessment Reviews'' of the [[Intergovernmental Panel on Climate Change]] (IPCC) consist of multiple reports with many independently authored (and therefore separately cited) chapters. In such cases, where "Smith et al. 2014" could refer to either chapter 11 ("Human Health") in the report of Working Group II in the fifth review, or to chapter 11 {"Agriculture") in the report of Working Group III in the fifth review, the "author-date" form is inadequate; an indexed form of short-cite, such as :{{harvnb|IPCC AR5 WG2 Ch11|2014|p= 741|loc= FAQ 11.1}}. is more meaningful, and handier to use and keep track of. This is generated with: :{{tlx|harvnb|IPCC AR5 WG2 Ch11|2014|4=p= 741|5=loc= FAQ 11.1}}. For both {citation} and {cite} templates the anchor is specified with: :{{para|ref|{{tlx|harvid|IPCC AR5 WG2 Ch11|2014}}}} ==== Các ví dụ khác ==== Other examples of alternative ways to use Harv templates can be seen at [[Global Warming]]. ==Đặt bản mẫu trong phần thân bài viết== : <code><nowiki>{{</nowiki>'''{{{1}}}''' | last name(s) of author(s) | year | p=page number</code> ''hoặc'' <code>pp=page range</code> ''hoặc'' <code>loc=other location<nowiki>}}</nowiki></code> Last names of editors can be used, if no authors are given, as author names are given precedence. '''Nếu có nhiều hơn bốn tác giả, hãy cắt bớt danh sách thành bốn người đầu tiên.'''<br /> {{#ifeq:{{{1}}}|sfn|In a section for citations, usually under the heading '''Ghi chú''': : <code><nowiki>{{tham khảo}}</nowiki></code>}} In the references section (or in an earlier footnote): : <code><nowiki>{{</nowiki>[[Bản mẫu:chú thích sách|chú thích sách]]</code> ''hoặc'' <code>[[Bản mẫu:chú thích tạp chí|chú thích tạp chí]]</code>'', etc'' | <code>'''ref=harv'''</code> | ''... other appropriate parameters ...'' <code><nowiki>}}</nowiki></code> hoặc : <code><nowiki>{{</nowiki>[[Bản mẫu:chú thích|chú thích]] |</code> ''... other appropriate parameters ...'' <code><nowiki>}}</nowiki></code> ({{para|ref|harv}} is not required when using {{tl2|chú thích}}). ===Các tham số=== Up to four authors can be given as parameters. (If there are more than four authors only the first four should be listed. Xem [[#Số lượng lớn của các tác giả|§ Số lượng lớn của các tác giả]], dưới đây.) The last required parameter is the year of publication. (All these examples have links which operate. Click on highlighted text.) {{#ifeq:{{{1}}}|sfn|{{markup |<nowiki>Bài viết văn bản.{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|2005|p=25}}</nowiki> |Bài viết văn bản.{{{{{1}}}|Smith|2005|p=25}}<br>{{tham khảo|close=1}} |<nowiki>Bài viết văn bản.{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|Jones|2005|p=25}}</nowiki> |Bài viết văn bản.{{{{{1}}}|Smith|Jones|2005|p=25}}<br> {{tham khảo|close=1}} |<nowiki>Bài viết văn bản.{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|Jones|Brown|2005|p=25}}</nowiki> |Bài viết văn bản.{{{{{1}}}|Smith|Jones|Brown|2005|p=25}}<br> {{tham khảo|close=1}} |<nowiki>Bài viết văn bản.{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|Jones|Brown|Black|2005|p=25}}</nowiki> |Bài viết văn bản.{{{{{1}}}|Smith|Jones|Brown|Black|2005|p=25}}<br> {{tham khảo|close=1}} }}|{{markup |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|2005|p=25}}</nowiki> |{{{{{1}}}|Smith|2005|p=25}} |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|Jones|2005|p=25}}</nowiki> |{{{{{1}}}|Smith|Jones|2005|p=25}} |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|Jones|Brown|2005|p=25}}</nowiki> |{{{{{1}}}|Smith|Jones|Brown|2005|p=25}} |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|Jones|Brown|Black|2005|p=25}}</nowiki>|{{{{{1}}}|Smith|Jones|Brown|Black|2005|p=25}} }} }} The optional parameters {{para|p}}, {{para|pp}} and {{para|loc}} can be used to indicate the location in the source. All of the Harvard citation templates use the same parameters to indicate page numbers or other locations in the text. For single pages, use {{para|p}}; and for multiple pages (such as ranges), use {{para|pp}}. Use of {{para|p}} for multiple pages or {{para|pp}} for single pages can cause [[Trợ giúp:Cite errors/Cite error references duplicate key|cite errors]]. {{#ifeq:{{{1}}}|sfn| {{markup |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|2005|p=25}}</nowiki> |Bài viết văn bản.{{{{{1}}}|Smith|2005|p=25}}<br>{{tham khảo|close=1}} |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|2005|loc=chpt. 3}}</nowiki> |Bài viết văn bản.{{{{{1}}}|Smith|2005|loc=chpt. 3}}<br>{{tham khảo|close=1}} |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|2005|loc=section 7}}</nowiki> |Bài viết văn bản.{{{{{1}}}|Smith|2005|loc=section 7}}<br>{{tham khảo|close=1}} }} | {{markup |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|2005|p=25}}</nowiki> |{{{{{1}}}|Smith|2005|p=25}} |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|2005|pp=25–26}}</nowiki> |{{{{{1}}}|Smith|2005|pp=25–26}} |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|2005|loc=chpt. 3}}</nowiki> |{{{{{1}}}|Smith|2005|loc=chpt. 3}} |<nowiki>{{</nowiki>{{{1}}}<nowiki>|Smith|2005|loc=section 7}}</nowiki>|{{{{{1}}}|Smith|2005|loc=section 7}} }} }} {{#ifeq:{{{1}}}|sfn| The optional parameter {{para|postscript}} hoặc {{para|ps}} can be used to change the text which appears at the end of the note in the reference list. (Xem [[#Nhận xét bổ sung hoặc dấu ngoặc kép|§ Nhận xét bổ sung hoặc dấu ngoặc kép]], dưới đây.) The default is a period (full stop); to remove this use <nowiki>{{sfn|Smith|2005|p=25|ps=none}}</nowiki>. (Xem [[#Không có thời gian đóng cửa|§ Không có thời gian đóng cửa]], dưới đây.) The postscript is only effective the first time {{tl2|sfn}} is used for a particular author, year and location. <br><br> |}} The optional parameter {{para|ref}} is used to specify the reference value that links the short citation to the full citation. This parameter is usually not necessary and it is more common to use {{tl2|sfnRef}} hoặc {{tl2|harvid}} in the reference section. If you specify {{para|ref|none}} no hyperlink is created. Note that, if one does not want the link, it is always possible to simply not use the template. (Not available in {{tl2|sfn}} and similar templates.) ===Bí danh=== Các tham số {{para|page}} {{para|pages}} và {{para|Ref}} tồn tại là bí danh cho {{para|p}} {{para|pp}} và {{para|ref}} tương ứng. ===Bản mẫu chú thích tác giả-ngày=== There are several templates used to create in-text citations; they differ in the use and placement of parenthesis, in the separator before the page or location and in whether a terminal full stop (period) is present: {| class="wikitable" |+ Bản mẫu trong văn bản ! Bản mẫu !! Bí danh !! Ví dụ |- |{{tl2|Harvard citation no brackets}} || {{tl2|harvnb}} || {{harvnb|Smith|2006|p=25}} |- | {{tl2|Harvard citation}} || {{tl2|harv}} || {{harv|Smith|2006|p=25}} |- | {{tl2|Harvard citation text}} || {{tl2|harvtxt}} || {{harvtxt|Smith|2006|p=25}} |- | {{tl2|Harvcoltxt}} || || {{Harvcoltxt|Smith|2006|p=25}} |- | {{tl2|Harvcol}} || || {{Harvcol|Smith|2006|p=25}} |- | {{tl2|Harvcolnb}} || || {{Harvcolnb|Smith|2006|p=25}} |- | {{tl2|Harvard citations}} || ({{tl2|harvs}}) || {{harvs|txt=yes|last=Smith|first=John|year1=2006| year2=2007|page=25}} ''(and many other forms)''. |- | {{tl2|Harvp}} || || {{harvp|Smith|2006|page=25}} |- |{{tl2|Shortened footnote template}}|| {{tl2|sfn}} || Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2006|p=25}}<br />{{tham khảo|close=1}} |- |{{tl2|Sfnp}} || || Bài viết văn bản.{{sfnp|Smith|2006|p=25}}<br />{{tham khảo|close=1}} |- |{{tl2|Sfnm}} || || Bài viết văn bản.{{sfnm|1a1=Smith|1a2=Jones|1a3=Brown|la4=Black|1y=2005|1p=15|2a1=Smith|2y=2006|2p=50}}<br />{{tham khảo|close=1}} |- |{{tl2|Sfnmp}} || || Bài viết văn bản.{{sfnmp|1a1=Smith|1a2=Jones|1a3=Brown|la4=Black|1y=2005|1p=15|2a1=Smith|2y=2006|2p=50}}<br />{{tham khảo|close=1}} |} Các chú thích đầy đủ có thể được tạo bằng tay hoặc bằng bản mẫu: * Bản mẫu {{cs1}} * {{tl2|chú thích}} All of these templates have the same parameters and basic functionality. This page describes all of them except the parameters of {{tl2|sfnm}} and {{tl2|harvs}}; please see their documentation pages. Editors editing one of these templates are requested to make parallel changes to the other versions. ===Ứng dụng trong phần thân bài viết=== ====Chú thích Harvard: {{tl2|harv}}==== {{xem thêm|Wikipedia:Chú thích nguồn gốc#Tham khảo trong dấu ngoặc đơn}} Template {{tl2|harv}} creates a [[Wikipedia:Chú thích nguồn gốc#Tham khảo trong dấu ngoặc đơn|parenthetical reference]] with a link to the full citation in the references section at the bottom of the article. {{Markup |<nowiki>Bài viết văn bản {{harv|Smith|2006|p=25}}. ==Tham khảo== * {{chú thích sách | last = Smith | first = John | title = Smith's book | year = 2006 }}</nowiki> | Bài viết văn bản {{harv|Smith|2006|p=25}}. {{fake heading|sub=3|Tham khảo}} * {{chú thích sách|last=Smith|first=John|title=Smith's book|year=2006}} }} {{anchor|Ghi chú cuối trang rút gọn}} ====Ghi chú cuối trang rút gọn: {{tl2|sfn}} hoặc {{tl2|harvnb}}==== {{xem thêm|Wikipedia:Chú thích nguồn gốc#Chú thích ngắn|Trợ giúp:Ghi chú cuối trang rút gọn}} Template {{tl2|harvnb}} inside a {{tag|ref|o}} span can be used to create a {{sfnote}} that is linked to the full citation at the bottom of the article. Template {{tl2|sfn}} (without the use of {{tag|ref|o}}) has the same effect, automatically adds a period (full stop) after the page number, and combines identical footnotes automatically. {{markup|<nowiki> Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2007|p=25}} Thêm bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2007|p=25}} Vẫn còn nhiều bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2007|p=26}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{chú thích sách | last = Smith | first = John | year = 2007 | title = Smith's Book }} </nowiki>| Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2007|p=25}} Thêm bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2007|p=25}} Vẫn còn nhiều bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2007|p=26}} {{fake notes and references||}} * {{chú thích sách | last = Smith | first = John | year = 2007 | title = Smith's Book }} |<nowiki> Bài viết văn bản.<ref name=Smith2008p25>{{harvnb|Smith|2008|p=25}}.</ref> Thêm bài viết văn bản.<ref name=Smith2008p25/> Vẫn còn nhiều bài viết văn bản.<ref>{{harvnb|Smith|2008|p=26}}.</ref> ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{chú thích sách | last = Smith | first = John | year = 2008 | title = Smith's Book }} </nowiki>| Bài viết văn bản.<ref name=Smith2007p25>{{harvnb|Smith|2008|p=25}}.</ref> Thêm bài viết văn bản.<ref name=Smith2007p25/> Vẫn còn nhiều bài viết văn bản.<ref>{{harvnb|Smith|2008|p=26}}.</ref> {{fake notes and references||}} * {{chú thích sách | last = Smith | first = John | year = 2008 | title = Smith's Book }} }} ====Thuộc tính trong văn bản: {{tl2|harvtxt}}==== {{xem thêm|Wikipedia:Chú thích nguồn gốc#Thuộc tính trong văn bản}} Bản mẫu {{tl2|harvtxt}} có thể được sử dụng để liên kết một [[Wikipedia:Chú thích nguồn gốc#Thuộc tính trong văn bản|thuộc tính trong văn bản]] để chú thích đầy đủ ở cuối trang. {{markup |<nowiki>Theo {{harvtxt|Smith|2009|p=25}} ... ==Tham khảo== * {{chú thích | last = Smith | first = John | year = 2009 | title = Smith's Book }} </nowiki> | Theo {{harvtxt|Smith|2009|p=25}} ... {{Fake heading|sub=3|Tham khảo}} * {{chú thích | last = Smith | first = John | year = 2009 | title = Smith's Book }} }} ====Chú thích cả bộ: {{tl2|harvnb}} hoặc {{tl2|sfnm}}==== {{xem thêm|Wikipedia:Chú thích nguồn gốc#Chú thích cả bộ}} Bản mẫu {{tl2|harvnb}} có thể được sử dụng để [[WP:CITE#Chú thích cả bộ|chú thích cả bộ]]. {{tl2|sfnm}} cũng tạo ra chú thích cả bộ. {{markup|<nowiki> Bài viết văn bản ({{harvnb|Smith|2010|p=25}}; {{harvnb|Jones|2010}}). </nowiki>| Bài viết văn bản ({{harvnb|Smith|2010|p=25}}; {{harvnb|Jones|2010}}). |<nowiki> Bài viết văn bản.<ref>{{harvnb|Smith|2010|p=25}}; {{harvnb|Jones|2010}}</ref> </nowiki> |Bài viết văn bản.<ref>{{harvnb|Smith|2010|p=25}}; {{harvnb|Jones|2010}}</ref> {{Fake heading|sub=3|Ghi chú}} <references /> |<nowiki> Bài viết văn bản.{{sfnm|la1=Smith|y1=2010|p1=25|la2=Jones|y2=2010}} </nowiki> |Bài viết văn bản.<ref>{{harvnb|Smith|2010|p=25}}; {{harvnb|Jones|2010}}</ref> {{Fake heading|sub=3|Ghi chú}} <references /> |<nowiki> ==Tham khảo== * {{chú thích sách | last = Smith | first = John ... Smith's book }} * {{chú thích sách | last = Jones | first = Mary ... Jones' book }} </nowiki> |{{Fake heading|sub=3|Tham khảo}} * {{chú thích sách | last = Smith | first = John | year = 2010 | title = Smith's book }} * {{chú thích sách | last = Jones | first = Mary | year = 2010 | title = Jones' book }} }} Note that {{tl2|sfn}} is inappropriate for bundled citations; use {{tl2|harvnb}} hoặc {{tl2|sfnm}}. ====Chú thích Harvard kỳ lạ hơn {{tl2|harvid}} hoặc {{tl2|harvs}}==== {{chính|Bản mẫu:Harvard citations|Bản mẫu:harvid}} More exotic Harvard citations can be constructed using the {{tl2|harvs}} template, such as multiple papers by the same author, using both the first and last names, links to articles about the author, and others. Any kind of unusual link can also be constructed using the idiom <code><nowiki>[[#{{harvid|</nowiki></code>''tham số''<code><nowiki>}}|</nowiki></code>''tên liên kết''<code><nowiki>]]</nowiki></code>. {{markup|<nowiki> Lý thuyết được phát triển bởi {{harvs|txt|first=F. J.|last=Murray|author1-link=F. J. Murray|first2=J.|last2=von Neumann|author2-link=John von Neumann|year=1936|year2=1937|year3=1943}}. </nowiki>| Lý thuyết được phát triển bởi {{harvs|txt|first=F. J.|last=Murray|author1-link=F. J. Murray|first2=J.|last2=von Neumann|author2-link=John von Neumann|year=1936|year2=1937|year3=1943}}. |<nowiki> Lý thuyết được phát triển bởi [[F. J. Murray]] và [[John von Neumann|J. von Neumann]] ([[#{{harvid|Murray|von Neumann|1936}}|1936]],[[#{{harvid|Murray|von Neumann|1937}}|1937]],[[#{{harvid|Murray|von Neumann|1943}}|1943]]). </nowiki>| Lý thuyết được phát triển bởi [[F. J. Murray]] và [[John von Neumann|J. von Neumann]] ([[#{{harvid|Murray|von Neumann|1936}}|1936]], [[#{{harvid|Murray|von Neumann|1937}}|1937]], [[#{{harvid|Murray|von Neumann|1943}}|1943]]). |<nowiki> == Tham khảo == * {{chú thích | last1 = Murray | first1 = F. J. | year = 1936 | ...}} * {{chú thích | last1 = Murray | first1 = F. J. | year = 1937 | ...}} * {{chú thích | last1 = Murray | first1 = F. J. | year = 1943 | ...}} </nowiki>| {{fake header|sub=3|Tham khảo}} * {{chú thích | last=Murray | first=F. J.| last2=von Neumann | first2=John | year=1936 | title=Mathematics Paper }} * {{chú thích | last=Murray | first=F. J.| last2=von Neumann | first2=John | year=1937 | title=Another Mathematics Paper }} * {{chú thích | last=Murray | first=F. J.| last2=von Neumann | first2=John | year=1943 | title=Yet Another Mathematics Paper }} }} Một số bài viết sử dụng thành ngữ này <code><nowiki>[[#CITEREF</nowiki></code>''id ''|'' link name ''<code><nowiki>]]</nowiki></code>. Xem ghi chú về [[#Ghi chú thực hiện|chi tiết thực hiện]] dưới đây. ===Các biến thể=== ==== Sử dụng định dạng dấu hai chấm: {{tl2|harvcol}}, {{tl2|harvcolnb}}, {{tl2|harvcoltxt}} ==== Bản mẫu {{tl2|harvcol}}, {{tl2|harvcolnb}}, {{tl2|harvcoltxt}} sử dụng một dấu hai chấm để chỉ ra số trang hoặc vị trí. {{markup |<nowiki>{{harvcol|Smith|2011|p=25}}</nowiki>|{{harvcol|Smith|2011|p=25}} |<nowiki>{{harvcolnb|Smith|2011|p=25}}</nowiki>|{{harvcolnb|Smith|2011|p=25}} |<nowiki>{{harvcoltxt|Smith|2011|p=25}}</nowiki>|{{harvcoltxt|Smith|2011|p=25}} |<nowiki>{{harvcol|Smith|2011|p=25–26}}</nowiki>|{{harvcol|Smith|2011|p=25–26}} |<nowiki>{{harvcol|Smith|2011|loc=chpt. 3}}</nowiki>|{{harvcol|Smith|2011|p=chpt. 3}}}} ==== Dấu ngoặc đơn xung quanh năm: {{tl2|sfnp}} và {{tl2|harvp}} ==== Bản mẫu {{tl2|sfnp}} đặt dấu ngoặc đơn xung quanh năm. So sánh hai ví dụ. {{markup |<nowiki> Bài viết văn bản.{{sfnp|Smith|2011}} == Ghi chú == {{tham khảo}} </nowiki>| Bài viết văn bản.{{sfnp|Smith|2011}} {{Fake heading|sub=3|Ghi chú}} {{tham khảo|close=1}} |<nowiki> Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2011}} == Ghi chú == {{tham khảo}} </nowiki>| Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2011}} {{Fake heading|sub=3|Ghi chú}} {{tham khảo|close=1}} }} Similarly, in order to mimic {{cs1}} citations, template {{tl2|harvp}} puts parenthesis around the year. {{markup |<nowiki>{{harvp|Smith|2011|p=25}}</nowiki>|{{harvp|Smith|2011|p=25}} }} {{anchor|Nhận xét bổ sung hoặc dấu ngoặc kép}} ==== Nhận xét bổ sung hoặc dấu ngoặc kép: {{para|ps}} ==== Parameter {{para|ps}} can be used to add quotes or additional comments. Note that this effect can also be achieved using {{tl2|harvnb}}, if done as shown in the last example. The postscript is only effective the first time {{tl2|sfn}} is used for a particular author, year and location. {{markup |<nowiki> Một số thông tin.{{sfn|Smith|2011|p=2|ps=: "A quote verifying the information."}} == Ghi chú == {{tham khảo}} </nowiki>| Một số thông tin.{{sfn|Smith|2011|p=2|ps=: "A quote verifying the information."}} {{Fake heading|sub=3|Ghi chú}} {{tham khảo}} |<nowiki> "A quote in a secondary source."{{sfn|Smith|2011|p=2|ps=, quoted in {{harvtxt|Jones|2010|p=343}}}} == Ghi chú == {{tham khảo}} </nowiki>| "A quote in a secondary source."{{sfn|Smith|2011|p=2|ps=, quoted in {{harvtxt|Jones|2010|p=343}}}} {{Fake heading|sub=3|Ghi chú}} {{tham khảo}} |<nowiki> Một số thông tin.<ref>{{harvnb|Smith|2011|p=2}}: "A quote verifying the information."</ref> == Ghi chú == {{tham khảo}} </nowiki>| Một số thông tin.<ref>{{harvnb|Smith|2011|p=2}}: "A quote verifying the information."</ref> {{Fake heading|sub=3|Ghi chú}} {{tham khảo}} }} {{lang|la|Nota bene}}: two or more {{tld|sfn}} templates with same authors, same year, same page, but different {{para|ps}} will result in a {{nhỏ|{{lỗi|Lỗi chú thích: Thẻ {{tag|ref|o}} không hợp lệ; tên...}}}} message. This message happens because the reference names that {{tld|sfn}} creates will be the same but the content between the {{tag|ref|params=name="FOOTNOTE..."|o}} tag and the {{tag|ref|c}} tag will be different. A work-around is to convert one or some of the {{tld|sfn}} templates to {{tlx|harvnb}} wrapped in {{tag|ref}} tags. {{anchor|Không có thời gian đóng cửa}} ==== Không có thời gian đóng cửa: {{para|ps|none}} ==== Using {{para|ps|none}} in {{tl2|sfn}} removes the final period. Compare the two examples. Suppressing the default period (full stop) ensures consistency with [[Trợ giúp:Citation_Style_2|Citation style 2]], as produced by {{tl2|chú thích}}, which does not use a trailing period (full stop) in notes. The postscript is only effective the first time {{tl2|sfn}} is used for a particular author, year and location. {{para|ps|}} will also suppress terminal punctuation. Follow-on editors who encounter 'empty' parameters can't know if a previous editor intended to leave that parameter blank. Using the keyword none is a positive indication of the previous editor's intent. <br><br> {{markup |<nowiki> Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2011|ps=none}} == Ghi chú == {{tham khảo}} </nowiki>| Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2011|ps=none}} {{Fake heading|sub=3|Ghi chú}} {{tham khảo|close=1}} |<nowiki> Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2011}} == Ghi chú == {{tham khảo}} </nowiki>| Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2011}} {{Fake heading|sub=3|Ghi chú}} {{tham khảo|close=1}} }} ====Thêm một URL cho trang hoặc vị trí==== If a specific link to the page or section is available, a [[Uniform Resource Locator|URL]] can be added to the location or page number. {{markup |<nowiki>{{harv|Smith|2011|loc=[http://en.wikipedia.org chpt 3]}}</nowiki> |{{harv|Smith|2011|loc=[http://en.wikipedia.org chpt 3]}} |<nowiki>{{harv|Smith|2011|loc=[http://en.wikipedia.org &amp;sect;7]}}</nowiki> |{{harv|Smith|2011|loc=[http://en.wikipedia.org §7]}} |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2011|p=[http://en.wikipedia.org 3]}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{chú thích sách | last = Smith | year = 2011 | title = Smith's other book }}</nowiki> |{{Fake notes and references |Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2011|p=[http://en.wikipedia.org 3]}} |* {{chú thích sách | last = Smith | year = 2011 | title = Smith's other book }} }}}} == Chỉnh sửa tương ứng với phần Tham khảo cần thiết == The Harvard citation templates used in the body of the article contain links. These links can find anchors in the references section, provided the anchors are included within {{cs1}}, {{cs2}} or similar templates. To make the anchor, parameter {{para|ref|harv}} must be set. This is not necessary for {{tl2|chú thích}}, but is normally necessary for the others. {{markup|<nowiki> ==Tham khảo== * {{chú thích | title = Smith's paper |... }} * {{chú thích web | title = Smith & Jones website | ... }} * {{chú thích báo | title = Article by Smith, Jones and Brown | ... }} * {{chú thích tạp chí | title= Smith, Jones, Brown and Black's Paper | ... }} </nowiki> |{{fake heading|sub=3|Tham khảo}} * {{chú thích | last = Smith | first = John | title = Smith's paper | year = 2005 }} * {{chú thích web | last = Smith | first = John | last2 = Jones | first2 = Sam | title = Smith & Jones website | url = http://en.wikipedia.org | year = 2005 }} * {{chú thích báo | last = Smith | first = John | last2 = Jones | first2 = Sam | last3 = Brown | first3 = Tom | title = Article by Smith, Jones and Brown | year = 2005 | newspaper = Big Urban Newspaper }} * {{chú thích tạp chí | last = Smith | last2 = Jones | last3 = Brown | last4 = Black | year= 2005 | title= Smith, Jones, Brown and Black's Paper | journal = Important Journal }} }} ==Các vấn đề có thể xảy ra== ===Liên kết wiki về chú thích không có tác phẩm=== If an article is using this template, and nothing happens when you click on the highlighted [[wikilink]] from a Harvard style citation to a full citation at the bottom of the page, there are several possible solutions. If: # The correct citation does ''not'' appear at the bottom of the article. '''Solution''': Find the source (it may be copied from an article on a similar subject), and check that it verifies the text. If the source can't be found, tag the citation with {{tl2|citation not found}}. # The correct citation appears at the bottom of the article, and ## The Harvard citation uses a template (such as {{tl2|sfn}} hoặc {{tl2|harv}}): ### The citation uses a template from the list at [[Trợ giúp:Chú thích kiểu 1|Chú thích kiểu 1]]: #### The name is spelled or capitalized differently here than the citation. '''Solution''': check the source for the correct spelling. #### The year is different here than the citation. '''Solution''': check the source for the correct year. #### The citation template requires {{para|ref|harv}} (not needed for {{tl2|chú thích}}, but is needed for most other [[Trợ giúp:Chú thích kiểu 1|Chú thích kiểu 1]] templates). '''Solution''': Add {{para|ref|harv}}. #### The template has a {{para|date}} field and no {{para|year}} field, but the format of the {{para|date}} field is unusual. '''Solution''': Try to fix the date. If the link still does not work, add {{para|year}} to the citation template. (It's okay if it has both.) #### The citation does not have an author's, or an editor's, last name (authors take precedence over editors). '''Solution''': check that {{para|ref|{{tl|harvid|''args''}}}} is set correctly (see below). ### The citation uses a [[Trợ giúp:Citation Style Vancouver|Citation Style Vancouver]] template. '''Solution''': check that {{para|harvid}} is set correctly (see below). ### The citation uses a template that does not support {{para|ref}} (See [[Wikipedia:Citation templates and reference anchors]]). '''Solution''': An anchor can be created using <code><nowiki>{{wikicite|id={{harvid|</nowiki>''args''<nowiki>}}|reference={{</nowiki>''citation''<nowiki>}}}}</nowiki></code>. ### The citation does not use a template: #### It has no wikicode to create an anchor. '''Solution''': If {{cite *}} citation templates are used liberally throughout the article, then reformat the citation with the appropriate {{cite *}} template and set the {{para|ref}} appropriately. Otherwise consult with local editors on the talk page about how to proceed. Either add {{cite *}} templates and {{tl2|harv}} templates, or remove all templates, depending on what local editors prefer. A few articles use {{tl2|wikicite}} to create an anchor as an alternative to standard templates. #### Uses a {{tag|cite}} span to create an anchor. '''Solution''': remove the cite span (these are deprecated) and proceed as with the previous. #### Uses {{tl2|wikicite}}. '''Solution''': Check that {{para|id|{{tl|harvid|''args''}}}} matches. ## If the Harvard citation uses a handwritten wikilink, such as <code><nowiki>[[#Reference-Smith2006|Smith (2006)]]</nowiki></code> ### The citation uses a citation template which supports {{para|ref}} (See [[Wikipedia:Citation templates and reference anchors]]). '''Solution''': Check that {{para|ref}} is set to a matching id. ### Otherwise, check that the reference has <code><nowiki>{{wikicite|ref=</nowiki>''id''<nowiki>|reference=</nowiki>''citation''<nowiki>}}</nowiki></code> with a matching id. Templates that have broken [[wikilink]]s using these templates are added to the category {{cat|All articles with broken links to citations}}. ===Nhiều hơn một tác phẩm trong một năm=== Where there is a need to cite more than one work ''by the same author published in the same year'', the standard way to disambiguate such works is to add a letter suffix after the year element of the {{tld|sfn}} template (e.g. {{tlc|sfn|Smith|2006a}} and {{tlc|sfn|Smith|2006b}}). ====Bản mẫu sử dụng Mô đun:Citation/CS1==== When {{tld|sfn}} is used with {{tlx|Chú thích}} hoặc {{cs1}} templates, a year-suffix letter may be added to {{para|date}} for all accepted date formats except year initial numeric ({{nhỏ|YYYY-MM-DD}}). It is not necessary to include both {{para|year}} and {{para|date}}. If both are included, {{para|year}} is used for the <code>CITEREF</code> anchor to be compliant with legacy citations. :{{para|date|2013a}}: simple year only dates :{{para|date|Tháng 1 năm 2013b}} hoặc {{para|date|Mùa đông 2013b}}: month or season and year dates :{{para|date|9 tháng 11 năm 2013b}} hoặc {{para|date|9 tháng 11 năm 2013b}}: full dates :{{para|date|Tháng 6–Tháng 7 năm 2013c}} hoặc {{para|date|Mùa đông–Mùa xuân 2013c}}: month or season ranges and year dates :{{para|date|c. 2013d}}: circa year dates :{{para|date|{{#time:Y}}–{{#time:Y|now +1 year}}f}} hoặc {{para|date|Mùa hè {{#time:Y}}–{{#time:y|now +1 year}}f}}: year ranges :{{para|date|n.d.e}}: no date (n.d.) :<s>{{para|date|2013x-11-09}}</s>: not supported, the template must use {{para|year|2013x}} {{markup |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|1993a|p=25}} Thêm văn bản.{{sfn|Smith|1993b|p=32}} ==Ghi chú== {{tham khảo |close=1}} ==Tham khảo== * {{chú thích tạp chí |last=Smith |first=Karen |date=January 1993a |title=Smith's first paper |journal=Important Journal }} * {{chú thích tạp chí |last=Smith |first=Karen |date=Spring–Summer 1993b |title=Smith's second paper |journal=Another Important Journal }}</nowiki> |{{fake notes and references |Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|1993a|p=25}} Thêm văn bản.{{sfn|Smith|1993b|p=32}} |* {{chú thích tạp chí |last=Smith |first=Karen |date=January 1993a |title=Smith's first paper |journal=Important Journal }} * {{chú thích tạp chí |last=Smith |first=Karen |date=Spring–Summer 1993b |title=Smith's second paper |journal=Another Important Journal }}}}}} ==== Nhiều hơn một tác giả có cùng tên họ ==== The above solution to add a letter suffix after the year element also works for multiple authors with the same last name. For example, both [[Richard Bushman]] and [[Claudia Lauper Bushman]] published books in 2006. To differentiate between the two books, the first one is given the year "2006a" and the second one "2006b". ===Số lượng lớn của các tác giả=== Only the first four authors are required by the template. Listing more is not supported. It is also possible to use the {{para|ref|{{tl|harvid}}}} in the citation template, which allows a more concise citation in the article text. {{markup |<nowiki>Bài viết văn bản {{harv|Smith|Jones|Brown|Black|1994|p=25}}. ==Tham khảo== * {{chú thích tạp chí | last = Smith | last2 = Jones | last3 = Brown | last4 = Black | last5 = Davis | last6 = Martinez | last7 = Hsu | year= 1994 | title= Scientific paper written by dozens of scientists | journal = Important Journal }}</nowiki> |Bài viết văn bản {{harv|Smith|Jones|Brown|Black|1994|p=25}}. {{Fake heading|sub=3|Tham khảo}} * {{chú thích tạp chí | last = Smith | last2 = Jones | last3 = Brown | last4 = Black | last5 = Davis | last6 = Martinez | last7 = Hsu | year= 1994 | title= Scientific paper written by dozens of scientists | journal = Important Journal }} |<nowiki>Bài viết văn bản {{harv|Smith et al.|1995|p=25}}. ==Tham khảo== * {{chú thích tạp chí | last = Smith | last2 = Jones | last3 = Brown | last4 = Black | last5 = Davis | last6 = Martinez | last7 = Hsu | year= 1995 | title= Another paper by even more scientists | journal = Important Journal | ref = {{harvid|Smith et al.|1995}} }}</nowiki> |Bài viết văn bản {{harv|Smith et al.|1995|p=25}}. {{Fake heading|sub=3|Tham khảo}} * {{chú thích tạp chí | last = Smith | last2 = Jones | last3 = Brown | last4 = Black | last5 = Davis | last6 = Martinez | last7 = Hsu | year= 1995 | title= Another paper by even more scientists | journal = Important Journal | ref = {{harvid|Smith et al.|1995}} }}}} ===Không có tên tác giả trong bản mẫu chú thích=== Some sources do not have a single author with a last name, such as a magazine article or a report from a government institution. There is no consensus (in Wikipedia or among citation styles) about how to format author–date citations to works that do not have a specific author. Several choices are: # For a newspaper or periodical you may use the name of the paper and the date. # For a publication by an institution, use either: ## The initials of the institution ## The name of the institution # Alternatively, some style guides recommend using the title of the article. # Other style guides recommend using "Anonymous" or "Anon." An article should adopt one of these styles consistently. Using {{para|ref|{{tl|harvid}}}} in the citation template can handle these cases. {{markup |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn |BGI|1996|p=429}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{chú thích sách | title = Important Book | year = 1996 | publisher = Big Government Institution | ref = {{harvid|BGI|1996}} }}</nowiki> |{{fake notes and references |Bài viết văn bản.{{sfn |BGI|1996|p=429}} |* {{chú thích sách | title = Important Book | year = 1996 | publisher = Big Government Institution | ref = {{harvid|BGI|1996}} }}}} |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn |''Popular Magazine''|1996|p=29}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{cite magazine | magazine = Popular Magazine | title = An Article by an Anonymous Author | year = 1996 | ref = {{harvid|Popular Magazine|1996}} }}</nowiki> |{{fake notes and references |Bài viết văn bản.{{sfn |''Popular Magazine''|1996|p=29}} |* {{cite magazine | magazine = Popular Magazine | title = An Article by an Anonymous Author | year = 1996 | ref = {{harvid|Popular Magazine|1996}} }}}}}} ===Chú thích có {{para|date}} và không có {{para|year}}=== Either the {{para|year}} hoặc {{para|date}} of a citation template can be matched—the template logic can extract the year from a full date. If the date parameter is not a full date, then the extraction will fail. If the link does not seem to work, it also possible to set both {{para|date}} and {{para|year}} parameters. The template will display the date and use the year for the anchor. If only the year is known the {{para|year}} field must be used in the citation for the link to work correctly (i.e. {{para|date|2005}} may not work correctly). These two examples show a year being successfully extracted from full date. {{markup |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|1997|p=101}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{chú thích tạp chí | last = Smith | first = Karen | date = 11 May 1997 | title = Smith's 1997 paper | journal= Important Journal }}</nowiki> |{{fake notes and references | Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|1997|p=101}} |* {{chú thích tạp chí | last = Smith | first = Karen | date = 11 May 1997 | title = Smith's 1997 paper | journal= Important Journal }}}} |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|1998|p=101}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{chú thích tạp chí | last = Smith | first = Karen | date = May 1998 | title = Smith's 1998 paper | journal= Important Journal }}</nowiki> |{{fake notes and references | Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|1998|p=101}} |* {{chú thích tạp chí | last = Smith | first = Karen | date = May 1998 | title = Smith's 1998 paper | journal= Important Journal }}}}}} ===Bản mẫu chú thích không hỗ trợ {{para|ref|harv}}=== The {{cite}} family of templates use parameter {{para|ref|harvid}} to create an anchor for the Harvard citation templates. This must be set to a concatenation of the parameters passed to the Harvard citation template. {{markup |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|1999|p=101}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{cite book | author = Smith K | year = 1999 | title = Smith's 1999 Book | harvid = Smith1999 }}</nowiki> |{{fake notes and references | Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|1999|p=101}} |* {{cite book | author = Smith K | year = 1999 | title = Smith's 1999 Book | harvid = Smith1999 }}}} |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2000|p=101}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{chú thích luận văn | last = Smith | first = Karen | date = May 2000 | title = Smith's Thesis }}</nowiki> |{{fake notes and references | Bài viết văn bản.{{sfn|Smith|2000|p=101}} |* {{chú thích luận văn | last = Smith | first = Karen | date = May 2000 | title = Smith's Thesis }}}}}} ===Định dạng chú thích không hỗ trợ các neo: {{tl2|wikicite}}=== In a few very rare cases, it may be impossible for the citation templates to create an anchor. Either (1) the citation is formatted with a template that does not support the {{para|ref}} parameter or (2) the source can't be described using our citation templates at all. In these cases, it is possible to use {{tl2|wikicite}} to make the anchor. (As of November 2010, there are only approximately 100 articles that require this technique.) It is also possible that (3) local editors would prefer not to use citation templates. In this case, it is important to discuss what the local editors would like to do about the bad links. It is always possible to simply remove {{tl2|harv}} hoặc {{tl2|sfn}}. {{markup |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn |Big Government Agency|1999}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{wikicite | reference = {{cite report | title=Important Government Report | publisher=Big Government Agency | year=1999 }} | ref = {{harvid|Big Government Agency|1999}} }} </nowiki> |{{fake notes and references | Bài viết văn bản.{{sfn |Big Government Agency|1999}} |* {{wikicite | reference = {{cite report | title=Important Government Report | publisher=Big Government Agency | year=1999 }} | ref = {{harvid|Big Government Agency|1999}} }}}} |<nowiki>Bài viết văn bản.{{sfn |A particularly unusual citation}} ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{wikicite | reference = A source that can't be described using our citation templates at all. | ref = {{harvid|A particularly unusual citation}} }} </nowiki> |{{fake notes and references | Bài viết văn bản.{{sfn |A particularly unusual citation}} |* {{wikicite | reference = A source that can't be described using our citation templates at all. | ref = {{harvid|A particularly unusual citation}} }}}}}} It is also possible to use {{tag|cite|o}} to achieve the same effect, but this may not be compatible with [[HTML 5]]. ===Chú thích có nhiều tác giả và không có ngày=== The templates assume that the last field is the year. Where there are multiple authors and no year the template will form a correct link but will display the last author as if it were a year. To force the displayed text to show all authors as name, the following work around may be used: {{markup |<nowiki>Bài viết văn bản.<ref>[[#{{harvid|Lane|Singh}}|Lane & Singh]]</ref> ==Ghi chú== {{tham khảo}} ==Tham khảo== * {{chú thích | last = Lane | first = Kieran | last2 = Singh | first2 = Karun | title = Richard Watts | work = Richard Watts Charities | url = http://www.richardwatts.org.uk/richardwatts1.html | accessdate = 21 June 2012 }} </nowiki> |{{fake notes and references | Bài viết văn bản.<ref>[[#{{harvid|Lane|Singh}}|Lane & Singh]]</ref> |* {{chú thích | last = Lane | first = Kieran | last2 = Singh | first2 = Karun | title = Richard Watts | work = Richard Watts Charities | url = http://www.richardwatts.org.uk/richardwatts1.html | accessdate = 21 June 2012 }}}}}} ==Kiểu đề xuất== The recommended Harvard referencing style potentially uses all four templates. Each automatically generates a hypertext link based on the name(s) and date. Here is an example {{markup |<nowiki>Some works on gravitation are so massive they warp spacetime themselves {{Harv|Misner|Thorne|Wheeler|1973}}; yet {{Harvtxt|Einstein|1915}} presented essential equations with notable brevity. The essential ingredients are the curvature tensor and the stress–energy tensor ({{Harvnb|Einstein|1915|p=844}}; {{Harvnb|Misner|Thorne|Wheeler|1973|p=41}}). ==Tham khảo== *{{chú thích | last=Misner | first=Charles W. | last2=Thorne | first2=Kip S. | first3=John Archibald | last3=Wheeler | title=Gravitation | publisher=W. H. Freeman | location = San Francisco | date = September 1973 | isbn = 0-7167-0344-0 }} *{{chú thích | last =Einstein | first =Albert | title =Die Feldgleichungen der Gravitation (The Field Equations of Gravitation) | journal =Königlich Preussische Akademie der Wissenschaften | pages =844–847 | year =1915 }}</nowiki> |Some works on gravitation are so massive they warp spacetime themselves {{Harv|Misner|Thorne|Wheeler|1973}}; yet {{Harvtxt|Einstein|1915}} presented essential equations with notable brevity. The two ingredients are the curvature tensor and the stress–energy tensor ({{Harvnb|Einstein|1915|p=844}}; {{Harvnb|Misner|Thorne|Wheeler|1973|p=41}}). {{fake heading|sub=3|Tham khảo}} *{{chú thích | last=Misner | first=Charles W. | last2=Thorne | first2=Kip S. | first3=John Archibald | last3=Wheeler | title=Gravitation | publisher=W. H. Freeman | location = San Francisco | date = September 1973 | isbn = 0-7167-0344-0 }} *{{chú thích | last =Einstein | first =Albert | title =Die Feldgleichungen der Gravitation (The Field Equations of Gravitation) | journal =Königlich Preussische Akademie der Wissenschaften | pages =844–847 | year =1915 }}}} In short: # For a single work with no author in the text (the most common case), use {{tl2|Harv}}. # For a single work with the author named in the text, use {{tl2|Harvtxt}}. # For multiple works at the same point, use explicit parentheses and {{tl2|Harvnb}} separated by semicolons. # For anything more complicated use {{tl2|Harvs}}. ==Ghi chú thực hiện== These templates use two elements: a [[wikilink]] in the body of the article, and an [[Phần tử HTML#Liên kết và neo sắt|anchor]] in the reference section of the article. Clicking on the wikilink repositions the page at the anchor. ===[[Phần tử HTML#Liên kết và neo sắt|Neo sắt]] bản mẫu chú thích=== {{xem thêm|Wikipedia:Citation templates and reference anchors}} The most common citation templates are {{cs1}} hoặc {{cs2}}. If {{para|ref|harv}} is set, then [[Mô đun:Citation/CS1]] and {{tl2|Chú thích/nhân}} create an [[Phần tử HTML#Liên kết và neo sắt|anchor]] {{tag|a|o|params=name="CITEREF"}} followed by the concatenation of the following parameters: * '''last''' hoặc '''last1''' hoặc '''surname''' hoặc '''surname1''' hoặc '''author''' hoặc '''author1''' hoặc '''authors''', * '''last2''' hoặc '''surname2''' hoặc '''author2''', * '''last3''' hoặc '''surname3''' hoặc '''author3''', * '''last4''' hoặc '''surname4''' hoặc '''author4''', * '''editor-last''' hoặc '''editor-surname''' hoặc '''editor1-last''' hoặc '''editor1-surname''' hoặc '''editor''' hoặc '''editors''', * '''editor2-last''' hoặc '''editor2-surname''', * '''editor3-last''' hoặc '''editor3-surname''', * '''editor4-last''' hoặc '''editor4-surname''', * '''year'''. Template {{tl2|chú thích}} sets {{para|ref|harv}} as the default. This covers the most common templates. Information about all the templates is available at [[Wikipedia:Citation templates and reference anchors]]. Use of the '''date''' parameter in place of the '''year''' parameter in citation templates is preferred when full dates are known. ===[[Liên kết wiki]] chú thích Harvard=== The Harvard citation templates create a [[wikilink]] to the anchor. For example {{tlx|Harv|Smith|2006|4=p=25}} produces the link {{code|#CITEREFSmith2006}} and {{tlx|Chú thích|2=last=Smith|3=first=John|4=date=27 January 2006|5=title=My Life}} produces the anchor {{code|CITEREFSmith2006}}. ===Sử dụng trực tiếp CITEREF=== A few articles create a custom ID using {{code|CITEREF}}, either in place of the Harvard citation template (e.g. <code><nowiki>[[#CITEREFSmith2006|(2006)]]</nowiki></code>) or as a value for {{para|ref}} in the citation template. {{Refname rules|A custom ID must follow these rules:| * If CITEREF is used, then spaces in the {{para|ref}} field must be replaced with underscores}} Ví dụ: * {{tlx|sfn|{{var|cite name}}|{{var|year}}}} * {{tlx|chú thích sách|2=ref=CITEREF{{var|cite_nameyear}}}} * {{tlx|chú thích sách|2=ref={{tl|sfnref|{{var|cite_name}}|{{var|year}}}}}} Where {{var|cite_name}} is a name such as the publisher. ===[[WP:REFNAME|Tên tham khảo]] của {{tl2|sfn}}=== Template {{tl2|sfn}} creates a [[WP:REFNAME|named footnote]], so that identical footnotes are combined automatically. The footnote name begins with {{code|FOOTNOTE}} followed by a concatenation of the arguments to {{tl2|sfn}}. E.g.: this template call {{tlx|sfn|Smith|2006|4=p=26}} should have exactly the same functionality as {{tag|ref|params=name="FOOTNOTESmith200626"|content={{tl|Harvnb|Smith|2006|4=p=26}}}} which, in turn, has the same functionality as {{tag|ref|params=name="FOOTNOTESmith200626"|content=<nowiki>[[#CITEREFSmith2006|Smith (2006)]], p. 26</nowiki>}}. The ref name becomes more complicated when the page (p) parameter includes a URL, e.g. {{tlg|sfn|Joyce|1903|p{{=}}[https://archive.org/details/aconcisehistory00joycgoog/page/n226 213]|code=on}}, which, once defined, can be called by {{tag|ref|empty|params=name="FOOTNOTEJoyce1903[httpsarchiveorgdetailsaconcisehistory00joycgoogpagen226 213]"}}. The "p=" and the characters |,:,.,/,?,=; are therefore stripped out of the URL. The call to {{tl2|harvnb}} has been [[subst]]'ed for quicker load times. {{Wikipedia referencing}}<noinclude> [[Thể loại:Bản mẫu nội dung tài liệu dùng chung]] [[Thể loại:Bản mẫu hỗ trợ tài liệu]] </noinclude> lqb9ny0wxqrahawrv6zlx5wj9zst8li Bản mẫu:Var 10 10725 63733 2026-10-08T09:56:09Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “<var {{#if:{{{class|}}}|class="{{{class}}}"}} {{#if:{{{id|}}}|id="{{{id}}}"}} {{#if:{{{style|}}}|style="{{{style}}}"}} {{#if:{{{lang|}}}|lang="{{{lang}}}" xml:lang="{{{lang}}}"}} {{#if:{{{title|}}}|title="{{{title}}}"}}>{{{1}}}</var><noinclude> <!--Categories and interwikis go near the bottom of the /doc page.--> {{Tài liệu}} </noinclude>” 63733 wikitext text/x-wiki <var {{#if:{{{class|}}}|class="{{{class}}}"}} {{#if:{{{id|}}}|id="{{{id}}}"}} {{#if:{{{style|}}}|style="{{{style}}}"}} {{#if:{{{lang|}}}|lang="{{{lang}}}" xml:lang="{{{lang}}}"}} {{#if:{{{title|}}}|title="{{{title}}}"}}>{{{1}}}</var><noinclude> <!--Categories and interwikis go near the bottom of the /doc page.--> {{Tài liệu}} </noinclude> 9pe09felphl6sazb4c1xysw0yc8jdg4 Bản mẫu:Var/doc 10 10726 63734 2026-10-08T09:56:24Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{Trang con tài liệu}} <!-- PLEASE ADD CATEGORIES AND INTERWIKIS AT THE BOTTOM OF THIS PAGE --> ==Usage== This template is to help facilitate the displaying of variable names (in mathematics, computer source code, etc.) with the [[Semantic markup|semantically correct]] <code><nowiki><var>...</var></nowiki></code>, which also renders the variable in italics, as is customary. This method is preferred to simply italicizing, for WP:Accessibility|acces…” 63734 wikitext text/x-wiki {{Trang con tài liệu}} <!-- PLEASE ADD CATEGORIES AND INTERWIKIS AT THE BOTTOM OF THIS PAGE --> ==Usage== This template is to help facilitate the displaying of variable names (in mathematics, computer source code, etc.) with the [[Semantic markup|semantically correct]] <code><nowiki><var>...</var></nowiki></code>, which also renders the variable in italics, as is customary. This method is preferred to simply italicizing, for [[WP:Accessibility|accessibility]], [[Separation of presentation and content|content/presentation separation]], [[semantic Web]], and [[WP:METADATA|metadata]] reasons; &#91;[[XHTML|X]]&#93;[[HTML]]'s <code><nowiki><var></nowiki></code> element has semantic meaning, while simple italicization does not. Example: :<code><nowiki>{{var|username}}</nowiki></code> outputs :<code><nowiki><var>username</var></nowiki></code> which renders as: :{{var|username}} compare to simple <code><nowiki>''username''</nowiki></code> italicization: :''username'' When used alone as variables, the letters "I" (upper-case "i") and "l" (lower-case "L") should be rendered with {{tlx|varserif}} instead of {{tnull|var}}, to make them more distinguishable: {{varserif|I}}, {{varserif|l}}. ==See also== {{Var/seealso}} <includeonly> <!-- CATEGORIES AND INTERWIKIS HERE, THANKS --> [[Thể loại:Mathematics templates|{{PAGENAME}}]] [[Thể loại:Programming typing-aid templates|{{PAGENAME}}]] [[Thể loại:Semantic markup templates|{{PAGENAME}}]] [[Thể loại:Bản mẫu thay thế thẻ XHTML Wikipedia]] </includeonly> 53yc2toe7mexk58ghnssha4x2qq7hxi 63735 63734 2026-10-08T09:56:35Z Làm Việc Thiện 13742 Đã khóa “[[Bản mẫu:Var/doc]]” ([Sửa đổi=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn) [Di chuyển=Chỉ cho phép thành viên tự xác nhận] (vô thời hạn)) 63734 wikitext text/x-wiki {{Trang con tài liệu}} <!-- PLEASE ADD CATEGORIES AND INTERWIKIS AT THE BOTTOM OF THIS PAGE --> ==Usage== This template is to help facilitate the displaying of variable names (in mathematics, computer source code, etc.) with the [[Semantic markup|semantically correct]] <code><nowiki><var>...</var></nowiki></code>, which also renders the variable in italics, as is customary. This method is preferred to simply italicizing, for [[WP:Accessibility|accessibility]], [[Separation of presentation and content|content/presentation separation]], [[semantic Web]], and [[WP:METADATA|metadata]] reasons; &#91;[[XHTML|X]]&#93;[[HTML]]'s <code><nowiki><var></nowiki></code> element has semantic meaning, while simple italicization does not. Example: :<code><nowiki>{{var|username}}</nowiki></code> outputs :<code><nowiki><var>username</var></nowiki></code> which renders as: :{{var|username}} compare to simple <code><nowiki>''username''</nowiki></code> italicization: :''username'' When used alone as variables, the letters "I" (upper-case "i") and "l" (lower-case "L") should be rendered with {{tlx|varserif}} instead of {{tnull|var}}, to make them more distinguishable: {{varserif|I}}, {{varserif|l}}. ==See also== {{Var/seealso}} <includeonly> <!-- CATEGORIES AND INTERWIKIS HERE, THANKS --> [[Thể loại:Mathematics templates|{{PAGENAME}}]] [[Thể loại:Programming typing-aid templates|{{PAGENAME}}]] [[Thể loại:Semantic markup templates|{{PAGENAME}}]] [[Thể loại:Bản mẫu thay thế thẻ XHTML Wikipedia]] </includeonly> 53yc2toe7mexk58ghnssha4x2qq7hxi Bản mẫu:Harvnb 10 10727 63736 2026-10-08T09:58:55Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Đổi hướng đến [[Bản mẫu:Harvard citation no brackets]] 63736 wikitext text/x-wiki #đổi [[Bản mẫu:Harvard citation no brackets]] 2frh6ks9cwz4bj5qbolytgjpub4sl69 Bản mẫu:Tl2 10 10728 63738 2026-10-08T10:01:41Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “<!-- bắt đầu thế {{Tl2}} --><code><nowiki>{{</nowiki>[[:{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{sister|}}} | {{{sister}}}: }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{lang|}}} | {{{lang}}}: }}Template:{{{1}}}|{{{1}}}]]{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{2|}}} | &#124;{{{2}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{3|}}} | &#124;{{{3}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{4|}}} | &#124;{{{4}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{5|}}} | &#124;{{{5}}} }}{{ safesubst:<noincl…” 63738 wikitext text/x-wiki <!-- bắt đầu thế {{Tl2}} --><code><nowiki>{{</nowiki>[[:{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{sister|}}} | {{{sister}}}: }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{lang|}}} | {{{lang}}}: }}Template:{{{1}}}|{{{1}}}]]{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{2|}}} | &#124;{{{2}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{3|}}} | &#124;{{{3}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{4|}}} | &#124;{{{4}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{5|}}} | &#124;{{{5}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{6|}}} | &#124;{{{6}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{7|}}} | &#124;{{{7}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{8|}}} | &#124;{{{8}}} }}{{ safesubst:<noinclude/>#if: {{{9|}}} | &#124;{{{9}}} }}<nowiki>}}</nowiki></code><!-- kết thúc thế {{Tl2}} --><noinclude> {{Tài liệu}} <!-- Thêm thể loại vào trang con /doc, không phải tại đây. --> </noinclude> 7gi4xfc8al5va9omrq795i3pfgffxin Bản mẫu:Tl2/doc 10 10729 63739 2026-10-08T10:01:53Z Làm Việc Thiện 13742 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{Trang con tài liệu}} <!----PLEASE ADD CATEGORIES WHERE INDICATED AT THE BOTTOM OF THIS PAGE----> __NOTOC__ {{Mbox |image=[[Tập tin:Walnut.png|30px|link=|alt=]] |text=&lt;code&gt;-styled {{tl|tl}} đó có thể liên kết với các dự án chị em.}} Đây là bản mẫu {{tl|tl2}}. {{tlf|tl2}} is similar to {{tl|tl}}. '''Tl''' stands for '''T'''emplate '''l'''ink. {{tlf|tl2}} is a [[w:Macro (computer science)|macro]] m:Help:template|tem…” 63739 wikitext text/x-wiki {{Trang con tài liệu}} <!----PLEASE ADD CATEGORIES WHERE INDICATED AT THE BOTTOM OF THIS PAGE----> __NOTOC__ {{Mbox |image=[[Tập tin:Walnut.png|30px|link=|alt=]] |text=&lt;code&gt;-styled {{tl|tl}} đó có thể liên kết với các dự án chị em.}} Đây là bản mẫu {{tl|tl2}}. {{tlf|tl2}} is similar to {{tl|tl}}. '''Tl''' stands for '''T'''emplate '''l'''ink. {{tlf|tl2}} is a [[w:Macro (computer science)|macro]] [[m:Help:template|template]] used to display a template name as a link surrounded by braces, thus showing how the template name would be used in code. Its primary use is in instruction and documentation. {{tlf|tl2}} differs from {{tlf|tl}} in that it displays with a wider, monospaced text style (like {{tlf|tlx}}) and also takes the named parameters {{para|sister}} and {{para|lang}} so that it may also be used to list and link templates on other English and non-English-language sister projects. ===Bản mẫu liên quan=== {{tl|tlx}} hiển thị với cùng một trình bày nâng cao và cũng có thể mở rộng một số tham số giữ chỗ để tạo ra một bản mẫu cuộc gọi. ===Cách sử dụng=== : {{tlx|tl2|''template_name''}} :: tương đương với {{tlf|tl{{!}}''template_name''}} : {{tlx|tl2&nbsp;|sister{{=}}''sister_id''&nbsp;|''template_name''}} :: để hiển thị một bản mẫu từ một dự án chị em (ví dụ như {{tlf|tl2&nbsp;{{!}}sister{{=}}V&nbsp;{{!}}''template_name''}} cho Wikiversity) : {{tlx|tl2&nbsp;|lang{{=}}''lang_id''&nbsp;|sister{{=}}''sister_id''&nbsp;|''template_name''}} :: để hiển thị một bản mẫu từ một dự án chị em trong một ngôn ngữ khác (ví dụ như {{tlf|tl2&nbsp;{{!}}lang{{=}}fr&nbsp;{{!}}sister{{=}}V&nbsp;{{!}}''template_name''}} cho một bản mẫu từ dự án Wikisource tiếng Pháp) ===Các ví dụ=== {| class=wikitable ! Mã ! Kết quả |- | <code><nowiki>{{tl|x0}}</nowiki></code> | {{tl|x0}} |- | <code><nowiki>{{tl2|x1}}</nowiki></code> | {{tl2|x1}} |- | <code><nowiki>{{tl2|sister=M|3x}}</nowiki></code> | {{tl2|sister=M|3x}} |- | <code><nowiki>{{tl2|sister=wikibooks|lang=de|WP}}</nowiki></code> | {{tl2|sister=wikibooks|lang=de|WP}} |} ===Xem thêm=== * {{tiw|tl2}} * {{tiw|tl}} * {{tiw|tlp}} để kết quả một liên kết bản mẫu với tham số duy nhất. * {{tiw|tlx}} để kết quả một liên kết bản mẫu với số mở rộng của tham số. * {{tiw|tlsp}} để kết quả một liên kết bản mẫu đó là [[Wikipedia:Thay thế|thế:]], với tham số duy nhất. * {{tiw|lts}} * {{tiw|tlu}}, tl hoặc tlp trong bất kỳ [[Wikipedia:Không gian tên|không gian tên]]. * {{lcs|Bản mẫu liên kết bản mẫu trong}} * {{tiw|xpd}} để mở rộng (tức là chứng minh) một bản mẫu ''tại chỗ''. <includeonly>{{#ifeq:{{SUBPAGENAME}}|sandbox | | <!----CATEGORIES BELOW THIS LINE, PLEASE:----> [[Thể loại:Bản mẫu liên kết bản mẫu trong]] [[Thể loại:Bản mẫu liên kết liên wiki]] [[Thể loại:Bản mẫu trợ giúp đánh máy]] }}<!--(end #ifeq)--></includeonly> eo0auyjzg6elgvev3d9x8hwh99ysqod Maria Sharapova 0 10730 63740 2026-10-08T10:07:38Z Mai Thanh Bang 3613 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “[[Tập tin:Sharapova WM19 (5) (48521917742).jpg|nhỏ|Maria Sharapova năm 2019]] '''{{w|Maria Sharapova|Mariya Yuryevna Sharapova}}''' (tiếng Nga: Мария Юрьевна Шарапова; sinh ngày 19 tháng 4 năm 1987) là một cựu vận động viên quần vợt người Nga. Cô thi đấu tại [[w:WTA Tour|WTA Tour]] từ năm 2001 đến năm 2020 và từng giữ vị trí số 1 thế giới ở nội dung đánh đơn của w:Hi…” 63740 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Sharapova WM19 (5) (48521917742).jpg|nhỏ|Maria Sharapova năm 2019]] '''{{w|Maria Sharapova|Mariya Yuryevna Sharapova}}''' (tiếng Nga: Мария Юрьевна Шарапова; sinh ngày 19 tháng 4 năm 1987) là một cựu vận động viên quần vợt người Nga. Cô thi đấu tại [[w:WTA Tour|WTA Tour]] từ năm 2001 đến năm 2020 và từng giữ vị trí số 1 thế giới ở nội dung đánh đơn của [[w:Hiệp hội Quần vợt Nữ|Hiệp hội Quần vợt Nữ]] (WTA) trong 21 tuần. Cô là một trong mười người phụ nữ, đồng thời là người Nga duy nhất, hoàn tất trọn bộ danh hiệu [[w:Grand Slam (quần vợt)|Grand Slam sự nghiệp]]. == Danh ngôn == * Tôi đã mơ ước có một gia đình từ khi còn rất trẻ, bởi vì tôi vô cùng gắn bó với mẹ cũng như cha mẹ mình; tôi mong mỏi sẽ có được sự gắn kết ấy trong tương lai với con của mình. Tôi không nghĩ mình sẽ sinh con rồi lại quay trở lại thi đấu. * Môn thể thao này dạy cho bạn biết bao bài học. Tất cả những trải nghiệm đó đều là một phần của hành trình. Tôi vẫn đang tiếp tục học hỏi từ nó. Tôi chẳng biết trong đời mình liệu có điều gì khác lại vừa đầy thách thức mà cũng vừa tràn ngập phần thưởng đến thế trong vòng một hay hai tuần ngắn ngủi – những cảm xúc mà bạn nếm trải, có lẽ là điều sâu đậm nhất tôi từng có được trong đời. ** [https://www.tennisworldusa.org/tennis/news/Maria_Sharapova/73346/maria-sharapova-i-ve-dreamed-of-having-a-family-since-i-was-very-young/ "Maria Sharapova: I've dreamed of having a family since I was very young"], ''Tennis World USA'', 5 tháng 7 năm 2019, bởi Luigi Gatto * Bạn biết đấy, huấn luyện viên cuối cùng trong sự nghiệp của tôi từng dẫn dắt Sinner suốt nhiều năm, vì vậy tôi đã có dịp đánh tập với cậu ấy vài lần. Thế nên, tôi luôn dành sự ủng hộ cho cậu ấy. * Tôi rất thích cách tiếp cận khiêm tốn của cậu ấy với thể thao. Tôi yêu cảm giác được dõi theo thế hệ trẻ. Có một hào quang rất rõ nét bao quanh quần vợt nam hiện nay. Họ sở hữu những phong cách thi đấu khác nhau, cá tính riêng biệt đến từ nhiều nơi trên khắp thế giới, và thật thú vị khi thấy những cuộc đối đầu đỉnh cao này hội tụ cùng nhau. * Tôi nghĩ quần vợt nam đang ở trong một giai đoạn phát triển rất tuyệt vời. ** [https://www.tennisworldusa.org/tennis/news/WTA_Tennis/138112/maria-sharapova-gets-very-honest-on-why-she-is-always-rooting-for-jannik-sinner/ "Maria Sharapova gets very honest on why she is 'always rooting' for Jannik Sinner"], ''Tennis World USA'', 29 tháng 9 năm 2023, bởi Dzevad Mesic == Xem thêm == * [[Jannik Sinner]] * [[Serena Williams]] == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} [[Thể loại:Sinh năm 1987]] [[Thể loại:Còn sống]] [[Thể loại:Nữ vận động viên Nga]] 0xgnrb508sn4rg4dcx7j6w2ni8pa4ia 63741 63740 2026-10-08T10:07:54Z Mai Thanh Bang 3613 63741 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Sharapova WM19 (5) (48521917742).jpg|nhỏ|Maria Sharapova năm 2019]] '''{{w|Maria Sharapova|Mariya Yuryevna Sharapova}}''' (tiếng Nga: Мария Юрьевна Шарапова; sinh ngày 19 tháng 4 năm 1987) là một cựu vận động viên quần vợt người Nga. Cô thi đấu tại [[w:WTA Tour|WTA Tour]] từ năm 2001 đến năm 2020 và từng giữ vị trí số 1 thế giới ở nội dung đánh đơn của [[w:Hiệp hội Quần vợt Nữ|Hiệp hội Quần vợt Nữ]] (WTA) trong 21 tuần. Cô là một trong mười người phụ nữ, đồng thời là người Nga duy nhất, hoàn tất trọn bộ danh hiệu [[w:Grand Slam (quần vợt)|Grand Slam sự nghiệp]]. == Danh ngôn == * Tôi đã mơ ước có một gia đình từ khi còn rất trẻ, bởi vì tôi vô cùng gắn bó với mẹ cũng như cha mẹ mình; tôi mong mỏi sẽ có được sự gắn kết ấy trong tương lai với con của mình. Tôi không nghĩ mình sẽ sinh con rồi lại quay trở lại thi đấu. * Môn thể thao này dạy cho bạn biết bao bài học. Tất cả những trải nghiệm đó đều là một phần của hành trình. Tôi vẫn đang tiếp tục học hỏi từ nó. Tôi chẳng biết trong đời mình liệu có điều gì khác lại vừa đầy thách thức mà cũng vừa tràn ngập phần thưởng đến thế trong vòng một hay hai tuần ngắn ngủi – những cảm xúc mà bạn nếm trải, có lẽ là điều sâu đậm nhất tôi từng có được trong đời. ** [https://www.tennisworldusa.org/tennis/news/Maria_Sharapova/73346/maria-sharapova-i-ve-dreamed-of-having-a-family-since-i-was-very-young/ "Maria Sharapova: I've dreamed of having a family since I was very young"], ''Tennis World USA'', 5 tháng 7 năm 2019, bởi Luigi Gatto * Bạn biết đấy, huấn luyện viên cuối cùng trong sự nghiệp của tôi từng dẫn dắt Sinner suốt nhiều năm, vì vậy tôi đã có dịp đánh tập với cậu ấy vài lần. Thế nên, tôi luôn dành sự ủng hộ cho cậu ấy. * Tôi rất thích cách tiếp cận khiêm tốn của cậu ấy với thể thao. Tôi yêu cảm giác được dõi theo thế hệ trẻ. Có một hào quang rất rõ nét bao quanh quần vợt nam hiện nay. Họ sở hữu những phong cách thi đấu khác nhau, cá tính riêng biệt đến từ nhiều nơi trên khắp thế giới, và thật thú vị khi thấy những cuộc đối đầu đỉnh cao này hội tụ cùng nhau. * Tôi nghĩ quần vợt nam đang ở trong một giai đoạn phát triển rất tuyệt vời. ** [https://www.tennisworldusa.org/tennis/news/WTA_Tennis/138112/maria-sharapova-gets-very-honest-on-why-she-is-always-rooting-for-jannik-sinner/ "Maria Sharapova gets very honest on why she is 'always rooting' for Jannik Sinner"], ''Tennis World USA'', 29 tháng 9 năm 2023, bởi Dzevad Mesic == Xem thêm == * [[Jannik Sinner]] * [[Serena Williams]] == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} [[Thể loại:Sinh năm 1987]] q8pcltlvk9tmk5zgto9vb1fyv4yd03z Jannik Sinner 0 10731 63742 2026-10-08T10:11:54Z Mai Thanh Bang 3613 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “[[Tập tin:Jannik Sinner (2024 US Open) 04 (cropped).jpg|nhỏ|Jannik Sinner năm 2024]] '''{{w|Jannik Sinner}}''' (sinh ngày 16 tháng 8 năm 2001) là một vận động viên [[quần vợt]] chuyên nghiệp người Ý. Anh từng giữ vị trí [[w:Danh sách tay vợt số 1 thế giới đơn nam ATP|số 1 thế giới]] ở nội dung đơn nam theo bảng xếp hạng của w:Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp|Hiệp hội Qu…” 63742 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Jannik Sinner (2024 US Open) 04 (cropped).jpg|nhỏ|Jannik Sinner năm 2024]] '''{{w|Jannik Sinner}}''' (sinh ngày 16 tháng 8 năm 2001) là một vận động viên [[quần vợt]] chuyên nghiệp người Ý. Anh từng giữ vị trí [[w:Danh sách tay vợt số 1 thế giới đơn nam ATP|số 1 thế giới]] ở nội dung đơn nam theo bảng xếp hạng của [[w:Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp|Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp]] (ATP), đồng thời là tay vợt người Ý đầu tiên vươn lên ngôi vị cao nhất này. Sinner đã giành 19 danh hiệu đơn tại [[w:ATP Tour|ATP Tour]], bao gồm 3 danh hiệu [[w:Grand Slam (quần vợt)|Grand Slam]] tại [[w:Giải quần vợt Úc Mở rộng 2024 - Đơn nam|Úc Mở rộng 2024]], [[w:Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2024 - Đơn nam|Mỹ Mở rộng 2024]] và Úc Mở rộng 2025, cùng chức vô địch ATP Finals 2024 và 4 danh hiệu [[w:ATP Tour Masters 1000|Masters 1000]]. Anh cũng là người dẫn dắt đội tuyển Ý giành chức vô địch Davis Cup liên tiếp vào các năm 2023 và 2024. == Danh ngôn == * Tôi ước gì ai cũng có những người cha người mẹ tuyệt vời như cha mẹ tôi, bởi vì họ luôn để tôi tự chọn lựa; ngay cả khi còn nhỏ tôi cũng là người tự đưa ra quyết định. Cha mẹ chưa từng tạo áp lực lên tôi, ngay cả khi tôi chơi các môn thể thao khác. ** Vorrei che tutti quanti avessero i miei genitori, come li ho avuti io perché mi hanno sempre permesso di scegliere anche quando ero giovane decidevo io. Non mi hanno mai messo sotto pressione anche quando facevo altri sport. *** Trong cuộc phỏng vấn ngay sau khi đăng quang Úc Mở rộng 2024. Dẫn trong ''[https://www.fanpage.it/sport/tennis/la-lezione-di-sinner-vorrei-tutti-avessero-genitori-come-i-miei-mi-hanno-permesso-di-scegliere/ La lezione di Sinner: "Vorrei tutti avessero genitori come i miei, mi hanno permesso di scegliere"]'', ''fanpage.it'' (28 tháng 1 năm 2024) * Thật tuyệt vời cho những tay vợt như chúng tôi khi có một vị Giáo hoàng luôn dõi theo và từng chơi môn thể thao này. ** È bellissimo per noi tennisti avere un Papa che ci segue e ha giocato. *** Dẫn trong Federica Cocchi, ''[https://www.gazzetta.it/Tennis/14-05-2025/sinner-dal-papa-con-la-famiglia-l-incontro-con-leone-xiv.shtml L'incontro tra Sinner e Leone XIV, il Papa tennista. Jannik gli regala una racchetta]'', ''{{w|La Gazzetta dello Sport}}'' (14 tháng 5 năm 2025) * '''Sinner''': Quả bóng đây rồi ạ. Nếu ngài muốn đánh thử một chút...<br>'''Giáo hoàng Leo XIV''': Nhưng chúng ta sẽ làm vỡ đồ đạc ở đây mất! Tốt hơn là không nên.[...]<br>'''Giáo hoàng Leo XIV''': Ta thấy tối qua con đã thắng... Con thấy tình hình ở Rome thế nào?<br>'''Sinner''': Giờ thì chúng con đã bắt nhịp vào trận đấu rồi ạ. Đầu giải có hơi khó khăn một chút, nhưng sau ba trận thì chúng con đã tìm lại được nhịp thi đấu.<br>'''Giáo hoàng Leo XIV''': Cố lên con! ** '''Sinner''': La pallina, eccola. Se vuole giocare un po'...<br>'''Papa Leone XIV''': Ma qua rompiamo qualcosa! Meglio di no.[...]<br>'''Papa Leone XIV''': Ho visto che ieri sera hai vinto... A Roma come si vede?<br>'''Sinner''': Ora siamo in gioco. A inizio torneo era un po’ difficile, ora con tre partite abbiamo preso un po’ di ritmo.<br>'''Papa Leone XIV''': Coraggio!. *** Dẫn trong Salvatore Cernuzio, ''[https://www.vaticannews.va/it/papa/news/2025-05/papa-udienza-jannik-sinner-vaticano-tennis.html "Vuole giocare un po'?", il campione di tennis Sinner incontra Leone XIV]'', ''Vatican News'' (14 tháng 5 năm 2025) * (Giáo hoàng Leo XIV nói với Sinner) Với bộ trang phục này, ở Wimbledon chắc người ta cũng cho ta vào sân thi đấu đấy... ** (Papa Leone XIV a Sinner) Con questo abito a Wimbledon mi lascerebbero giocare... *** Dẫn trong ''[https://video.corriere.it/sport/il-video-dell-incontro-tra-sinner-e-il-papa-giochiamo-e-leone-xiv-qui-meglio-di-no-/649bcdd6-6e78-4ea2-9689-fcd8b355exlk Il video dell'incontro tra Sinner e il Papa: «Giochiamo?». Leone XIV sorride: «Qui meglio di no»]'', ''Corriere della Sera'' (14 tháng 5 năm 2025) == Nhận định về Sinner == * Người Ý vốn nồng nhiệt và giàu cảm xúc như tôi, trong khi Jannik lại nghiêm túc và điềm đạm. Trở thành tay vợt số 1 thế giới tại đất nước của các bạn là một vị thế có sức bùng nổ tiềm tàng, [...]. Sinner sẽ sẵn lòng cống hiến với sự hào phóng nào cho một quốc gia đang khao khát vinh quang đến vậy? Cậu ấy luôn nhắc đi nhắc lại rằng mình chỉ tập trung vào việc tiến bộ. Tôi rất tò mò muốn xem điều đó diễn ra thế nào. [...] Vị trí [số một] quả thực không dễ giữ chút nào. Mọi ánh mắt luôn đổ dồn vào bạn, áp lực bủa vây, ai nấy đều kéo áo níu tay bạn. Ở Ý, Sinner thường nghỉ ngơi ở đâu? Cậu ấy có biết mình sẽ phải đi lại cùng đội vệ sĩ hộ tống không? Cậu ấy là một chàng trai trầm lặng và kín tiếng, thích đi lại mà không gây chú ý: rồi cậu ấy sẽ phải chạm trán với sự cuồng nhiệt tột cùng của người Ý. Tôi chúc cậu ấy tìm thấy niềm vui trong vai trò thủ lĩnh, tự tạo cho mình một khoảng không gian để xoay xở, bằng không vị trí số một có nguy cơ đè bẹp cậu ấy. ** Gli italiani sono passionali ed emotivi come me, mentre Jannik è serio e compassato. Diventare n. 1 da voi è un ruolo potenzialmente dirompente, [...]. Con quale generosità Sinner avrà voglia di donarsi a un Paese affamato? Lui ripete che è concentrato solo sui miglioramenti. Sono curioso di scoprirlo. [...] Una posizione [il numero uno] non facile da reggere, in effetti. Gli occhi sempre addosso, la pressione, tutti che ti tirano per la giacchetta. Dove si riposa in Italia, di solito, Sinner? Lo sa che dovrà andare in giro scortato? È un tipo silenzioso e riservato, a cui piace viaggiare sotto i radar: andrà a sbattere contro l'entusiasmo italiano. Io gli auguro di divertirsi nel ruolo di leader, di concedersi qualche spazio di manovra sennò il numero uno rischia di schiacciarlo. *** [[John McEnroe]]. Dẫn trong Gaia Piccardi, ''[https://www.corriere.it/sport/tennis/24_giugno_06/mcenroe-sinner-alcaraz-intervista-dd38bb0d-e5e0-4bf6-8421-6a5e90d0dxlk.shtml McEnroe: «Sinner numero 1? Posizione difficile da reggere in un Paese affamato come l'Italia. L'infortunio di Djokovic? Scandaloso»]'', ''corriere.it'' (6 tháng 6 năm 2024) * Tôi đã đọc những điều viết về Sinner dự báo một tương lai xán lạn cho cậu ấy. Tôi hy vọng những điều mình đọc sẽ thành hiện thực, giống như trường hợp của {{w|Nicola Pietrangeli}} và chiếc cúp Davis. Giờ tôi đã ở tuổi ngoài chín mươi rồi, và ngày chiến thắng này của Sinner vẫn là một trong những ngày tuyệt vời nhất mà tôi từng trải qua. ** Ho letto cose di Sinner che fanno prevedere un grande futuro per lui. Io spero che le cose che leggo si verificheranno, come quelle di Nicola Pietrangeli e la Davis. Io ormai ho novant'anni, e questa di Sinner rimane tra le giornate migliori che abbia passato. *** Gianni Clerici. Dẫn trong ''Un ragazzo che rende felici'', ''la Repubblica'' (15 tháng 11 năm 2020), tr. 26 * Điều đó không khiến tôi lo lắng, mà trái lại còn kích thích tôi. Và nó tiếp thêm cho tôi sức mạnh. Tôi và Jannik có mối quan hệ tốt đẹp cùng sự cạnh tranh lành mạnh – điều sẽ mang lại lợi ích cho cả hai chúng tôi. ** Non mi preoccupa, mi stimola. E mi dà forza. Con Jannik c'è un buon rapporto e una sana rivalità, che farà bene ad entrambi. *** {{w|Matteo Berrettini}}, dẫn trong bài của Gaia Piccardi trên ''Sette'' (tháng 11 năm 2021), tường thuật lại tại ''[https://www.corriere.it/sette/incontri/22_gennaio_02/matteo-berrettini-intervista-sinner-46a5003e-6a23-11ec-b207-ac107188fcf7.shtml «Con Sinner c'è una sana rivalità»]'', ''corriere.it'' (2 tháng 1 năm 2022) * Tôi ngưỡng mộ cậu ấy. Ở một khía cạnh nào đó, tôi nhìn thấy hình bóng của chính mình nơi cậu ấy: cậu ấy bận tâm về công việc và thành tích thi đấu nhiều hơn là cố xuất hiện như một nhân vật hào nhoáng bên ngoài thể thao. ** Lo ammiro. In qualche modo mi rivedo in lui: pensa al lavoro e alla prestazione più che all'apparire come personaggio al di fuori dello sport. *** {{w|Lisa Vittozzi}}, dẫn trong Flavio Vanetti, ''[https://www.corriere.it/cronache/24_luglio_17/lisa-vittozzi-intervista-a0a98342-b10f-44e1-8cab-8f231b643xlk.shtml Lisa Vittozzi, campionessa di biathlon: «Per l'ansia avevo perso la mira, mi ha salvato un mental coach. Passo l'estate sugli skiroll sognando Pechino Express»]'', ''corriere.it'' (17 tháng 7 năm 2024) * [[Novak Djokovic|Djokovic]] sở hữu rất nhiều ngón nghề trong kho vũ khí của mình, anh ấy có thể chơi tốt cả tấn công lẫn phòng ngự. Còn Sinner thì quá đơn điệu. Cậu ta chỉ được lập trình một cách máy móc để vung vợt đánh bóng. Cậu ta chỉ là một phiên bản sửa đổi từ kiểu tay vợt như Hrbatý hay Thomas Johansson. Được hiện đại hóa hơn mà thôi. ** Djokovic ha tanto nel suo arsenale, può giocare sia in attacco che in difesa. Sinner è unidimensionale. È stupidamente progettato per colpire. È una versione modificata degli stessi Hrbaty e Johansson. Più modernizzata. *** {{w|Yevgeny Kafelnikov}}. Dẫn trong Tommaso Vitali, ''[https://www.tennisitaliano.it/kafelnikov-duro-contro-sinner-e-stupidamente-progettato-per-colpire/ Kafelnikov duro contro Sinner: "È stupidamente progettato per colpire"]'', ''tennisitaliano.it'' (28 tháng 10 năm 2024) == Xem thêm == * [[Carlos Alcaraz]] * [[Novak Djokovic]] * [[Maria Sharapova]] == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat|Jannik Sinner}} [[Thể loại:Sinh năm 2001]] [[Thể loại:Còn sống]] [[Thể loại:Vận động viên quần vợt Ý]] itwiijweykrlbyvd29yhq67uu8zxm75 Roger Federer 0 10732 63743 2026-10-08T10:16:11Z Mai Thanh Bang 3613 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{Tác giả | Tên = Roger Federer | Hình = R federer.jpg | Wikisource = | Wikipedia = Roger Federer | Wikicommons = Category:Roger Federer }} '''{{w|Roger Federer}}''' (sinh ngày 8 tháng 8 năm 1981) là một cựu vận động viên [[w:quần vợt|quần vợt]] chuyên nghiệp người Thụy Sĩ và từng giữ vị trí số 1 thế giới ở nội dung đơn nam trên bảng xếp hạng của w:Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghi…” 63743 wikitext text/x-wiki {{Tác giả | Tên = Roger Federer | Hình = R federer.jpg | Wikisource = | Wikipedia = Roger Federer | Wikicommons = Category:Roger Federer }} '''{{w|Roger Federer}}''' (sinh ngày 8 tháng 8 năm 1981) là một cựu vận động viên [[w:quần vợt|quần vợt]] chuyên nghiệp người Thụy Sĩ và từng giữ vị trí số 1 thế giới ở nội dung đơn nam trên bảng xếp hạng của [[w:Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp|Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp]] (ATP). Federer đã giành được 20 danh hiệu đơn [[w:Grand Slam (quần vợt)|Grand Slam]] và giữ vị trí số 1 thế giới trên bảng xếp hạng ATP trong tổng cộng 310 tuần, bao gồm kỷ lục 237 tuần liên tiếp. Sau khi chuyển lên thi đấu chuyên nghiệp vào năm 1998, anh liên tục nằm trong top 10 thế giới từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 11 năm 2016. == Danh ngôn == * Hôm nay, tâm trí tôi hoàn toàn tĩnh tại. ** Tại Brisbane International 2016. * Đôi khi người ta cảm thấy thiếu vắng nó, rồi khi không có thì lại thèm muốn, nhưng đến khi có được rồi thì họ lại chẳng tha thiết nữa. ** Về các cuộc kình địch đối đầu (nhắc tới mối kình địch với Rafael Nadal), ngày 9 tháng 7 năm 2006. * Trước đây tôi luôn nghĩ mọi thứ chỉ xoay quanh chiến thuật và kỹ thuật, nhưng giờ đây mỗi trận đấu gần như đã trở thành cuộc chiến về tinh thần và thể lực – tôi luôn thúc đẩy bản thân di chuyển thật thanh thoát. Tôi nỗ lực rèn luyện để không bực bội và luôn giữ tinh thần lạc quan, và đó chính là bước tiến lớn nhất của tôi sau ngần ấy năm. Dưới áp lực ngút ngàn, tôi lại nhìn nhận mọi sự vô cùng sáng rõ. ** Họp báo sau khi vô địch Dubai Open 2007. * Cả bốn giải lớn bên đó đều đánh trên sân cỏ, trong khi tôi còn phải đánh trên mặt sân cứng nữa chứ! ** Hài hước giải thích lý do vì sao giành trọn bộ bốn danh hiệu Grand Slam trong quần vợt lại khó hơn việc Tiger Woods thâu tóm các giải major trong môn golf (tháng 2 năm 2007). * Thật không thể tin nổi, chính tôi cũng phải bàng hoàng. Tôi từng chơi những trận rất hay ở đây, nhưng chưa bao giờ áp đảo đối thủ đến mức gần như hủy diệt thế này. ** Sau chiến thắng trước Andy Roddick tại bán kết Úc Mở rộng 2007. * Đó đơn thuần chỉ là một trong những ngày mà anh ấy muốn quên đi, còn tôi thì sẽ nhớ mãi. ** Sau chiến thắng trước Andy Roddick tại bán kết Úc Mở rộng 2007. * Tôi rất muốn được như Lenny Kravitz. ** Nhận xét về ca sĩ Lenny Kravitz. * Tôi chưa từng phải đợi suốt 27 năm, bởi 27 năm trước tôi mới chỉ vừa cất tiếng khóc chào đời. Cha mẹ tôi cũng chưa bao giờ dọa rằng: 'Nếu con không vô địch Roland Garros thì bố mẹ sẽ tống con vào trại trẻ mồ côi.' ** Khi được hỏi cảm giác thế nào khi phải chờ đợi 27 năm mới vô địch Pháp Mở rộng (2009). * Không, không, không, quá muộn rồi! Dừng lại đi! Này, thôi nào… Tôi chỉ được quyền khiếu nại (challenge) trong chừng hai giây, còn cậu ta mất tới mười giây… Lần nào cũng vậy! Tôi không thể để chuyện này tiếp diễn được! Các người có luật lệ nào ở đây không hả?! Đừng có giơ tay ra trước mặt tôi như thế, được chứ?! Đừng bảo tôi phải im lặng! Khi tôi muốn nói, tôi sẽ nói, rõ chưa?! Tôi cóc cần quan tâm cậu ta nói gì, tôi chỉ muốn nói là cậu ta đã chần chừ quá lâu rồi… ** Chỉ trích trọng tài điều khiển trận chung kết Mỹ Mở rộng 2009 đầy tiếc nuối trước Juan Martín del Potro, người đã mất quá nhiều thời gian trước khi đưa ra khiếu nại mắt diều hâu. * Đôi khi bạn thấy hạnh phúc chỉ đơn giản vì được ra sân thi đấu. Thật không may là một số người, một số kênh truyền thông lại không hiểu rằng việc chỉ cần chơi quần vợt và tận hưởng nó cũng đã là điều tuyệt vời. Họ luôn nghĩ rằng bạn phải thắng mọi danh hiệu, mọi thứ luôn luôn phải là một câu chuyện thành công rực rỡ, còn nếu không thì thi đấu để làm gì cơ chứ? Có lẽ bạn cần nhìn lại và tự hỏi: Tại sao thuở ban đầu mình lại cầm vợt? Đơn giản vì mình thích nó. Đó thực chất là một niềm đam mê mơ ước nay đã phần nào trở thành một nghề nghiệp. Có những người vĩnh viễn không bao giờ hiểu nổi điều đó. ** ATP World Tour – Thượng Hải, tháng 10 năm 2012. * Tôi nghĩ bạn luôn cần nguồn cảm hứng và động lực từ nhiều góc độ khác nhau để duy trì bước tiến, bởi chẳng hề đơn giản khi mỗi sáng thức dậy lại là một chuyến đi vòng quanh thế giới, một buổi tập khác, cùng biết bao điều quen thuộc: một bài tập thể lực khác, một lần căng cơ khác. Những điều đó luôn tuyệt vời, nhưng bạn phải gặt hái được chút thành công và phải có những lý do đúng đắn cho mục đích của mình. Tôi nghĩ mình luôn làm được điều đó và thực sự tìm thấy niềm vui trọn vẹn mỗi khi bước ra sân. ** ATP World Tour Finals – London, tháng 11 năm 2012. * Không, trận kia cũng là trận đấu đêm và tôi mặc áo trắng đấy chứ! Không, tôi không hề mê tín chút nào như anh thấy đấy và… tôi luôn cố gắng không để mình mê tín… mà chính vì cố không mê tín nên có lẽ tôi lại thành ra mê tín… Thật là kỳ lạ! ** Trả lời Jim Courier sau trận tứ kết Úc Mở rộng 2013 trước Jo-Wilfried Tsonga, khi được hỏi liệu có phải anh mặc áo đen trong trận đấu đêm vì mê tín hay không. * Bạn phải cẩn trọng trong cách dùng từ đấy. Bạn chẳng nên khiếm nhã với các tay vợt khác, bởi bạn sẽ còn phải đối mặt với họ; còn tôi thì chẳng cần phải đối mặt với họ như cách bạn làm. Đúng vậy, tôi không bao giờ đi hỏi những câu ngớ ngẩn như thế đâu (cười)... Ừm, tôi nghĩ trong hệ thống thi đấu hiện tại có rất nhiều tay vợt xuất sắc. ** Họp báo tại Úc Mở rộng 2016 sau thất bại ở bán kết trước Novak Djokovic, khi một phóng viên gợi ý rằng sự thống trị của người chiến thắng có thể lớn hơn bất kỳ ai trong lịch sử do "không còn đối thủ lớn nào trong tương lai". * Có lẽ, hy vọng rằng, một ngày nào đó cậu có thể kể cho tôi nghe cảm giác vô địch Montreal tuyệt vời đến nhường nào. ** Phát biểu chúc mừng Alexander Zverev sau thất bại trong trận chung kết Montreal Masters 2017; Federer từng vô địch Canadian Open tại Toronto nhưng chưa từng đăng quang tại Montreal. * Cái rạp xiếc này cần thêm một gã hề nữa đấy. ** Nhận xét về một trận đấu có quá nhiều pha bắt lỗi gây tranh cãi của trọng tài trong cuộc đối đầu với Nick Kyrgios tại Mutua Madrid Open 2015. * [...] Tôi dành sự tôn trọng và ngưỡng mộ sâu sắc cho phong trào khí hậu của giới trẻ, và tôi vô cùng biết ơn các nhà hoạt động khí hậu trẻ tuổi đã thôi thúc tất cả chúng ta phải nhìn nhận lại hành vi của mình để hành động hướng tới những giải pháp sáng tạo. Chúng ta có bổn phận với họ và với chính bản thân mình trong việc lắng nghe. Tôi trân trọng những lời nhắc nhở về trách nhiệm của mình [...] và tôi cam kết sẽ tận dụng vị thế đặc quyền này để đối thoại về các vấn đề hệ trọng với những nhà tài trợ của mình. ** Phản hồi trước những lời chỉ trích về biến đổi khí hậu từ Greta Thunberg, dẫn trên ''{{w|The Guardian}}'', 12 tháng 1 năm 2020. == Nhận định về Roger Federer == * Mấy người muốn tôi phải làm gì nữa đây? ** {{w|Andy Murray}} hét lên với ban huấn luyện của mình khi hoàn toàn bế tắc trong việc tìm phương án đối phó với Federer tại bán kết Wimbledon 2015. * Anh ấy đánh được những đường bóng mà chẳng ai khác có thể đánh nổi. Đôi khi bạn chỉ muốn chạy sang đập tay tán thưởng anh ấy, nhưng rõ ràng bạn đâu thể làm thế. Bạn khao khát đánh bại anh ấy, nhưng xem anh ấy chơi bóng cũng là một niềm thích thú tột cùng. ** {{w|Sam Querrey}} thán phục sau khi bị Federer thực hiện cú lốp bóng qua hai chân (tweener lob) tại Wimbledon 2015. * Bởi vì anh ấy bao quát sân quá tốt bên cánh thuận tay, điều đó thực sự cho phép anh ấy cố thủ vững chắc nơi góc sân trái tay. Góc trái tay đó dường như ngày càng thu hẹp lại, tựa như đang thách thức bạn đánh bóng sang cánh thuận tay của anh ấy. Rất nhiều lần bạn đánh sang đó, bụng bảo dạ rằng đây là một ý tưởng tuyệt vời, rồi chỉ một giây sau bạn phải tự thốt lên: 'Trời đất, sao mình lại làm thế chứ?' ** {{w|Andre Agassi}}, phỏng vấn sau trận đấu tại Úc Mở rộng 2005. * Tôi khuyên các đối thủ tiếp theo của anh ấy đừng dại gì tìm đến tôi để xin lời khuyên. ** Andre Agassi sau khi bị Federer đánh bại ở tứ kết Úc Mở rộng 2005. * Roger có thể tung ra những cú đánh quần vợt mà lẽ ra luật pháp phải coi là bất hợp pháp. ** {{w|Tracy Austin}} nhận xét về kỹ thuật của Federer. * [Federer] ...là người đàn ông mang lại cảm giác mãn nhãn nhất khi xem chơi quần vợt. Đẹp nhất trong số tất cả những ai tôi từng thấy trên sân đấu. Những bước di chuyển của anh ấy hòa quyện cùng chất nghệ thuật, cây vợt trong tay, thần thái, anh ấy hội tụ đủ ''mọi yếu tố''. ** [[John McEnroe]], bình luận trên kênh Tennis Channel, 1 tháng 6 năm 2012. * Chúng ta đang được chứng kiến lịch sử. Đây chính là vận động viên có sức thống trị tuyệt đối nhất trên hành tinh ngày hôm nay. ** {{w|Jim Courier}}, cựu số 1 thế giới, bình luận trên Channel Seven của Úc năm 2007. * Đối với tôi, Roger là tay vợt vĩ đại nhất từng chơi môn quần vợt này. Thật tuyệt vời khi được xem anh ấy thi đấu và chiến thắng; chúng ta sẽ còn được thấy nhiều điều hơn nữa từ Federer trong tương lai; anh ấy sẽ còn giành thêm nhiều danh hiệu Grand Slam nữa. ** {{w|Björn Borg}}, sau khi Federer vô địch Pháp Mở rộng 2009. * Đó là sự kết hợp của việc bạn giành được bao nhiêu giải Grand Slam, bao nhiêu danh hiệu vô địch, và bạn ngự trị ở ngôi số 1 thế giới trong bao nhiêu năm – và anh ấy hội tụ đủ tất cả những điều đó. Di sản sự nghiệp của anh ấy thật phi thường và giờ đây anh ấy đã có được Roland Garros, tôi nghĩ anh ấy hoàn toàn có thể an tâm nhâm nhi ly Margarita cho đến hết phần đời còn lại. ** {{w|Martina Navratilova}} nhận xét sau khi Federer vô địch Pháp Mở rộng 2009. * Những gì cậu ấy đã làm được trong suốt năm năm qua là điều chưa từng, chưa từng có ai làm được – và có lẽ sẽ không bao giờ lặp lại một lần nữa. Bất kể cậu ấy có vô địch ở đây hay không, cậu ấy vẫn đi vào lịch sử như tay vợt vĩ đại nhất. Chiến thắng này chỉ là lời tái khẳng định. Giờ đây khi cậu ấy đã đăng quang tại Paris, theo quan điểm của tôi, nó càng củng cố vững chắc vị thế của cậu ấy trong lịch sử với tư cách là tay vợt xuất sắc nhất từng chơi môn thể thao này. Tôi là một người hâm mộ cuồng nhiệt của Laver, và ông ấy từng có vài năm không có cơ hội dự các giải major. Nhưng bạn không thể so sánh giữa các thời kỳ. Và ở kỷ nguyên này, sự cạnh tranh khốc liệt hơn thời của Rod rất nhiều. ** {{w|Pete Sampras}}, sau khi Federer vô địch Pháp Mở rộng 2009. * Chiến thắng hôm nay của anh ấy tại Roland Garros, san bằng kỷ lục về số danh hiệu major của Pete Sampras và hoàn tất trọn bộ Grand Slam sự nghiệp, đã đặt anh ấy vững chắc vào một vị trí đặc biệt: tay vợt vĩ đại nhất mọi thời đại. Anh ấy xứng đáng với vị thế đó và đã chứng minh mình thuộc về nơi ấy. Roger là một nhà vô địch của mọi thời đại. ** {{w|Billie Jean King}}, sau khi Federer vô địch Pháp Mở rộng 2009. * Tôi chưa từng đối đầu với ai chơi bóng với tốc độ kinh hoàng đến thế. Anh ấy hoàn toàn không có bất kỳ điểm yếu nào. Anh ấy thực sự xứng đáng được gọi là tay vợt xuất sắc nhất mọi thời đại. ** {{w|Robin Söderling}}, sau thất bại trước Federer trong trận chung kết Pháp Mở rộng 2009. * Roger Federer chắc chắn sẽ trở thành tay vợt vĩ đại nhất từng làm rạng danh môn thể thao này nếu anh ấy vô địch Roland Garros. Nó sẽ chấm dứt mọi cuộc tranh luận về vị trí của anh ấy trong lịch sử quần vợt. Nếu không vì phải chạm trán một Nadal bốn lần vô địch ở đây, có lẽ anh ấy đã ẵm trọn cả nắm danh hiệu này rồi. Vì vậy, chẳng ai có thể đánh giá thấp vị trí xứng đáng của anh ấy trong môn thể thao này. Anh ấy tài năng phi thường và sở hữu sự thanh thoát tuyệt mỹ trên sân; xem anh ấy thi đấu là một trải nghiệm vô cùng đặc biệt. ** Andre Agassi, phát biểu một ngày trước khi Federer đăng quang Pháp Mở rộng 2009. * Các người thật tàn nhẫn. Quá đỗi tàn nhẫn. Người ta mới chỉ lọt vào có hai trận chung kết Grand Slam năm nay thôi đấy. Tôi mà có được một năm "tồi tệ" như anh ấy thì tôi mừng phát khóc. Mừng đến phát điên lên ấy chứ. ** {{w|Andy Roddick}} nói với báo giới trước những lời chỉ trích nhắm vào sự sa sút phong độ của Federer năm 2008 khi anh rơi xuống vị trí số 2 thế giới. * Đối với tôi, vào thời kỳ đỉnh cao, tôi cảm thấy mình bất khả chiến bại. Vào thời của Roger, cậu ấy cũng bất khả chiến bại. Thật khó để đặt người này lên trên người kia. Dù vậy, tôi nghĩ Roger đang thống trị môn thể thao này áp đảo hơn tôi trước đây rất nhiều. Tôi tin cậu ấy sẽ vượt qua cột mốc 14 và chạm tới 16, 17, hay 18 danh hiệu major. Cậu ấy sẽ phá vỡ mọi kỷ lục. ** Pete Sampras, trước trận đấu biểu diễn thứ ba với Federer tại Ma Cao, tháng 11 năm 2007. * Tối nay tôi đã được nếm trải thế nào là đỉnh cao xuất sắc nhất và tôi nghĩ Roger sở hữu một cấp độ hoàn toàn vượt trội. Cậu ấy bắt lưới tuyệt vời và có cú vẩy cổ tay trái tay mà thành thực tôi chưa từng thấy trước đây... đó là thứ mà tôi không có được. Tôi hài lòng với màn trình diễn của mình tối nay. Tôi đã bám đuổi quyết liệt cho tới tận giây phút cuối cùng. ** Pete Sampras, sau trận đấu biểu diễn tại Kuala Lumpur, 22 tháng 11 năm 2007. * Nếu anh ấy chơi tốt, tôi buộc phải chơi với phong độ không tưởng. Bằng không, điều đó là bất khả thi, nhất là khi anh ấy đang tràn đầy tự tin. Khi đạt 100% phong độ, anh ấy thi đấu ở một đẳng cấp hoàn toàn khác. Không thể ngăn cản anh ấy được. Tôi chiến đấu. Tôi nỗ lực chiến đấu. Nhưng chẳng còn gì để nói cả. Chỉ biết ngả mũ chúc mừng anh ấy mà thôi. ** [[Rafael Nadal]], sau thất bại trước Federer tại bán kết Shanghai Masters Cup, 17 tháng 11 năm 2007. * Theo ý kiến của tôi, anh ấy là tay vợt vĩ đại nhất lịch sử. Khi bạn chơi quần vợt, được so tài với Federer là một giấc mơ bởi bạn thấy anh ấy thực hiện được mọi điều mà bạn hằng ao ước làm được trên sân đấu. ** {{w|Fabrice Santoro}} nhận định. * Cậu ấy là tay vợt thiên bẩm nhất mà tôi từng chứng kiến trong đời. Tôi đã xem rất nhiều người thi đấu. Tôi từng thấy những huyền thoại như Rod Laver; tôi từng đối đầu với những tên tuổi lẫy lừng nhất – Sampras, Becker, Connors, Borg, bạn cứ kể tên đi. Chàng trai này có thể là người vĩ đại nhất mọi thời đại. Với tôi, thế là đủ nói lên tất cả. ** John McEnroe nhận định. * Roger đơn giản là tay vợt vĩ đại nhất mọi thời đại. Anh ấy là tay vợt đẹp mắt nhất tôi từng thấy và tôi không bao giờ biết chán khi xem anh ấy thi đấu. Rod Laver là thần tượng của tôi, Pete Sampras là tay vợt sân cỏ cừ khôi nhất, nhưng Roger là người vĩ đại nhất trong tất cả. Tôi nghĩ thời gian gần đây chúng ta càng trân trọng sự phi thường của anh ấy hơn, bởi anh ấy đã bộc lộ nhiều cảm xúc hơn trên sân đấu và khi đã làm cha, anh ấy hiện lên gần gũi, đời thường hơn. Điều đó khiến những gì anh ấy đang làm càng trở nên đáng kinh ngạc. ** John McEnroe. * Federer là tay vợt xuất sắc nhất lịch sử, chưa từng có tay vợt nào sở hữu đẳng cấp phẩm chất cao đến vậy. ** Rafael Nadal, sau khi vô địch Pháp Mở rộng 2006. * Phải, tôi từng đánh tập với cậu ấy khi cậu ấy mới 15 tuổi tại một giải đấu ở Basel, và lúc đó tôi đã biết cậu ấy sẽ giỏi giang, nhưng không ngờ lại xuất chúng đến mức này. Nếu không dính chấn thương, sẽ là một điều kỳ lạ nếu cậu ấy không giành được nhiều Grand Slam hơn Pete [Sampras]. Cách cậu ấy lựa chọn góc đánh thật không thể tin nổi. Cậu ấy nhanh nhẹn, bắt lưới cừ khôi, giao bóng hiểm hóc, trái tay tuyệt hảo, cái gì cũng xuất sắc. Nếu tôi là huấn luyện viên của cậu ấy, tôi còn biết chỉ bảo thêm điều gì nữa đây? Cậu ấy là một ảo thuật gia cầm vợt. Ngay cả khi chơi dưới sức – một điều rất hiếm khi xảy ra – cậu ấy vẫn có thể làm được những điều với cây vợt mà không ai khác có thể làm nổi. ** {{w|Goran Ivanišević}} trả lời câu hỏi liệu Federer có định mệnh trở thành tay vợt vĩ đại nhất lịch sử hay không. * Khi nhìn vào Roger, ý tôi là, tôi là một người hâm mộ cuồng nhiệt. Tôi mê mẩn cách cậu ấy thi đấu, phong thái của cậu ấy, và cả việc cậu ấy toát lên sự lịch lãm – tôi không quen thân ngoài đời, nhưng trên sân lẫn ngoài đời cậu ấy luôn là một quý ông đẳng cấp. Xem cậu ấy đánh bóng thật sướng mắt. Tố chất vận động viên, khả năng xử lý bóng khi đang di chuyển của cậu ấy thật tuyệt luân. Tôi tin cậu ấy có thể và sẽ phá vỡ mọi kỷ lục quần vợt. ** Pete Sampras nhận định. * Tôi không thấy ai sở hữu vũ khí đủ sắc bén để làm tổn thương cậu ấy. Họ chỉ biết chôn chân ở vạch cuối sân và Roger hoàn toàn làm chủ cục diện. Cách duy nhất là bạn phải giao bóng cực tốt và dồn ép tấn công cậu ấy. ** Pete Sampras nhận xét. * Tôi thực sự coi mình là một trong năm tay vợt hàng đầu thế giới, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi tiệm cận được đẳng cấp của Roger. ** {{w|Ivan Ljubičić}}, tại Indian Wells 2006. * Ồ, tôi sẽ thấy vô cùng vinh dự nếu được so sánh với Roger. Cậu ấy sở hữu tài năng khó tin và có thể làm được mọi thứ. Roger hoàn toàn có thể là tay vợt vĩ đại nhất mọi thời đại. ** {{w|Rod Laver}} chia sẻ năm 2004. * Roger sở hữu quá nhiều ngón đòn, quá nhiều tài năng kết tinh trong một cơ thể. Thật bất công khi một người lại có thể làm được tất cả những điều này – từ những cú trái tay, thuận tay, bắt lưới, giao bóng cho tới vị trí di chuyển trên sân. Cái cách cậu ấy lướt đi trên mặt sân mang lại cảm giác cậu ấy gần như không chạm chân xuống đất. Đó là dấu ấn của một nhà vô địch vĩ đại. ** Rod Laver, sau trận bán kết Úc Mở rộng 2007. * Cách tốt nhất để đánh bại cậu ấy có lẽ là lấy cây vợt đập vào đầu cậu ấy một cái. Roger hoàn toàn có thể thâu tóm cả bốn giải Grand Slam trong năm nếu cứ tiếp tục chơi như hiện tại, và nếu làm được điều đó, nó sẽ tương đương với hai lần Calendar Slam mà tôi từng giành được, bởi đẳng cấp cạnh tranh ngày nay đã cao hơn thời trước rất nhiều. ** Rod Laver, phát biểu trước trận chung kết Úc Mở rộng 2007 giữa Federer và Fernando González. * Cậu ấy là đối thủ xuất sắc nhất tôi từng chạm trán. Chẳng có lối thoát nào cả. Chẳng có việc gì làm ngoài việc đánh bóng trúng điểm rơi và cố gạt bóng vào lỗ như trong môn golf vậy. Mọi cú đánh của cậu ấy đều mang theo sự cấp bách ngột ngạt. Tôi từng đối đầu với rất nhiều đối thủ qua ngần ấy năm; luôn có một vùng an toàn, luôn có một vị trí để hướng tới, một điều gì đó để tập trung khai thác, luôn có một lối đi. Nhưng bất kỳ điều gì bạn toan tính làm, cậu ấy đều có sẵn câu trả lời đáp trả, và vấn đề chỉ là thời điểm cậu ấy bắt đầu bóp cò để buộc bạn phải thay đổi quyết định mà thôi. ** Andre Agassi, tại Mỹ Mở rộng 2005. * Cậu ấy tung ra cú cắt bóng ngắn, kéo bạn lên lưới rồi lại đẩy bạn về phía sau. Cậu ấy mượn chính lực đánh của bạn để chống lại bạn. Nếu bạn chủ động hãm lực lại để cậu ấy không mượn được đà, cậu ấy liền lách người và trừng phạt bạn bằng cú thuận tay uy lực. Số lượng phương án cậu ấy có để xoay chuyển cục diện trận đấu ở bất kỳ thời điểm nào dường như là vô tận. Thành công của cậu ấy trên sân chỉ đơn thuần là sự phản ánh cụ thể của tất cả những điều kỳ diệu mà cậu ấy có thể làm được. ** Andre Agassi, tại Mỹ Mở rộng 2005. * Có lẽ chẳng có khía cạnh nào trong lối chơi của anh ấy mà lại không thể coi là xuất sắc nhất. Bạn xem anh ấy đấu với Hewitt và ai nấy đều trầm trồ trước tốc độ của Hewitt, bản thân tôi cũng vậy. Rồi bạn bắt đầu nhận ra: 'Liệu có thể nào Federer di chuyển còn mượt mà hơn thế?' Rồi bạn xem anh ấy đấu với Andy [Roddick], bạn lại nghĩ: 'Andy có cú thuận tay sấm sét. Liệu có thể nào cú thuận tay của Federer mới là số một?' Bạn xem anh ấy đứng trên lưới, xem anh ấy giao bóng lên lưới áp đảo những chuyên gia trả giao bóng, và bạn phải xếp anh ấy đứng chung hàng ngũ xuất sắc nhất ở mọi kỹ năng. Bạn xem anh ấy đấu bền từ vạch cuối sân với những kẻ chuyên sống nhờ những loạt bóng bền, và thấy anh ấy làm điều đó còn giỏi hơn bất kỳ ai. ** Andre Agassi nhận xét. * Cậu ấy là một con người vô cùng giản dị, đời thường. Cậu ấy chẳng phải một ẩn số xa cách nào cả. Rời khỏi sân đấu, cậu ấy không hề cố làm ra vẻ một nhân vật lớn. Nếu bạn tình cờ gặp cậu ấy ở tiệm McDonald's mà không biết cậu ấy là ai, bạn sẽ chẳng bao giờ mường tượng nổi đó là một trong những vận động viên xuất sắc nhất hành tinh. ** Andy Roddick, tại Cincinnati 2005. * Tôi nghĩ cậu ấy là nhân vật chính, còn bốn hay năm người chúng tôi thì... tôi không biết nữa. Có lẽ chúng tôi phải lập thành một đội tiếp sức hay liên thủ lại, kiểu như mấy anh em siêu nhân Power Rangers thì mới mong đối chọi được. ** Andy Roddick, sau thất bại trước Federer trong trận chung kết Cincinnati 2005. * [Trong quần vợt hiện đại], bạn hoặc là một chuyên gia sân đất nện, một chuyên gia sân cỏ, hoặc một chuyên gia sân cứng… hoặc bạn là Roger Federer. ** {{w|Jimmy Connors}} nhận định. * Cậu ấy không hề thay đổi một chút nào. Cậu ấy chưa bao giờ ngạo mạn trong phòng thay đồ. Chưa bao giờ như thế. Thật tuyệt vời khi thấy một người làm nên những kỳ tích bằng sự phong nhã, đàng hoàng. Cậu ấy không bao giờ cố tình khiêu khích hay hạ thấp người khác. ** {{w|James Blake}}, tại Cincinnati 2005. * Cậu ấy đang trên đường trở thành nhân vật vĩ đại nhất mọi thời đại. Nhưng cậu ấy vẫn là một con người bằng xương bằng thịt. ** James Blake, trước trận tứ kết Mỹ Mở rộng 2006. * Cậu ấy đã nâng tiêu chuẩn quần vợt lên một tầm rất cao – cực kỳ cao. Thật không thể tin nổi thứ quần vợt mà cậu ấy có thể trình diễn. ** {{w|Marat Safin}}, tại Úc Mở rộng 2005. * Tôi ước gì được xỏ chân vào đôi giày của cậu ấy một ngày để biết cảm giác chơi thứ quần vợt đỉnh cao ấy là như thế nào. ** {{w|Mats Wilander}} nhận xét. * Roger Federer là tay vợt tài năng nhất tôi từng thấy. Cậu ấy có đủ năng lực để trở thành người vĩ đại nhất lịch sử. ** {{w|Nick Bollettieri}} nhận xét. * Roger là một tay vợt toàn diện. Điều cậu ấy có, và đó hoàn toàn không phải do may mắn, là khả năng biến chuyển lối chơi một cách tinh tế dựa trên những gì đối thủ đang áp đặt lên mình. ** {{w|Jack Kramer}} nhận định. * Tôi từng nghĩ Ellsworth Vines và Don Budge đã là rất cừ khôi. Pancho Gonzalez và Lew Hoad cũng chơi rất cừ, nhưng tôi chưa từng thấy ai chơi môn thể thao này hoàn hảo hơn Federer. Cậu ấy giao bóng tốt và có cú demi-volley tuyệt vời. Tôi chưa từng biết ai có thể làm được nhiều điều phi thường trên sân đấu như cậu ấy. ** Jack Kramer. * Tôi không chắc liệu cậu ấy có bất kỳ điểm yếu nào trong bộ kỹ năng của mình hay không. ** {{w|Jonas Björkman}}, sau khi thua Federer 2–6, 0–6, 2–6 tại bán kết Wimbledon 2006. * Có lẽ Roger Federer sẽ là người giải cứu quần vợt. Cậu ấy thi đấu hệt như cách chúng tôi từng chơi thuở trước. ** {{w|Ilie Năstase}}, tay vợt đầu tiên giữ ngôi số 1 thế giới khi bảng xếp hạng ra đời năm 1973. * Cậu ấy có khả năng tung ra những cú đánh mà các tay vợt khác thậm chí còn chưa bao giờ dám nghĩ tới việc thử sức. Cậu ấy sở hữu quá nhiều ngón nghề tinh xảo. ** {{w|Ivan Lendl}} nhận xét nhân dịp sinh nhật lần thứ 25 của Federer tại Toronto (2006). * Có lẽ tôi đã giành được nhiều danh hiệu và tiền thưởng hơn nếu không sinh cùng thời với Federer, nhưng bạn phải biết rằng có những điều tiền bạc không thể nào mua được – đó chính là cơ hội được so tài cùng Federer. ** Ivan Ljubičić nhận xét. * Anh ấy là con người tuyệt vời nhất trong môn thể thao này, cả trong lẫn ngoài sân đấu, và có một nhân cách lớn. Tôi vô cùng trân quý những cơ hội được tranh tài cùng anh ấy. ** Ivan Ljubičić. * Tôi rất tự hào khi được thi đấu cùng thời với cậu ấy. Thật tiếc là tôi không thể so tài cùng Pete Sampras, nhưng không sao; tôi được chứng kiến Federer trên đấu trường. Một ngày nào đó tôi có thể tự hào kể với cháu mình rằng tôi từng thi đấu với tay vợt vĩ đại nhất hành tinh. ** Ivan Ljubičić. * Hôm nay tôi đã chơi thứ quần vợt hay nhất của mình, thử đủ mọi cách khác nhau, nhưng chẳng có gì hiệu nghiệm. Khi bạn chơi thăng hoa như thế mà anh ấy vẫn đáp trả bằng những đường bóng siêu phàm đến vậy, bạn thực sự phải tự hỏi liệu anh ấy có cùng đến từ một hành tinh với chúng ta hay không. ** Novak Djokovic, sau trận đấu tại Davis Cup. * Roger tựa như một chai vang đỏ hảo hạng, càng để lâu càng đượm vị... Tôi nghĩ những năm tháng đỉnh cao nhất của cậu ấy sẽ là khi cậu ấy bước sang tuổi 26, 27, 28. ** {{w|Tony Roche}}, cựu huấn luyện viên của Federer. * Roger thậm chí còn chưa phô diễn hết kho tàng kỹ năng trong lối chơi của mình. ** Tony Roche. * Hầu như mọi thứ cậu ấy làm đều quá đỗi ấn tượng. Đúng vậy, đạt 50 danh hiệu ở bất kỳ độ tuổi nào cũng là điều phi thường. 50 danh hiệu ở tuổi 26 lại càng khó tin. 50 danh hiệu mà trong đó có tới 11 Grand Slam và 14 Masters Series thì quả là một kỳ tích siêu phàm. ** James Blake sau trận chung kết Cincinnati 2007, thời điểm Federer chạm mốc 50 danh hiệu ATP. * Tôi có thể rơi lệ giống như Roger, chỉ tiếc là tôi không thể chơi bóng hay như anh ấy. ** Andy Murray, sau thất bại trước Federer trong trận chung kết Úc Mở rộng 2010. * Không đời nào tôi lại đi làm nhà báo. Các người đã tìm cách khai tử thời đại của Roger – rất nhiều lần rồi. Nhưng anh ấy luôn trở lại và chứng minh các người đã sai. Vì vậy, có một sai lầm tôi không bao giờ phạm phải: đó là tuyên bố rằng Roger đã hết thời. ** Rafael Nadal, khi được hỏi anh sẽ viết gì về sự sa sút của Federer nếu anh là một nhà báo (tháng 7 năm 2010). * Tôi chẳng bao giờ đánh bại được Roger, anh ấy quá tầm đối với tôi… nhưng ở giải dành cho các cựu binh (Senior Tour), tôi nhất định sẽ phục thù! Anh ấy là người xuất sắc nhất lịch sử và tôi vô cùng may mắn khi được so tài cùng tay vợt vĩ đại nhất thế giới. ** {{w|David Ferrer}}, sau trận chung kết Cincinnati Masters 2014. * Lời giải thích mang tính siêu hình là: Roger Federer là một trong số ít những vận động viên siêu nhiên hiếm hoi dường như được miễn trừ, ít nhất là một phần, khỏi một số quy luật vật lý thông thường. ** {{w|David Foster Wallace}}, trong bài viết nổi tiếng năm 2006 trên tờ The New York Times với tựa đề ''Federer as Religious Experience''. == Xem thêm == * [[Rafael Nadal]] * [[Novak Djokovic]] * [[Andy Murray]] == Liên kết ngoài == * [https://www.rogerfederer.com/ Trang web chính thức] {{wikipedia}} {{commonscat}} [[Thể loại:Sinh năm 1981]] [[Thể loại:Còn sống]] [[Thể loại:Vận động viên quần vợt Thụy Sĩ]] lfb3rk60s9qchvzs6yj377862ypnxsm 63744 63743 2026-10-08T10:20:16Z Mai Thanh Bang 3613 63744 wikitext text/x-wiki '''{{w|Roger Federer}}''' (sinh ngày 8 tháng 8 năm 1981) là một cựu vận động viên [[w:quần vợt|quần vợt]] chuyên nghiệp người Thụy Sĩ và từng giữ vị trí số 1 thế giới ở nội dung đơn nam trên bảng xếp hạng của [[w:Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp|Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp]] (ATP). Federer đã giành được 20 danh hiệu đơn [[w:Grand Slam (quần vợt)|Grand Slam]] và giữ vị trí số 1 thế giới trên bảng xếp hạng ATP trong tổng cộng 310 tuần, bao gồm kỷ lục 237 tuần liên tiếp. Sau khi chuyển lên thi đấu chuyên nghiệp vào năm 1998, anh liên tục nằm trong top 10 thế giới từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 11 năm 2016. == Danh ngôn == * Hôm nay, tâm trí tôi hoàn toàn tĩnh tại. ** Tại Brisbane International 2016. * Đôi khi người ta cảm thấy thiếu vắng nó, rồi khi không có thì lại thèm muốn, nhưng đến khi có được rồi thì họ lại chẳng tha thiết nữa. ** Về các cuộc kình địch đối đầu (nhắc tới mối kình địch với Rafael Nadal), ngày 9 tháng 7 năm 2006. * Trước đây tôi luôn nghĩ mọi thứ chỉ xoay quanh chiến thuật và kỹ thuật, nhưng giờ đây mỗi trận đấu gần như đã trở thành cuộc chiến về tinh thần và thể lực – tôi luôn thúc đẩy bản thân di chuyển thật thanh thoát. Tôi nỗ lực rèn luyện để không bực bội và luôn giữ tinh thần lạc quan, và đó chính là bước tiến lớn nhất của tôi sau ngần ấy năm. Dưới áp lực ngút ngàn, tôi lại nhìn nhận mọi sự vô cùng sáng rõ. ** Họp báo sau khi vô địch Dubai Open 2007. * Cả bốn giải lớn bên đó đều đánh trên sân cỏ, trong khi tôi còn phải đánh trên mặt sân cứng nữa chứ! ** Hài hước giải thích lý do vì sao giành trọn bộ bốn danh hiệu Grand Slam trong quần vợt lại khó hơn việc Tiger Woods thâu tóm các giải major trong môn golf (tháng 2 năm 2007). * Thật không thể tin nổi, chính tôi cũng phải bàng hoàng. Tôi từng chơi những trận rất hay ở đây, nhưng chưa bao giờ áp đảo đối thủ đến mức gần như hủy diệt thế này. ** Sau chiến thắng trước Andy Roddick tại bán kết Úc Mở rộng 2007. * Đó đơn thuần chỉ là một trong những ngày mà anh ấy muốn quên đi, còn tôi thì sẽ nhớ mãi. ** Sau chiến thắng trước Andy Roddick tại bán kết Úc Mở rộng 2007. * Tôi rất muốn được như Lenny Kravitz. ** Nhận xét về ca sĩ Lenny Kravitz. * Tôi chưa từng phải đợi suốt 27 năm, bởi 27 năm trước tôi mới chỉ vừa cất tiếng khóc chào đời. Cha mẹ tôi cũng chưa bao giờ dọa rằng: 'Nếu con không vô địch Roland Garros thì bố mẹ sẽ tống con vào trại trẻ mồ côi.' ** Khi được hỏi cảm giác thế nào khi phải chờ đợi 27 năm mới vô địch Pháp Mở rộng (2009). * Không, không, không, quá muộn rồi! Dừng lại đi! Này, thôi nào… Tôi chỉ được quyền khiếu nại (challenge) trong chừng hai giây, còn cậu ta mất tới mười giây… Lần nào cũng vậy! Tôi không thể để chuyện này tiếp diễn được! Các người có luật lệ nào ở đây không hả?! Đừng có giơ tay ra trước mặt tôi như thế, được chứ?! Đừng bảo tôi phải im lặng! Khi tôi muốn nói, tôi sẽ nói, rõ chưa?! Tôi cóc cần quan tâm cậu ta nói gì, tôi chỉ muốn nói là cậu ta đã chần chừ quá lâu rồi… ** Chỉ trích trọng tài điều khiển trận chung kết Mỹ Mở rộng 2009 đầy tiếc nuối trước Juan Martín del Potro, người đã mất quá nhiều thời gian trước khi đưa ra khiếu nại mắt diều hâu. * Đôi khi bạn thấy hạnh phúc chỉ đơn giản vì được ra sân thi đấu. Thật không may là một số người, một số kênh truyền thông lại không hiểu rằng việc chỉ cần chơi quần vợt và tận hưởng nó cũng đã là điều tuyệt vời. Họ luôn nghĩ rằng bạn phải thắng mọi danh hiệu, mọi thứ luôn luôn phải là một câu chuyện thành công rực rỡ, còn nếu không thì thi đấu để làm gì cơ chứ? Có lẽ bạn cần nhìn lại và tự hỏi: Tại sao thuở ban đầu mình lại cầm vợt? Đơn giản vì mình thích nó. Đó thực chất là một niềm đam mê mơ ước nay đã phần nào trở thành một nghề nghiệp. Có những người vĩnh viễn không bao giờ hiểu nổi điều đó. ** ATP World Tour – Thượng Hải, tháng 10 năm 2012. * Tôi nghĩ bạn luôn cần nguồn cảm hứng và động lực từ nhiều góc độ khác nhau để duy trì bước tiến, bởi chẳng hề đơn giản khi mỗi sáng thức dậy lại là một chuyến đi vòng quanh thế giới, một buổi tập khác, cùng biết bao điều quen thuộc: một bài tập thể lực khác, một lần căng cơ khác. Những điều đó luôn tuyệt vời, nhưng bạn phải gặt hái được chút thành công và phải có những lý do đúng đắn cho mục đích của mình. Tôi nghĩ mình luôn làm được điều đó và thực sự tìm thấy niềm vui trọn vẹn mỗi khi bước ra sân. ** ATP World Tour Finals – London, tháng 11 năm 2012. * Không, trận kia cũng là trận đấu đêm và tôi mặc áo trắng đấy chứ! Không, tôi không hề mê tín chút nào như anh thấy đấy và… tôi luôn cố gắng không để mình mê tín… mà chính vì cố không mê tín nên có lẽ tôi lại thành ra mê tín… Thật là kỳ lạ! ** Trả lời Jim Courier sau trận tứ kết Úc Mở rộng 2013 trước Jo-Wilfried Tsonga, khi được hỏi liệu có phải anh mặc áo đen trong trận đấu đêm vì mê tín hay không. * Bạn phải cẩn trọng trong cách dùng từ đấy. Bạn chẳng nên khiếm nhã với các tay vợt khác, bởi bạn sẽ còn phải đối mặt với họ; còn tôi thì chẳng cần phải đối mặt với họ như cách bạn làm. Đúng vậy, tôi không bao giờ đi hỏi những câu ngớ ngẩn như thế đâu (cười)... Ừm, tôi nghĩ trong hệ thống thi đấu hiện tại có rất nhiều tay vợt xuất sắc. ** Họp báo tại Úc Mở rộng 2016 sau thất bại ở bán kết trước Novak Djokovic, khi một phóng viên gợi ý rằng sự thống trị của người chiến thắng có thể lớn hơn bất kỳ ai trong lịch sử do "không còn đối thủ lớn nào trong tương lai". * Có lẽ, hy vọng rằng, một ngày nào đó cậu có thể kể cho tôi nghe cảm giác vô địch Montreal tuyệt vời đến nhường nào. ** Phát biểu chúc mừng Alexander Zverev sau thất bại trong trận chung kết Montreal Masters 2017; Federer từng vô địch Canadian Open tại Toronto nhưng chưa từng đăng quang tại Montreal. * Cái rạp xiếc này cần thêm một gã hề nữa đấy. ** Nhận xét về một trận đấu có quá nhiều pha bắt lỗi gây tranh cãi của trọng tài trong cuộc đối đầu với Nick Kyrgios tại Mutua Madrid Open 2015. * [...] Tôi dành sự tôn trọng và ngưỡng mộ sâu sắc cho phong trào khí hậu của giới trẻ, và tôi vô cùng biết ơn các nhà hoạt động khí hậu trẻ tuổi đã thôi thúc tất cả chúng ta phải nhìn nhận lại hành vi của mình để hành động hướng tới những giải pháp sáng tạo. Chúng ta có bổn phận với họ và với chính bản thân mình trong việc lắng nghe. Tôi trân trọng những lời nhắc nhở về trách nhiệm của mình [...] và tôi cam kết sẽ tận dụng vị thế đặc quyền này để đối thoại về các vấn đề hệ trọng với những nhà tài trợ của mình. ** Phản hồi trước những lời chỉ trích về biến đổi khí hậu từ Greta Thunberg, dẫn trên ''{{w|The Guardian}}'', 12 tháng 1 năm 2020. == Nhận định về Roger Federer == * Mấy người muốn tôi phải làm gì nữa đây? ** {{w|Andy Murray}} hét lên với ban huấn luyện của mình khi hoàn toàn bế tắc trong việc tìm phương án đối phó với Federer tại bán kết Wimbledon 2015. * Anh ấy đánh được những đường bóng mà chẳng ai khác có thể đánh nổi. Đôi khi bạn chỉ muốn chạy sang đập tay tán thưởng anh ấy, nhưng rõ ràng bạn đâu thể làm thế. Bạn khao khát đánh bại anh ấy, nhưng xem anh ấy chơi bóng cũng là một niềm thích thú tột cùng. ** {{w|Sam Querrey}} thán phục sau khi bị Federer thực hiện cú lốp bóng qua hai chân (tweener lob) tại Wimbledon 2015. * Bởi vì anh ấy bao quát sân quá tốt bên cánh thuận tay, điều đó thực sự cho phép anh ấy cố thủ vững chắc nơi góc sân trái tay. Góc trái tay đó dường như ngày càng thu hẹp lại, tựa như đang thách thức bạn đánh bóng sang cánh thuận tay của anh ấy. Rất nhiều lần bạn đánh sang đó, bụng bảo dạ rằng đây là một ý tưởng tuyệt vời, rồi chỉ một giây sau bạn phải tự thốt lên: 'Trời đất, sao mình lại làm thế chứ?' ** {{w|Andre Agassi}}, phỏng vấn sau trận đấu tại Úc Mở rộng 2005. * Tôi khuyên các đối thủ tiếp theo của anh ấy đừng dại gì tìm đến tôi để xin lời khuyên. ** Andre Agassi sau khi bị Federer đánh bại ở tứ kết Úc Mở rộng 2005. * Roger có thể tung ra những cú đánh quần vợt mà lẽ ra luật pháp phải coi là bất hợp pháp. ** {{w|Tracy Austin}} nhận xét về kỹ thuật của Federer. * [Federer] ...là người đàn ông mang lại cảm giác mãn nhãn nhất khi xem chơi quần vợt. Đẹp nhất trong số tất cả những ai tôi từng thấy trên sân đấu. Những bước di chuyển của anh ấy hòa quyện cùng chất nghệ thuật, cây vợt trong tay, thần thái, anh ấy hội tụ đủ ''mọi yếu tố''. ** [[John McEnroe]], bình luận trên kênh Tennis Channel, 1 tháng 6 năm 2012. * Chúng ta đang được chứng kiến lịch sử. Đây chính là vận động viên có sức thống trị tuyệt đối nhất trên hành tinh ngày hôm nay. ** {{w|Jim Courier}}, cựu số 1 thế giới, bình luận trên Channel Seven của Úc năm 2007. * Đối với tôi, Roger là tay vợt vĩ đại nhất từng chơi môn quần vợt này. Thật tuyệt vời khi được xem anh ấy thi đấu và chiến thắng; chúng ta sẽ còn được thấy nhiều điều hơn nữa từ Federer trong tương lai; anh ấy sẽ còn giành thêm nhiều danh hiệu Grand Slam nữa. ** {{w|Björn Borg}}, sau khi Federer vô địch Pháp Mở rộng 2009. * Đó là sự kết hợp của việc bạn giành được bao nhiêu giải Grand Slam, bao nhiêu danh hiệu vô địch, và bạn ngự trị ở ngôi số 1 thế giới trong bao nhiêu năm – và anh ấy hội tụ đủ tất cả những điều đó. Di sản sự nghiệp của anh ấy thật phi thường và giờ đây anh ấy đã có được Roland Garros, tôi nghĩ anh ấy hoàn toàn có thể an tâm nhâm nhi ly Margarita cho đến hết phần đời còn lại. ** {{w|Martina Navratilova}} nhận xét sau khi Federer vô địch Pháp Mở rộng 2009. * Những gì cậu ấy đã làm được trong suốt năm năm qua là điều chưa từng, chưa từng có ai làm được – và có lẽ sẽ không bao giờ lặp lại một lần nữa. Bất kể cậu ấy có vô địch ở đây hay không, cậu ấy vẫn đi vào lịch sử như tay vợt vĩ đại nhất. Chiến thắng này chỉ là lời tái khẳng định. Giờ đây khi cậu ấy đã đăng quang tại Paris, theo quan điểm của tôi, nó càng củng cố vững chắc vị thế của cậu ấy trong lịch sử với tư cách là tay vợt xuất sắc nhất từng chơi môn thể thao này. Tôi là một người hâm mộ cuồng nhiệt của Laver, và ông ấy từng có vài năm không có cơ hội dự các giải major. Nhưng bạn không thể so sánh giữa các thời kỳ. Và ở kỷ nguyên này, sự cạnh tranh khốc liệt hơn thời của Rod rất nhiều. ** {{w|Pete Sampras}}, sau khi Federer vô địch Pháp Mở rộng 2009. * Chiến thắng hôm nay của anh ấy tại Roland Garros, san bằng kỷ lục về số danh hiệu major của Pete Sampras và hoàn tất trọn bộ Grand Slam sự nghiệp, đã đặt anh ấy vững chắc vào một vị trí đặc biệt: tay vợt vĩ đại nhất mọi thời đại. Anh ấy xứng đáng với vị thế đó và đã chứng minh mình thuộc về nơi ấy. Roger là một nhà vô địch của mọi thời đại. ** {{w|Billie Jean King}}, sau khi Federer vô địch Pháp Mở rộng 2009. * Tôi chưa từng đối đầu với ai chơi bóng với tốc độ kinh hoàng đến thế. Anh ấy hoàn toàn không có bất kỳ điểm yếu nào. Anh ấy thực sự xứng đáng được gọi là tay vợt xuất sắc nhất mọi thời đại. ** {{w|Robin Söderling}}, sau thất bại trước Federer trong trận chung kết Pháp Mở rộng 2009. * Roger Federer chắc chắn sẽ trở thành tay vợt vĩ đại nhất từng làm rạng danh môn thể thao này nếu anh ấy vô địch Roland Garros. Nó sẽ chấm dứt mọi cuộc tranh luận về vị trí của anh ấy trong lịch sử quần vợt. Nếu không vì phải chạm trán một Nadal bốn lần vô địch ở đây, có lẽ anh ấy đã ẵm trọn cả nắm danh hiệu này rồi. Vì vậy, chẳng ai có thể đánh giá thấp vị trí xứng đáng của anh ấy trong môn thể thao này. Anh ấy tài năng phi thường và sở hữu sự thanh thoát tuyệt mỹ trên sân; xem anh ấy thi đấu là một trải nghiệm vô cùng đặc biệt. ** Andre Agassi, phát biểu một ngày trước khi Federer đăng quang Pháp Mở rộng 2009. * Các người thật tàn nhẫn. Quá đỗi tàn nhẫn. Người ta mới chỉ lọt vào có hai trận chung kết Grand Slam năm nay thôi đấy. Tôi mà có được một năm "tồi tệ" như anh ấy thì tôi mừng phát khóc. Mừng đến phát điên lên ấy chứ. ** {{w|Andy Roddick}} nói với báo giới trước những lời chỉ trích nhắm vào sự sa sút phong độ của Federer năm 2008 khi anh rơi xuống vị trí số 2 thế giới. * Đối với tôi, vào thời kỳ đỉnh cao, tôi cảm thấy mình bất khả chiến bại. Vào thời của Roger, cậu ấy cũng bất khả chiến bại. Thật khó để đặt người này lên trên người kia. Dù vậy, tôi nghĩ Roger đang thống trị môn thể thao này áp đảo hơn tôi trước đây rất nhiều. Tôi tin cậu ấy sẽ vượt qua cột mốc 14 và chạm tới 16, 17, hay 18 danh hiệu major. Cậu ấy sẽ phá vỡ mọi kỷ lục. ** Pete Sampras, trước trận đấu biểu diễn thứ ba với Federer tại Ma Cao, tháng 11 năm 2007. * Tối nay tôi đã được nếm trải thế nào là đỉnh cao xuất sắc nhất và tôi nghĩ Roger sở hữu một cấp độ hoàn toàn vượt trội. Cậu ấy bắt lưới tuyệt vời và có cú vẩy cổ tay trái tay mà thành thực tôi chưa từng thấy trước đây... đó là thứ mà tôi không có được. Tôi hài lòng với màn trình diễn của mình tối nay. Tôi đã bám đuổi quyết liệt cho tới tận giây phút cuối cùng. ** Pete Sampras, sau trận đấu biểu diễn tại Kuala Lumpur, 22 tháng 11 năm 2007. * Nếu anh ấy chơi tốt, tôi buộc phải chơi với phong độ không tưởng. Bằng không, điều đó là bất khả thi, nhất là khi anh ấy đang tràn đầy tự tin. Khi đạt 100% phong độ, anh ấy thi đấu ở một đẳng cấp hoàn toàn khác. Không thể ngăn cản anh ấy được. Tôi chiến đấu. Tôi nỗ lực chiến đấu. Nhưng chẳng còn gì để nói cả. Chỉ biết ngả mũ chúc mừng anh ấy mà thôi. ** [[Rafael Nadal]], sau thất bại trước Federer tại bán kết Shanghai Masters Cup, 17 tháng 11 năm 2007. * Theo ý kiến của tôi, anh ấy là tay vợt vĩ đại nhất lịch sử. Khi bạn chơi quần vợt, được so tài với Federer là một giấc mơ bởi bạn thấy anh ấy thực hiện được mọi điều mà bạn hằng ao ước làm được trên sân đấu. ** {{w|Fabrice Santoro}} nhận định. * Cậu ấy là tay vợt thiên bẩm nhất mà tôi từng chứng kiến trong đời. Tôi đã xem rất nhiều người thi đấu. Tôi từng thấy những huyền thoại như Rod Laver; tôi từng đối đầu với những tên tuổi lẫy lừng nhất – Sampras, Becker, Connors, Borg, bạn cứ kể tên đi. Chàng trai này có thể là người vĩ đại nhất mọi thời đại. Với tôi, thế là đủ nói lên tất cả. ** John McEnroe nhận định. * Roger đơn giản là tay vợt vĩ đại nhất mọi thời đại. Anh ấy là tay vợt đẹp mắt nhất tôi từng thấy và tôi không bao giờ biết chán khi xem anh ấy thi đấu. Rod Laver là thần tượng của tôi, Pete Sampras là tay vợt sân cỏ cừ khôi nhất, nhưng Roger là người vĩ đại nhất trong tất cả. Tôi nghĩ thời gian gần đây chúng ta càng trân trọng sự phi thường của anh ấy hơn, bởi anh ấy đã bộc lộ nhiều cảm xúc hơn trên sân đấu và khi đã làm cha, anh ấy hiện lên gần gũi, đời thường hơn. Điều đó khiến những gì anh ấy đang làm càng trở nên đáng kinh ngạc. ** John McEnroe. * Federer là tay vợt xuất sắc nhất lịch sử, chưa từng có tay vợt nào sở hữu đẳng cấp phẩm chất cao đến vậy. ** Rafael Nadal, sau khi vô địch Pháp Mở rộng 2006. * Phải, tôi từng đánh tập với cậu ấy khi cậu ấy mới 15 tuổi tại một giải đấu ở Basel, và lúc đó tôi đã biết cậu ấy sẽ giỏi giang, nhưng không ngờ lại xuất chúng đến mức này. Nếu không dính chấn thương, sẽ là một điều kỳ lạ nếu cậu ấy không giành được nhiều Grand Slam hơn Pete [Sampras]. Cách cậu ấy lựa chọn góc đánh thật không thể tin nổi. Cậu ấy nhanh nhẹn, bắt lưới cừ khôi, giao bóng hiểm hóc, trái tay tuyệt hảo, cái gì cũng xuất sắc. Nếu tôi là huấn luyện viên của cậu ấy, tôi còn biết chỉ bảo thêm điều gì nữa đây? Cậu ấy là một ảo thuật gia cầm vợt. Ngay cả khi chơi dưới sức – một điều rất hiếm khi xảy ra – cậu ấy vẫn có thể làm được những điều với cây vợt mà không ai khác có thể làm nổi. ** {{w|Goran Ivanišević}} trả lời câu hỏi liệu Federer có định mệnh trở thành tay vợt vĩ đại nhất lịch sử hay không. * Khi nhìn vào Roger, ý tôi là, tôi là một người hâm mộ cuồng nhiệt. Tôi mê mẩn cách cậu ấy thi đấu, phong thái của cậu ấy, và cả việc cậu ấy toát lên sự lịch lãm – tôi không quen thân ngoài đời, nhưng trên sân lẫn ngoài đời cậu ấy luôn là một quý ông đẳng cấp. Xem cậu ấy đánh bóng thật sướng mắt. Tố chất vận động viên, khả năng xử lý bóng khi đang di chuyển của cậu ấy thật tuyệt luân. Tôi tin cậu ấy có thể và sẽ phá vỡ mọi kỷ lục quần vợt. ** Pete Sampras nhận định. * Tôi không thấy ai sở hữu vũ khí đủ sắc bén để làm tổn thương cậu ấy. Họ chỉ biết chôn chân ở vạch cuối sân và Roger hoàn toàn làm chủ cục diện. Cách duy nhất là bạn phải giao bóng cực tốt và dồn ép tấn công cậu ấy. ** Pete Sampras nhận xét. * Tôi thực sự coi mình là một trong năm tay vợt hàng đầu thế giới, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi tiệm cận được đẳng cấp của Roger. ** {{w|Ivan Ljubičić}}, tại Indian Wells 2006. * Ồ, tôi sẽ thấy vô cùng vinh dự nếu được so sánh với Roger. Cậu ấy sở hữu tài năng khó tin và có thể làm được mọi thứ. Roger hoàn toàn có thể là tay vợt vĩ đại nhất mọi thời đại. ** {{w|Rod Laver}} chia sẻ năm 2004. * Roger sở hữu quá nhiều ngón đòn, quá nhiều tài năng kết tinh trong một cơ thể. Thật bất công khi một người lại có thể làm được tất cả những điều này – từ những cú trái tay, thuận tay, bắt lưới, giao bóng cho tới vị trí di chuyển trên sân. Cái cách cậu ấy lướt đi trên mặt sân mang lại cảm giác cậu ấy gần như không chạm chân xuống đất. Đó là dấu ấn của một nhà vô địch vĩ đại. ** Rod Laver, sau trận bán kết Úc Mở rộng 2007. * Cách tốt nhất để đánh bại cậu ấy có lẽ là lấy cây vợt đập vào đầu cậu ấy một cái. Roger hoàn toàn có thể thâu tóm cả bốn giải Grand Slam trong năm nếu cứ tiếp tục chơi như hiện tại, và nếu làm được điều đó, nó sẽ tương đương với hai lần Calendar Slam mà tôi từng giành được, bởi đẳng cấp cạnh tranh ngày nay đã cao hơn thời trước rất nhiều. ** Rod Laver, phát biểu trước trận chung kết Úc Mở rộng 2007 giữa Federer và Fernando González. * Cậu ấy là đối thủ xuất sắc nhất tôi từng chạm trán. Chẳng có lối thoát nào cả. Chẳng có việc gì làm ngoài việc đánh bóng trúng điểm rơi và cố gạt bóng vào lỗ như trong môn golf vậy. Mọi cú đánh của cậu ấy đều mang theo sự cấp bách ngột ngạt. Tôi từng đối đầu với rất nhiều đối thủ qua ngần ấy năm; luôn có một vùng an toàn, luôn có một vị trí để hướng tới, một điều gì đó để tập trung khai thác, luôn có một lối đi. Nhưng bất kỳ điều gì bạn toan tính làm, cậu ấy đều có sẵn câu trả lời đáp trả, và vấn đề chỉ là thời điểm cậu ấy bắt đầu bóp cò để buộc bạn phải thay đổi quyết định mà thôi. ** Andre Agassi, tại Mỹ Mở rộng 2005. * Cậu ấy tung ra cú cắt bóng ngắn, kéo bạn lên lưới rồi lại đẩy bạn về phía sau. Cậu ấy mượn chính lực đánh của bạn để chống lại bạn. Nếu bạn chủ động hãm lực lại để cậu ấy không mượn được đà, cậu ấy liền lách người và trừng phạt bạn bằng cú thuận tay uy lực. Số lượng phương án cậu ấy có để xoay chuyển cục diện trận đấu ở bất kỳ thời điểm nào dường như là vô tận. Thành công của cậu ấy trên sân chỉ đơn thuần là sự phản ánh cụ thể của tất cả những điều kỳ diệu mà cậu ấy có thể làm được. ** Andre Agassi, tại Mỹ Mở rộng 2005. * Có lẽ chẳng có khía cạnh nào trong lối chơi của anh ấy mà lại không thể coi là xuất sắc nhất. Bạn xem anh ấy đấu với Hewitt và ai nấy đều trầm trồ trước tốc độ của Hewitt, bản thân tôi cũng vậy. Rồi bạn bắt đầu nhận ra: 'Liệu có thể nào Federer di chuyển còn mượt mà hơn thế?' Rồi bạn xem anh ấy đấu với Andy [Roddick], bạn lại nghĩ: 'Andy có cú thuận tay sấm sét. Liệu có thể nào cú thuận tay của Federer mới là số một?' Bạn xem anh ấy đứng trên lưới, xem anh ấy giao bóng lên lưới áp đảo những chuyên gia trả giao bóng, và bạn phải xếp anh ấy đứng chung hàng ngũ xuất sắc nhất ở mọi kỹ năng. Bạn xem anh ấy đấu bền từ vạch cuối sân với những kẻ chuyên sống nhờ những loạt bóng bền, và thấy anh ấy làm điều đó còn giỏi hơn bất kỳ ai. ** Andre Agassi nhận xét. * Cậu ấy là một con người vô cùng giản dị, đời thường. Cậu ấy chẳng phải một ẩn số xa cách nào cả. Rời khỏi sân đấu, cậu ấy không hề cố làm ra vẻ một nhân vật lớn. Nếu bạn tình cờ gặp cậu ấy ở tiệm McDonald's mà không biết cậu ấy là ai, bạn sẽ chẳng bao giờ mường tượng nổi đó là một trong những vận động viên xuất sắc nhất hành tinh. ** Andy Roddick, tại Cincinnati 2005. * Tôi nghĩ cậu ấy là nhân vật chính, còn bốn hay năm người chúng tôi thì... tôi không biết nữa. Có lẽ chúng tôi phải lập thành một đội tiếp sức hay liên thủ lại, kiểu như mấy anh em siêu nhân Power Rangers thì mới mong đối chọi được. ** Andy Roddick, sau thất bại trước Federer trong trận chung kết Cincinnati 2005. * [Trong quần vợt hiện đại], bạn hoặc là một chuyên gia sân đất nện, một chuyên gia sân cỏ, hoặc một chuyên gia sân cứng… hoặc bạn là Roger Federer. ** {{w|Jimmy Connors}} nhận định. * Cậu ấy không hề thay đổi một chút nào. Cậu ấy chưa bao giờ ngạo mạn trong phòng thay đồ. Chưa bao giờ như thế. Thật tuyệt vời khi thấy một người làm nên những kỳ tích bằng sự phong nhã, đàng hoàng. Cậu ấy không bao giờ cố tình khiêu khích hay hạ thấp người khác. ** {{w|James Blake}}, tại Cincinnati 2005. * Cậu ấy đang trên đường trở thành nhân vật vĩ đại nhất mọi thời đại. Nhưng cậu ấy vẫn là một con người bằng xương bằng thịt. ** James Blake, trước trận tứ kết Mỹ Mở rộng 2006. * Cậu ấy đã nâng tiêu chuẩn quần vợt lên một tầm rất cao – cực kỳ cao. Thật không thể tin nổi thứ quần vợt mà cậu ấy có thể trình diễn. ** {{w|Marat Safin}}, tại Úc Mở rộng 2005. * Tôi ước gì được xỏ chân vào đôi giày của cậu ấy một ngày để biết cảm giác chơi thứ quần vợt đỉnh cao ấy là như thế nào. ** {{w|Mats Wilander}} nhận xét. * Roger Federer là tay vợt tài năng nhất tôi từng thấy. Cậu ấy có đủ năng lực để trở thành người vĩ đại nhất lịch sử. ** {{w|Nick Bollettieri}} nhận xét. * Roger là một tay vợt toàn diện. Điều cậu ấy có, và đó hoàn toàn không phải do may mắn, là khả năng biến chuyển lối chơi một cách tinh tế dựa trên những gì đối thủ đang áp đặt lên mình. ** {{w|Jack Kramer}} nhận định. * Tôi từng nghĩ Ellsworth Vines và Don Budge đã là rất cừ khôi. Pancho Gonzalez và Lew Hoad cũng chơi rất cừ, nhưng tôi chưa từng thấy ai chơi môn thể thao này hoàn hảo hơn Federer. Cậu ấy giao bóng tốt và có cú demi-volley tuyệt vời. Tôi chưa từng biết ai có thể làm được nhiều điều phi thường trên sân đấu như cậu ấy. ** Jack Kramer. * Tôi không chắc liệu cậu ấy có bất kỳ điểm yếu nào trong bộ kỹ năng của mình hay không. ** {{w|Jonas Björkman}}, sau khi thua Federer 2–6, 0–6, 2–6 tại bán kết Wimbledon 2006. * Có lẽ Roger Federer sẽ là người giải cứu quần vợt. Cậu ấy thi đấu hệt như cách chúng tôi từng chơi thuở trước. ** {{w|Ilie Năstase}}, tay vợt đầu tiên giữ ngôi số 1 thế giới khi bảng xếp hạng ra đời năm 1973. * Cậu ấy có khả năng tung ra những cú đánh mà các tay vợt khác thậm chí còn chưa bao giờ dám nghĩ tới việc thử sức. Cậu ấy sở hữu quá nhiều ngón nghề tinh xảo. ** {{w|Ivan Lendl}} nhận xét nhân dịp sinh nhật lần thứ 25 của Federer tại Toronto (2006). * Có lẽ tôi đã giành được nhiều danh hiệu và tiền thưởng hơn nếu không sinh cùng thời với Federer, nhưng bạn phải biết rằng có những điều tiền bạc không thể nào mua được – đó chính là cơ hội được so tài cùng Federer. ** Ivan Ljubičić nhận xét. * Anh ấy là con người tuyệt vời nhất trong môn thể thao này, cả trong lẫn ngoài sân đấu, và có một nhân cách lớn. Tôi vô cùng trân quý những cơ hội được tranh tài cùng anh ấy. ** Ivan Ljubičić. * Tôi rất tự hào khi được thi đấu cùng thời với cậu ấy. Thật tiếc là tôi không thể so tài cùng Pete Sampras, nhưng không sao; tôi được chứng kiến Federer trên đấu trường. Một ngày nào đó tôi có thể tự hào kể với cháu mình rằng tôi từng thi đấu với tay vợt vĩ đại nhất hành tinh. ** Ivan Ljubičić. * Hôm nay tôi đã chơi thứ quần vợt hay nhất của mình, thử đủ mọi cách khác nhau, nhưng chẳng có gì hiệu nghiệm. Khi bạn chơi thăng hoa như thế mà anh ấy vẫn đáp trả bằng những đường bóng siêu phàm đến vậy, bạn thực sự phải tự hỏi liệu anh ấy có cùng đến từ một hành tinh với chúng ta hay không. ** Novak Djokovic, sau trận đấu tại Davis Cup. * Roger tựa như một chai vang đỏ hảo hạng, càng để lâu càng đượm vị... Tôi nghĩ những năm tháng đỉnh cao nhất của cậu ấy sẽ là khi cậu ấy bước sang tuổi 26, 27, 28. ** {{w|Tony Roche}}, cựu huấn luyện viên của Federer. * Roger thậm chí còn chưa phô diễn hết kho tàng kỹ năng trong lối chơi của mình. ** Tony Roche. * Hầu như mọi thứ cậu ấy làm đều quá đỗi ấn tượng. Đúng vậy, đạt 50 danh hiệu ở bất kỳ độ tuổi nào cũng là điều phi thường. 50 danh hiệu ở tuổi 26 lại càng khó tin. 50 danh hiệu mà trong đó có tới 11 Grand Slam và 14 Masters Series thì quả là một kỳ tích siêu phàm. ** James Blake sau trận chung kết Cincinnati 2007, thời điểm Federer chạm mốc 50 danh hiệu ATP. * Tôi có thể rơi lệ giống như Roger, chỉ tiếc là tôi không thể chơi bóng hay như anh ấy. ** Andy Murray, sau thất bại trước Federer trong trận chung kết Úc Mở rộng 2010. * Không đời nào tôi lại đi làm nhà báo. Các người đã tìm cách khai tử thời đại của Roger – rất nhiều lần rồi. Nhưng anh ấy luôn trở lại và chứng minh các người đã sai. Vì vậy, có một sai lầm tôi không bao giờ phạm phải: đó là tuyên bố rằng Roger đã hết thời. ** Rafael Nadal, khi được hỏi anh sẽ viết gì về sự sa sút của Federer nếu anh là một nhà báo (tháng 7 năm 2010). * Tôi chẳng bao giờ đánh bại được Roger, anh ấy quá tầm đối với tôi… nhưng ở giải dành cho các cựu binh (Senior Tour), tôi nhất định sẽ phục thù! Anh ấy là người xuất sắc nhất lịch sử và tôi vô cùng may mắn khi được so tài cùng tay vợt vĩ đại nhất thế giới. ** {{w|David Ferrer}}, sau trận chung kết Cincinnati Masters 2014. * Lời giải thích mang tính siêu hình là: Roger Federer là một trong số ít những vận động viên siêu nhiên hiếm hoi dường như được miễn trừ, ít nhất là một phần, khỏi một số quy luật vật lý thông thường. ** {{w|David Foster Wallace}}, trong bài viết nổi tiếng năm 2006 trên tờ The New York Times với tựa đề ''Federer as Religious Experience''. == Xem thêm == * [[Rafael Nadal]] * [[Novak Djokovic]] * [[Andy Murray]] == Liên kết ngoài == * [https://www.rogerfederer.com/ Trang web chính thức] {{wikipedia}} {{commonscat}} [[Thể loại:Sinh năm 1981]] [[Thể loại:Còn sống]] [[Thể loại:Vận động viên quần vợt Thụy Sĩ]] o1b4dwouin6a9qynlsukdt7j0oq6u30 Rafael Nadal 0 10733 63745 2026-10-08T10:24:18Z Mai Thanh Bang 3613 [[w:vi:WP:TTL|←]]Trang mới: “[[Tập tin:Rafael Nadal Doha.jpg|nhỏ|Rafael Nadal]] '''{{w|Rafael Nadal|Rafael Nadal Parera}}''' (sinh ngày 3 tháng 6 năm 1986) là một cựu vận động viên [[w:quần vợt|quần vợt]] chuyên nghiệp người Tây Ban Nha. Anh từng giữ vị trí [[w:Danh sách tay vợt số 1 thế giới đơn nam ATP|số 1 thế giới]] ở nội dung đơn nam theo bảng xếp hạng của w:Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp|Hi…” 63745 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Rafael Nadal Doha.jpg|nhỏ|Rafael Nadal]] '''{{w|Rafael Nadal|Rafael Nadal Parera}}''' (sinh ngày 3 tháng 6 năm 1986) là một cựu vận động viên [[w:quần vợt|quần vợt]] chuyên nghiệp người Tây Ban Nha. Anh từng giữ vị trí [[w:Danh sách tay vợt số 1 thế giới đơn nam ATP|số 1 thế giới]] ở nội dung đơn nam theo bảng xếp hạng của [[w:Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp|Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp]] (ATP) trong 209 tuần, đồng thời kết thúc năm ở ngôi số 1 thế giới năm lần. Nadal đã giành được 22 danh hiệu đơn nam [[w:Grand Slam (quần vợt)|Grand Slam]], bao gồm kỷ lục 14 chức vô địch [[w:Giải quần vợt Pháp Mở rộng|Pháp Mở rộng]]. Anh đã giành 92 danh hiệu đơn cấp độ ATP, trong đó có 36 danh hiệu [[w:ATP Tour Masters 1000|Masters 1000]] và một huy chương vàng [[w:Quần vợt tại Thế vận hội Mùa hè|Thế vận hội]], với 63 danh hiệu trong số đó trên [[w:Sân đất nện|mặt sân đất nện]]. Nadal là một trong ba tay vợt nam hoàn tất trọn bộ Golden Slam sự nghiệp ở nội dung đánh đơn. Chuỗi 81 trận thắng liên tiếp trên sân đất nện của anh là chuỗi thắng trên một mặt sân dài nhất trong Kỷ nguyên Mở. == Danh ngôn == * Nếu bạn thi đấu tồi, bạn sẽ phải nhận thất bại dù là ở đây, trên sân đất nện, trên băng tuyết, hay trên bờ biển cát. ** Khi chuẩn bị bước vào thi đấu tại [[Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2006]] [http://news.bbc.co.uk/sport2/low/tennis/5295932.stm] * Thành thật mà nói, tôi không cảm thấy mình đạt trạng thái tốt nhất kể từ khi giải đấu này khởi tranh. Tôi không thấy thoải mái với mặt sân lẫn bóng thi đấu. Nhưng đó chỉ là những lời ngụy biện. Bạn phải học cách chấp nhận khi bản thân chơi không tốt và đối thủ chơi hay hơn. ** Sau thất bại trước {{w|James Blake}} tại Mỹ Mở rộng 2005 [http://www.nytimes.com/2005/09/04/sports/tennis/04men.html?pagewanted=all] * Tôi chỉ muốn thử xem cảm giác mặc lại chiếc quần soóc truyền thống sẽ như thế nào thôi. ** Sau khi đổi chiếc quần lửng phong cách hải tặc "piratas" quen thuộc sang trang phục truyền thống hơn tại Madrid Masters 2005 [http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/funny_old_game/quotes_of_week/4371108.stm] * Thật không thể diễn tả nổi những gì tôi cảm nhận được vào khoảnh khắc ấy, chỉ biết là vô cùng, vô cùng hạnh phúc khi giành được danh hiệu này. Với tôi, được chơi ở giải đấu này đã là một giấc mơ. Còn để vô địch, tôi chưa từng dám mường tượng ra điều gì tuyệt diệu đến thế. ** Sau khi đánh bại đương kim vô địch năm lần liên tiếp [[Roger Federer]] trong trận chung kết đơn nam [[Giải quần vợt Wimbledon 2008|Wimbledon 2008]]. * Anh có thấy tốc độ quả bóng đi như thế nào không đấy? ** Đáp lại câu hỏi của một phóng viên về việc tại sao anh lại đứng quá sâu sau vạch cuối sân trong trận bán kết Úc Mở rộng 2009 gặp Fernando Verdasco [http://tennis.com/yourgame/instructionarticles/strategy/strategy.aspx?id=173552] * Trong sự nghiệp của mình, bạn sẽ trải qua rất nhiều khoảnh khắc ngọt ngào lẫn cay đắng. Điều hệ trọng là phải luôn có đủ động lực để miệt mài rèn luyện mỗi ngày với sự khiêm nhường, và nỗ lực trở thành một tay vợt giỏi hơn trước. Tôi sẽ tiếp tục cố gắng làm điều đó. ** Trả lời phỏng vấn trước thềm Wimbledon 2010 [http://www.wimbledon.org/en_GB/news/articles/2010-06-19/201006191276967412350.html?promo=sl_toparticles] * Một tháng rưỡi trước, tôi thậm chí còn không biết liệu mình có thể trở lại thi đấu quần vợt đỉnh cao được nữa hay không. Và ngày hôm nay, tôi đứng ở đây trước tất cả các bạn, ôm chiếc cúp vô địch này bên mình, và các bạn thực sự không biết tôi đã phải chiến đấu gian nan nhường nào để có mặt tại đây đâu. Tôi không biết cảm ơn sao cho xiết vì tất cả sự ủng hộ mà tôi nhận được kể từ ngày đặt chân đến đây. ** Sau khi giành danh hiệu major thứ 21 lịch sử tại Úc Mở rộng 2022, giữa thời điểm tương lai sự nghiệp của anh từng bị bủa vây bởi chấn thương [https://www.cbssports.com/tennis/news/australian-open-2022-mens-final-rafael-nadal-wins-record-breaking-21st-grand-slam-with-five-set-victory/] == Nhận định về Nadal == * Tôi là người hâm mộ số một của Rafa. ** [[Roger Federer]] [http://www.bbc.com/sport/tennis/38760568] * Cậu ấy là một tay vợt phi thường và cậu ấy sẽ còn gắn bó với môn thể thao này rất lâu nữa, thế nên tôi vui mừng với từng danh hiệu mình có được trước khi cậu ấy thâu tóm tất cả. ** Roger Federer [http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/tennis/6280788.stm] * Tôi có cảm giác như mình đang thấy lại một Rafa kinh điển thuở nào trên mặt sân đất nện – hầu như chẳng để thua ván đấu hay trận đấu nào. Đó chính là những gì cậu ấy thể hiện. Bởi vậy sẽ là một thử thách vô cùng gian nan để có thể đánh bại cậu ấy tại Wimbledon năm nay. ** Roger Federer [http://www.wimbledon.org/en_GB/news/articles/2010-06-20/201006201277037821470.html?promo=sl_toparticles] * Mọi người đều thích ca tụng Roger Federer là Tay vợt vĩ đại nhất mọi thời đại bởi xem anh ấy thi đấu thật mãn nhãn... nhưng bạn cũng phải tính đến Bản lĩnh Ý chí của Nadal nữa... và Đó mới thực sự là ĐỈNH CAO VĨ ĐẠI NHẤT MỌI THỜI ĐẠI! ** {{w|Mats Wilander}}, trong một đoạn phim nói về cuộc trở lại của Nadal vào năm 2010 khi anh thâu tóm ba danh hiệu Grand Slam liên tiếp. * "Thằng bé chưa bao giờ đập gãy một cây vợt nào trong cơn giận dữ cả. Làm thế là biểu hiện của sự thiếu tôn trọng đối với những người phải chắt chiu tiền bạc để mua dụng cụ chơi thể thao." ** Huấn luyện viên kiêm người chú {{w|Toni Nadal}} nhận xét về cháu trai Rafael [http://nadal-rafael.tripod.com/id9.html] * "Cậu ấy tựa như một mãnh thú, một con quái vật trên sân đấu. Cậu ấy vô cùng sung mãn và chuẩn bị cực kỳ chu đáo." ** {{w|Guillermo Coria}}, sau thất bại trước Rafael Nadal tại Monte Carlo [http://nadal-rafael.tripod.com/id9.html] * "Almagro… là người từng đoạt khoảng 11 hay 12 danh hiệu trên sân đất nện, tất cả đều trên sân đất nện. Cậu ấy là một tay vợt sân đất nện cừ khôi. Tôi không nghĩ cậu ấy có thể chơi hay hơn những gì đã thể hiện – vậy mà cậu ấy vẫn không thắng nổi lấy một set. Chơi với Nadal trên mặt sân này khiến người ta nản lòng đến thế đấy. Trời đất ơi, tôi đã xem cậu ấy thi đấu cả ngàn lần rồi. Tôi nhìn cậu ta mà chẳng biết nên bắt đầu khen từ đâu. Cái cách cậu ấy nâng cấp lối chơi của mình, từ những quả giao bóng, những miếng đánh dâng cao, những cú bắt lưới, cho tới khả năng phòng ngự bao quát cứu bóng và buộc đối thủ phải đánh thêm một cú nữa. Và cái cách cậu ấy trượt dài trên sân rồi tung ra cú dứt điểm – những đường bóng tưởng như bất khả thi vào thời của tôi – quả là chưa từng thấy." ** [[John McEnroe]] nhận định về Rafa trước trận chung kết đơn nam Roland Garros 2012 giữa Novak Djokovic và Rafael Nadal [http://news.smh.com.au/breaking-news-sport/djokovic-underdog-v-nadal-mcenroe-20120609-20234.html] == Xem thêm == * {{w|Roger Federer}} * {{w|Novak Djokovic}} * {{w|Carlos Alcaraz}} == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} {{DEFAULTSORT:Nadal, Rafael}} [[Thể loại:Sinh năm 1986]] [[Thể loại:Còn sống]] [[Thể loại:Vận động viên quần vợt Tây Ban Nha]] jrm3vqvjsa37g1to4lku59hehdv63an 63746 63745 2026-10-08T10:24:45Z Mai Thanh Bang 3613 /* Danh ngôn */ 63746 wikitext text/x-wiki [[Tập tin:Rafael Nadal Doha.jpg|nhỏ|Rafael Nadal]] '''{{w|Rafael Nadal|Rafael Nadal Parera}}''' (sinh ngày 3 tháng 6 năm 1986) là một cựu vận động viên [[w:quần vợt|quần vợt]] chuyên nghiệp người Tây Ban Nha. Anh từng giữ vị trí [[w:Danh sách tay vợt số 1 thế giới đơn nam ATP|số 1 thế giới]] ở nội dung đơn nam theo bảng xếp hạng của [[w:Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp|Hiệp hội Quần vợt Chuyên nghiệp]] (ATP) trong 209 tuần, đồng thời kết thúc năm ở ngôi số 1 thế giới năm lần. Nadal đã giành được 22 danh hiệu đơn nam [[w:Grand Slam (quần vợt)|Grand Slam]], bao gồm kỷ lục 14 chức vô địch [[w:Giải quần vợt Pháp Mở rộng|Pháp Mở rộng]]. Anh đã giành 92 danh hiệu đơn cấp độ ATP, trong đó có 36 danh hiệu [[w:ATP Tour Masters 1000|Masters 1000]] và một huy chương vàng [[w:Quần vợt tại Thế vận hội Mùa hè|Thế vận hội]], với 63 danh hiệu trong số đó trên [[w:Sân đất nện|mặt sân đất nện]]. Nadal là một trong ba tay vợt nam hoàn tất trọn bộ Golden Slam sự nghiệp ở nội dung đánh đơn. Chuỗi 81 trận thắng liên tiếp trên sân đất nện của anh là chuỗi thắng trên một mặt sân dài nhất trong Kỷ nguyên Mở. == Danh ngôn == * Nếu bạn thi đấu tồi, bạn sẽ phải nhận thất bại dù là ở đây, trên sân đất nện, trên băng tuyết, hay trên bờ biển cát. ** Khi chuẩn bị bước vào thi đấu tại Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2006 [http://news.bbc.co.uk/sport2/low/tennis/5295932.stm] * Thành thật mà nói, tôi không cảm thấy mình đạt trạng thái tốt nhất kể từ khi giải đấu này khởi tranh. Tôi không thấy thoải mái với mặt sân lẫn bóng thi đấu. Nhưng đó chỉ là những lời ngụy biện. Bạn phải học cách chấp nhận khi bản thân chơi không tốt và đối thủ chơi hay hơn. ** Sau thất bại trước {{w|James Blake}} tại Mỹ Mở rộng 2005 [http://www.nytimes.com/2005/09/04/sports/tennis/04men.html?pagewanted=all] * Tôi chỉ muốn thử xem cảm giác mặc lại chiếc quần soóc truyền thống sẽ như thế nào thôi. ** Sau khi đổi chiếc quần lửng phong cách hải tặc "piratas" quen thuộc sang trang phục truyền thống hơn tại Madrid Masters 2005 [http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/funny_old_game/quotes_of_week/4371108.stm] * Thật không thể diễn tả nổi những gì tôi cảm nhận được vào khoảnh khắc ấy, chỉ biết là vô cùng, vô cùng hạnh phúc khi giành được danh hiệu này. Với tôi, được chơi ở giải đấu này đã là một giấc mơ. Còn để vô địch, tôi chưa từng dám mường tượng ra điều gì tuyệt diệu đến thế. ** Sau khi đánh bại đương kim vô địch năm lần liên tiếp [[Roger Federer]] trong trận chung kết đơn nam [[Giải quần vợt Wimbledon 2008|Wimbledon 2008]]. * Anh có thấy tốc độ quả bóng đi như thế nào không đấy? ** Đáp lại câu hỏi của một phóng viên về việc tại sao anh lại đứng quá sâu sau vạch cuối sân trong trận bán kết Úc Mở rộng 2009 gặp Fernando Verdasco [http://tennis.com/yourgame/instructionarticles/strategy/strategy.aspx?id=173552] * Trong sự nghiệp của mình, bạn sẽ trải qua rất nhiều khoảnh khắc ngọt ngào lẫn cay đắng. Điều hệ trọng là phải luôn có đủ động lực để miệt mài rèn luyện mỗi ngày với sự khiêm nhường, và nỗ lực trở thành một tay vợt giỏi hơn trước. Tôi sẽ tiếp tục cố gắng làm điều đó. ** Trả lời phỏng vấn trước thềm Wimbledon 2010 [http://www.wimbledon.org/en_GB/news/articles/2010-06-19/201006191276967412350.html?promo=sl_toparticles] * Một tháng rưỡi trước, tôi thậm chí còn không biết liệu mình có thể trở lại thi đấu quần vợt đỉnh cao được nữa hay không. Và ngày hôm nay, tôi đứng ở đây trước tất cả các bạn, ôm chiếc cúp vô địch này bên mình, và các bạn thực sự không biết tôi đã phải chiến đấu gian nan nhường nào để có mặt tại đây đâu. Tôi không biết cảm ơn sao cho xiết vì tất cả sự ủng hộ mà tôi nhận được kể từ ngày đặt chân đến đây. ** Sau khi giành danh hiệu major thứ 21 lịch sử tại Úc Mở rộng 2022, giữa thời điểm tương lai sự nghiệp của anh từng bị bủa vây bởi chấn thương [https://www.cbssports.com/tennis/news/australian-open-2022-mens-final-rafael-nadal-wins-record-breaking-21st-grand-slam-with-five-set-victory/] == Nhận định về Nadal == * Tôi là người hâm mộ số một của Rafa. ** [[Roger Federer]] [http://www.bbc.com/sport/tennis/38760568] * Cậu ấy là một tay vợt phi thường và cậu ấy sẽ còn gắn bó với môn thể thao này rất lâu nữa, thế nên tôi vui mừng với từng danh hiệu mình có được trước khi cậu ấy thâu tóm tất cả. ** Roger Federer [http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/tennis/6280788.stm] * Tôi có cảm giác như mình đang thấy lại một Rafa kinh điển thuở nào trên mặt sân đất nện – hầu như chẳng để thua ván đấu hay trận đấu nào. Đó chính là những gì cậu ấy thể hiện. Bởi vậy sẽ là một thử thách vô cùng gian nan để có thể đánh bại cậu ấy tại Wimbledon năm nay. ** Roger Federer [http://www.wimbledon.org/en_GB/news/articles/2010-06-20/201006201277037821470.html?promo=sl_toparticles] * Mọi người đều thích ca tụng Roger Federer là Tay vợt vĩ đại nhất mọi thời đại bởi xem anh ấy thi đấu thật mãn nhãn... nhưng bạn cũng phải tính đến Bản lĩnh Ý chí của Nadal nữa... và Đó mới thực sự là ĐỈNH CAO VĨ ĐẠI NHẤT MỌI THỜI ĐẠI! ** {{w|Mats Wilander}}, trong một đoạn phim nói về cuộc trở lại của Nadal vào năm 2010 khi anh thâu tóm ba danh hiệu Grand Slam liên tiếp. * "Thằng bé chưa bao giờ đập gãy một cây vợt nào trong cơn giận dữ cả. Làm thế là biểu hiện của sự thiếu tôn trọng đối với những người phải chắt chiu tiền bạc để mua dụng cụ chơi thể thao." ** Huấn luyện viên kiêm người chú {{w|Toni Nadal}} nhận xét về cháu trai Rafael [http://nadal-rafael.tripod.com/id9.html] * "Cậu ấy tựa như một mãnh thú, một con quái vật trên sân đấu. Cậu ấy vô cùng sung mãn và chuẩn bị cực kỳ chu đáo." ** {{w|Guillermo Coria}}, sau thất bại trước Rafael Nadal tại Monte Carlo [http://nadal-rafael.tripod.com/id9.html] * "Almagro… là người từng đoạt khoảng 11 hay 12 danh hiệu trên sân đất nện, tất cả đều trên sân đất nện. Cậu ấy là một tay vợt sân đất nện cừ khôi. Tôi không nghĩ cậu ấy có thể chơi hay hơn những gì đã thể hiện – vậy mà cậu ấy vẫn không thắng nổi lấy một set. Chơi với Nadal trên mặt sân này khiến người ta nản lòng đến thế đấy. Trời đất ơi, tôi đã xem cậu ấy thi đấu cả ngàn lần rồi. Tôi nhìn cậu ta mà chẳng biết nên bắt đầu khen từ đâu. Cái cách cậu ấy nâng cấp lối chơi của mình, từ những quả giao bóng, những miếng đánh dâng cao, những cú bắt lưới, cho tới khả năng phòng ngự bao quát cứu bóng và buộc đối thủ phải đánh thêm một cú nữa. Và cái cách cậu ấy trượt dài trên sân rồi tung ra cú dứt điểm – những đường bóng tưởng như bất khả thi vào thời của tôi – quả là chưa từng thấy." ** [[John McEnroe]] nhận định về Rafa trước trận chung kết đơn nam Roland Garros 2012 giữa Novak Djokovic và Rafael Nadal [http://news.smh.com.au/breaking-news-sport/djokovic-underdog-v-nadal-mcenroe-20120609-20234.html] == Xem thêm == * {{w|Roger Federer}} * {{w|Novak Djokovic}} * {{w|Carlos Alcaraz}} == Liên kết ngoài == {{wikipedia}} {{commonscat}} {{DEFAULTSORT:Nadal, Rafael}} [[Thể loại:Sinh năm 1986]] [[Thể loại:Còn sống]] [[Thể loại:Vận động viên quần vợt Tây Ban Nha]] evfl1r6hj4mc615arkc9so65lnxiook