Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.47.0-wmf.7
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Event
Event talk
Đề tài
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
0
2380
205607
205576
2026-06-20T15:58:59Z
~2026-35885-50
20313
205607
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967. Bản hiến pháp này sau đó được ban hành ngày 1 tháng 4 và khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà, chấm dứt thời kỳ quân quản. Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
9asrlhiw2en6yruqadci97kzdd2ocln
205608
205607
2026-06-20T16:51:44Z
~2026-36033-12
20314
205608
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967. Bản hiến pháp này sau đó được ban hành ngày 1 tháng 4 và khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà, chấm dứt thời kỳ quân quản. Nội dung ở đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
Bản hiến pháp trải qua vụ tu chính hiến pháp năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống đổi từ 4 thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần thay vì 1 lần.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
9n5672io290nub4l5u5pdme17bugy9e
205609
205608
2026-06-20T16:52:11Z
~2026-36033-12
20314
/* */
205609
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967. Bản hiến pháp này sau đó được ban hành ngày 1 tháng 4 và khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà, chấm dứt thời kỳ quân quản. Nội dung ở đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
Bản hiến pháp trải qua vụ tu chính năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống đổi từ 4 thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần thay vì 1 lần.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
565pwqtl2c4s3avms1r3so0osoeku2s
205610
205609
2026-06-20T16:53:39Z
~2026-36033-12
20314
/* */
205610
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967. Bản hiến pháp này sau đó được ban hành ngày 1 tháng 4 và khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà, chấm dứt thời kỳ quân quản. Nội dung ở đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
Bản hiến pháp trải qua vụ tu chính năm 1974, theo đó nhiệm kỳ Tổng thống được đổi từ 4 thành 5 năm. Ngoài ra Tổng thống và Phó Tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần thay vì 1 lần.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
lqduswmhq9fyvemyrsf2uw0u4hlmuf5
205611
205610
2026-06-20T17:09:11Z
~2026-35903-64
20316
205611
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967. Bản hiến pháp này sau đó được ban hành ngày 1 tháng 4 và khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà, chấm dứt thời kỳ quân quản. Nội dung ở đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
Bản hiến pháp được sửa đổi năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống được đổi thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
3r35vfa0wamtjtx3lfab8bwpjlfnzkb
205612
205611
2026-06-20T17:14:35Z
~2026-35903-64
20316
/* */
205612
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967. Bản hiến pháp này được ban hành ngày 1 tháng 4 năm 1967 và khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà, chấm dứt thời kỳ quân quản. Bản hiến pháp được sửa đổi năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống được đổi thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần. Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
88gweoonzqtoksxyk0nyhnepgaeozrk
205615
205612
2026-06-20T17:19:46Z
~2026-35903-64
20316
/* */
205615
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967. Nó sau đó được ban hành ngày 1 tháng 4 và khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà, chấm dứt thời kỳ quân quản. Bản hiến pháp được sửa đổi năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống được đổi thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần.
Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
0o65tuwr8rarwbdsa0xn2dkdud21d5s
205617
205615
2026-06-21T07:05:13Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205617
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành ngày 1 tháng 4, khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà. Lưu ý là nó được sửa đổi năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống được đổi thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần.
Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
sbbm947qtwagg36fybxtcottrklnvi7
205618
205617
2026-06-21T07:07:52Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205618
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành ngày 1 tháng 4. Lưu ý là nó được sửa đổi năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống được đổi thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần.
Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
fbnsjdwvek3n54akrq13k6oasnkev0z
205620
205618
2026-06-21T07:11:00Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205620
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành ngày 1 tháng 4. Lưu ý là nó được sửa đổi năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống được đổi thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần.
Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
s68h4p1n9jruwrvc4cmt4o14379k7xs
205623
205620
2026-06-21T07:15:03Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205623
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành ngày 1 tháng 4. Lưu ý là nó được sửa đổi năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống được đổi thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần.
Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
3tv60jknh9a0sjkx81hnac3r5cqd307
205625
205623
2026-06-21T07:16:04Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205625
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành ngày 1 tháng 4. Lưu ý là nó được sửa đổi năm 1974, theo đó nhiệm kỳ tổng thống được đổi thành 5 năm. Ngoài ra tổng thống và phó tổng thống được phép tái đắc cử 2 lần.
Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
sgsv6jcm1nz3s84y9odkht309r14l6g
205626
205625
2026-06-21T07:25:14Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205626
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4. Lưu ý là bản hiến pháp đã trải qua một lần tu chính theo Đạo luật số 001/74 vào ngày 22 tháng 1 năm 1974.
Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
apvnrtxtxwkset54xcry44reu1neh24
205627
205626
2026-06-21T07:27:42Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205627
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4. Bản hiến pháp đã trải qua một lần tu chính theo Đạo luật số 001/74 vào năm 1974.
Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
3hn88sxom8t52vff5wsm4387dju0zs9
205628
205627
2026-06-21T07:30:25Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205628
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4. Bản hiến pháp đã trải qua một lần tu chính theo Đạo luật số 001/74 vào năm 1974.
Nội dung dưới đây được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
ryqq7kanxbz05k88hkd9tg10t46atac
205629
205628
2026-06-21T07:31:49Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205629
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4. Bản hiến pháp đã trải qua một lần tu chính vào năm 1974.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
drl2dchn0jumtrphr90ljx731ohqgvw
205633
205629
2026-06-21T07:37:54Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205633
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4. Bản hiến pháp đã trải qua một lần tu chính vào năm 1974.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
==Xem thêm==
*[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
47ym63hw6l2o4yqilssa0bpnekx9alx
205635
205633
2026-06-21T07:40:09Z
~2026-35975-20
20317
/* Xem thêm */
205635
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4. Bản hiến pháp đã trải qua một lần tu chính vào năm 1974.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
==Xem thêm==
* [[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
f67czgcgiau5qzfotovf2pwi0a1f0ws
205649
205635
2026-06-21T08:22:37Z
~2026-35983-60
20318
/* */
205649
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp đã trải qua một lần tu chính vào năm 1974. Bản hiến pháp bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
==Xem thêm==
* [[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
2xhhz2nips02bxou7c9nkf0z57wj615
205651
205649
2026-06-21T08:28:52Z
~2026-35983-60
20318
205651
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp đã trải qua một lần tu chính vào năm 1974. Bản hiến pháp bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
11uh2lc63ip35q6l29csu3k5v0br39s
205654
205651
2026-06-21T08:36:18Z
~2026-35983-60
20318
/* */
205654
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp đã trải qua một lần tu chính vào năm 1974 và bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
n2gu2dz1j6w2e6p5xl58yr86lsjj84h
205655
205654
2026-06-21T08:40:57Z
~2026-35983-60
20318
/* */
205655
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh ra nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính vào năm 1974 và bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
5cgvcmc22kq2v884d7gsraq9yvhwstm
205657
205655
2026-06-21T08:44:48Z
~2026-35983-60
20318
/* */
205657
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp trải qua một lần tu chính vào năm 1974, nó bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ và Việt Nam được thống nhất vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
iebrwfwy3jd7ic48t7yyg49uqondyeo
205658
205657
2026-06-21T08:53:57Z
~2026-35966-93
20319
Tỉa gọn
205658
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính vào năm 1974 và bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
jpnyrixd1dhvidbpho9lmx4qnnkl080
205660
205658
2026-06-21T09:05:38Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205660
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính vào năm 1974 và bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
fjx4y2egusv8etmebzf8cmhi27pgnsj
205668
205660
2026-06-21T09:13:51Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205668
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp trải qua một lần tu chính vào năm 1974, nó bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ và Việt Nam được thống nhất vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
85btqslbkluz157x6h2z6fddxach4r2
205669
205668
2026-06-21T09:17:17Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205669
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp trải qua lần tu chính vào ngày 22 tháng 1 năm 1974, nó bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ và Việt Nam được thống nhất vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
tsebtldrktegr1c5m61fwd9ukj1p049
205670
205669
2026-06-21T09:17:48Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205670
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp trải qua một lần tu chính vào nă 1974, nó bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ và Việt Nam được thống nhất vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
lgptgkx2eogktrper3r98oyoi6s2b0a
205671
205670
2026-06-21T09:18:45Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205671
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được vào nă 1974, nhưng bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ và Việt Nam được thống nhất vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
3ehjfqbuumt2yzdk8sfm0isu74h0i5i
205672
205671
2026-06-21T09:19:05Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205672
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được vào năm 1974, nhưng bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ và Việt Nam được thống nhất vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
23gs2bb7j00br9i4jqae0a5og545lxh
205673
205672
2026-06-21T09:21:43Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205673
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính vào năm 1974 và bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
fjx4y2egusv8etmebzf8cmhi27pgnsj
205693
205673
2026-06-21T11:10:26Z
~2026-36234-25
20324
/* */
205693
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=[https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính án Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính vào năm 1974 và bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Nội dung dưới đây của bản hiến pháp được đăng trong cuốn ''Hiến pháp chú thích'' của Trương Tiến Đạt, xuất bản năm 1967.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
a2ptazass48bz59emtwkws3er5w272u
205695
205693
2026-06-21T11:48:43Z
~2026-36132-41
20325
Thêm bản tu chính án năm 1974
205695
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính vào năm 1974 và bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Ở dưới sẽ trình bày đầy đủ nội dung Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1967 và việc tu chính nó năm 1974.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
==Tu chính án Hiến pháp (1974)==
VIỆT-NAM CỘNG-HÒA
PHỦ TỔNG-THỐNG
LUẬT SỐ 001/74 NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 1974
“TU-CHÍNH HIẾN-PHÁP NGÀY 1-4-1967”
Chiếu Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 1 tháng 4 năm 1967;
Sau khi Quốc Hội đã thảo luận và biểu quyết,
TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA
ban hành Luật số 001/74 ngày 22 tháng 01 năm 1974 “tu chỉnh Hiến Pháp ngày 1-4-1967” nguyên văn như sau:
Điều 1. Nay sửa đổi các Điều 52, 80 và 114 của bản văn Hiến Pháp ngày 1-4-1967 như sau:
ĐIỀU 52 (mới)
1. Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một (1) Liên Danh được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín.
2. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là năm (5) năm, Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử hai lần.
3. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi (60) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy.
4. Cuộc bầu cử Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày Chủ nhật, bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt.
ĐIỀU 80 (mới)
1. Tối Cao Pháp Viện gồm chín (9) Thẩm Phán do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm trên một danh sách do Tối Cao Pháp Viện và Bộ Tư Pháp thiết lập, gồm những Thẩm Phán hội đủ các điều kiện sau:
— Ở trong ngạch Thẩm Phán Xử Án hay Thẩm Phán Công Tố các Tòa Sơ Thẩm và Thượng Thẩm hoặc ngạch Thẩm Phán Hành Chánh ít nhất 15 năm.
Từ cấp bậc Hội Thẩm và Thẩm Lý các Tòa Thượng Thẩm hoặc Cố Vấn Hạng Nhì Tham Chính Viện trở lên.
2. Nhiệm kỳ của Thẩm Phán, Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm, cứ hai (2) năm Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm lại một phần ba (1/3) trên một danh sách được thiết lập theo các điều kiện ấn định tại đoạn 1 điều này.
3. Một Đạo Luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện.
ĐIỀU 114 (mới)
Trong nhiệm kỳ đầu tiên và nhiệm kỳ thứ hai, Tổng Thống có thể bổ nhiệm Đô Trưởng, Tỉnh Trưởng và Thị Trưởng.
Điều 2. Tổng Thống và Phó Tổng Thống đương nhiệm sẽ mãn nhiệm đúng mười hai (12) giờ trưa ngày ba mươi mốt tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám (31-10-1975) và có thể tái ứng cử một lần nữa, chiếu đoạn 2 Điều 52 (mới) Hiến Pháp.
Các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện đương nhiệm sẽ mãn nhiệm ngày hai mươi hai tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi bốn (22-10-1974).
Trong nhiệm kỳ đầu tiên áp dụng thể thức tuyển chọn qui định tại Điều 80 (mới) Hiến Pháp, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện được chia làm ba (3) nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm: nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ hai (2) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ bốn (4) năm và nhóm thứ ba có nhiệm kỳ sáu (6) năm.
Luật này được ban hành theo thủ tục khẩn cấp và đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Hòa.
Saigon, ngày 22 tháng 01 năm 1974
Ký tên NGUYỄN VĂN THIỆU
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
9rj665x7bcnho04stir9sqc9j5xmg2x
205696
205695
2026-06-21T11:55:28Z
~2026-36132-41
20325
/* Tu chính án Hiến pháp (1974) */
205696
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1967
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
|sau=
|wikipedia=
|ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính vào năm 1974 và bị bãi bỏ khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ vào năm sau.
Ở dưới sẽ trình bày đầy đủ nội dung Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1967 và việc tu chính nó năm 1974.
}}
<pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 />
==Tu chính án Hiến pháp (1974)==
VIỆT-NAM CỘNG-HÒA<br>
PHỦ TỔNG-THỐNG
LUẬT SỐ 001/74 NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 1974<br>
« TU-CHÍNH HIẾN-PHÁP NGÀY 1-4-1967 »
Chiếu Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 1 tháng 4 năm 1967;
Sau khi Quốc Hội đã thảo luận và biểu quyết,
TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA
ban hành Luật số 001/74 ngày 22 tháng 01 năm 1974 « tu chính Hiến Pháp ngày 1-4-1967 » nguyên văn như sau:
Điều 1. Nay sửa đổi các Điều 52, 80 và 114 của bản văn Hiến Pháp ngày 1-4-1967 như sau:
ĐIỀU 52 (mới)
1. Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một (1) Liên Danh được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín.
2. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là năm (5) năm, Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử hai lần.
3. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi (60) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy.
4. Cuộc bầu cử Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày Chủ nhật, bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt.
ĐIỀU 80 (mới)
1. Tối Cao Pháp Viện gồm chín (9) Thẩm Phán do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm trên một danh sách do Tối Cao Pháp Viện và Bộ Tư Pháp thiết lập, gồm những Thẩm Phán hội đủ các điều kiện sau:
— Ở trong ngạch Thẩm Phán Xử Án hay Thẩm Phán Công Tố các Tòa Sơ Thẩm và Thượng Thẩm hoặc ngạch Thẩm Phán Hành Chánh ít nhất 15 năm.
Từ cấp bậc Hội Thẩm và Thẩm Lý các Tòa Thượng Thẩm hoặc Cố Vấn Hạng Nhì Tham Chính Viện trở lên.
2. Nhiệm kỳ của Thẩm Phán, Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm, cứ hai (2) năm Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm lại một phần ba (1/3) trên một danh sách được thiết lập theo các điều kiện ấn định tại đoạn 1 điều này.
3. Một Đạo Luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện.
ĐIỀU 114 (mới)
Trong nhiệm kỳ đầu tiên và nhiệm kỳ thứ hai, Tổng Thống có thể bổ nhiệm Đô Trưởng, Tỉnh Trưởng và Thị Trưởng.
Điều 2. Tổng Thống và Phó Tổng Thống đương nhiệm sẽ mãn nhiệm đúng mười hai (12) giờ trưa ngày ba mươi mốt tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám (31-10-1975) và có thể tái ứng cử một lần nữa, chiếu đoạn 2 Điều 52 (mới) Hiến Pháp.
Các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện đương nhiệm sẽ mãn nhiệm ngày hai mươi hai tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi bốn (22-10-1974).
Trong nhiệm kỳ đầu tiên áp dụng thể thức tuyển chọn qui định tại Điều 80 (mới) Hiến Pháp, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện được chia làm ba (3) nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm: nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ hai (2) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ bốn (4) năm và nhóm thứ ba có nhiệm kỳ sáu (6) năm.
Luật này được ban hành theo thủ tục khẩn cấp và đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Hòa.
Saigon, ngày 22 tháng 01 năm 1974
Ký tên NGUYỄN VĂN THIỆU
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]]
f1d79nmoit12w4qjirylfp0uiaw1xgo
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
0
3156
205613
205577
2026-06-20T17:16:25Z
~2026-35903-64
20316
/* */
205613
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bạn hiến pháp được Quốc hội Lập hiến thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
pwqrzsk0og4dx2r4up3zshu5tjj92xw
205614
205613
2026-06-20T17:16:57Z
~2026-35903-64
20316
/* */
205614
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
hdq8z53pfghddutnqgpb9nh91ftvhl2
205619
205614
2026-06-21T07:10:01Z
~2026-35975-20
20317
205619
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
g9jqqvcjj4wb7e8r86qmwe6oe6u1g13
205621
205619
2026-06-21T07:12:54Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205621
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
3tcvo8y28uyf6wzktc4or3hz9ph0tvs
205622
205621
2026-06-21T07:14:46Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205622
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
q11hdtyguqkzs7y502275bspnbq1k4z
205624
205622
2026-06-21T07:15:49Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205624
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
2n2s5iw27m4tzbpeucv9fr1vqld6gqd
205630
205624
2026-06-21T07:33:39Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205630
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
4x592l1n1cai4c6923dm4nzq889hclj
205631
205630
2026-06-21T07:34:42Z
~2026-35975-20
20317
/* Liên kết ngoài */
205631
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
mn1ehj2f2gkmcenwxucdi0viayayup7
205632
205631
2026-06-21T07:36:01Z
~2026-35975-20
20317
205632
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
4x592l1n1cai4c6923dm4nzq889hclj
205634
205632
2026-06-21T07:39:38Z
~2026-35975-20
20317
205634
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Xem thêm==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
* [[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
sdk0qfp7cc14lzr6r3w7jv5k4mvxzsy
205650
205634
2026-06-21T08:26:41Z
~2026-35983-60
20318
/* */
205650
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến dưới thời Đệ nhất Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau. Bản hiến pháp bị bãi bỏ vào năm 1963 sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ nền Đệ nhất Cộng hoà.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Xem thêm==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
* [[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
r2u2p9hhqdk9e8onyrhxbfw0sea6yjx
205652
205650
2026-06-21T08:29:25Z
~2026-35983-60
20318
205652
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến dưới thời Đệ nhất Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau. Bản hiến pháp bị bãi bỏ vào năm 1963 sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ nền Đệ nhất Cộng hoà.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
o1t1qkf1yybbvzie023ldxadx6y519v
205656
205652
2026-06-21T08:41:16Z
~2026-35983-60
20318
/* */
205656
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến thời Đệ nhất Việt Nam Cộng hoà thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau. Bản hiến pháp bị bãi bỏ vào năm 1963 sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ nền Đệ nhất Cộng hoà.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
pjpauy5woa1kk0xub8wlej22nlt0mwk
205661
205656
2026-06-21T09:07:09Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205661
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến thời Đệ nhất [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau. Bản hiến pháp bị bãi bỏ vào năm 1963 sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ nền Đệ nhất Cộng hoà.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
ino3vs3wpg42y785hw8vnclgojjg5v3
205667
205661
2026-06-21T09:12:47Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205667
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa
|tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa
|năm=1956
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]]
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956
|ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến thời Đệ nhất [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được ban hành 6 ngày sau. Bản hiến pháp bị bãi bỏ vào năm 1963 sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ nền Đệ nhất Cộng hoà.
}}
__NOTOC__
===LỜI MỞ ĐẦU===
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:
Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;
Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản==
===Điều 1===
:Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.
===Điều 2===
:Chủ quyền thuộc về toàn dân.
===Điều 3===
:Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.
:Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.
:Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.
===Điều 4===
:Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.
===Điều 5===
:Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.
:Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.
:Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.
:Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.
===Điều 6===
:Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.
===Điều 7===
:Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.
===Điều 8===
:Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.
:Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.
==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân==
===Điều 9===
:Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.
===Điều 10===
:Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.
:Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.
===Điều 11===
:Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.
===Điều 12===
:Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.
:Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.
:Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.
===Điều 13===
:Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.
:Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.
===Điều 14===
:Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.
:Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.
===Điều 15===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.
===Điều 16===
:Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.
:Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.
===Điều 17===
:Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.
===Điều 18===
:Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.
===Điều 19===
:Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.
===Điều 20===
:Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.
:Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.
===Điều 21===
:Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.
===Điều 22===
:Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.
:Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.
:Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.
===Điều 23===
:Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.
:Công chức không có quyền đình công.
:Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.
:Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.
===Điều 24===
:Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.
===Điều 25===
:Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.
:Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.
===Điều 26===
:Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.
:Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.
:Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.
:Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.
:Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.
===Điều 27===
:Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.
:Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.
===Điều 28===
:Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.
:Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.
:Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền.
===Điều 29===
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.
:Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.
:Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.
== THIÊN THỨ BA: Tổng thống ==
=== Điều 30 ===
:Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.
:Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.
===Điều 31===
:Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:
:# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.
:# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.
:# Đủ 40 tuổi.
:# Hưởng các quyền công dân.
:Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.
===Điều 32===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.
===Điều 33===
:Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.
:Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:
:# Mệnh chung.
:# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.
:# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.
:# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.
===Điều 34===
:Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.
:Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.
:Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.
===Điều 35===
:Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.
:Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.
===Điều 36===
:Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.
===Điều 37===
:Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.
:Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.
:Tổng thống ban các loại huy chương.
:Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.
===Điều 38===
:Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.
:Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.
:Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.
===Điều 39===
:Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.
:Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.
:Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.
===Điều 40===
:Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.
===Điều 41===
:Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.
:Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 42===
:Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.
===Điều 43===
:Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.
:Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.
:Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.
===Điều 44===
:Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.
===Điều 45===
:Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:
:Tôi long trọng tuyên thệ:
:Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;
:Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;
:Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.
===Điều 46===
:Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.
===Điều 47===
:Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.
==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội==
;Chương Một. - Dân biểu
===Điều 48===
:Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.
===Điều 49===
:Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.
===Điều 50===
:Có quyền ứng cử Dân biểu những người:
:# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;
:# Hưởng các quyền công dân;
:# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;
:# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.
:Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.
===Điều 51===
:Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.
:Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.
===Điều 52===
:Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.
:Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.
===Điều 53===
:Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.
:Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.
:Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.
:Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.
:Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.
===Điều 54===
:Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.
:Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.
;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội.
=== Điều 55 ===
:Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.
;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp
===Điều 56===
:Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.
===Điều 57===
:Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.
:Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.
===Điều 58===
:Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.
:Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.
===Điều 59===
:Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.
===Điều 60===
:Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.
===Điều 61===
:Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.
;Chương Tư - Điều hành Quốc hội.
===Điều 62===
:Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.
===Điều 63===
:Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.
===Điều 64===
:Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.
:Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.
:Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.
:Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.
===Điều 65===
:Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.
:Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.
===Điều 66===
:Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.
:Quốc hội có trọn quyền định đoạt.
===Điều 67===
:Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết.
:Quốc hội chỉ định các Ủy ban.
===Điều 68===
:Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:
:Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;
:Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;
:Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;
:Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.
===Điều 69===
:Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán ==
=== Điều 70===
:Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.
===Điều 71===
:Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.
===Điều 72===
:Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.
===Điều 73===
:Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.
==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện==
===Điều 74===
:Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.
===Điều 75===
:Đặc biệt Pháp viện gồm có:
:Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án'';
:Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''.
:Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.
===Điều 76===
:Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.
===Điều 77===
:Sự khởi tố theo các điều kiện sau:
:a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;
:b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.
:c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.
===Điều 78===
:Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.
===Điều 79===
:Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.
===Điều 80 ===
:Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.
===Điều 81===
:Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.
==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia==
=== Điều 82===
:Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.
:Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.
:Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.
===Điều 83===
:Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
===Điều 84===
:Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.
==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến==
===Điều 85===
:Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.
===Điều 86===
:Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:
:Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.
:4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;
:4 Dân biểu do Quốc hội cử.
===Điều 87===
:Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình.
:Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.
===Điều 88===
:Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.
==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp==
===Điều 89===
:Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.
===Điều 90===
:Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.
:Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.
===Điều 91===
:Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.
:Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.
===Điều 92===
:Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.
===Điều 93===
:Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.
:Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.
== THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung ==
===Điều 94===
:Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.
===Điều 95===
:Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.
===Điều 96===
:Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa.
:Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.
===Điều 97===
:Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.
:Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.
===Điều 98===
:Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.
{{PVCC-CPVN}}
==Liên kết ngoài==
* [http://nguoivietnamchau.com//sach/hpvnch1956.pdf Toàn văn bản Hiến pháp]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]]
5ffa70nhv9gtkmruojlo9ydtmm6fk2z
Chủ đề:Văn kiện lập hiến
100
4772
205636
202158
2026-06-21T07:45:19Z
~2026-35975-20
20317
/* Hiến pháp của quốc gia cũ */
205636
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
0zvw8fabil6eoq2v2ux9jw4hz6rns7f
205637
205636
2026-06-21T07:46:01Z
~2026-35975-20
20317
/* Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa */
205637
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1974]
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
1t4ana4ooh8vr9rg41b10ol3zmwoij7
205638
205637
2026-06-21T07:47:12Z
~2026-35975-20
20317
205638
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà] (1974)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
fltalvob762mwmfslog2bd12o7uspp2
205639
205638
2026-06-21T07:51:45Z
~2026-35975-20
20317
205639
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Đế quốc Việt Nam ===
* [[Tuyên bố Việt Nam độc lập]]
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà] (1974)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
d44cbucdsdpc0tbeeblp4b34u3x2fei
205640
205639
2026-06-21T07:52:07Z
~2026-35975-20
20317
205640
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (tháng 9 năm 1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Đế quốc Việt Nam ===
* [[Tuyên bố Việt Nam độc lập]]
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà] (1974)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
1q0abp5hwgydi0meqb2fgyrtfyqmw2t
205641
205640
2026-06-21T07:52:30Z
~2026-35975-20
20317
205641
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (tháng 9 năm 1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Đế quốc Việt Nam ===
* [[Tuyên bố Việt Nam độc lập]] (tháng 3 năm 1945)
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà] (1974)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
kx2wfzith483v7ykhs8znz9jfqti4ul
205642
205641
2026-06-21T07:53:01Z
~2026-35975-20
20317
Đã lùi lại sửa đổi [[Special:Diff/205641|205641]] của [[Special:Contributions/~2026-35975-20|~2026-35975-20]] ([[User talk:~2026-35975-20|thảo luận]])
205642
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (tháng 9 năm 1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Đế quốc Việt Nam ===
* [[Tuyên bố Việt Nam độc lập]]
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà] (1974)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
1q0abp5hwgydi0meqb2fgyrtfyqmw2t
205643
205642
2026-06-21T07:53:37Z
~2026-35975-20
20317
205643
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (tháng 9 năm 1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà] (1974)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
asmd9smeibp7i10hcl5f1t5f98pl0ni
205644
205643
2026-06-21T07:54:06Z
~2026-35975-20
20317
/* Việt Nam */ Rút gọn
205644
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà] (1974)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
fltalvob762mwmfslog2bd12o7uspp2
205653
205644
2026-06-21T08:31:08Z
~2026-35983-60
20318
205653
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
*[[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] (1955)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà] (1974)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
408383w2i0ao5y82pylrzkz4rskfatn
205694
205653
2026-06-21T11:11:05Z
~2026-36234-25
20324
/* Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa */
205694
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề chủ đề
| tựa đề = Văn kiện lập hiến
| lớp = K
| phân lớp 1 = A
| phân lớp 2 =
| sau =
| cần duyệt =
| viết tắt =
| ghi chú = Trang này bao gồm các văn kiện liên quan đến việc hình thành một nền độc lập quốc gia, các quyền cơ bản và cấu trúc chính trị. Nó không giới hạn chỉ gồm văn bản hiến pháp. Xem thêm [[Chủ đề:Văn kiện lập pháp]].
}}
[[Thể loại:Văn kiện lập hiến]]
[[Thể loại:Trang mục lục Wikisource]]
[[ja:Wikisource:憲法]]
== Các bản Hiến pháp ==
=== Hoa Kỳ ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ]] (1776)
* [[Các điều khoản Hợp bang]] (1777)
* [[Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ]] (1789)
* [[Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ]] (1791)
* [[Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ]] (1791–1992)
=== Nhật Bản ===
* [[Hiến pháp Nhật Bản]] (1946)
=== Bắc Triều Tiên ===
* [[Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (2016)|Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên]] (2016)
=== Trung Quốc ===
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1982|Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] (1982)
=== Việt Nam ===
* [[Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam]] (1945)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1946)
* [[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959|Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] (1959)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1980)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (1992)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2001|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2001)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (2013)
* [[Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025)|Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam]] (sửa đổi, bổ sung 2025)
== Hiến pháp của quốc gia cũ ==
=== Quốc gia Việt Nam/Việt Nam Cộng hòa ===
* [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée]] (1949)
*[[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] (1955)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1956)
* [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967|Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]] (1967)
* [https://1975.luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/Hien-phap-VNCH-1967.pdf Tu chính án Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà] (1974)
=== Liên Xô ===
* [[Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết 1977|Hiến pháp Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết]] (1977)
== Hiến chương đa phương ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
* [[Hiến chương Liên Hiệp Quốc]] (1945)
a7hb750o5reh8evolgo0fi3tpuf92kx
Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946
0
17110
205686
203484
2026-06-21T10:58:07Z
~2026-36006-47
20322
/* */
205686
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946
| tác giả =
| ghi đè tác giả = của Hội nghị Ngoại giao
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1946
| wikipedia = Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)
| ghi chú = Sau khi Pháp và Trung Hoa Dân Quốc ký kết Hiệp ước Trùng Khánh vào ngà 28 tháng 2 năm 1946, quân Pháp được phép tiến ra phía Bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương (bao gồ cả Bắc Việt Nam) để thay quân Trung Hoa Dân Quốc đang giải giáp quân Nhật theo Hội nghị Potsdam. Trước đó Pháp với sự hỗ trợ của Anh đã bắt đầu tái chiếm thuộc địa ở Nam Đông Dương và đụng độ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nam Việt Nam. Pháp hy vọng với việc Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi Bắc Đông Dương, Pháp có thể tái chiếm toàn bộ Đông Dương. Nhằm tránh đụng độ với Pháp ở Bắc Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, các đại biểu cho Chính phủ Pháp và các đại biểu cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký kết một bản hiệp định sơ bộ gồm 3 khoản, qua đó Việt Nam chỉ là quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp còn tương lai quan hệ giữa Nam Kỳ và Việt Nam phụ thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý. Kèm theo Hiệp định này còn có một phụ khoản gồm 4 khoản. Toàn văn Hiệp định sơ bộ và Phụ khoản đính kèm như sau:
}}
== Toàn văn Hiệp định ==
<center>'''HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ'''</center>
Một bên là Chính phủ Cộng hòa Pháp do ông Xanh tơ ny (Sainteny), người thay mặt và có sự ủy nhiệm chính thức của Thủy sư đô đốc Đác giăng li ơ (George Thierry d' Argenlieu), Thượng sứ Pháp thụ nhiệm ủy quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu.
Một bên là {{SIC|Chinh|Chính}} phủ Cộng hòa Việt Nam do cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng là ông Vũ Hồng Khanh làm đại biểu..
Hai bên đã thỏa thuận về các khoản sau đây:
:1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba Kỳ, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.
:2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, đón tiếp quân đội Pháp khi quân đội ấy chiểu theo theo các hiệp định quốc tế đến thay thế quân đội Trung Hoa. Một Hiệp định phụ khoản đính theo Hiệp định sơ bộ này sẽ định rõ cách thức thi hành công việc thay thế ấy.
:3) Các điều khoản kể trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi ký hiệp định, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời và để gây ra một bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay các cuộc điều đình thân thiện và thành thực. Trong cuộc điều đình ấy sẽ bàn về:
::a) Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài.
::b) Chế độ tương lai của Đông Dương.
::c) Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
:Các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Paris có thể được chọn làm nơi hội họp cuộc hội nghị.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable sortable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
== Phụ khoản kèm theo ==
<center>'''PHỤ KHOẢN'''</center>
<center>'''Đính theo Hiệp định sơ bộ của Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam'''</center>
Hai Chính phủ kể trong bản Hiệp định sơ bộ đã thỏa thuận các khoản sau này:
:1) Những lực lượng quân bị thay thế quân đội Trung Hoa sẽ gồm có:
::a) 10.000 quân Việt Nam với các sĩ quan Việt Nam thuộc quyền điều khiển của các nhà chức trách quân sự Việt Nam.
::b) 15.000 quân Pháp, trong số đó đã kể số lính Pháp hiện nay đã đóng trong cõi Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 16.
::15.000 lính Pháp ấy phải là những người Pháp chính tông, trừ những đội phụ trách canh phòng tù binh Nhật Bản.
::Tổng cộng các lực lượng kể trên sẽ đặt dưới quyền của Tư lệnh Pháp do các đội viên Việt Nam cộng tác.
::Khi các đội quân Pháp đã đổ bộ, một Hội nghị Tham mưu gồm các đại biểu của Bộ tư lệnh Pháp và Bộ tư lệnh Việt Nam sẽ định rõ sự tiến triển, sự du nhập, và cách sử dụng các đội quân Pháp và các đội quân Việt Nam đã kể trên.
::Sẽ lập ra những Ủy ban binh vụ Pháp - Việt ở tất cả các cấp quân đội để chuyên việc liên lạc binh sĩ Pháp và Việt Nam theo tinh thần cộng tác thân hữu.
:2) Những đội quân Pháp dùng để thay thế quân đội Trung Hoa sẽ chia ra làm 3 hạng:
::a) ''Những đội phụ trách việc canh phòng tù binh Nhật Bản''. - Các đội này sẽ rút về Pháp ngay khi nào nhiệm vụ của họ đã xong, nghĩa là sau khi tù binh Nhật Bản đã được đem ra khỏi xứ này; dù sao thời gian ấy không được quá 10 tháng.
::b) ''Những đội quân cùng với quân đội Việt Nam phụ trách về việc công an và phòng vệ đất nước Việt Nam''. - Cứ mỗi năm một phần năm (1/5) các đội quân sẽ về Pháp để quân đội Việt Nam thay thế. Vậy trong 5 năm, quân đội Việt Nam sẽ thay thế toàn số quân đội Pháp này.
::c) ''Những đội quân phụ trách việc phòng vệ các căn cứ hải và không quân''. - Thời hạn của nhiệm vụ giao cho các đội này sẽ do các cuộc hội nghị sau quyết định.
:3) Ở các nơi đồn trú có quân đội Pháp và quân đội Việt Nam đóng giữ, những khu vực riêng biệt cho đôi bên sẽ được định rõ.
:4) Chính phủ Pháp cam đoan không dùng các tù binh Nhật vào những việc có mục đích quân sự.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiệp định]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
[[Thể loại:Văn kiện ngoại giao]]
[[zh:越法初步协定(1946年)]]
joyh7g2oljolu29c6bjqtdp4jojg1m9
205687
205686
2026-06-21T10:58:27Z
~2026-36006-47
20322
/* */
205687
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946
| tác giả =
| ghi đè tác giả = của Hội nghị Ngoại giao
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1946
| wikipedia = Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)
| ghi chú = Sau khi Pháp và Trung Hoa Dân Quốc ký kết Hiệp ước Trùng Khánh vào ngày 28 tháng 2 năm 1946, quân Pháp được phép tiến ra phía Bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương (bao gồ cả Bắc Việt Nam) để thay quân Trung Hoa Dân Quốc đang giải giáp quân Nhật theo Hội nghị Potsdam. Trước đó Pháp với sự hỗ trợ của Anh đã bắt đầu tái chiếm thuộc địa ở Nam Đông Dương và đụng độ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nam Việt Nam. Pháp hy vọng với việc Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi Bắc Đông Dương, Pháp có thể tái chiếm toàn bộ Đông Dương. Nhằm tránh đụng độ với Pháp ở Bắc Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, các đại biểu cho Chính phủ Pháp và các đại biểu cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký kết một bản hiệp định sơ bộ gồm 3 khoản, qua đó Việt Nam chỉ là quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp còn tương lai quan hệ giữa Nam Kỳ và Việt Nam phụ thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý. Kèm theo Hiệp định này còn có một phụ khoản gồm 4 khoản. Toàn văn Hiệp định sơ bộ và Phụ khoản đính kèm như sau:
}}
== Toàn văn Hiệp định ==
<center>'''HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ'''</center>
Một bên là Chính phủ Cộng hòa Pháp do ông Xanh tơ ny (Sainteny), người thay mặt và có sự ủy nhiệm chính thức của Thủy sư đô đốc Đác giăng li ơ (George Thierry d' Argenlieu), Thượng sứ Pháp thụ nhiệm ủy quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu.
Một bên là {{SIC|Chinh|Chính}} phủ Cộng hòa Việt Nam do cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng là ông Vũ Hồng Khanh làm đại biểu..
Hai bên đã thỏa thuận về các khoản sau đây:
:1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba Kỳ, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.
:2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, đón tiếp quân đội Pháp khi quân đội ấy chiểu theo theo các hiệp định quốc tế đến thay thế quân đội Trung Hoa. Một Hiệp định phụ khoản đính theo Hiệp định sơ bộ này sẽ định rõ cách thức thi hành công việc thay thế ấy.
:3) Các điều khoản kể trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi ký hiệp định, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời và để gây ra một bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay các cuộc điều đình thân thiện và thành thực. Trong cuộc điều đình ấy sẽ bàn về:
::a) Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài.
::b) Chế độ tương lai của Đông Dương.
::c) Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
:Các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Paris có thể được chọn làm nơi hội họp cuộc hội nghị.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable sortable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
== Phụ khoản kèm theo ==
<center>'''PHỤ KHOẢN'''</center>
<center>'''Đính theo Hiệp định sơ bộ của Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam'''</center>
Hai Chính phủ kể trong bản Hiệp định sơ bộ đã thỏa thuận các khoản sau này:
:1) Những lực lượng quân bị thay thế quân đội Trung Hoa sẽ gồm có:
::a) 10.000 quân Việt Nam với các sĩ quan Việt Nam thuộc quyền điều khiển của các nhà chức trách quân sự Việt Nam.
::b) 15.000 quân Pháp, trong số đó đã kể số lính Pháp hiện nay đã đóng trong cõi Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 16.
::15.000 lính Pháp ấy phải là những người Pháp chính tông, trừ những đội phụ trách canh phòng tù binh Nhật Bản.
::Tổng cộng các lực lượng kể trên sẽ đặt dưới quyền của Tư lệnh Pháp do các đội viên Việt Nam cộng tác.
::Khi các đội quân Pháp đã đổ bộ, một Hội nghị Tham mưu gồm các đại biểu của Bộ tư lệnh Pháp và Bộ tư lệnh Việt Nam sẽ định rõ sự tiến triển, sự du nhập, và cách sử dụng các đội quân Pháp và các đội quân Việt Nam đã kể trên.
::Sẽ lập ra những Ủy ban binh vụ Pháp - Việt ở tất cả các cấp quân đội để chuyên việc liên lạc binh sĩ Pháp và Việt Nam theo tinh thần cộng tác thân hữu.
:2) Những đội quân Pháp dùng để thay thế quân đội Trung Hoa sẽ chia ra làm 3 hạng:
::a) ''Những đội phụ trách việc canh phòng tù binh Nhật Bản''. - Các đội này sẽ rút về Pháp ngay khi nào nhiệm vụ của họ đã xong, nghĩa là sau khi tù binh Nhật Bản đã được đem ra khỏi xứ này; dù sao thời gian ấy không được quá 10 tháng.
::b) ''Những đội quân cùng với quân đội Việt Nam phụ trách về việc công an và phòng vệ đất nước Việt Nam''. - Cứ mỗi năm một phần năm (1/5) các đội quân sẽ về Pháp để quân đội Việt Nam thay thế. Vậy trong 5 năm, quân đội Việt Nam sẽ thay thế toàn số quân đội Pháp này.
::c) ''Những đội quân phụ trách việc phòng vệ các căn cứ hải và không quân''. - Thời hạn của nhiệm vụ giao cho các đội này sẽ do các cuộc hội nghị sau quyết định.
:3) Ở các nơi đồn trú có quân đội Pháp và quân đội Việt Nam đóng giữ, những khu vực riêng biệt cho đôi bên sẽ được định rõ.
:4) Chính phủ Pháp cam đoan không dùng các tù binh Nhật vào những việc có mục đích quân sự.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiệp định]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
[[Thể loại:Văn kiện ngoại giao]]
[[zh:越法初步协定(1946年)]]
h08euhuk93e5q5c4acjy3lxdy05zy38
205688
205687
2026-06-21T10:58:48Z
~2026-36006-47
20322
/* */
205688
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946
| tác giả =
| ghi đè tác giả = của Hội nghị Ngoại giao
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1946
| wikipedia = Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)
| ghi chú = Sau khi Pháp và Trung Hoa Dân Quốc ký kết Hiệp ước Trùng Khánh vào ngày 28 tháng 2 năm 1946, quân Pháp được phép tiến ra phía Bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương (bao gồm cả Bắc Việt Nam) để thay quân Trung Hoa Dân Quốc đang giải giáp quân Nhật theo Hội nghị Potsdam. Trước đó Pháp với sự hỗ trợ của Anh đã bắt đầu tái chiếm thuộc địa ở Nam Đông Dương và đụng độ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nam Việt Nam. Pháp hy vọng với việc Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi Bắc Đông Dương, Pháp có thể tái chiếm toàn bộ Đông Dương. Nhằm tránh đụng độ với Pháp ở Bắc Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, các đại biểu cho Chính phủ Pháp và các đại biểu cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký kết một bản hiệp định sơ bộ gồm 3 khoản, qua đó Việt Nam chỉ là quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp còn tương lai quan hệ giữa Nam Kỳ và Việt Nam phụ thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý. Kèm theo Hiệp định này còn có một phụ khoản gồm 4 khoản. Toàn văn Hiệp định sơ bộ và Phụ khoản đính kèm như sau:
}}
== Toàn văn Hiệp định ==
<center>'''HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ'''</center>
Một bên là Chính phủ Cộng hòa Pháp do ông Xanh tơ ny (Sainteny), người thay mặt và có sự ủy nhiệm chính thức của Thủy sư đô đốc Đác giăng li ơ (George Thierry d' Argenlieu), Thượng sứ Pháp thụ nhiệm ủy quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu.
Một bên là {{SIC|Chinh|Chính}} phủ Cộng hòa Việt Nam do cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng là ông Vũ Hồng Khanh làm đại biểu..
Hai bên đã thỏa thuận về các khoản sau đây:
:1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba Kỳ, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.
:2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, đón tiếp quân đội Pháp khi quân đội ấy chiểu theo theo các hiệp định quốc tế đến thay thế quân đội Trung Hoa. Một Hiệp định phụ khoản đính theo Hiệp định sơ bộ này sẽ định rõ cách thức thi hành công việc thay thế ấy.
:3) Các điều khoản kể trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi ký hiệp định, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời và để gây ra một bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay các cuộc điều đình thân thiện và thành thực. Trong cuộc điều đình ấy sẽ bàn về:
::a) Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài.
::b) Chế độ tương lai của Đông Dương.
::c) Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
:Các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Paris có thể được chọn làm nơi hội họp cuộc hội nghị.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable sortable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
== Phụ khoản kèm theo ==
<center>'''PHỤ KHOẢN'''</center>
<center>'''Đính theo Hiệp định sơ bộ của Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam'''</center>
Hai Chính phủ kể trong bản Hiệp định sơ bộ đã thỏa thuận các khoản sau này:
:1) Những lực lượng quân bị thay thế quân đội Trung Hoa sẽ gồm có:
::a) 10.000 quân Việt Nam với các sĩ quan Việt Nam thuộc quyền điều khiển của các nhà chức trách quân sự Việt Nam.
::b) 15.000 quân Pháp, trong số đó đã kể số lính Pháp hiện nay đã đóng trong cõi Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 16.
::15.000 lính Pháp ấy phải là những người Pháp chính tông, trừ những đội phụ trách canh phòng tù binh Nhật Bản.
::Tổng cộng các lực lượng kể trên sẽ đặt dưới quyền của Tư lệnh Pháp do các đội viên Việt Nam cộng tác.
::Khi các đội quân Pháp đã đổ bộ, một Hội nghị Tham mưu gồm các đại biểu của Bộ tư lệnh Pháp và Bộ tư lệnh Việt Nam sẽ định rõ sự tiến triển, sự du nhập, và cách sử dụng các đội quân Pháp và các đội quân Việt Nam đã kể trên.
::Sẽ lập ra những Ủy ban binh vụ Pháp - Việt ở tất cả các cấp quân đội để chuyên việc liên lạc binh sĩ Pháp và Việt Nam theo tinh thần cộng tác thân hữu.
:2) Những đội quân Pháp dùng để thay thế quân đội Trung Hoa sẽ chia ra làm 3 hạng:
::a) ''Những đội phụ trách việc canh phòng tù binh Nhật Bản''. - Các đội này sẽ rút về Pháp ngay khi nào nhiệm vụ của họ đã xong, nghĩa là sau khi tù binh Nhật Bản đã được đem ra khỏi xứ này; dù sao thời gian ấy không được quá 10 tháng.
::b) ''Những đội quân cùng với quân đội Việt Nam phụ trách về việc công an và phòng vệ đất nước Việt Nam''. - Cứ mỗi năm một phần năm (1/5) các đội quân sẽ về Pháp để quân đội Việt Nam thay thế. Vậy trong 5 năm, quân đội Việt Nam sẽ thay thế toàn số quân đội Pháp này.
::c) ''Những đội quân phụ trách việc phòng vệ các căn cứ hải và không quân''. - Thời hạn của nhiệm vụ giao cho các đội này sẽ do các cuộc hội nghị sau quyết định.
:3) Ở các nơi đồn trú có quân đội Pháp và quân đội Việt Nam đóng giữ, những khu vực riêng biệt cho đôi bên sẽ được định rõ.
:4) Chính phủ Pháp cam đoan không dùng các tù binh Nhật vào những việc có mục đích quân sự.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiệp định]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
[[Thể loại:Văn kiện ngoại giao]]
[[zh:越法初步协定(1946年)]]
8407qon718da20vp7j1kft3jdt3q8i2
205689
205688
2026-06-21T10:59:45Z
~2026-36006-47
20322
/* */ Tỉa gọn
205689
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946
| tác giả =
| ghi đè tác giả = của Hội nghị Ngoại giao
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1946
| wikipedia = Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)
| ghi chú = Sau khi Pháp và Trung Hoa Dân Quốc ký kết Hiệp ước Trùng Khánh vào tháng 2 năm 1946, quân Pháp được phép tiến ra phía Bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương (bao gồm cả Bắc Việt Nam) để thay quân Trung Hoa Dân Quốc đang giải giáp quân Nhật theo Hội nghị Potsdam. Trước đó Pháp với sự hỗ trợ của Anh đã bắt đầu tái chiếm thuộc địa ở Nam Đông Dương và đụng độ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nam Việt Nam. Pháp hy vọng với việc Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi Bắc Đông Dương, Pháp có thể tái chiếm toàn bộ Đông Dương. Nhằm tránh đụng độ với Pháp ở Bắc Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, các đại biểu cho Chính phủ Pháp và các đại biểu cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký kết một bản hiệp định sơ bộ gồm 3 khoản, qua đó Việt Nam chỉ là quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp còn tương lai quan hệ giữa Nam Kỳ và Việt Nam phụ thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý. Kèm theo Hiệp định này còn có một phụ khoản gồm 4 khoản. Toàn văn Hiệp định sơ bộ và Phụ khoản đính kèm như sau:
}}
== Toàn văn Hiệp định ==
<center>'''HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ'''</center>
Một bên là Chính phủ Cộng hòa Pháp do ông Xanh tơ ny (Sainteny), người thay mặt và có sự ủy nhiệm chính thức của Thủy sư đô đốc Đác giăng li ơ (George Thierry d' Argenlieu), Thượng sứ Pháp thụ nhiệm ủy quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu.
Một bên là {{SIC|Chinh|Chính}} phủ Cộng hòa Việt Nam do cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng là ông Vũ Hồng Khanh làm đại biểu..
Hai bên đã thỏa thuận về các khoản sau đây:
:1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba Kỳ, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.
:2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, đón tiếp quân đội Pháp khi quân đội ấy chiểu theo theo các hiệp định quốc tế đến thay thế quân đội Trung Hoa. Một Hiệp định phụ khoản đính theo Hiệp định sơ bộ này sẽ định rõ cách thức thi hành công việc thay thế ấy.
:3) Các điều khoản kể trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi ký hiệp định, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời và để gây ra một bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay các cuộc điều đình thân thiện và thành thực. Trong cuộc điều đình ấy sẽ bàn về:
::a) Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài.
::b) Chế độ tương lai của Đông Dương.
::c) Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
:Các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Paris có thể được chọn làm nơi hội họp cuộc hội nghị.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable sortable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
== Phụ khoản kèm theo ==
<center>'''PHỤ KHOẢN'''</center>
<center>'''Đính theo Hiệp định sơ bộ của Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam'''</center>
Hai Chính phủ kể trong bản Hiệp định sơ bộ đã thỏa thuận các khoản sau này:
:1) Những lực lượng quân bị thay thế quân đội Trung Hoa sẽ gồm có:
::a) 10.000 quân Việt Nam với các sĩ quan Việt Nam thuộc quyền điều khiển của các nhà chức trách quân sự Việt Nam.
::b) 15.000 quân Pháp, trong số đó đã kể số lính Pháp hiện nay đã đóng trong cõi Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 16.
::15.000 lính Pháp ấy phải là những người Pháp chính tông, trừ những đội phụ trách canh phòng tù binh Nhật Bản.
::Tổng cộng các lực lượng kể trên sẽ đặt dưới quyền của Tư lệnh Pháp do các đội viên Việt Nam cộng tác.
::Khi các đội quân Pháp đã đổ bộ, một Hội nghị Tham mưu gồm các đại biểu của Bộ tư lệnh Pháp và Bộ tư lệnh Việt Nam sẽ định rõ sự tiến triển, sự du nhập, và cách sử dụng các đội quân Pháp và các đội quân Việt Nam đã kể trên.
::Sẽ lập ra những Ủy ban binh vụ Pháp - Việt ở tất cả các cấp quân đội để chuyên việc liên lạc binh sĩ Pháp và Việt Nam theo tinh thần cộng tác thân hữu.
:2) Những đội quân Pháp dùng để thay thế quân đội Trung Hoa sẽ chia ra làm 3 hạng:
::a) ''Những đội phụ trách việc canh phòng tù binh Nhật Bản''. - Các đội này sẽ rút về Pháp ngay khi nào nhiệm vụ của họ đã xong, nghĩa là sau khi tù binh Nhật Bản đã được đem ra khỏi xứ này; dù sao thời gian ấy không được quá 10 tháng.
::b) ''Những đội quân cùng với quân đội Việt Nam phụ trách về việc công an và phòng vệ đất nước Việt Nam''. - Cứ mỗi năm một phần năm (1/5) các đội quân sẽ về Pháp để quân đội Việt Nam thay thế. Vậy trong 5 năm, quân đội Việt Nam sẽ thay thế toàn số quân đội Pháp này.
::c) ''Những đội quân phụ trách việc phòng vệ các căn cứ hải và không quân''. - Thời hạn của nhiệm vụ giao cho các đội này sẽ do các cuộc hội nghị sau quyết định.
:3) Ở các nơi đồn trú có quân đội Pháp và quân đội Việt Nam đóng giữ, những khu vực riêng biệt cho đôi bên sẽ được định rõ.
:4) Chính phủ Pháp cam đoan không dùng các tù binh Nhật vào những việc có mục đích quân sự.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiệp định]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
[[Thể loại:Văn kiện ngoại giao]]
[[zh:越法初步协定(1946年)]]
te1f8l43z9zzh88l82nn47yp9i61o6x
205690
205689
2026-06-21T11:00:23Z
~2026-36006-47
20322
/* */
205690
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946
| tác giả =
| ghi đè tác giả = của Hội nghị Ngoại giao
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1946
| wikipedia = Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)
| ghi chú = Sau khi Pháp và Trung Hoa Dân Quốc ký kết Hiệp ước Trùng Khánh vào tháng 2 năm 1946, quân Pháp được phép tiến ra phía Bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương (bao gồm cả Bắc Việt Nam) để thay quân Trung Hoa Dân Quốc đang giải giáp quân Nhật . Trước đó Pháp với sự hỗ trợ của Anh đã bắt đầu tái chiếm thuộc địa ở Nam Đông Dương và đụng độ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nam Việt Nam. Pháp hy vọng với việc Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi Bắc Đông Dương, Pháp có thể tái chiếm toàn bộ Đông Dương. Nhằm tránh đụng độ với Pháp ở Bắc Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, các đại biểu cho Chính phủ Pháp và các đại biểu cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký kết một bản hiệp định sơ bộ gồm 3 khoản, qua đó Việt Nam chỉ là quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp còn tương lai quan hệ giữa Nam Kỳ và Việt Nam phụ thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý. Kèm theo Hiệp định này còn có một phụ khoản gồm 4 khoản. Toàn văn Hiệp định sơ bộ và Phụ khoản đính kèm như sau:
}}
== Toàn văn Hiệp định ==
<center>'''HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ'''</center>
Một bên là Chính phủ Cộng hòa Pháp do ông Xanh tơ ny (Sainteny), người thay mặt và có sự ủy nhiệm chính thức của Thủy sư đô đốc Đác giăng li ơ (George Thierry d' Argenlieu), Thượng sứ Pháp thụ nhiệm ủy quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu.
Một bên là {{SIC|Chinh|Chính}} phủ Cộng hòa Việt Nam do cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng là ông Vũ Hồng Khanh làm đại biểu..
Hai bên đã thỏa thuận về các khoản sau đây:
:1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba Kỳ, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.
:2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, đón tiếp quân đội Pháp khi quân đội ấy chiểu theo theo các hiệp định quốc tế đến thay thế quân đội Trung Hoa. Một Hiệp định phụ khoản đính theo Hiệp định sơ bộ này sẽ định rõ cách thức thi hành công việc thay thế ấy.
:3) Các điều khoản kể trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi ký hiệp định, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời và để gây ra một bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay các cuộc điều đình thân thiện và thành thực. Trong cuộc điều đình ấy sẽ bàn về:
::a) Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài.
::b) Chế độ tương lai của Đông Dương.
::c) Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
:Các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Paris có thể được chọn làm nơi hội họp cuộc hội nghị.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable sortable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
== Phụ khoản kèm theo ==
<center>'''PHỤ KHOẢN'''</center>
<center>'''Đính theo Hiệp định sơ bộ của Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam'''</center>
Hai Chính phủ kể trong bản Hiệp định sơ bộ đã thỏa thuận các khoản sau này:
:1) Những lực lượng quân bị thay thế quân đội Trung Hoa sẽ gồm có:
::a) 10.000 quân Việt Nam với các sĩ quan Việt Nam thuộc quyền điều khiển của các nhà chức trách quân sự Việt Nam.
::b) 15.000 quân Pháp, trong số đó đã kể số lính Pháp hiện nay đã đóng trong cõi Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 16.
::15.000 lính Pháp ấy phải là những người Pháp chính tông, trừ những đội phụ trách canh phòng tù binh Nhật Bản.
::Tổng cộng các lực lượng kể trên sẽ đặt dưới quyền của Tư lệnh Pháp do các đội viên Việt Nam cộng tác.
::Khi các đội quân Pháp đã đổ bộ, một Hội nghị Tham mưu gồm các đại biểu của Bộ tư lệnh Pháp và Bộ tư lệnh Việt Nam sẽ định rõ sự tiến triển, sự du nhập, và cách sử dụng các đội quân Pháp và các đội quân Việt Nam đã kể trên.
::Sẽ lập ra những Ủy ban binh vụ Pháp - Việt ở tất cả các cấp quân đội để chuyên việc liên lạc binh sĩ Pháp và Việt Nam theo tinh thần cộng tác thân hữu.
:2) Những đội quân Pháp dùng để thay thế quân đội Trung Hoa sẽ chia ra làm 3 hạng:
::a) ''Những đội phụ trách việc canh phòng tù binh Nhật Bản''. - Các đội này sẽ rút về Pháp ngay khi nào nhiệm vụ của họ đã xong, nghĩa là sau khi tù binh Nhật Bản đã được đem ra khỏi xứ này; dù sao thời gian ấy không được quá 10 tháng.
::b) ''Những đội quân cùng với quân đội Việt Nam phụ trách về việc công an và phòng vệ đất nước Việt Nam''. - Cứ mỗi năm một phần năm (1/5) các đội quân sẽ về Pháp để quân đội Việt Nam thay thế. Vậy trong 5 năm, quân đội Việt Nam sẽ thay thế toàn số quân đội Pháp này.
::c) ''Những đội quân phụ trách việc phòng vệ các căn cứ hải và không quân''. - Thời hạn của nhiệm vụ giao cho các đội này sẽ do các cuộc hội nghị sau quyết định.
:3) Ở các nơi đồn trú có quân đội Pháp và quân đội Việt Nam đóng giữ, những khu vực riêng biệt cho đôi bên sẽ được định rõ.
:4) Chính phủ Pháp cam đoan không dùng các tù binh Nhật vào những việc có mục đích quân sự.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiệp định]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
[[Thể loại:Văn kiện ngoại giao]]
[[zh:越法初步协定(1946年)]]
q03plw0va41l55o673x68hd3v2nxmnq
205691
205690
2026-06-21T11:00:37Z
~2026-36006-47
20322
/* */
205691
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946
| tác giả =
| ghi đè tác giả = của Hội nghị Ngoại giao
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1946
| wikipedia = Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)
| ghi chú = Sau khi Pháp và Trung Hoa Dân Quốc ký kết Hiệp ước Trùng Khánh vào tháng 2 năm 1946, quân Pháp được phép tiến ra phía Bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương (bao gồm cả Bắc Việt Nam) để thay quân Trung Hoa Dân Quốc đang giải giáp quân Nhật. Trước đó Pháp với sự hỗ trợ của Anh đã bắt đầu tái chiếm thuộc địa ở Nam Đông Dương và đụng độ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nam Việt Nam. Pháp hy vọng với việc Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi Bắc Đông Dương, Pháp có thể tái chiếm toàn bộ Đông Dương. Nhằm tránh đụng độ với Pháp ở Bắc Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, các đại biểu cho Chính phủ Pháp và các đại biểu cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký kết một bản hiệp định sơ bộ gồm 3 khoản, qua đó Việt Nam chỉ là quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp còn tương lai quan hệ giữa Nam Kỳ và Việt Nam phụ thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý. Kèm theo Hiệp định này còn có một phụ khoản gồm 4 khoản. Toàn văn Hiệp định sơ bộ và Phụ khoản đính kèm như sau:
}}
== Toàn văn Hiệp định ==
<center>'''HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ'''</center>
Một bên là Chính phủ Cộng hòa Pháp do ông Xanh tơ ny (Sainteny), người thay mặt và có sự ủy nhiệm chính thức của Thủy sư đô đốc Đác giăng li ơ (George Thierry d' Argenlieu), Thượng sứ Pháp thụ nhiệm ủy quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu.
Một bên là {{SIC|Chinh|Chính}} phủ Cộng hòa Việt Nam do cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng là ông Vũ Hồng Khanh làm đại biểu..
Hai bên đã thỏa thuận về các khoản sau đây:
:1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba Kỳ, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.
:2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, đón tiếp quân đội Pháp khi quân đội ấy chiểu theo theo các hiệp định quốc tế đến thay thế quân đội Trung Hoa. Một Hiệp định phụ khoản đính theo Hiệp định sơ bộ này sẽ định rõ cách thức thi hành công việc thay thế ấy.
:3) Các điều khoản kể trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi ký hiệp định, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời và để gây ra một bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay các cuộc điều đình thân thiện và thành thực. Trong cuộc điều đình ấy sẽ bàn về:
::a) Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài.
::b) Chế độ tương lai của Đông Dương.
::c) Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
:Các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Paris có thể được chọn làm nơi hội họp cuộc hội nghị.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable sortable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
== Phụ khoản kèm theo ==
<center>'''PHỤ KHOẢN'''</center>
<center>'''Đính theo Hiệp định sơ bộ của Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam'''</center>
Hai Chính phủ kể trong bản Hiệp định sơ bộ đã thỏa thuận các khoản sau này:
:1) Những lực lượng quân bị thay thế quân đội Trung Hoa sẽ gồm có:
::a) 10.000 quân Việt Nam với các sĩ quan Việt Nam thuộc quyền điều khiển của các nhà chức trách quân sự Việt Nam.
::b) 15.000 quân Pháp, trong số đó đã kể số lính Pháp hiện nay đã đóng trong cõi Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 16.
::15.000 lính Pháp ấy phải là những người Pháp chính tông, trừ những đội phụ trách canh phòng tù binh Nhật Bản.
::Tổng cộng các lực lượng kể trên sẽ đặt dưới quyền của Tư lệnh Pháp do các đội viên Việt Nam cộng tác.
::Khi các đội quân Pháp đã đổ bộ, một Hội nghị Tham mưu gồm các đại biểu của Bộ tư lệnh Pháp và Bộ tư lệnh Việt Nam sẽ định rõ sự tiến triển, sự du nhập, và cách sử dụng các đội quân Pháp và các đội quân Việt Nam đã kể trên.
::Sẽ lập ra những Ủy ban binh vụ Pháp - Việt ở tất cả các cấp quân đội để chuyên việc liên lạc binh sĩ Pháp và Việt Nam theo tinh thần cộng tác thân hữu.
:2) Những đội quân Pháp dùng để thay thế quân đội Trung Hoa sẽ chia ra làm 3 hạng:
::a) ''Những đội phụ trách việc canh phòng tù binh Nhật Bản''. - Các đội này sẽ rút về Pháp ngay khi nào nhiệm vụ của họ đã xong, nghĩa là sau khi tù binh Nhật Bản đã được đem ra khỏi xứ này; dù sao thời gian ấy không được quá 10 tháng.
::b) ''Những đội quân cùng với quân đội Việt Nam phụ trách về việc công an và phòng vệ đất nước Việt Nam''. - Cứ mỗi năm một phần năm (1/5) các đội quân sẽ về Pháp để quân đội Việt Nam thay thế. Vậy trong 5 năm, quân đội Việt Nam sẽ thay thế toàn số quân đội Pháp này.
::c) ''Những đội quân phụ trách việc phòng vệ các căn cứ hải và không quân''. - Thời hạn của nhiệm vụ giao cho các đội này sẽ do các cuộc hội nghị sau quyết định.
:3) Ở các nơi đồn trú có quân đội Pháp và quân đội Việt Nam đóng giữ, những khu vực riêng biệt cho đôi bên sẽ được định rõ.
:4) Chính phủ Pháp cam đoan không dùng các tù binh Nhật vào những việc có mục đích quân sự.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiệp định]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
[[Thể loại:Văn kiện ngoại giao]]
[[zh:越法初步协定(1946年)]]
1uinp1ypjwvmj91b3g2685syyu5oery
205692
205691
2026-06-21T11:01:27Z
~2026-36006-47
20322
/* */
205692
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946
| tác giả =
| ghi đè tác giả = của Hội nghị Ngoại giao
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1946
| wikipedia = Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946)
| ghi chú = Sau khi Pháp và Trung Hoa Dân Quốc ký kết Hiệp ước Trùng Khánh vào tháng 2 năm 1946, quân Pháp được phép tiến ra phía Bắc vĩ tuyến 16 của Đông Dương (bao gồm cả Bắc Việt Nam) để thay quân Trung Hoa Dân Quốc đang giải giáp quân Nhật. Trước đó Pháp với sự hỗ trợ của Anh đã bắt đầu tái chiếm thuộc địa ở Nam Đông Dương (bao gồm cả Nam Việt Nam). Pháp hy vọng với việc Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi Bắc Đông Dương, Pháp có thể tái chiếm toàn bộ Đông Dương. Nhằm tránh đụng độ với Pháp ở Bắc Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, các đại biểu cho Chính phủ Pháp và các đại biểu cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký kết một bản hiệp định sơ bộ gồm 3 khoản, qua đó Việt Nam chỉ là quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp còn tương lai quan hệ giữa Nam Kỳ và Việt Nam phụ thuộc vào một cuộc trưng cầu dân ý. Kèm theo Hiệp định này còn có một phụ khoản gồm 4 khoản. Toàn văn Hiệp định sơ bộ và Phụ khoản đính kèm như sau:
}}
== Toàn văn Hiệp định ==
<center>'''HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ'''</center>
Một bên là Chính phủ Cộng hòa Pháp do ông Xanh tơ ny (Sainteny), người thay mặt và có sự ủy nhiệm chính thức của Thủy sư đô đốc Đác giăng li ơ (George Thierry d' Argenlieu), Thượng sứ Pháp thụ nhiệm ủy quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu.
Một bên là {{SIC|Chinh|Chính}} phủ Cộng hòa Việt Nam do cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng là ông Vũ Hồng Khanh làm đại biểu..
Hai bên đã thỏa thuận về các khoản sau đây:
:1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba Kỳ, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.
:2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, đón tiếp quân đội Pháp khi quân đội ấy chiểu theo theo các hiệp định quốc tế đến thay thế quân đội Trung Hoa. Một Hiệp định phụ khoản đính theo Hiệp định sơ bộ này sẽ định rõ cách thức thi hành công việc thay thế ấy.
:3) Các điều khoản kể trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi ký hiệp định, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời và để gây ra một bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay các cuộc điều đình thân thiện và thành thực. Trong cuộc điều đình ấy sẽ bàn về:
::a) Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài.
::b) Chế độ tương lai của Đông Dương.
::c) Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
:Các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Paris có thể được chọn làm nơi hội họp cuộc hội nghị.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable sortable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
== Phụ khoản kèm theo ==
<center>'''PHỤ KHOẢN'''</center>
<center>'''Đính theo Hiệp định sơ bộ của Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam'''</center>
Hai Chính phủ kể trong bản Hiệp định sơ bộ đã thỏa thuận các khoản sau này:
:1) Những lực lượng quân bị thay thế quân đội Trung Hoa sẽ gồm có:
::a) 10.000 quân Việt Nam với các sĩ quan Việt Nam thuộc quyền điều khiển của các nhà chức trách quân sự Việt Nam.
::b) 15.000 quân Pháp, trong số đó đã kể số lính Pháp hiện nay đã đóng trong cõi Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 16.
::15.000 lính Pháp ấy phải là những người Pháp chính tông, trừ những đội phụ trách canh phòng tù binh Nhật Bản.
::Tổng cộng các lực lượng kể trên sẽ đặt dưới quyền của Tư lệnh Pháp do các đội viên Việt Nam cộng tác.
::Khi các đội quân Pháp đã đổ bộ, một Hội nghị Tham mưu gồm các đại biểu của Bộ tư lệnh Pháp và Bộ tư lệnh Việt Nam sẽ định rõ sự tiến triển, sự du nhập, và cách sử dụng các đội quân Pháp và các đội quân Việt Nam đã kể trên.
::Sẽ lập ra những Ủy ban binh vụ Pháp - Việt ở tất cả các cấp quân đội để chuyên việc liên lạc binh sĩ Pháp và Việt Nam theo tinh thần cộng tác thân hữu.
:2) Những đội quân Pháp dùng để thay thế quân đội Trung Hoa sẽ chia ra làm 3 hạng:
::a) ''Những đội phụ trách việc canh phòng tù binh Nhật Bản''. - Các đội này sẽ rút về Pháp ngay khi nào nhiệm vụ của họ đã xong, nghĩa là sau khi tù binh Nhật Bản đã được đem ra khỏi xứ này; dù sao thời gian ấy không được quá 10 tháng.
::b) ''Những đội quân cùng với quân đội Việt Nam phụ trách về việc công an và phòng vệ đất nước Việt Nam''. - Cứ mỗi năm một phần năm (1/5) các đội quân sẽ về Pháp để quân đội Việt Nam thay thế. Vậy trong 5 năm, quân đội Việt Nam sẽ thay thế toàn số quân đội Pháp này.
::c) ''Những đội quân phụ trách việc phòng vệ các căn cứ hải và không quân''. - Thời hạn của nhiệm vụ giao cho các đội này sẽ do các cuộc hội nghị sau quyết định.
:3) Ở các nơi đồn trú có quân đội Pháp và quân đội Việt Nam đóng giữ, những khu vực riêng biệt cho đôi bên sẽ được định rõ.
:4) Chính phủ Pháp cam đoan không dùng các tù binh Nhật vào những việc có mục đích quân sự.
:::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946''
{| class="wikitable"
|-
! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký''
|-
| HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY
|}
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiệp định]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
[[Thể loại:Văn kiện ngoại giao]]
[[zh:越法初步协定(1946年)]]
6drps50ocprjyi5susc1x6n2a7zzas8
Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949
114
20858
205645
204930
2026-06-21T08:06:58Z
~2026-35975-20
20317
/* */ Rút gọn
205645
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của Quốc gia Việt Nam với tư cách một quốc gia liên kết trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp ký vào ngày 2 tháng 2. Dù ban đầu còn bị Pháp cai trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp khi hai bên ký Hiệp ước Matignon vào ngày 4 tháng 6 năm 1954, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng hoà vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rời Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
1sowszyeaag3pvz52egkdr4or94ri0j
205646
205645
2026-06-21T08:07:47Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205646
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của Quốc gia Việt Nam với tư cách một quốc gia liên kết trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp ký vào bốn ngày sau. Dù ban đầu còn bị Pháp cai trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp khi hai bên ký Hiệp ước Matignon vào ngày 4 tháng 6 năm 1954, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng hoà vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rời Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
4j1p611u4o12s4vdos2jpdkanj13mqv
205647
205646
2026-06-21T08:08:57Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205647
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của Quốc gia Việt Nam với tư cách một quốc gia liên kết trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn vào bốn ngày sau. Dù ban đầu còn bị Pháp cai trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp khi ký Hiệp ước Matignon vào ngày 4 tháng 6 năm 1954, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng hoà vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
05fhbylrhblbpxiit5j2avkjwbfjllb
205648
205647
2026-06-21T08:09:51Z
~2026-35975-20
20317
/* */
205648
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của Quốc gia Việt Nam với tư cách một quốc gia liên kết trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn vào bốn ngày sau. Dù ban đầu còn bị Pháp cai trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng hoà vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
6q0hhjesg95xz1td93r1liefx2ndc6k
205659
205648
2026-06-21T09:04:31Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205659
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] như một nước liên kết trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn vào bốn ngày sau. Dù ban đầu còn bị Pháp cai trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng hoà vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
q6i1yyywyvkpoyno6idev46dgym88by
205662
205659
2026-06-21T09:07:47Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205662
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] như một nước liên kết trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn vào bốn ngày sau. Dù ban đầu còn bị Pháp cai trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 trong khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
fncnrp0dq1b4cij7eycz2m53muvz7wm
205663
205662
2026-06-21T09:09:23Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205663
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau =
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] như một nước liên kết trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn vào bốn ngày sau. Dù ban đầu vẫn bị Pháp cai trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 còn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
mkt9bobi1z5bih2w544fj9dm7ho60rx
205665
205663
2026-06-21T09:11:49Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205665
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]]
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] như một nước liên kết trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn vào bốn ngày sau. Dù ban đầu vẫn bị Pháp cai trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 còn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiểm soát phía Bắc. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
p30aa6plmya4no7dqifmlbdsj3i6wlr
205674
205665
2026-06-21T09:29:12Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205674
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]]
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] như một nước liên kết trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn bốn ngày sau. Dù ban đầu còn bị Pháp cai trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập chỉ được ký tắt nhưng vẫn lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 dù phản đối thoả thuận. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
56gcufd35qr9nb1e3b8uxgsbdqcp1rz
205675
205674
2026-06-21T09:32:07Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205675
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]]
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Hoàng đế Việt Nam gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Hoàng đế Việt Nam để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] như một nước liên kết trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn bốn ngày sau. Dù ban đầu chỉ là tự trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập con chỉ được ký tắt nhưng lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7 năm 1954, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 dù phản đối thoả thuận. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
rzxxspmkfmcnadv8da1obstc9z89suo
205676
205675
2026-06-21T09:32:50Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205676
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề biên dịch
| tựa đề = Hiệp định Élysée
| tác giả = Vincent Auriol
| ngôn ngữ = en
| bản gốc =
| phần = '''Văn thư chính'''
| trước =
| sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]]
| ấn bản = có
| năm = 1949
| ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Ngoài văn thư chính, văn thư tiếp theo là của Bảo Đại gửi Tổng thống Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Tổng thống Pháp gửi Bảo Đại để bổ túc thêm về các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée về danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập, nó bãi bỏ chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] như một nước liên kết trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949 khi các văn thư được trao đổi tại Toà thị chính Sài Gòn giữa Bảo Đại và Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn bốn ngày sau. Dù ban đầu chỉ là tự trị, Quốc gia Việt Nam sau đó giành độc lập hoàn toàn và đồng ý ở lại Liên hiệp Pháp vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hai hiệp ước con là hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Hiệp ước độc lập con chỉ được ký tắt nhưng lập tức có hiệu lực theo điều 4 của nó. Với Hiệp định Genève vào tháng 7 năm 1954, Quốc gia Việt Nam chỉ kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17 dù phản đối thoả thuận. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}}
{{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}}
'''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:'''''
{{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp
Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949
}}
Thưa Hoàng Thượng,
Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài.
Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu.
Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này.
Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây.
===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM===
Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt).
Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ.
Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp.
Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây.
Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng.
Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ.
===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO===
Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa.
Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp.
Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam.
Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam.
Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp.
Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam.
Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này.
===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ===
Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài.
Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam.
Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp.
Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp.
Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây.
Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam.
===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC===
Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp.
Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản.
Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam.
===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP===
Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc.
Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt.
Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây:
# Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”.
# Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội.
# Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp.
Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng.
Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên.
Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương.
Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này.
===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA===
Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này.
Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp.
Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt.
Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt.
Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp.
Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan.
Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn.
Trong giảng dạy truyền thống:
:a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp
:b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định.
Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp.
Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan.
Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng:
Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam.
Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây:
- Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang.
- Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia.
- Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế.
- Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học.
- Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949.
'''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau.
Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt.
===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH===
Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này.
Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp.
Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam.
Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây:
:a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia;
:b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép;
:c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động.
Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy.
Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng.
Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế.
Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương.
Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào.
Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên.
Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương.
Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh.
Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể.
Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây:
# Dịch vụ về phát thanh
# Kiểm soát di trú
#Thương mại quốc tế và quan thuế
# Kho bạc
# Kế hoạch trang thiết bị
Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo.
Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc.
Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần.
Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp.
Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp.
Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi.
{{văn|canh lề=right|
Vincent Auriol
}}
{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]]
[[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]]
4t4c3iwk6ah82pkx4j0a6utu2660m85
Chiếu thoái vị
0
28425
205678
203536
2026-06-21T10:02:07Z
~2026-35908-96
20321
/* */
205678
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Chiếu thoái vị
| tác giả = Bảo Đại
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1945
| ghi chú = Trong cao trào của Cách mạng tháng Tám, Hoàng đế Bảo Đại đã ban hành chiếu thoái vị vào ngày 25 tháng 8 năm 1945. Điều này chấm dứt thời kỳ cầm quyền của dòng họ Nguyễn Phúc (1558–1945), bao gồm [[w:Chúa Nguyễn|chúa Nguyễn]] và [[w:Nhà Nguyễn|nhà Nguyễn]]. Sau đó, như một lễ thủ tục, ông đọc Tuyên ngôn Thoái vị vào chiều ngày 30 tháng 8 năm 1945 trước hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn và sau đó trao ấn tín và bảo kiếm, quốc bảo của hoàng triều cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trần Huy Liệu.
Nội dung dưới đây được lấy từ phần [[Một cơn gió bụi/Phụ lục|Phụ lục]] của cuốn hồi ký [[Một cơn gió bụi]] của [[Tác gia:Trần Trọng Kim|Trần Trọng Kim]].
}}
<pages index="Mot con gio bui.pdf" from=196 fromsection="chieutv" to=198/>
{{PVCC-Sắc lệnh CP}}
[[Thể loại:Chiếu]]
0h39zl801takf8s9r301i8jk63tcwek
205680
205678
2026-06-21T10:11:29Z
~2026-35908-96
20321
/* */
205680
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Chiếu thoái vị
| tác giả = Bảo Đại
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1945
| ghi chú = Do Cách mạng tháng Tám, Hoàng đế Việt Nam Bảo Đại tức Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã ban hành chiếu thoái vị vào ngày 25 tháng 8 năm 1945. Điều này chấm dứt thời kỳ cầm quyền của dòng họ Nguyễn Phúc (1558–1945), bao gồm [[w:Chúa Nguyễn|chúa Nguyễn]] và [[w:Nhà Nguyễn|nhà Nguyễn]]. Sau đó, như một lễ thủ tục, ông đọc Tuyên ngôn Thoái vị vào chiều ngày 30 tháng 8 năm 1945 trước hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn rồi trao ấn tín và bảo kiếm, quốc bảo của hoàng triều cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trần Huy Liệu. Dẫu vậy, vào năm 1949, Bảo Đại trở lại con đường cầm quyền với tư cách Quốc trưởng [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]]. Con đường này của ông chỉ chấm dứt hoàn toàn khi [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] được thành lập năm 1955.
Nội dung dưới đây được lấy từ phần [[Một cơn gió bụi/Phụ lục|Phụ lục]] của cuốn hồi ký [[Một cơn gió bụi]] của [[Tác gia:Trần Trọng Kim|Trần Trọng Kim]].
}}
<pages index="Mot con gio bui.pdf" from=196 fromsection="chieutv" to=198/>
{{PVCC-Sắc lệnh CP}}
[[Thể loại:Chiếu]]
ggz1blxbn29r17g89gtbihax7o7mod6
205681
205680
2026-06-21T10:12:01Z
~2026-35908-96
20321
/* */
205681
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Chiếu thoái vị
| tác giả = Bảo Đại
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1945
| ghi chú = Do Cách mạng tháng Tám, Hoàng đế Việt Nam Bảo Đại tức Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã ban hành chiếu thoái vị vào ngày 25 tháng 8 năm 1945. Điều này chấm dứt thời kỳ cầm quyền của dòng họ Nguyễn Phúc (1558–1945), bao gồm [[w:Chúa Nguyễn|chúa Nguyễn]] và [[w:Nhà Nguyễn|nhà Nguyễn]]. Sau đó, như một lễ thủ tục, ông đọc Tuyên ngôn Thoái vị vào chiều ngày 30 tháng 8 năm 1945 trước hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn rồi trao ấn tín và bảo kiếm, quốc bảo của hoàng triều cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trần Huy Liệu. Dẫu vậy, vào năm 1949, Bảo Đại trở lại con đường cầm quyền với tư cách Quốc trưởng [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]]. Con đường này của ông chỉ chấm dứt hoàn toàn khi [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] được thành lập năm 1955.
Nội dung dưới đây của chiếu này được lấy từ phần [[Một cơn gió bụi/Phụ lục|Phụ lục]] của cuốn hồi ký [[Một cơn gió bụi]] của [[Tác gia:Trần Trọng Kim|Trần Trọng Kim]].
}}
<pages index="Mot con gio bui.pdf" from=196 fromsection="chieutv" to=198/>
{{PVCC-Sắc lệnh CP}}
[[Thể loại:Chiếu]]
nwf7s14y3mmdcwdjhq4kuzj89mlsigr
205682
205681
2026-06-21T10:17:58Z
~2026-36006-47
20322
205682
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Chiếu thoái vị
| tác giả = Bảo Đại
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1945
| ghi chú = Do Cách mạng tháng Tám, Hoàng đế Việt Nam Bảo Đại tức Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã ban hành chiếu thoái vị vào ngày 25 tháng 8 năm 1945. Điều này chấm dứt thời kỳ cầm quyền của dòng họ Nguyễn Phúc (1558–1945), bao gồm [[w:Chúa Nguyễn|chúa Nguyễn]] và [[w:Nhà Nguyễn|nhà Nguyễn]]. Sau đó, như một lễ thủ tục, ông đọc Tuyên ngôn Thoái vị vào chiều ngày 30 tháng 8 năm 1945 ở cửa Ngọ Môn trước hàng ngàn người tụ họp rồi trao ấn tín và bảo kiếm cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trần Huy Liệu. Dẫu vậy, vào năm 1949, Bảo Đại trở lại con đường cầm quyền với tư cách Quốc trưởng [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]]. Con đường này của ông chỉ chấm dứt hoàn toàn khi [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] được thành lập năm 1955.
Nội dung dưới đây của chiếu này được lấy từ phần [[Một cơn gió bụi/Phụ lục|Phụ lục]] của cuốn hồi ký [[Một cơn gió bụi]] của [[Tác gia:Trần Trọng Kim|Trần Trọng Kim]].
}}
<pages index="Mot con gio bui.pdf" from=196 fromsection="chieutv" to=198/>
{{PVCC-Sắc lệnh CP}}
[[Thể loại:Chiếu]]
fyswqi31vctr5xi2k47dira237ta2rn
205683
205682
2026-06-21T10:25:00Z
~2026-36006-47
20322
/* */
205683
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Chiếu thoái vị
| tác giả = Bảo Đại
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1945
| ghi chú = Do Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam, Hoàng đế Bảo Đại tức Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã ban hành chiếu thoái vị vào ngày 25 tháng 8 năm 1945. Điều này chấm dứt thời kỳ cầm quyền của dòng họ Nguyễn Phúc (1558–1945), bao gồm [[w:Chúa Nguyễn|chúa Nguyễn]] và [[w:Nhà Nguyễn|nhà Nguyễn]]. Sau đó, như một lễ thủ tục, ông đọc Tuyên ngôn Thoái vị vào chiều ngày 30 tháng 8 năm 1945 ở cửa Ngọ Môn trước hàng ngàn người tụ họp rồi trao ấn tín và bảo kiếm cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trần Huy Liệu. Dẫu vậy, vào năm 1949, Bảo Đại trở lại con đường cầm quyền với tư cách Quốc trưởng [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]]. Con đường này của ông chỉ chấm dứt hoàn toàn khi [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] được thành lập năm 1955.
Nội dung dưới đây của chiếu này được lấy từ phần [[Một cơn gió bụi/Phụ lục|Phụ lục]] của cuốn hồi ký [[Một cơn gió bụi]] của [[Tác gia:Trần Trọng Kim|Trần Trọng Kim]].
}}
<pages index="Mot con gio bui.pdf" from=196 fromsection="chieutv" to=198/>
{{PVCC-Sắc lệnh CP}}
[[Thể loại:Chiếu]]
hsa12h0sr6avmjuhu17ze90hupdar6u
205685
205683
2026-06-21T10:33:29Z
~2026-36006-47
20322
/* */
205685
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Chiếu thoái vị
| tác giả = Bảo Đại
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1945
| ghi chú = Do Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, Hoàng đế Bảo Đại tức Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã ban hành chiếu thoái vị vào ngày 25 tháng 8 năm 1945. Điều này chấm dứt thời kỳ cầm quyền của dòng họ Nguyễn Phúc (1558–1945), bao gồm [[w:Chúa Nguyễn|chúa Nguyễn]] và [[w:Nhà Nguyễn|nhà Nguyễn]]. Sau đó, như một lễ thủ tục, ông đọc Tuyên ngôn Thoái vị vào chiều ngày 30 tháng 8 năm 1945 ở cửa Ngọ Môn trước hàng ngàn người tụ họp rồi trao ấn tín và bảo kiếm cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trần Huy Liệu. Dẫu vậy, vào năm 1949, Bảo Đại trở lại con đường cầm quyền với tư cách Quốc trưởng [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]]. Con đường này của ông chỉ chấm dứt hoàn toàn khi [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] được thành lập năm 1955.
Nội dung dưới đây của chiếu này được lấy từ phần [[Một cơn gió bụi/Phụ lục|Phụ lục]] của cuốn hồi ký [[Một cơn gió bụi]] của [[Tác gia:Trần Trọng Kim|Trần Trọng Kim]].
}}
<pages index="Mot con gio bui.pdf" from=196 fromsection="chieutv" to=198/>
{{PVCC-Sắc lệnh CP}}
[[Thể loại:Chiếu]]
lkzmngud9zud2hq4u3ni87dynzb2krd
Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
0
32057
205684
203538
2026-06-21T10:28:00Z
~2026-36006-47
20322
/* */
205684
wikitext
text/x-wiki
{{chọn lọc}}
{{đầu đề
| tựa đề = Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Hương
| tác giả = Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
| ngôn ngữ =
| bản gốc =
| phần =
| trước =
| sau =
| năm = 1975
| ghi chú = Quyết định sắc phong Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm làm đặc sứ của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Hương để sang Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) phúng điếu Tưởng Giới Thạch.
: {{wikipediaref|Nguyễn Văn Thiệu}}
}}
<pages index="Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống VNCH Trần Văn Hương.pdf" from=1 to=2 />
{{PVCC-CPNVN}}
g4a5sa4aew1n8a56rwbkpdqrbyqhitk
Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa
0
34598
205664
99244
2026-06-21T09:11:01Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205664
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Bản Tuyên Cáo của Quốc Trưởng Việt Nam thành lập chế độ Cộng Hòa
| tác giả = Ngô Đình Diệm
| dịch giả =
| phần =
| trước =
| sau = [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
| năm = 1955
| ghi chú =
}}
<pages index="Con duong chinh nghia, quyen 2.pdf" from=11 fromsection="ct26101955" to=13 tosection="ct26101955" />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Tuyên ngôn]]
soecvg7udrak0qz0rzzztga0newyhrh
205666
205664
2026-06-21T09:12:21Z
~2026-36094-93
20320
/* */
205666
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Bản Tuyên Cáo của Quốc Trưởng Việt Nam thành lập chế độ Cộng Hòa
| tác giả = Ngô Đình Diệm
| dịch giả =
| phần =
| trước = [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée 1949]]
| sau = [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
| năm = 1955
| ghi chú =
}}
<pages index="Con duong chinh nghia, quyen 2.pdf" from=11 fromsection="ct26101955" to=13 tosection="ct26101955" />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Tuyên ngôn]]
ktkcu7aiw0i4b0bsr18mk5wx8unygbk
205677
205666
2026-06-21T09:52:03Z
~2026-35908-96
20321
205677
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
| tựa đề = Bản Tuyên Cáo của Quốc Trưởng Việt Nam thành lập chế độ Cộng Hòa
| tác giả = Ngô Đình Diệm
| dịch giả =
| phần =
| trước = [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée 1949]]
| sau = [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]]
| năm = 1955
| ghi chú = Bản tuyên ngôn bãi bỏ [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] và thành lập [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]].
}}
<pages index="Con duong chinh nghia, quyen 2.pdf" from=11 fromsection="ct26101955" to=13 tosection="ct26101955" />
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Tuyên ngôn]]
4wxo021qsx0ksi7b5bff0t90i9cid4n
Wikisource:GUS2Wiki
4
46964
205616
205560
2026-06-20T18:24:59Z
Alexis Jazz
15437
Updating gadget usage statistics from [[Special:GadgetUsage]] ([[phab:T121049]])
205616
wikitext
text/x-wiki
{{#ifexist:Project:GUS2Wiki/top|{{/top}}|This page provides a historical record of [[Special:GadgetUsage]] through its page history. To get the data in CSV format, see wikitext. To customize this message or add categories, create [[/top]].}}
Dữ liệu dưới đây được đưa vào vùng nhớ đệm và được cập nhật lần cuối lúc 2026-06-20T00:00:58Z. Tối đa có sẵn {{PLURAL:5000|một kết quả|5000 kết quả}} trong vùng nhớ đệm.
{| class="sortable wikitable"
! Tiện ích !! data-sort-type="number" | Số người dùng !! data-sort-type="number" | Số thành viên tích cực
|-
|AutoOldStyleVi || 7 || 0
|-
|HotCat || 44 || 1
|-
|NopInserter || 9 || 0
|-
|Preload Page Images || 5 || 0
|-
|QualityButton || 12 || 0
|-
|Subpages || 7 || 0
|-
|TemplatePreloader || 37 || 1
|-
|UTCLiveClock || 21 || 0
|-
|addsection-plus || 20 || 0
|-
|edittop || 22 || 1
|-
|mark-proofread || 11 || 0
|-
|navpop || 35 || 0
|-
|purgetab || 26 || 0
|-
|removeAccessKeys || 4 || 0
|-
|wiked || 11 || 0
|}
* [[Đặc biệt:GadgetUsage]]
* [[m:Meta:GUS2Wiki/Script|GUS2Wiki]]
<!-- data in CSV format:
AutoOldStyleVi,7,0
HotCat,44,1
NopInserter,9,0
Preload Page Images,5,0
QualityButton,12,0
Subpages,7,0
TemplatePreloader,37,1
UTCLiveClock,21,0
addsection-plus,20,0
edittop,22,1
mark-proofread,11,0
navpop,35,0
purgetab,26,0
removeAccessKeys,4,0
wiked,11,0
-->
9p0anp05t7q6bl63hsr9v04s18nujos
Mục lục:Hien Phap Viet Nam Cong Hoa 1967.pdf
106
72330
205679
2026-06-21T10:02:34Z
LMQ2401
3550
[[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “”
205679
proofread-index
text/x-wiki
{{:MediaWiki:Proofreadpage_index_template
|Loại=book
|wikidata_item=
|Tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà
|Tập=
|Tác giả=Quốc hội Lập hiến
|Dịch giả=
|Biên tập viên=
|Họa sĩ=
|Trường=
|Nhà xuất bản=Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi
|Nơi xuất bản=Sài Gòn
|Năm=1967
|Từ khóa=
|Nguồn=pdf
|Hình=1
|Tiến triển=OCR
|Trang=<pagelist 4="5" 1to2="bìa" 3="mục lục" 53="bìa" 54="57" />
|Các tập=
|Tóm tắt=
|Rộng=
|Css=
|Header=
|Footer=
}}
[[Thể loại:Hiến pháp]]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam]]
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa]]
n80upnojpq69qzurvtd2duum4f5m08v