Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.47.0-wmf.16 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Event Event talk Đề tài So sánh Bản thỏa thuận và Hiệp định Paris 1973 chính thức 0 3745 206020 115036 2026-08-19T20:00:19Z ~2026-45381-94 20524 /* */ 206020 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = So sánh Bản thỏa thuận và Hiệp định Paris 1973 chính thức | tác giả = | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ghi chú = {{Bài chính Wikipedia|Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1972}} | chủ đề = Hiệp định Paris 1973 và các văn bản có liên quan }} {| class="wikitable" |- ! '''Thứ tự''' ! '''Bản thoả thuận trong tháng 10-1972 giữa đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa và đoàn đàm phán Hoa Kỳ''' ! '''Bản được Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ký chính thức tại Paris ngày 27-1-1973''' |- | 1 | '''''Lời nói đầu''''': Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà với sự thoả thuận của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam; Chính phủ Hoa Kỳ với sự thoả thuận của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà; Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần củng cố hoà bình ở Châu Á và thế giới; Đã thoả thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây: | '''''Lời nói đầu''''': Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà với sự thoả thuận của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam; Chính phủ Hoa Kỳ với sự thoả thuận của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà; Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần củng cố hoà bình ở Châu Á và thế giới; Đã thoả thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây: |- | 2 | '''''Chương I: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam''''' | '''''Chương I: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam''''' |- | 3 | ''Điều 1:'' {{đỏ|Mỹ}} tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève {{đỏ|năm 1954}} về Việt Nam đã công nhận. | ''Điều 1:'' {{đỏ|Hoa Kỳ và các nước khác}} tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève năm {{đỏ|một nghìn chín trăm năm mươi tư (1954)}} về Việt Nam đã công nhận. |- | 4 | '''''Chương II: Chấm dứt chiến sự - rút quân''''' | '''''Chương II: Chấm dứt chiến sự - rút quân''''' |- | 5 | ''Điều 2:'' Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ 24 giờ {{đỏ|(giờ Đông Dương) ngày... tháng... năm 1972, tức 17 giờ (giờ GMT) ngày... tháng... năm 1972}}. Cùng ngày giờ nói trên, {{đỏ|Mỹ}} sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của {{đỏ|Mỹ}} chống lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng mọi lực luợng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi của Việt Nam dân chủ cộng hoà. {{đỏ|Mỹ}} sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam ngay sau khi Hiệp định này có hiệu lực. Việc chấm dứt chiến sự nói trong điều này là {{đỏ|lâu dài và vững chắc}}. | ''Điều 2:'' Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ 24 giờ {{đỏ|(giờ GMT) ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba}}. Cùng ngày giờ nói trên, {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của {{đỏ|Hoa Kỳ}} chống lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng mọi lực luợng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi của Việt Nam dân chủ cộng hoà. {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam ngay sau khi Hiệp định này có hiệu lực. Việc chấm dứt chiến sự nói trong điều này là {{đỏ|vững chắc và không thời hạn}}. |- | 6 | ''Điều 3:''Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc. Bắt đầu từ khi ngừng bắn: a) Những lực lượng của {{đỏ|Mỹ}} và các nước ngoài khác đồng minh của {{đỏ|Mỹ}} và của Việt Nam Cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban Liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều {{đỏ|11}} sẽ quy định nhữn thể thức cụ thể. b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều {{đỏ|12}} sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân. c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hành động tấn công nhau và {{đỏ|nghiêm chỉnh}} tuân theo những điều quy định sau đây: :*Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển :*Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên. | ''Điều 3:''Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc. Bắt đầu từ khi ngừng bắn: a) Những lực lượng của {{đỏ|Hoa Kỳ}} và các nước ngoài khác đồng minh của {{đỏ|Hoa Kỳ}} và của Việt Nam Cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban Liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều {{đỏ|16}} sẽ quy định nhữn thể thức cụ thể. b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều {{đỏ|17}} sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân. c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hành động tấn công nhau và {{đỏ|triệt để}} tuân theo những điều quy định sau đây: :*Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển :*Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên. |- | 7 | ''Điều 4:'' {{đỏ|Mỹ}} sẽ không tiếp tục dinh líu quân sự {{đỏ|và}} can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. | ''Điều 4:'' {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ không tiếp tục dinh líu quân sự {{đỏ|hoặc}} can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. |- | 8 | ''Điều 5:'' Trong thời hạn {{đỏ|60}} ngày kể từ ngày ký Hiệp định này, việc rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên {{đỏ|kỹ thuật quân sự}}, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và công cụ chiến tranh của {{đỏ|Mỹ}} và các nước ngoài khác {{đỏ|đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}} {{đỏ|sẽ hoàn thành. Cố vấn}} của các nước nói trên cho các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó. | ''Điều 5:'' Trong thời hạn {{đỏ|sáu mươi}} ngày kể từ ngày ký Hiệp định này, {{đỏ|sẽ hoàn thành}} việc rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên {{đỏ|quân sự kỹ thuật}}, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và công cụ chiến tranh của {{đỏ|Hoa Kỳ}} và các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a). Cố vấn quân sự}} của các nước nói trên cho {{đỏ|tất cả}} các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó. |- | 9 | ''Điều 6:'' Việc huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự của {{đỏ|Mỹ}} và các nước ngoài khác {{đỏ|đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}} ở miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành trong thời hạn {{đỏ|60}} ngày kể từ khi ký Hiệp định này. | ''Điều 6:'' Việc huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự {{đỏ|ở miền Nam Việt Nam}} của {{đỏ|Hoa Kỳ}} và các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở Điều 3(a)}} sẽ hoàn thành trong thời hạn {{đỏ|sáu mươi}} ngày kể từ khi ký Hiệp định này. |- | 10 | ''Điều 7:'' Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập Chính phủ quy định trong điều 9(b) và {{đỏ|9(i)}} của Hiệp định này, hai miền Nam Việt Nam không được nhận {{đỏ|việc}} đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên {{đỏ|kỹ thuật quân sự}}, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. Hai bên miền Nam {{đỏ|sẽ}} được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, {{đỏ|bị hao mòn hoặc hư hỏng}} từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. | ''Điều 7:'' Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập Chính phủ quy định trong điều 9(b) và {{đỏ|Điều 14}} của Hiệp định này, hai miền Nam Việt Nam không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên {{đỏ|quân sự kỹ thuật}}, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. Hai bên miền Nam được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, {{đỏ|hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết}} từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. |- | 11 | '''''Chương III: {{đỏ|Về những người của các bên bị bắt và giam giữ}}''''' | '''''Chương III: {{đỏ|Việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhan viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ}}''''' |- | 12 | ''Điều 8:'' a) Việc trao thả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và {{đỏ|những nhân viên dân sự nước ngoài}} của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành {{đỏ|cùng một ngày với}} việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và {{đỏ|những nhân viên dân sự nước ngoài}} nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này. b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và {{đỏ|những nhân viên dân sự}} nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí bảo quản mồ mả của những người bị chết nhằm tạo điều kiện cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu. c) Vấn đề {{đỏ|những}} nhân viên dân sự Việt Nam khác {{đỏ|bị giam giữ}} ở miền Nam Việt Nam {{đỏ|và không bao gồm trong điều 8(a) ở trên}} sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21(b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm điều đó trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn {{đỏ|để}} giảm đau khổ và đoàn tụ gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng {{đỏ|hai tháng}} sau khi ngừng bắn có hiệu lực. | ''Điều 8:'' a) Việc trao thả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và {{đỏ|thường dân nước ngoài}} của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành {{đỏ|không chậm hơn ngày hoàn thành}} việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và {{đỏ|thường dân nước ngoài của các bên bị bắt}} nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này. b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và {{đỏ|thường dân}} nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí bảo quản mồ mả của những người bị chết nhằm tạo điều kiện cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu. c) Vấn đề {{đỏ|trao trả các}} nhân viên dân sự Việt Nam khác {{đỏ|bị bắt và giam giữ}} ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21(b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm điều đó trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm đau khổ và đoàn tụ gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng {{đỏ|chín mươi ngày}} sau khi ngừng bắn có hiệu lực. |- | 13 | '''''Chương IV: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam''''' | '''''Chương IV: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam''''' |- | 14 |rowspan="6"|''Điều 9:'' Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và chính phủ {{đỏ|Mỹ}} cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam dưới đây: a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông quan tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế. c) Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hoà bình ở miền Nam Việt Nam; giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực. d) {{đỏ|Mỹ tôn trọng quyền tự quyết của của nhân dân miền Nam Việt Nam}}; {{đỏ|Mỹ không cam kết với bất cứ xu hướng chính trị nào ở miền Nam Việt Nam}} {{đỏ|và không tìm cách áp đặt một Chính phủ thân Mỹ ở Sài Gòn}}. e) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ: :* Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia. :* Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. f) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thàn hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập một cơ cấu chính phủ lấy tên là Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc nhận chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng {{đỏ|ba tháng}} sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hoà bình, độc lập và dân chủ. g) Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành các hiệp định ký kết giữa hai bên, duy trì ngừng bắn, giữ vứng hoà bình, thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói ở điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức tổng tuyển cử. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thuơng mà thoả thuận. Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thoả thuận. h) Vấn đề lực luợng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có vấn đề các biện pháp giảm số quân của các lực lượng vũ trang hai bên và phục viên số quân đã giảm. i) Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập, tôn trọng những điều khoản quân sự của Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam quy định việc không tham gia bất cứ một liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quan sự, nhân viên quân sự trên đất mình. Miền Nam Việt Nam sẽ duy trì quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội, nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam. | ''Điều 9:'' Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và chính phủ {{đỏ|Hoa Kỳ}} cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam dưới đây: a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông quan tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế. c) {{đỏ|Các nước ngoài sẽ không áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam}}. |- | 15 | ''Điều 10:'' Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hoà bình ở miền Nam Việt Nam; giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực. |- | 16 | ''Điều 11:'' Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ: :* Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia. :* Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. |- | 17 | ''Điều 12:'' a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thàn hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập một cơ cấu chính phủ lấy tên là Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc nhận chức, {{đỏ|hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương để thành lập các hội đồng cấp dưới}}. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng {{đỏ|chín mươi ngày}} sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hoà bình, độc lập và dân chủ. b) Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói ở điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thuơng mà thoả thuận. Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thoả thuận. |- | 18 | ''Điều 13:'' Vấn đề lực luợng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm.{{đỏ|Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành công việc đó càng sớm càng tốt}}. |- | 19 | ''Điều 14:'' Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẽ sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của Chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam nói trong Điều 9(b). |- | 20 | '''''Chương V: Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa hai miền {{đỏ|Nam, Bắc}} Việt Nam''''' | '''''Chương V: Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa {{đỏ|miền Bắc và miền Nam}} Việt Nam''''' |- | 21 | ''Điều 10:'' {{đỏ|Như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam quy định}}, {{đỏ|giới tuyến quân sự ở}} vĩ tuyến 17 chỉ có tính chất tạm thời, không phải là ranh giới chính trị hoặc về lãnh thổ. Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam, không bên nào bị cuỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Nam và miền Bắc Việt Nam thỏa thuận. Trong khi chờ đợi thống nhất đất nước, miền Nam và miền Bắc Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về mọi mặt. Trong khi chờ đợi thống nhất đất nước, miền Nam và miền Bắc Việt Nam không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự, nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam quy định. | ''Điều 15:'' Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam, không bên nào bị cuỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Nam và miền Bắc Việt Nam thỏa thuận. Trong chờ đợi thống nhất: a) {{đỏ|Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại}} vĩ tuyến 17 chỉ có tính chất tạm thời, không phải là ranh giới chính trị hoặc về lãnh thổ, {{đỏ|như quy định trong đoạn 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève năm 1954}}. b) Miền Bắc và miền Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời. c) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. d) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự, nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam quy định. |- | 22 | '''''Chương VI: Các ban liên hợp quân sự - Ủy ban kiểm soát và giám sát - Hội nghị quốc tế''''' | '''''Chương VI: Các ban liên hợp quân sự, ủy ban kiểm soát và giám sát - Hội nghị quốc tế''''' |- | 23 | ''Điều 11:'' a) {{đỏ|Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa}} sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ phối hợp các bên trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định này. :* Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :* Điều 3(a) về việc ngừng bắn của lực lượng Mỹ và của các nước ngoài khác {{đỏ|đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}}; :* Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam; :* Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam quân Mỹ và quân của các nước ngoài khác {{đỏ|đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}}; :* Điều 6 về việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam; :* Điều 8 về việc những người của các bên bị bắt; b) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. c) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký kết Hiệp định này và chấm dứt hoạt động sau khi việc thi hành đoạn đầu của điều 2, điều 3(a), điều 5, điều 6 và điều 8 đã hoàn thành. d) Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phuơng tiện hoạt động và chi phí của Ban Liên hợp quân sự bốn bên. | ''Điều 16:'' a) {{đỏ|Các bên tham gia Hiệp định Paris về Việt Nam}} sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ phối hợp các bên trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định này. :* Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :* Điều 3(a) về việc ngừng bắn của lực lượng Mỹ và của các nước ngoài khác {{đỏ|nói trong điều này}}; :* Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam; :* Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam quân Mỹ và quân của các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a)}}; :* Điều 6 về việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ và của các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a)}}; :* Điều 8(a) về việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt; :* Điều 8(b) về việc các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu; b) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban Quóc tế kiểm soát và giám sát; c) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký kết Hiệp định này và chấm dứt hoạt động trong thời gian sau mươi ngày, sau khi khi việc rút quân của Hoa Kỳ và quân của các nước ngời khác đã nói ở điều 3(a) và việc trao trả nhân vien quân sự của các bên bị bắt và thuờng dân nước ngoài của các bên bị bắt đã hoàn thành; d) Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phuơng tiện hoạt động và chi phí của Ban Liên hợp quân sự bốn bên; |- | 24 | ''Điều 12:'' {{đỏ|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa}} sẽ cử ngay đại diện để thành lập một Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam có nhiệm vụ phối hợp hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định nay liên quan đến hai bên: :*Đoạn đầu của điều 2 về thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; :*Điều 3(b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; :*Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các quy định khác của điều này; :*Điều 9(h) về vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam; Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Sau khi Hiệp định này được ký kết, Ban Liên hợp quân sự hai bên sẽ thỏa thuận ngay những biện pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngừng bắn và giữ gìn hòa bình ở miền Nam Việt Nam. | ''Điều 17:'' a) {{đỏ|Hai bên miền Nam Việt Nam}} sẽ cử ngay đại diện để thành lập một Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam có nhiệm vụ phối hợp hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định nay liên quan đến hai bên: :*Đoạn đầu của điều 2 về thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; :*Điều 3(b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; :*Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các quy định khác của điều này; :*Điều 8(c) về việc trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở mièn Nam Việt Nam; :*Điều 13 về việc giảm quân số của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên quân số đã giảm; b) Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát; c) Sau khi Hiệp định này được ký kết, Ban Liên hợp quân sự hai bên sẽ thỏa thuận ngay những biện pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngừng bắn và giữ gìn hòa bình ở miền Nam Việt Nam; |- | 25 | ''Điều 13:'' a) Sau khi ký kết Hiệp định này, thành lập ngay Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. b) Cho đến khi Hội nghị Quốc tế {{đỏ|bảo đảm}} có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với bốn bên những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này: :*Đoạn đầu của điều 2 về việc ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(a) về việc ngừng bắn của {{đỏ|các lực lượng Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng Hoà}}; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam. :*Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam {{đỏ|quân Mỹ và quân của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}}; :*Điều 6 về việc hủy bỏ các căn cứ quân sự {{đỏ|của Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hòa}} ở miền Nam Việt Nam. :*Điều 8 về việc {{đỏ|những người của các bên bị bắt}}. Ủy ban Quốc tế vè gián sát và kiểm soát {{đỏ|sẽ}} lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Bốn bên sẽ thỏa thuận ngày về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Các bên sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ kiểm soát đó. c) Cho đến khi Hội nghị quốc tế {{đỏ|bảo đảm}} có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này: :*Đoạn đầu của điều 2 về việc ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(b) về việc ngừng bắn giữa hai bên ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa {{đỏ|các bên}} ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các {{đỏ|quy định}} khác của điều này; :*Điều 9(b) về tổng tuyển cử tự do, dân chủ ở miền Nam Việt Nam; :*{{đỏ|Điều 9(h) về những thoả thuận đạt được giữa hai bên miền Nam Việt Nam về việc giảm số quân của các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam và việc phục viên quân số giảm đó}}. Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát {{đỏ|sẽ}} lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thỏa thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ {{đỏ|kiểm soát}} đó. d) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ gồm đại diện của bốn nước: Ba Lan, Canada, Hunggari, Indonesia. {{đỏ|Đại diện các nước trong}} Ủy ban Quốc tế sẽ luân phiên làm chủ tịch trong từng thời gian do Ủy ban Quốc tế quy định. e) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam. f) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. g) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực ở Việt Nam. Đối với các điều liên quan đến bốn bên nói trong điều {{đỏ|13(b)}}, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình khi nhiệm vụ kiểm soát và giám sát của Ủy ban đối với các điều đó đã hoàn thành. Đối với các điều liên quan đến hai bên miền Nam Việt Nam nói ở điều {{đỏ|13(c)}}, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của Chính phủ được thành lập sau Tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói ở điều 9(b). h) Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về tổ chức, phương tiện hoạt động và chi phí cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Mối quan hệ giữa Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Hội nghị Quốc tế bảo đảm nói ở điều 14 sẽ do Ủy ban Quốc tế và Hội nghị thỏa thuận. | ''Điều 18:'' a) Sau khi ký kết Hiệp định này, thành lập ngay Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. b) Cho đến khi Hội nghị Quốc tế {{đỏ|nói ở điều 19}} có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với bốn bên những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này: :*Đoạn đầu của điều 2 về việc ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam {{đỏ|quân đội của Hoa Kỳ}} và {{đỏ|quân đội}} của các nước khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a)}}. :*Điều 6 về việc hủy bỏ các căn cứ quân sự {{đỏ|của Hoa Kỳ}} và của các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a)}}. :*Điều 8(a) về việc {{đỏ|trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt}}. Ủy ban Quốc tế về giám sát và kiểm soát lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Các bên sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó. c) Cho đến khi Hội nghị quốc tế có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này: :*Đoạn đầu của điều 2 về việc ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, {{đỏ|sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình}}; :*Điều 3(b) về việc ngừng bắn giữa hai bên ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam , {{đỏ|sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình}}; :*Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các quy định khác của điều này; :*Điều 8(c) về việc trao trả các nhan viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam. :*Điều 9(b) về tổng tuyển cử tự do và dân chủ ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và việc phục viên quân số giảm. Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thỏa thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó. d) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ gồm đại diện của bốn nước: Ba Lan, Canada, Hunggari, Indonesia. {{đỏ|Các thành viên của Ủy ban Quốc tế}} sẽ luân phiên làm chủ tịch trong từng thời gian do Ủy ban Quốc tế quy định. e) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam. f) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. g) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực ở Việt Nam. Đối với các điều liên quan đến bốn bên nói trong điều {{đỏ|18(b)}}, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình khi nhiệm vụ kiểm soát và giám sát của Ủy ban đối với các điều đó đã hoàn thành. Đối với các điều liên quan đến hai bên miền Nam Việt Nam nói ở điều {{đỏ|18(c)}}, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của Chính phủ được thành lập sau Tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói ở điều 9(b). h) Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về tổ chức, phương tiện hoạt động và chi phí cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Mối quan hệ giữa Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Hội nghị Quốc tế bảo đảm nói ở điều 14 sẽ do Ủy ban Quốc tế và Hội nghị thỏa thuận. |- | 26 | ''Điều 14:'' Các bên thỏa thuận về việc triệu tập Hội nghị Quốc tế trong vòng {{đỏ|30}} ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã được ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần vào hòa bình và bảo đảm hòa bình ở Đông Dương. Việt Nam dân chủ cộng hòa và {{đỏ|Mỹ}} sẽ đề nghị các bên sau đây tham gia Hội nghị quốc tế này: Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Pháp, Liên hiệp Vưong Quốc Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan, bốn nước trong Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cũng với các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam. | ''Điều 19:'' Các bên thỏa thuận về việc triệu tập Hội nghị Quốc tế trong vòng {{đỏ|ba mươi}} ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã được ký kết; bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần vào hòa bình và bảo đảm hòa bình ở Đông Dương. Việt Nam dân chủ cộng hòa và {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ {{đỏ|thay mặt các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam}} đề nghị các bên sau đây tham gia Hội nghị quốc tế này: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Pháp, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, Liên hiệp Vưong Quốc Anh, bốn nước trong Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cũng với các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam. |- | 27 | '''''Chương VII: Đối với Cam Pu Chia và Lào''''' | '''''Chương VII: Đối với Cam Pu Chia và Lào''''' |- | 30 | ''Điều 15'' a) {{đỏ|Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà}}, {{đỏ|Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam}}, {{đỏ|Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa}} triệt để tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Cam Pu Chia và nhân dân Lào đã đuợc các {{đỏ|Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương}} và Hiệp định Hiệp định Genève năm 1962 về Lào công nhận: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ các quốc gia đó. {{đỏ|Các Chính phủ nói trên}} tôn trọng nền trung lập của Cam Pu Chia và Lào. {{đỏ|Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà}}, {{đỏ|Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam}}, {{đỏ|Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa}} cam kết không dùng {{đỏ|lãnh thổ của Cam Pu Chia và Lào}} để xâm phạm chủ quyền và an ninh của các nước khác. b) Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở {{đỏ|Lào và Cam Pu Chia}}, rút hết và không đưa trở lại vào hai nuớc đó quân đội, có vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. c) Công việc nội bộ của Cam Pu Chia và Lào do nhân dân mỗi nước này giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài. d) Những vấn đề liên quan giữa {{đỏ|ba nuớc Đông Dương}} sẽ do các bên Đông Dương giải quyết trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. | ''Điều 20:'' a) {{đỏ|Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam phải}} triệt để tôn trọng {{đỏ|Hiệp định Genève năm 1954 về Cam Pu Chia}} và Hiệp định Genève năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Cam Pu Chia và nhân dân Lào: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ các quốc gia đó. {{đỏ|Các bên phải}} tôn trọng nền trung lập của Cam Pu Chia và Lào. {{đỏ|Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam}} cam kết không dùng {{đỏ|lãnh thổ của Cam Pu Chia và lãnh thổ của Lào}} để xâm phạm chủ quyền và an ninh {{đỏ|của nhau}} và của các nước khác. b) Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở {{đỏ|Cam Pu Chia và Lào}}, rút hết và không đưa trở lại vào hai nuớc đó quân đội, có vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. c) Công việc nội bộ của Cam Pu Chia và Lào {{đỏ|phải}} do nhân dân mỗi nước này giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài. d) Những vấn đề liên quan giữa {{đỏ|các nuớc Đông Dương}} sẽ do các bên Đông Dương giải quyết trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. |- | 31 | '''''Chương VIII: Quan hệ giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa {{đỏ|và Mỹ}}''''' | '''''Chương VIII: Quan hệ giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa {{đỏ|và Hoa Kỳ}}''''' |- | 32 | ''Điều 16:'' {{đỏ|Nước Mỹ}} mong rằng Hiệp định này sẽ mang lại một thời kỳ hòa giải với {{đỏ|nước}} Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như với tất cả các dân tộc ở Đông Dương. {{đỏ|Thi hành}} chính sách truyền thống của mình, {{đỏ|nước Mỹ}} sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở {{đỏ|nước}} Việt Nam dân chủ cộng hoà và toàn Đông Dương. | ''Điều 21:'' {{đỏ|Hoa Kỳ}} mong rằng Hiệp định này sẽ mang lại một thời kỳ hòa giải với Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như với tất cả các dân tộc ở Đông Dương. {{đỏ|Theo}} chính sách truyền thống của mình, {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hoà và toàn Đông Dương. |- | 33 | ''Điều 17'' Việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam và việc thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập những quan hệ mới bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa {{đỏ|và Mỹ}}, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, những việc đó sẽ bảo đảm hòa bình vững chắc ở Việt Nam và góp phần giữ gìn hòa bình lâu dài ở Đông Dương và Đông Nam Á. | ''Điều 22'' Việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam và việc thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập những quan hệ mới bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa {{đỏ|và Hoa Kỳ}}, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, những việc đó sẽ bảo đảm hòa bình vững chắc ở Việt Nam và góp phần giữ gìn hòa bình lâu dài ở Đông Dương và Đông Nam Á. |- | 34 | '''''Chương IX: Những điều khoản khác''''' | '''''Chương IX: Những điều khoản khác''''' |- | 35 | ''Điều 18:'' {{đỏ|Hiệp định này bắt đầu}} có hiệu lực {{đỏ|kể từ khi ký}}. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành {{đỏ|nghiêm chỉnh}} Hiệp định này. Làm tại Paris ngày .... tháng ... năm 1972, bằng tiếng Việt Nam, tiếng Anh {{đỏ|và tiếng Pháp}}. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh là những văn bản chính thức và có giá trị như nhau. {{đỏ|Bản tiếng Pháp để tham khảo và sẽ soạn sau}}. | ''Điều 23:'' Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sẽ có hiệu lực khi văn kiện này được Bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chính phủ Hoa Kỳ ký và khi một văn kiện cùng nội dung được Bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chính phủ Hoa Kỳ và Bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ký. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành triệt để Hiệp định này nghị định thư của Hiệp định. Làm tại Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973, bằng tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh là những văn bản chính thức và có giá trị như nhau. |- | 36 | '''''Chức danh đề ký và tên ký''''' | '''''Chức danh đề ký và tên ký''''' |- | 37 | <center>''chưa có''<center> | <center>'''Thay mặt Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ'''<center> <center>'''''William P. Roger'''''<center> <center>''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> <center>'''Thay mặt Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà'''<center> <center> '''''Nguyễn Duy Trinh'''''<center> <center> ''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> |} ===Bản đuợc bốn bên Hoa Kỳ, Việt Nam dân chủ cộng hoà, Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký=== '''Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam''' Các bên tham gia hội nghị Paris về Việt Nam; Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần củng cố hòa bình ở Châu Á và trên thế giới; Đã thỏa thuận, cam kết tôn trọng và thu hành những điều khoản sau đây: (''Nguyên văn các điều từ điều 1 đến điều 22 của bản Hiệp định Paris 1973 do hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa ký'' - ''xem ở trên'') '''''Chương IX''''' '''''Những điều khoản khác''''' ''Điều 23:'' Hiệp định này sẽ có hiệu lực khi đại diện toàn quyền của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký. Tất các các bên có liên quan sẽ thi hành triệt để Hiệp định này và các Nghị định thư của hiệp định. Làm tại Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973, bằng tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh là những văn bản chính thức và có giá trị như nhau. {| class="wikitable" |- | <center>'''Thay mặt Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà'''<center> <center> '''''Nguyễn Duy Trinh'''''<center> <center> ''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> | <center>'''Thay mặt Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ'''<center> <center> '''''William P. Roger'''''<center> <center> ''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> | <center>'''Thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam'''<center> <center> '''''Nguyễn Thị Bình'''''<center> <center> ''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> | <center>'''Thay mặt Chính phủ Việt Nam cộng hoà'''<center> <center> '''''Trần Văn Lắm'''''<center> <center> ''Tổng truởng Bộ ngoại giao''<center> |} hzlhmk4h9zfs29sainv8ao1kuoo5929 206021 206020 2026-08-19T20:02:52Z ~2026-45381-94 20524 /* */ 206021 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = So sánh Bản thỏa thuận và Hiệp định Paris 1973 chính thức | tác giả = | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ghi chú = {{Bài chính Wikipedia|Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1972}} | chủ đề = Hiệp định Paris 1973 và các văn bản có liên quan }} {| class="wikitable" |- ! '''Thứ tự''' ! '''Bản thoả thuận trong tháng 10-1972 giữa đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn đàm phán Hoa Kỳ''' ! '''Bản được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ ký chính thức tại Paris ngày 27-1-1973''' |- | 1 | '''''Lời nói đầu''''': Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà với sự thoả thuận của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam; Chính phủ Hoa Kỳ với sự thoả thuận của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà; Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần củng cố hoà bình ở Châu Á và thế giới; Đã thoả thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây: | '''''Lời nói đầu''''': Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà với sự thoả thuận của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam; Chính phủ Hoa Kỳ với sự thoả thuận của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà; Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần củng cố hoà bình ở Châu Á và thế giới; Đã thoả thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây: |- | 2 | '''''Chương I: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam''''' | '''''Chương I: Các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam''''' |- | 3 | ''Điều 1:'' {{đỏ|Mỹ}} tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève {{đỏ|năm 1954}} về Việt Nam đã công nhận. | ''Điều 1:'' {{đỏ|Hoa Kỳ và các nước khác}} tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève năm {{đỏ|một nghìn chín trăm năm mươi tư (1954)}} về Việt Nam đã công nhận. |- | 4 | '''''Chương II: Chấm dứt chiến sự - rút quân''''' | '''''Chương II: Chấm dứt chiến sự - rút quân''''' |- | 5 | ''Điều 2:'' Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ 24 giờ {{đỏ|(giờ Đông Dương) ngày... tháng... năm 1972, tức 17 giờ (giờ GMT) ngày... tháng... năm 1972}}. Cùng ngày giờ nói trên, {{đỏ|Mỹ}} sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của {{đỏ|Mỹ}} chống lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng mọi lực luợng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi của Việt Nam dân chủ cộng hoà. {{đỏ|Mỹ}} sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam ngay sau khi Hiệp định này có hiệu lực. Việc chấm dứt chiến sự nói trong điều này là {{đỏ|lâu dài và vững chắc}}. | ''Điều 2:'' Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ 24 giờ {{đỏ|(giờ GMT) ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba}}. Cùng ngày giờ nói trên, {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của {{đỏ|Hoa Kỳ}} chống lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng mọi lực luợng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi của Việt Nam dân chủ cộng hoà. {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam ngay sau khi Hiệp định này có hiệu lực. Việc chấm dứt chiến sự nói trong điều này là {{đỏ|vững chắc và không thời hạn}}. |- | 6 | ''Điều 3:''Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc. Bắt đầu từ khi ngừng bắn: a) Những lực lượng của {{đỏ|Mỹ}} và các nước ngoài khác đồng minh của {{đỏ|Mỹ}} và của Việt Nam Cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban Liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều {{đỏ|11}} sẽ quy định nhữn thể thức cụ thể. b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều {{đỏ|12}} sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân. c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hành động tấn công nhau và {{đỏ|nghiêm chỉnh}} tuân theo những điều quy định sau đây: :*Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển :*Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên. | ''Điều 3:''Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc. Bắt đầu từ khi ngừng bắn: a) Những lực lượng của {{đỏ|Hoa Kỳ}} và các nước ngoài khác đồng minh của {{đỏ|Hoa Kỳ}} và của Việt Nam Cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban Liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều {{đỏ|16}} sẽ quy định nhữn thể thức cụ thể. b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều {{đỏ|17}} sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân. c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hành động tấn công nhau và {{đỏ|triệt để}} tuân theo những điều quy định sau đây: :*Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển :*Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên. |- | 7 | ''Điều 4:'' {{đỏ|Mỹ}} sẽ không tiếp tục dinh líu quân sự {{đỏ|và}} can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. | ''Điều 4:'' {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ không tiếp tục dinh líu quân sự {{đỏ|hoặc}} can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. |- | 8 | ''Điều 5:'' Trong thời hạn {{đỏ|60}} ngày kể từ ngày ký Hiệp định này, việc rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên {{đỏ|kỹ thuật quân sự}}, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và công cụ chiến tranh của {{đỏ|Mỹ}} và các nước ngoài khác {{đỏ|đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}} {{đỏ|sẽ hoàn thành. Cố vấn}} của các nước nói trên cho các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó. | ''Điều 5:'' Trong thời hạn {{đỏ|sáu mươi}} ngày kể từ ngày ký Hiệp định này, {{đỏ|sẽ hoàn thành}} việc rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên {{đỏ|quân sự kỹ thuật}}, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và công cụ chiến tranh của {{đỏ|Hoa Kỳ}} và các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a). Cố vấn quân sự}} của các nước nói trên cho {{đỏ|tất cả}} các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó. |- | 9 | ''Điều 6:'' Việc huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự của {{đỏ|Mỹ}} và các nước ngoài khác {{đỏ|đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}} ở miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành trong thời hạn {{đỏ|60}} ngày kể từ khi ký Hiệp định này. | ''Điều 6:'' Việc huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự {{đỏ|ở miền Nam Việt Nam}} của {{đỏ|Hoa Kỳ}} và các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở Điều 3(a)}} sẽ hoàn thành trong thời hạn {{đỏ|sáu mươi}} ngày kể từ khi ký Hiệp định này. |- | 10 | ''Điều 7:'' Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập Chính phủ quy định trong điều 9(b) và {{đỏ|9(i)}} của Hiệp định này, hai miền Nam Việt Nam không được nhận {{đỏ|việc}} đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên {{đỏ|kỹ thuật quân sự}}, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. Hai bên miền Nam {{đỏ|sẽ}} được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, {{đỏ|bị hao mòn hoặc hư hỏng}} từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. | ''Điều 7:'' Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến ngày thành lập Chính phủ quy định trong điều 9(b) và {{đỏ|Điều 14}} của Hiệp định này, hai miền Nam Việt Nam không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên {{đỏ|quân sự kỹ thuật}}, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. Hai bên miền Nam được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, {{đỏ|hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết}} từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. |- | 11 | '''''Chương III: {{đỏ|Về những người của các bên bị bắt và giam giữ}}''''' | '''''Chương III: {{đỏ|Việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhan viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ}}''''' |- | 12 | ''Điều 8:'' a) Việc trao thả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và {{đỏ|những nhân viên dân sự nước ngoài}} của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành {{đỏ|cùng một ngày với}} việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và {{đỏ|những nhân viên dân sự nước ngoài}} nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này. b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và {{đỏ|những nhân viên dân sự}} nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí bảo quản mồ mả của những người bị chết nhằm tạo điều kiện cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu. c) Vấn đề {{đỏ|những}} nhân viên dân sự Việt Nam khác {{đỏ|bị giam giữ}} ở miền Nam Việt Nam {{đỏ|và không bao gồm trong điều 8(a) ở trên}} sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21(b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm điều đó trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn {{đỏ|để}} giảm đau khổ và đoàn tụ gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng {{đỏ|hai tháng}} sau khi ngừng bắn có hiệu lực. | ''Điều 8:'' a) Việc trao thả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và {{đỏ|thường dân nước ngoài}} của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành {{đỏ|không chậm hơn ngày hoàn thành}} việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và {{đỏ|thường dân nước ngoài của các bên bị bắt}} nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này. b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và {{đỏ|thường dân}} nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí bảo quản mồ mả của những người bị chết nhằm tạo điều kiện cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu. c) Vấn đề {{đỏ|trao trả các}} nhân viên dân sự Việt Nam khác {{đỏ|bị bắt và giam giữ}} ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21(b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm điều đó trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm đau khổ và đoàn tụ gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng {{đỏ|chín mươi ngày}} sau khi ngừng bắn có hiệu lực. |- | 13 | '''''Chương IV: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam''''' | '''''Chương IV: Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam''''' |- | 14 |rowspan="6"|''Điều 9:'' Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và chính phủ {{đỏ|Mỹ}} cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam dưới đây: a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông quan tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế. c) Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hoà bình ở miền Nam Việt Nam; giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực. d) {{đỏ|Mỹ tôn trọng quyền tự quyết của của nhân dân miền Nam Việt Nam}}; {{đỏ|Mỹ không cam kết với bất cứ xu hướng chính trị nào ở miền Nam Việt Nam}} {{đỏ|và không tìm cách áp đặt một Chính phủ thân Mỹ ở Sài Gòn}}. e) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ: :* Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia. :* Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. f) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thàn hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập một cơ cấu chính phủ lấy tên là Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc nhận chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng {{đỏ|ba tháng}} sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hoà bình, độc lập và dân chủ. g) Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành các hiệp định ký kết giữa hai bên, duy trì ngừng bắn, giữ vứng hoà bình, thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói ở điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức tổng tuyển cử. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thuơng mà thoả thuận. Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thoả thuận. h) Vấn đề lực luợng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có vấn đề các biện pháp giảm số quân của các lực lượng vũ trang hai bên và phục viên số quân đã giảm. i) Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập, tôn trọng những điều khoản quân sự của Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam quy định việc không tham gia bất cứ một liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quan sự, nhân viên quân sự trên đất mình. Miền Nam Việt Nam sẽ duy trì quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội, nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam. | ''Điều 9:'' Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và chính phủ {{đỏ|Hoa Kỳ}} cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam dưới đây: a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông quan tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế. c) {{đỏ|Các nước ngoài sẽ không áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam}}. |- | 15 | ''Điều 10:'' Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hoà bình ở miền Nam Việt Nam; giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực. |- | 16 | ''Điều 11:'' Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ: :* Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia. :* Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh. |- | 17 | ''Điều 12:'' a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thàn hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập một cơ cấu chính phủ lấy tên là Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc nhận chức, {{đỏ|hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương để thành lập các hội đồng cấp dưới}}. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng {{đỏ|chín mươi ngày}} sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hoà bình, độc lập và dân chủ. b) Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói ở điều 9(b) và quy định thủ tục và thể thức tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thuơng mà thoả thuận. Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phuơng theo như hai bên miền Nam Việt Nam thoả thuận. |- | 18 | ''Điều 13:'' Vấn đề lực luợng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm.{{đỏ|Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành công việc đó càng sớm càng tốt}}. |- | 19 | ''Điều 14:'' Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẽ sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của Chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam nói trong Điều 9(b). |- | 20 | '''''Chương V: Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa hai miền {{đỏ|Nam, Bắc}} Việt Nam''''' | '''''Chương V: Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ giữa {{đỏ|miền Bắc và miền Nam}} Việt Nam''''' |- | 21 | ''Điều 10:'' {{đỏ|Như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam quy định}}, {{đỏ|giới tuyến quân sự ở}} vĩ tuyến 17 chỉ có tính chất tạm thời, không phải là ranh giới chính trị hoặc về lãnh thổ. Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam, không bên nào bị cuỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Nam và miền Bắc Việt Nam thỏa thuận. Trong khi chờ đợi thống nhất đất nước, miền Nam và miền Bắc Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về mọi mặt. Trong khi chờ đợi thống nhất đất nước, miền Nam và miền Bắc Việt Nam không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự, nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam quy định. | ''Điều 15:'' Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam, không bên nào bị cuỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Nam và miền Bắc Việt Nam thỏa thuận. Trong chờ đợi thống nhất: a) {{đỏ|Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại}} vĩ tuyến 17 chỉ có tính chất tạm thời, không phải là ranh giới chính trị hoặc về lãnh thổ, {{đỏ|như quy định trong đoạn 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève năm 1954}}. b) Miền Bắc và miền Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời. c) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lập lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời. d) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự, nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam quy định. |- | 22 | '''''Chương VI: Các ban liên hợp quân sự - Ủy ban kiểm soát và giám sát - Hội nghị quốc tế''''' | '''''Chương VI: Các ban liên hợp quân sự, ủy ban kiểm soát và giám sát - Hội nghị quốc tế''''' |- | 23 | ''Điều 11:'' a) {{đỏ|Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa}} sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ phối hợp các bên trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định này. :* Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :* Điều 3(a) về việc ngừng bắn của lực lượng Mỹ và của các nước ngoài khác {{đỏ|đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}}; :* Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam; :* Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam quân Mỹ và quân của các nước ngoài khác {{đỏ|đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}}; :* Điều 6 về việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam; :* Điều 8 về việc những người của các bên bị bắt; b) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. c) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký kết Hiệp định này và chấm dứt hoạt động sau khi việc thi hành đoạn đầu của điều 2, điều 3(a), điều 5, điều 6 và điều 8 đã hoàn thành. d) Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phuơng tiện hoạt động và chi phí của Ban Liên hợp quân sự bốn bên. | ''Điều 16:'' a) {{đỏ|Các bên tham gia Hiệp định Paris về Việt Nam}} sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ phối hợp các bên trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định này. :* Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :* Điều 3(a) về việc ngừng bắn của lực lượng Mỹ và của các nước ngoài khác {{đỏ|nói trong điều này}}; :* Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam; :* Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam quân Mỹ và quân của các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a)}}; :* Điều 6 về việc hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ và của các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a)}}; :* Điều 8(a) về việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt; :* Điều 8(b) về việc các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu; b) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban Quóc tế kiểm soát và giám sát; c) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký kết Hiệp định này và chấm dứt hoạt động trong thời gian sau mươi ngày, sau khi khi việc rút quân của Hoa Kỳ và quân của các nước ngời khác đã nói ở điều 3(a) và việc trao trả nhân vien quân sự của các bên bị bắt và thuờng dân nước ngoài của các bên bị bắt đã hoàn thành; d) Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phuơng tiện hoạt động và chi phí của Ban Liên hợp quân sự bốn bên; |- | 24 | ''Điều 12:'' {{đỏ|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa}} sẽ cử ngay đại diện để thành lập một Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam có nhiệm vụ phối hợp hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định nay liên quan đến hai bên: :*Đoạn đầu của điều 2 về thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; :*Điều 3(b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; :*Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các quy định khác của điều này; :*Điều 9(h) về vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam; Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Sau khi Hiệp định này được ký kết, Ban Liên hợp quân sự hai bên sẽ thỏa thuận ngay những biện pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngừng bắn và giữ gìn hòa bình ở miền Nam Việt Nam. | ''Điều 17:'' a) {{đỏ|Hai bên miền Nam Việt Nam}} sẽ cử ngay đại diện để thành lập một Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam có nhiệm vụ phối hợp hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định nay liên quan đến hai bên: :*Đoạn đầu của điều 2 về thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; :*Điều 3(b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình; :*Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các quy định khác của điều này; :*Điều 8(c) về việc trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở mièn Nam Việt Nam; :*Điều 13 về việc giảm quân số của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên quân số đã giảm; b) Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát; c) Sau khi Hiệp định này được ký kết, Ban Liên hợp quân sự hai bên sẽ thỏa thuận ngay những biện pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngừng bắn và giữ gìn hòa bình ở miền Nam Việt Nam; |- | 25 | ''Điều 13:'' a) Sau khi ký kết Hiệp định này, thành lập ngay Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. b) Cho đến khi Hội nghị Quốc tế {{đỏ|bảo đảm}} có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với bốn bên những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này: :*Đoạn đầu của điều 2 về việc ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(a) về việc ngừng bắn của {{đỏ|các lực lượng Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng Hoà}}; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam. :*Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam {{đỏ|quân Mỹ và quân của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà}}; :*Điều 6 về việc hủy bỏ các căn cứ quân sự {{đỏ|của Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hòa}} ở miền Nam Việt Nam. :*Điều 8 về việc {{đỏ|những người của các bên bị bắt}}. Ủy ban Quốc tế vè gián sát và kiểm soát {{đỏ|sẽ}} lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Bốn bên sẽ thỏa thuận ngày về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Các bên sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ kiểm soát đó. c) Cho đến khi Hội nghị quốc tế {{đỏ|bảo đảm}} có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này: :*Đoạn đầu của điều 2 về việc ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(b) về việc ngừng bắn giữa hai bên ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa {{đỏ|các bên}} ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các {{đỏ|quy định}} khác của điều này; :*Điều 9(b) về tổng tuyển cử tự do, dân chủ ở miền Nam Việt Nam; :*{{đỏ|Điều 9(h) về những thoả thuận đạt được giữa hai bên miền Nam Việt Nam về việc giảm số quân của các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam và việc phục viên quân số giảm đó}}. Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát {{đỏ|sẽ}} lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thỏa thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ {{đỏ|kiểm soát}} đó. d) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ gồm đại diện của bốn nước: Ba Lan, Canada, Hunggari, Indonesia. {{đỏ|Đại diện các nước trong}} Ủy ban Quốc tế sẽ luân phiên làm chủ tịch trong từng thời gian do Ủy ban Quốc tế quy định. e) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam. f) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. g) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực ở Việt Nam. Đối với các điều liên quan đến bốn bên nói trong điều {{đỏ|13(b)}}, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình khi nhiệm vụ kiểm soát và giám sát của Ủy ban đối với các điều đó đã hoàn thành. Đối với các điều liên quan đến hai bên miền Nam Việt Nam nói ở điều {{đỏ|13(c)}}, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của Chính phủ được thành lập sau Tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói ở điều 9(b). h) Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về tổ chức, phương tiện hoạt động và chi phí cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Mối quan hệ giữa Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Hội nghị Quốc tế bảo đảm nói ở điều 14 sẽ do Ủy ban Quốc tế và Hội nghị thỏa thuận. | ''Điều 18:'' a) Sau khi ký kết Hiệp định này, thành lập ngay Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. b) Cho đến khi Hội nghị Quốc tế {{đỏ|nói ở điều 19}} có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với bốn bên những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này: :*Đoạn đầu của điều 2 về việc ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam {{đỏ|quân đội của Hoa Kỳ}} và {{đỏ|quân đội}} của các nước khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a)}}. :*Điều 6 về việc hủy bỏ các căn cứ quân sự {{đỏ|của Hoa Kỳ}} và của các nước ngoài khác {{đỏ|đã nói ở điều 3(a)}}. :*Điều 8(a) về việc {{đỏ|trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt}}. Ủy ban Quốc tế về giám sát và kiểm soát lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Các bên sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó. c) Cho đến khi Hội nghị quốc tế có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này: :*Đoạn đầu của điều 2 về việc ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, {{đỏ|sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình}}; :*Điều 3(b) về việc ngừng bắn giữa hai bên ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 3(c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam , {{đỏ|sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình}}; :*Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các quy định khác của điều này; :*Điều 8(c) về việc trao trả các nhan viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam. :*Điều 9(b) về tổng tuyển cử tự do và dân chủ ở miền Nam Việt Nam; :*Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và việc phục viên quân số giảm. Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thỏa thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó. d) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ gồm đại diện của bốn nước: Ba Lan, Canada, Hunggari, Indonesia. {{đỏ|Các thành viên của Ủy ban Quốc tế}} sẽ luân phiên làm chủ tịch trong từng thời gian do Ủy ban Quốc tế quy định. e) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam. f) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. g) Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực ở Việt Nam. Đối với các điều liên quan đến bốn bên nói trong điều {{đỏ|18(b)}}, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình khi nhiệm vụ kiểm soát và giám sát của Ủy ban đối với các điều đó đã hoàn thành. Đối với các điều liên quan đến hai bên miền Nam Việt Nam nói ở điều {{đỏ|18(c)}}, Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của Chính phủ được thành lập sau Tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói ở điều 9(b). h) Bốn bên sẽ thỏa thuận ngay về tổ chức, phương tiện hoạt động và chi phí cho Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Mối quan hệ giữa Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Hội nghị Quốc tế bảo đảm nói ở điều 14 sẽ do Ủy ban Quốc tế và Hội nghị thỏa thuận. |- | 26 | ''Điều 14:'' Các bên thỏa thuận về việc triệu tập Hội nghị Quốc tế trong vòng {{đỏ|30}} ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã được ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần vào hòa bình và bảo đảm hòa bình ở Đông Dương. Việt Nam dân chủ cộng hòa và {{đỏ|Mỹ}} sẽ đề nghị các bên sau đây tham gia Hội nghị quốc tế này: Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Pháp, Liên hiệp Vưong Quốc Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan, bốn nước trong Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cũng với các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam. | ''Điều 19:'' Các bên thỏa thuận về việc triệu tập Hội nghị Quốc tế trong vòng {{đỏ|ba mươi}} ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã được ký kết; bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần vào hòa bình và bảo đảm hòa bình ở Đông Dương. Việt Nam dân chủ cộng hòa và {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ {{đỏ|thay mặt các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam}} đề nghị các bên sau đây tham gia Hội nghị quốc tế này: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Pháp, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, Liên hiệp Vưong Quốc Anh, bốn nước trong Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cũng với các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam. |- | 27 | '''''Chương VII: Đối với Cam Pu Chia và Lào''''' | '''''Chương VII: Đối với Cam Pu Chia và Lào''''' |- | 30 | ''Điều 15'' a) {{đỏ|Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà}}, {{đỏ|Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam}}, {{đỏ|Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa}} triệt để tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Cam Pu Chia và nhân dân Lào đã đuợc các {{đỏ|Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương}} và Hiệp định Hiệp định Genève năm 1962 về Lào công nhận: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ các quốc gia đó. {{đỏ|Các Chính phủ nói trên}} tôn trọng nền trung lập của Cam Pu Chia và Lào. {{đỏ|Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà}}, {{đỏ|Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam}}, {{đỏ|Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa}} cam kết không dùng {{đỏ|lãnh thổ của Cam Pu Chia và Lào}} để xâm phạm chủ quyền và an ninh của các nước khác. b) Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở {{đỏ|Lào và Cam Pu Chia}}, rút hết và không đưa trở lại vào hai nuớc đó quân đội, có vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. c) Công việc nội bộ của Cam Pu Chia và Lào do nhân dân mỗi nước này giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài. d) Những vấn đề liên quan giữa {{đỏ|ba nuớc Đông Dương}} sẽ do các bên Đông Dương giải quyết trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. | ''Điều 20:'' a) {{đỏ|Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam phải}} triệt để tôn trọng {{đỏ|Hiệp định Genève năm 1954 về Cam Pu Chia}} và Hiệp định Genève năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Cam Pu Chia và nhân dân Lào: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ các quốc gia đó. {{đỏ|Các bên phải}} tôn trọng nền trung lập của Cam Pu Chia và Lào. {{đỏ|Các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam}} cam kết không dùng {{đỏ|lãnh thổ của Cam Pu Chia và lãnh thổ của Lào}} để xâm phạm chủ quyền và an ninh {{đỏ|của nhau}} và của các nước khác. b) Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở {{đỏ|Cam Pu Chia và Lào}}, rút hết và không đưa trở lại vào hai nuớc đó quân đội, có vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh. c) Công việc nội bộ của Cam Pu Chia và Lào {{đỏ|phải}} do nhân dân mỗi nước này giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài. d) Những vấn đề liên quan giữa {{đỏ|các nuớc Đông Dương}} sẽ do các bên Đông Dương giải quyết trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. |- | 31 | '''''Chương VIII: Quan hệ giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa {{đỏ|và Mỹ}}''''' | '''''Chương VIII: Quan hệ giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa {{đỏ|và Hoa Kỳ}}''''' |- | 32 | ''Điều 16:'' {{đỏ|Nước Mỹ}} mong rằng Hiệp định này sẽ mang lại một thời kỳ hòa giải với {{đỏ|nước}} Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như với tất cả các dân tộc ở Đông Dương. {{đỏ|Thi hành}} chính sách truyền thống của mình, {{đỏ|nước Mỹ}} sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở {{đỏ|nước}} Việt Nam dân chủ cộng hoà và toàn Đông Dương. | ''Điều 21:'' {{đỏ|Hoa Kỳ}} mong rằng Hiệp định này sẽ mang lại một thời kỳ hòa giải với Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như với tất cả các dân tộc ở Đông Dương. {{đỏ|Theo}} chính sách truyền thống của mình, {{đỏ|Hoa Kỳ}} sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hoà và toàn Đông Dương. |- | 33 | ''Điều 17'' Việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam và việc thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập những quan hệ mới bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa {{đỏ|và Mỹ}}, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, những việc đó sẽ bảo đảm hòa bình vững chắc ở Việt Nam và góp phần giữ gìn hòa bình lâu dài ở Đông Dương và Đông Nam Á. | ''Điều 22'' Việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam và việc thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập những quan hệ mới bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa {{đỏ|và Hoa Kỳ}}, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, những việc đó sẽ bảo đảm hòa bình vững chắc ở Việt Nam và góp phần giữ gìn hòa bình lâu dài ở Đông Dương và Đông Nam Á. |- | 34 | '''''Chương IX: Những điều khoản khác''''' | '''''Chương IX: Những điều khoản khác''''' |- | 35 | ''Điều 18:'' {{đỏ|Hiệp định này bắt đầu}} có hiệu lực {{đỏ|kể từ khi ký}}. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành {{đỏ|nghiêm chỉnh}} Hiệp định này. Làm tại Paris ngày .... tháng ... năm 1972, bằng tiếng Việt Nam, tiếng Anh {{đỏ|và tiếng Pháp}}. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh là những văn bản chính thức và có giá trị như nhau. {{đỏ|Bản tiếng Pháp để tham khảo và sẽ soạn sau}}. | ''Điều 23:'' Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sẽ có hiệu lực khi văn kiện này được Bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chính phủ Hoa Kỳ ký và khi một văn kiện cùng nội dung được Bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chính phủ Hoa Kỳ và Bộ trưởng Bộ ngoại giao Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ký. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành triệt để Hiệp định này nghị định thư của Hiệp định. Làm tại Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973, bằng tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh là những văn bản chính thức và có giá trị như nhau. |- | 36 | '''''Chức danh đề ký và tên ký''''' | '''''Chức danh đề ký và tên ký''''' |- | 37 | <center>''chưa có''<center> | <center>'''Thay mặt Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ'''<center> <center>'''''William P. Roger'''''<center> <center>''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> <center>'''Thay mặt Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà'''<center> <center> '''''Nguyễn Duy Trinh'''''<center> <center> ''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> |} ===Bản đuợc bốn bên Hoa Kỳ, Việt Nam dân chủ cộng hoà, Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký=== '''Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam''' Các bên tham gia hội nghị Paris về Việt Nam; Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần củng cố hòa bình ở Châu Á và trên thế giới; Đã thỏa thuận, cam kết tôn trọng và thu hành những điều khoản sau đây: (''Nguyên văn các điều từ điều 1 đến điều 22 của bản Hiệp định Paris 1973 do hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa ký'' - ''xem ở trên'') '''''Chương IX''''' '''''Những điều khoản khác''''' ''Điều 23:'' Hiệp định này sẽ có hiệu lực khi đại diện toàn quyền của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký. Tất các các bên có liên quan sẽ thi hành triệt để Hiệp định này và các Nghị định thư của hiệp định. Làm tại Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973, bằng tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh là những văn bản chính thức và có giá trị như nhau. {| class="wikitable" |- | <center>'''Thay mặt Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà'''<center> <center> '''''Nguyễn Duy Trinh'''''<center> <center> ''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> | <center>'''Thay mặt Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ'''<center> <center> '''''William P. Roger'''''<center> <center> ''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> | <center>'''Thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam'''<center> <center> '''''Nguyễn Thị Bình'''''<center> <center> ''Bộ truởng Bộ ngoại giao''<center> | <center>'''Thay mặt Chính phủ Việt Nam cộng hoà'''<center> <center> '''''Trần Văn Lắm'''''<center> <center> ''Tổng truởng Bộ ngoại giao''<center> |} 0bfmq6uwoqaq440wg3ltnu2kg62oz19 Wikisource:GUS2Wiki 4 46964 206019 205886 2026-08-19T19:56:32Z Alexis Jazz 15437 Updating gadget usage statistics from [[Special:GadgetUsage]] ([[phab:T121049]]) 206019 wikitext text/x-wiki {{#ifexist:Project:GUS2Wiki/top|{{/top}}|This page provides a historical record of [[Special:GadgetUsage]] through its page history. To get the data in CSV format, see wikitext. To customize this message or add categories, create [[/top]].}} Dữ liệu dưới đây được đưa vào vùng nhớ đệm và được cập nhật lần cuối lúc 2026-08-19T11:16:28Z. Tối đa có sẵn {{PLURAL:5000|một kết quả|5000 kết quả}} trong vùng nhớ đệm. {| class="sortable wikitable" ! Tiện ích !! data-sort-type="number" | Số người dùng !! data-sort-type="number" | Số thành viên tích cực |- |AutoOldStyleVi || 7 || 0 |- |HotCat || 44 || 4 |- |NopInserter || 9 || 2 |- |Preload Page Images || 5 || 0 |- |QualityButton || 12 || 1 |- |Subpages || 7 || 0 |- |TemplatePreloader || 37 || 4 |- |UTCLiveClock || 21 || 1 |- |addsection-plus || 20 || 1 |- |edittop || 22 || 2 |- |mark-proofread || 11 || 4 |- |navpop || 35 || 4 |- |purgetab || 26 || 2 |- |removeAccessKeys || 4 || 0 |- |wiked || 11 || 1 |} * [[Đặc biệt:GadgetUsage]] * [[m:Meta:GUS2Wiki/Script|GUS2Wiki]] <!-- data in CSV format: AutoOldStyleVi,7,0 HotCat,44,4 NopInserter,9,2 Preload Page Images,5,0 QualityButton,12,1 Subpages,7,0 TemplatePreloader,37,4 UTCLiveClock,21,1 addsection-plus,20,1 edittop,22,2 mark-proofread,11,4 navpop,35,4 purgetab,26,2 removeAccessKeys,4,0 wiked,11,1 --> 3qs2jasmjbq8314lqt5ojlrvp7ogwo1 Thành viên:Mrfly911 2 68467 206022 205789 2026-08-20T08:30:14Z Mrfly911 2215 /* Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn */ 206022 wikitext text/x-wiki == Các tài liệu đóng góp và tham khảo == ===Nho giáo=== * Tứ thư ** [[:zh:禮記/大學 (證釋本)]] - [[Biên dịch:Đại Học]] ** [[:zh:禮記/中庸]] - [[Biên dịch:Trung Dung]] ** [[Luận ngữ]] ** [[:zh:孟子]] - [[Biên dịch:Mạnh Tử]] * [[:zh:詩經]] - [[Biên dịch:Kinh Thi]] * [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]] * [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]] * [[w:Bách gia tính]] (có đủ trên Wikipedia) * [[Biên dịch:Thiên tự văn]] * [[Nho giáo]] ===Học chữ Hán=== * [[Ấu học khải mông]] * [[Chữ nho học lấy]] * [[Tam thiên tự]] ===Đạo giáo=== * [[Đạo Đức kinh]] * [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]] * [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]] * [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]] ===Y dược=== * [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]] * [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]] * [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]] * [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]] * [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]] * [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]] * Nam dược thần hiệu (南藥神效) * Hồng Nghĩa giác tư y thư * Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領) * [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]] * [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]] * [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]] * [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]] * [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]] * [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]] * [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]] ===Phật giáo=== * [[Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo]] {{Kinh điển Phật giáo}} * [[Biên dịch:Tín Tâm Minh]] - [[:zh:信心銘]] * [[Biên dịch:Tâm Minh]] - [[:zh:心銘]] ==Lịch sử== {{Nhị thập tứ sử}} === Hán (206 TCN - 9)=== * [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]] ** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]] ** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]] * [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]] ** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾) * [[Tác gia:Tư Mã Thiên]] ** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]] *** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] ** [[:zh:素王妙論]] ** [[:zh:悲士不遇賦]] ** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944) ** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch) ** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]]) * [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]] ** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]] * [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]] ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện ===Đông Hán (25–220)=== * [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]] ** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]] *[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]] ---- * [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]] ** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]] === Tào Ngụy === * [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360) === Đông Ngô === * [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]] * [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]] ** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]] ** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]] === Tấn === * [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]] ---- * [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]] ** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]] * [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]] ** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]] ===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)=== * [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]] ** KINH (經) *** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển ***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển *** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng) *** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển) *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển ** LUẬT (律) *** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển ** LUẬN (論) & PHÁP (法) *** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển *** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển *** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển *** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển *** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp) ** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP *** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển ---- * [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]] ** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]] **:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng. ** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]] ---- * [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442) ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]] ===Nam–Bắc triều (420–589)=== ==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ==== * [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]] === Đường 618–907)=== * [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]] * [[Lữ ngụ An Nam]] * [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]] * [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]] * [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]] * [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]] ** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]] ** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]] ---- * [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]] * [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]] * [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713) ** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]] ** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]] * [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762) ** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]] * [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]] ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]]) ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]]) ===Ngũ đại Thập quốc (907–979)=== * [[Tân Ngũ Đại sử]] ===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)=== * [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178) * [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186) * [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]] * [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]] * [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]] * [[Tục tư trị thông giám]] * [[Tư trị thông giám trường biên]] === Trần # Nguyên (1260–1368)=== * [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]] * [[:zh:安南志畧]] ** [[Biên dịch:An Nam chí lược]] * [[Biên dịch:Nguyên sử]] ** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]] *[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]] **Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]] * [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]] === Trần - Lê # Minh (1368–1644)=== * [[:zh:越史略|越史略]] ** [[Biên dịch:Việt sử lược]] * [[Biên dịch:Minh thực lục]] ** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]] *** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]] * [[Biên dịch:Minh sử]] ** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]] * [[Bình An Nam chiếu]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]] * [[:zh:殊域周咨錄]] ** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]] * [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]] * [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]] * [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội] === Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)=== * [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]] * [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]] **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]] ***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]] *** ... **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]] * [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]] ** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]] *[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) **[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) *[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]] **[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]] *[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) *[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) * [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]] * [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]] * [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]] * [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]] ---- ====Khâm định cổ kim đồ thư tập thành==== * [[:zh:欽定古今圖書集成]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]] ** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên]] *** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] ([[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089|quyển 89]]) **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]] ** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên]] *** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]] ==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu== <nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki> hoặc <pre> <inputbox> type=search width=30 placeholder=Tìm trong trang này searchbuttonlabel=Tìm fulltext=false prefix={{FULLPAGENAME}} </inputbox> </pre> ==Cú pháp== <pre>{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}</pre> <pre> {{ruby | 畧畑䀡傳西銘/𡄎唭𠄩𡦂人情喓𠻗 | trước đèn xem chuyện Tây minh / ngẫm cười hai chữ nhân tình éo le }} </pre> <pre> {| align="center" ! Nguyên văn chữ Hán ! Phiên âm Hán Việt |- | <poem> 關關雎鳩,在河之洲。 窈窕淑女,君子好逑。 參差荇菜,左右流之。 窈窕淑女,寤寐求之。 求之不得,寤寐思服。 悠哉悠哉,輾轉反側。 參差荇菜,左右采之。 窈窕淑女,琴瑟友之。 參差荇菜,左右芼之。 窈窕淑女,鐘鼓樂之。 </poem> | <poem> Quan quan thư cưu, tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu. Tam si hạnh thái, tả hữu lưu chi. Yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi. Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục. Du tai du tai, triển chuyển phản trắc. Tam si hạnh thái, tả hữu thái chi. Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi. Tam si hạnh thái, tả hữu mạo chi. Yểu điệu thục nữ, chung cổ nhạc chi. </poem> |} </pre> ==Câu lệnh cho AI dịch văn ngôn== <pre> dịch toàn bộ đoạn sau sang tiếng Việt, để liên kết tiếng Việt, và giữ nguyên định dạng mã nguồn wikipedia, bao gồm tất cả các thẻ ref, {{cite}}, {{sfnp}}, cho kết quả trong khung code </pre> ===Dịch lịch sử=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ. ===Dịch kinh Phật, kinh Thi=== Dịch đoạn văn sang tiếng Việt theo yêu cầu sau: các đoạn văn xuôi dịch ngắn gọn, không giải thích. Giữ đúng bố cục, không lược bỏ. Viết một đoạn ngắn tóm tắt nội dung kinh. Các bài thơ, bài kệ dịch thành 2 bản, bản 1 theo đúng cú pháp nguyên văn, bản 2 theo thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ đúng âm luật, âm hưởng trang trọng. ===Dịch y học=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ. c9au68tda4ze2sk5kuk02cmdx92pigj Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo 10 71854 206023 205874 2026-08-20T11:14:39Z Mrfly911 2215 206023 wikitext text/x-wiki <noinclude>'''Kinh điển Phật giáo''' có số lượng cực kỳ lớn, thậm chí xưa lấy 84.000 để ước chừng tượng trưng về số lượng pháp uẩn. Kinh văn Phật giáo truyền miệng hoặc được viết ở trên giấy mực được chia theo nội dung làm ba loại là Kinh, Luật và Luận. {{wikipediaref}}</noinclude> {{Navbox | name = Kinh điển Phật giáo | title = [[Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo|Kinh điển Phật giáo]] | state = {{{state|autocollapse}}} | listclass = hlist | image = | group1 = Kinh | list1 = {{Navbox|child | group1 = A hàm bộ | list1 = * [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh|Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh|Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] * [[Pháp cú kinh]] * [[Từ kinh]] * [[Bản sinh kinh]] * [[Tứ niệm xứ kinh]] * [[Đại-bát Niết-bàn kinh]] | group2 = Bản duyên bộ | list2 = * [[Lục Độ Tập Kinh]] * [[Bồ Tát Bản Duyên Kinh]] * [[Bản Kinh]] * [[Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]] | group3 = Bát nhã bộ | list3 = * [[Đại phẩm bát-nhã kinh]] * [[Tiểu phẩm bát-nhã kinh]] * [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] * [[Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh]] * [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] | group4 = Pháp hoa bộ | list4 = * [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Pháp Hoa kinh]] * [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Kinh Phổ Môn]] * [[Thập địa kinh]] * [[Biên dịch:Đại thừa phương quảng tổng trì kinh|Đại thừa phương quảng tổng trì kinh]] | group5 = Hoa nghiêm bộ | list5 = * [[Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh|Hoa Nghiêm kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] | group6 = Bảo tích & Tịnh độ | list6 = * [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Vô Lượng Thọ Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|A Di Đà Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Quán Vô Lượng Thọ Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] * [[Thắng Man kinh]] * [[Niết bàn kinh]] | group7 = Kinh tập bộ | list7 = * [[Biên dịch:Tứ thập nhị chương kinh|Tứ thập nhị chương kinh]] * [[Duy-ma-cật sở thuyết kinh]] * [[Giải thâm mật kinh]] * [[Nhập Lăng-già kinh]] * [[Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh|Lăng-nghiêm kinh]] * [[Viên Giác Kinh]] * [[Kim quang minh tối thắng vương kinh|Kim quang minh kinh]] * [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Kinh Dược Sư]] * [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Dược Sư Thất Phật Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Di Lặc Hạ Sinh Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] * [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh|Như Lai Tạng Kinh]] * [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Vấn Bồ Đề Kinh]] * [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] * [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] * [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] * [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] * [[Biên dịch:Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh|Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh]] | group8 = Mật giáo bộ | list8 = * [[Đại Nhật kinh]] * [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni]] * [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] * [[Tô tất địa yết la kinh]] }} | group2 = Luật | list2 = * [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Giới Bản]] * [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Kinh]] | group3 = Luận | list3 = * [[A-tì-đạt-ma]] * [[Trung quán luận]] * [[Thành duy thức luận]] * [[Duy thức nhị thập tụng]] * [[Du-già sư địa luận]] * [[Nhiếp đại thừa luận]] * [[A-tì-đạt-ma câu-xá luận|Câu-xá luận]] * [[Đại thừa khởi tín luận]] * [[Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận|Bảo tính luận]] * [[Bồ-đề đạo đăng luận]] * [[Nhập Bồ-đề hành luận]] * [[Tập Bồ Tát học luận]] * [[Tập lượng luận]] * [[Nhiếp chân thật luận]] * [[Thanh tịnh đạo luận]] * [[Biên dịch:Lý Hoặc Luận|Lý Hoặc Luận]] * [[Biên dịch"Na Tiên Tì Khâu Kinh|Na Tiên Tì Khâu Kinh]] | group4 = Khác & Sử truyện | list4 = * [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] * [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]] * [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Kinh Tự]] * [[Biên dịch:Hiển Tông Ký|Hiển Tông Ký]] * [[Biên dịch:Hồng danh bảo sám|Hồng danh bảo sám]] * [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] * [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thọ Bồ Tát Truyện]] * [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] * [[Biên dịch:Tín Tâm Minh|Tín Tâm Minh]] * [[Biên dịch:Tâm Minh|Tâm Minh]] * [[Biên dịch:Chứng đạo ca|Chứng đạo ca]] | below = Các kinh điển này phần lớn thuộc bộ [[:zh:大正新脩大藏經|Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh]]. }}<noinclude> [[Thể loại:Phật giáo]] </noinclude> 2m73vvgpb09mc8v2xbstfjhdhmcx6cm 206024 206023 2026-08-20T11:15:05Z Mrfly911 2215 206024 wikitext text/x-wiki <noinclude>'''Kinh điển Phật giáo''' có số lượng cực kỳ lớn, thậm chí xưa lấy 84.000 để ước chừng tượng trưng về số lượng pháp uẩn. Kinh văn Phật giáo truyền miệng hoặc được viết ở trên giấy mực được chia theo nội dung làm ba loại là Kinh, Luật và Luận. {{wikipediaref}}</noinclude> {{Navbox | name = Kinh điển Phật giáo | title = [[Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo|Kinh điển Phật giáo]] | state = {{{state|autocollapse}}} | listclass = hlist | image = | group1 = Kinh | list1 = {{Navbox|child | group1 = A hàm bộ | list1 = * [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh|Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh|Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] * [[Pháp cú kinh]] * [[Từ kinh]] * [[Bản sinh kinh]] * [[Tứ niệm xứ kinh]] * [[Đại-bát Niết-bàn kinh]] | group2 = Bản duyên bộ | list2 = * [[Lục Độ Tập Kinh]] * [[Bồ Tát Bản Duyên Kinh]] * [[Bản Kinh]] * [[Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]] | group3 = Bát nhã bộ | list3 = * [[Đại phẩm bát-nhã kinh]] * [[Tiểu phẩm bát-nhã kinh]] * [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] * [[Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh]] * [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] | group4 = Pháp hoa bộ | list4 = * [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Pháp Hoa kinh]] * [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Kinh Phổ Môn]] * [[Thập địa kinh]] * [[Biên dịch:Đại thừa phương quảng tổng trì kinh|Đại thừa phương quảng tổng trì kinh]] | group5 = Hoa nghiêm bộ | list5 = * [[Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh|Hoa Nghiêm kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] | group6 = Bảo tích & Tịnh độ | list6 = * [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Vô Lượng Thọ Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|A Di Đà Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Quán Vô Lượng Thọ Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] * [[Thắng Man kinh]] * [[Niết bàn kinh]] | group7 = Kinh tập bộ | list7 = * [[Biên dịch:Tứ thập nhị chương kinh|Tứ thập nhị chương kinh]] * [[Duy-ma-cật sở thuyết kinh]] * [[Giải thâm mật kinh]] * [[Nhập Lăng-già kinh]] * [[Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh|Lăng-nghiêm kinh]] * [[Viên Giác Kinh]] * [[Kim quang minh tối thắng vương kinh|Kim quang minh kinh]] * [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Kinh Dược Sư]] * [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Dược Sư Thất Phật Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Di Lặc Hạ Sinh Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] * [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh|Như Lai Tạng Kinh]] * [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Vấn Bồ Đề Kinh]] * [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] * [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] * [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] * [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] * [[Biên dịch:Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh|Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh]] | group8 = Mật giáo bộ | list8 = * [[Đại Nhật kinh]] * [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni]] * [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] * [[Tô tất địa yết la kinh]] }} | group2 = Luật | list2 = * [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Giới Bản]] * [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Kinh]] | group3 = Luận | list3 = * [[A-tì-đạt-ma]] * [[Trung quán luận]] * [[Thành duy thức luận]] * [[Duy thức nhị thập tụng]] * [[Du-già sư địa luận]] * [[Nhiếp đại thừa luận]] * [[A-tì-đạt-ma câu-xá luận|Câu-xá luận]] * [[Đại thừa khởi tín luận]] * [[Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận|Bảo tính luận]] * [[Bồ-đề đạo đăng luận]] * [[Nhập Bồ-đề hành luận]] * [[Tập Bồ Tát học luận]] * [[Tập lượng luận]] * [[Nhiếp chân thật luận]] * [[Thanh tịnh đạo luận]] * [[Biên dịch:Lý Hoặc Luận|Lý Hoặc Luận]] * [[Biên dịch:Na Tiên Tì Khâu Kinh|Na Tiên Tì Khâu Kinh]] | group4 = Khác & Sử truyện | list4 = * [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] * [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]] * [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Kinh Tự]] * [[Biên dịch:Hiển Tông Ký|Hiển Tông Ký]] * [[Biên dịch:Hồng danh bảo sám|Hồng danh bảo sám]] * [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] * [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thọ Bồ Tát Truyện]] * [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] * [[Biên dịch:Tín Tâm Minh|Tín Tâm Minh]] * [[Biên dịch:Tâm Minh|Tâm Minh]] * [[Biên dịch:Chứng đạo ca|Chứng đạo ca]] | below = Các kinh điển này phần lớn thuộc bộ [[:zh:大正新脩大藏經|Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh]]. }}<noinclude> [[Thể loại:Phật giáo]] </noinclude> khjiul5uz6cge5vktwjj2lkbrxo3a98 Thành viên:Trdxuan/Nháp 5 sắc Trần Doãn Ngạn 2 72405 206003 206002 2026-08-19T12:08:04Z Trdxuan 20493 206003 wikitext text/x-wiki {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 }} '''Bộ sưu tập 5 đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn''' == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong () là chữ bị rách, được Viện Hán Nôm bổ sung. '''Phiên âm:''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng, bản thân tùy Quản quan Quyền Trung hầu, thuộc tùy Thống lĩnh quan Đại Tư đồ Đoan Quận công công thảo Trấn Ninh tặc sào pha hữu công tích, dĩ kinh chỉ chuẩn ứng Bách hộ chức khả vi Phấn lực Tướng quân hiệu lệnh ty Tráng sĩ Bách hộ hạ khuyết. Cố sắc. Cảnh Hưng tứ thập niên cửu nguyệt thập ngũ nhật. '''Dịch nghĩa tóm tắt (gia đình tự diễn giải):''' Sắc phong cho ông Trần Doãn Ngạn, người xã Trường Bộc, huyện Nam Đường, giữ chức Đội trưởng đội Ưu binh Hữu Nhuệ kỳ. Ông theo Đoan Quận công đi đánh dẹp giặc ở Trấn Ninh có công, được chuẩn cho giữ chức Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15-9-1779. == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 1) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 1.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] f4z6j1ihchex4ggfps3ce56uuy9f4wt 206004 206003 2026-08-19T12:15:30Z Trdxuan 20493 206004 wikitext text/x-wiki {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 }} '''Bộ sưu tập 5 đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn''' '''Nguyên văn:''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong () là chữ bị rách, được Viện Nghiên cứu Hán Nôm bổ sung. '''Phiên âm:''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng, bản thân tùy Quản quan Quyền Trung hầu, thuộc tùy Thống lĩnh quan Đại Tư đồ Đoan Quận công công thảo Trấn Ninh tặc sào pha hữu công tích, dĩ kinh chỉ chuẩn ứng Bách hộ chức khả vi Phấn lực Tướng quân hiệu lệnh ty Tráng sĩ Bách hộ hạ khuyết. Cố sắc. Cảnh Hưng tứ thập niên cửu nguyệt thập ngũ nhật. '''Dịch nghĩa tóm tắt (gia đình tự diễn giải):''' Sắc phong cho ông Trần Doãn Ngạn, người xã Trường Bộc, huyện Nam Đường, giữ chức Đội trưởng đội Ưu binh Hữu Nhuệ kỳ. Ông theo Đoan Quận công đi đánh dẹp giặc ở Trấn Ninh có công, được chuẩn cho giữ chức Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15 tháng 9 năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779). == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 1) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 1.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] r79t6l6nfz62vb8unu6sojty40qwvq4 206005 206004 2026-08-19T12:24:09Z Trdxuan 20493 206005 wikitext text/x-wiki {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1779, đã hết bản quyền):''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã... '''Tóm lược nội dung (do con cháu họ Trần Doãn tự diễn giải theo nguyên văn, không sử dụng bản dịch của Viện):''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc. Ông có công dẹp giặc Trấn Ninh nên được bổ làm Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15/9 năm Cảnh Hưng 40 (1779). {{PD-old}} == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 1) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 1.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] bg224nbwbzimrbnnkco3k2alyswvkmu 206006 206005 2026-08-19T12:29:25Z Trdxuan 20493 /* 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 */ 206006 wikitext text/x-wiki {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 15-09-1779]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1779, đã hết bản quyền):''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong ngoặc () là chỗ rách, được Viện Hán Nôm phục dựng theo kết cấu văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng... '''Tóm lược nội dung (do con cháu họ Trần Doãn tự diễn giải, không dùng bản dịch của Viện):''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc, huyện Nam Đường. Ông có công dẹp giặc Trấn Ninh nên được bổ làm Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15 tháng 9 năm Cảnh Hưng 40 (1779). {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 1) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 1.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] rm8utrqrshtlibvdk00d2r5cidmpbn8 206007 206006 2026-08-19T12:44:01Z Trdxuan 20493 /* 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 1) */ 206007 wikitext text/x-wiki {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 15-09-1779]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1779, đã hết bản quyền):''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong ngoặc () là chỗ rách, được Viện Hán Nôm phục dựng theo kết cấu văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng... '''Tóm lược nội dung (do con cháu họ Trần Doãn tự diễn giải, không dùng bản dịch của Viện):''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc, huyện Nam Đường. Ông có công dẹp giặc Trấn Ninh nên được bổ làm Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15 tháng 9 năm Cảnh Hưng 40 (1779). {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (1) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 (1).jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 16-02-1780 (1)]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1780, đã hết bản quyền):''' 勅 奮力將軍號(令司壯士百)戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Chú thích:''' Phần trong () là chỗ mờ, được phục dựng theo văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Phấn lực Tướng quân Hiệu (lệnh ty Tráng sĩ Bách) hộ hạ trật Trần Doãn Ngạn, vi dĩ Hữu Nhuệ cơ Ưu binh, tùy Quản quan Quản Trung hầu, ư Giáp Ngọ niên phụng ngự giá bình Nam, phụng thủ Kinh thành, phả hữu vi lao, dĩ kinh chỉ chuẩn ứng thăng nhị thứ Phó Thiên hộ, Thiên hộ đẳng chức. Khả vi Kiệt trung Tướng quân Vân kỵ úy Thiên hộ trung tuyển. Cố sắc. Cảnh Hưng tứ thập nhất niên nhị nguyệt thập lục nhật. '''Tóm lược nội dung (do con cháu tự diễn giải):''' Năm Giáp Ngọ (1774) ông Trần Doãn Ngạn theo Quản Trung hầu vâng ngự giá bình Nam và giữ Kinh thành có công. Nay được thăng 2 bậc lên chức Kiệt trung Tướng quân Vân kỵ úy Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] f5vkhe4759xwa84fmra175frhem5iaq 206008 206007 2026-08-19T12:53:33Z Trdxuan 20493 206008 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 15-09-1779]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1779, đã hết bản quyền):''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong ngoặc () là chỗ rách, được Viện Hán Nôm phục dựng theo kết cấu văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng... '''Tóm lược nội dung (do con cháu họ Trần Doãn tự diễn giải, không dùng bản dịch của Viện):''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc, huyện Nam Đường. Ông có công dẹp giặc Trấn Ninh nên được bổ làm Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15 tháng 9 năm Cảnh Hưng 40 (1779). {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (1) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 (1).jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 16-02-1780 (1)]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1780, đã hết bản quyền):''' 勅 奮力將軍號(令司壯士百)戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Chú thích:''' Phần trong () là chỗ mờ, được phục dựng theo văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Phấn lực Tướng quân Hiệu (lệnh ty Tráng sĩ Bách) hộ hạ trật Trần Doãn Ngạn, vi dĩ Hữu Nhuệ cơ Ưu binh, tùy Quản quan Quản Trung hầu, ư Giáp Ngọ niên phụng ngự giá bình Nam, phụng thủ Kinh thành, phả hữu vi lao, dĩ kinh chỉ chuẩn ứng thăng nhị thứ Phó Thiên hộ, Thiên hộ đẳng chức. Khả vi Kiệt trung Tướng quân Vân kỵ úy Thiên hộ trung tuyển. Cố sắc. Cảnh Hưng tứ thập nhất niên nhị nguyệt thập lục nhật. '''Tóm lược nội dung (do con cháu tự diễn giải):''' Năm Giáp Ngọ (1774) ông Trần Doãn Ngạn theo Quản Trung hầu vâng ngự giá bình Nam và giữ Kinh thành có công. Nay được thăng 2 bậc lên chức Kiệt trung Tướng quân Vân kỵ úy Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] su9trfs2hmoky78i0z5dx60jn2w7ggt 206009 206008 2026-08-19T12:58:07Z Trdxuan 20493 206009 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 15-09-1779]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1779, đã hết bản quyền):''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong ngoặc () là chỗ rách, được Viện Hán Nôm phục dựng theo kết cấu văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng... '''Tóm lược nội dung (do con cháu họ Trần Doãn tự diễn giải, không dùng bản dịch của Viện):''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc, huyện Nam Đường. Ông có công dẹp giặc Trấn Ninh nên được bổ làm Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15 tháng 9 năm Cảnh Hưng 40 (1779). {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (1) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 (1).jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 16-02-1780 (1)]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1780, đã hết bản quyền):''' 勅 奮力將軍號(令司壯士百)戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Chú thích:''' Phần trong () là chỗ mờ, được phục dựng theo văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Phấn lực Tướng quân Hiệu (lệnh ty Tráng sĩ Bách) hộ hạ trật Trần Doãn Ngạn, vi dĩ Hữu Nhuệ cơ Ưu binh, tùy Quản quan Quản Trung hầu, ư Giáp Ngọ niên phụng ngự giá bình Nam, phụng thủ Kinh thành, phả hữu vi lao, dĩ kinh chỉ chuẩn ứng thăng nhị thứ Phó Thiên hộ, Thiên hộ đẳng chức. Khả vi Kiệt trung Tướng quân Vân kỵ úy Thiên hộ trung tuyển. Cố sắc. Cảnh Hưng tứ thập nhất niên nhị nguyệt thập lục nhật. '''Tóm lược nội dung (do con cháu tự diễn giải):''' Năm Giáp Ngọ (1774) ông Trần Doãn Ngạn theo Quản Trung hầu vâng ngự giá bình Nam và giữ Kinh thành có công. Nay được thăng 2 bậc lên chức Kiệt trung Tướng quân Vân kỵ úy Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] {{PD-Vietnam}} {{PD-US}} c5imwo7tz1r1dnbl1bw7pjp6ugpfuvg 206010 206009 2026-08-19T13:01:37Z Trdxuan 20493 206010 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 15-09-1779]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1779, đã hết bản quyền):''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong ngoặc () là chỗ rách, được Viện Hán Nôm phục dựng theo kết cấu văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng... '''Tóm lược nội dung (do con cháu họ Trần Doãn tự diễn giải, không dùng bản dịch của Viện):''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc, huyện Nam Đường. Ông có công dẹp giặc Trấn Ninh nên được bổ làm Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15 tháng 9 năm Cảnh Hưng 40 (1779). {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 == '''Nguyên văn chữ Hán do gia đình tự sao chép từ bản gốc 1780 (đã hết bản quyền):''' 勅奮力將軍號令司壯士百戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Phiên âm (gia đình tự đọc):''' Sắc: Phấn lực Tướng quân Hiệu lệnh ty Tráng sĩ Bách hộ hạ trật Trần Doãn Ngạn... '''Tóm lược (con cháu tự diễn giải):''' Năm Giáp Ngọ 1774 ông theo Quản Trung hầu bình Nam và giữ Kinh thành có công, được thăng 2 bậc lên Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] {{PD-Vietnam}} {{PD-US}} 1tj2zrzshobyfpc173bmnpiv6h6zyv7 206011 206010 2026-08-19T13:08:35Z Trdxuan 20493 206011 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 15-09-1779]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1779, đã hết bản quyền):''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong ngoặc () là chỗ rách, được Viện Hán Nôm phục dựng theo kết cấu văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng... '''Tóm lược nội dung (do con cháu họ Trần Doãn tự diễn giải, không dùng bản dịch của Viện):''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc, huyện Nam Đường. Ông có công dẹp giặc Trấn Ninh nên được bổ làm Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15 tháng 9 năm Cảnh Hưng 40 (1779). {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) }} == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == ... (Đạo 1 của bác) ... == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 == '''Nguyên văn chữ Hán do gia đình tự sao chép từ bản gốc 1780 (đã hết bản quyền):''' 勅奮力將軍號令司壯士百戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Phiên âm (gia đình tự đọc):''' Sắc: Phấn lực Tướng quân Hiệu lệnh ty Tráng sĩ Bách hộ hạ trật Trần Doãn Ngạn... '''Tóm lược (con cháu tự diễn giải):''' Năm Giáp Ngọ 1774 ông theo Quản Trung hầu bình Nam và giữ Kinh thành có công, được thăng 2 bậc lên Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. {{PD-Vietnam}} {{PD-US}} == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] {{PD-Vietnam}} {{PD-US}} 4ru8dadjnyrnlvdhx6360d8yoj38gox 206012 206011 2026-08-19T13:14:59Z Trdxuan 20493 206012 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 15-09-1779]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1779, đã hết bản quyền):''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong ngoặc () là chỗ rách, được Viện Hán Nôm phục dựng theo kết cấu văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng... '''Tóm lược nội dung (do con cháu họ Trần Doãn tự diễn giải, không dùng bản dịch của Viện):''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc, huyện Nam Đường. Ông có công dẹp giặc Trấn Ninh nên được bổ làm Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15 tháng 9 năm Cảnh Hưng 40 (1779). {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) }} == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == ... (Đạo 1 của bác) ... == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 == '''Nguyên văn:''' 勅奮力將軍號令司壯士百戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Tóm lược:''' Năm Giáp Ngọ 1774 ông Trần Doãn Ngạn theo Quản Trung hầu bình Nam và giữ Kinh thành có công, được thăng 2 bậc lên Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] {{PD-Vietnam}} {{PD-US}} 6dkmndl7zj3xuakhkxkhds819kgrctw 206013 206012 2026-08-19T13:21:52Z Trdxuan 20493 206013 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 40 - 1779-09-15.jpg|thumb|center|800px|Đạo sắc phong ngày 15-09-1779]] '''Nguyên văn chữ Hán (sắc gốc 1779, đã hết bản quyền):''' 勅 南塘縣長僕社(陳允彥爲)右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Chú thích:''' Phần trong ngoặc () là chỗ rách, được Viện Hán Nôm phục dựng theo kết cấu văn bản. '''Phiên âm Hán-Việt (do gia đình tự đọc):''' Sắc: Nam Đường huyện, Trường Bộc xã, (Trần Doãn Ngạn vi) Hữu Nhuệ kỳ Ưu binh Đội trưởng... '''Tóm lược nội dung (do con cháu họ Trần Doãn tự diễn giải, không dùng bản dịch của Viện):''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc, huyện Nam Đường. Ông có công dẹp giặc Trấn Ninh nên được bổ làm Tráng sĩ Bách hộ. Ngày 15 tháng 9 năm Cảnh Hưng 40 (1779). {{PD-old}} {{PD-Vietnam}} == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 == '''Nguyên văn:''' 勅奮力將軍號令司壯士百戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Tóm lược:''' Năm Giáp Ngọ 1774 ông theo Quản Trung hầu bình Nam và giữ Kinh thành có công, được thăng 2 bậc lên Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] {{PD-Vietnam}} {{PD-US}} fe8h606br1nvromsjoyzt0npy2ibgqv 206014 206013 2026-08-19T13:44:06Z Trdxuan 20493 206014 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An == 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 == '''Nguyên văn:''' 勅南塘縣長僕社陳允彥爲右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Tóm lược:''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc theo Trấn thủ Trấn Ninh có công, cho làm Bách hộ. Ngày 15-09-1779. == 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 == '''Nguyên văn:''' 勅奮力將軍號令司壯士百戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Tóm lược:''' Năm Giáp Ngọ 1774 ông theo Quản Trung hầu bình Nam và giữ Kinh thành có công, được thăng 2 bậc lên Thiên hộ. Ngày 16-02-1780.== 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] {{PD-Vietnam}} {{PD-US}} qusrfsgaxyfikl4np0ly2dmzh1hmusa 206015 206014 2026-08-19T13:51:26Z Trdxuan 20493 206015 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An === 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 === '''Nguyên văn:''' 勅南塘縣長僕社陳允彥爲右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Tóm lược:''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc theo Trấn thủ Trấn Ninh có công, cho làm Bách hộ. Ngày 15-09-1779. === 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 === '''Nguyên văn:''' 勅奮力將軍號令司壯士百戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Tóm lược:''' Năm Giáp Ngọ 1774 ông theo Quản Trung hầu bình Nam và giữ Kinh thành có công, được thăng 2 bậc lên Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. == 3. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 (đạo 2 cùng ngày) == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 41 - 1780-02-16 - 2.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 4. Cảnh Hưng 43 - 16-12-1782 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 43 - 1782-12-16.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... == 5. Cảnh Hưng 44 - 26-02-1783 == [[Tập tin:Dao sac Tran Doan Ngan - Canh Hung 44 - 1783-02-26.jpg|thumb|center|800px]] '''Nguyên văn:''' ... '''Phiên âm:''' ... '''Dịch nghĩa:''' ... [[Thể loại:Sắc phong Việt Nam]] {{PD-Vietnam}} {{PD-US}} jnvq6dthj6b39oo2qt8jymp21myzfho 206016 206015 2026-08-19T14:02:02Z Trdxuan 20493 206016 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An }} === 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 === '''Nguyên văn:''' 勅南塘縣長僕社陳允彥爲右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Tóm lược:''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc theo Trấn thủ Trấn Ninh có công, cho làm Bách hộ. Ngày 15-09-1779. === 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 === '''Nguyên văn:''' 勅奮力將軍號令司壯士百戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Tóm lược:''' Năm Giáp Ngọ 1774 ông theo Quản Trung hầu bình Nam và giữ Kinh thành có công, được thăng 2 bậc lên Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. === 3. Cảnh Hưng 44 - 1783 === '''Nguyên văn:''' [Bác dán Đạo 3 vào đây] '''Tóm lược:''' [Tóm lược Đạo 3] === 4. Cảnh Hưng 44 - 1783 === '''Nguyên văn:''' [Bác dán Đạo 4 vào đây] '''Tóm lược:''' [Tóm lược Đạo 4] === 5. Tây Sơn Cảnh Thịnh - 1792 === '''Nguyên văn:''' [Bác dán Đạo 5 vào đây] '''Tóm lược:''' [Tóm lược Đạo 5] njlmz4zutk6zk1y1xb1wdly5s0ke8q4 206017 206016 2026-08-19T14:09:45Z Trdxuan 20493 206017 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An }} === 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 === '''Nguyên văn:''' 勅南塘縣長僕社陳允彥爲右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Tóm lược:''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc theo Trấn thủ Trấn Ninh có công, cho làm Bách hộ. Ngày 15-09-1779. === 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 === '''Nguyên văn:''' 勅奮力將軍號令司壯士百戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Tóm lược:''' Năm Giáp Ngọ 1774 ông theo Quản Trung hầu bình Nam và giữ Kinh thành có công, được thăng 2 bậc lên Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. === 3. Cảnh Hưng 44 - 1783 === === 4. Cảnh Hưng 44 - 1783 === === 5. Cảnh Thịnh 1 - 1793 === ljm9tt48bpbltf2yx2ydpb8yhnlntkp 206018 206017 2026-08-19T14:12:56Z Trdxuan 20493 206018 wikitext text/x-wiki {{PD-old}} {{Đầu đề | tựa đề = Năm đạo sắc phong của Tướng Công Trần Doãn Ngạn (1779-1783) | tác giả = Triều đình Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng | năm = 1779-1783 | chú thích = Bản gốc lưu tại nhà thờ họ Trần Doãn, xã Nam Dương, huyện Nam Đàn, Nghệ An }} == Nội dung == === 1. Cảnh Hưng 40 - 15-09-1779 === '''Nguyên văn:''' 勅南塘縣長僕社陳允彥爲右銳奇優兵隊長本身隨管官權忠侯屬隨統領官大司徒端郡公攻討鎮寧賊巢頗有功績已經旨准應百戶職可爲奮力將軍號令司壯士百戶下缺故勅景興四十年九月十五日 '''Tóm lược:''' Sắc cấp cho ông Trần Doãn Ngạn ở xã Trường Bộc theo Trấn thủ Trấn Ninh có công, cho làm Bách hộ. Ngày 15-09-1779. === 2. Cảnh Hưng 41 - 16-02-1780 === '''Nguyên văn:''' 勅奮力將軍號令司壯士百戶下秩陳允彦爲以右銳奇優兵隨管官琯忠侯於甲午年奉御駕平南奉守京城頗有微勞已經旨准應陞二次副千戶千戶等職可爲竭忠將軍雲騎尉千戶中選故勅景興四十一年二月十六日 '''Tóm lược:''' Năm Giáp Ngọ 1774 ông theo Quản Trung hầu bình Nam và giữ Kinh thành có công, được thăng 2 bậc lên Thiên hộ. Ngày 16-02-1780. === 3. Cảnh Hưng 44 - 1783 === === 4. Cảnh Hưng 44 - 1783 === === 5. Cảnh Thịnh 1 - 1793 === [[Thể loại:Sắc phong]] [[Thể loại:Lê Hiển Tông]] h6229d56f3fo84h2v3l1iubm909w1tu Biên dịch:Na Tiên Tì Khâu Kinh 114 72406 206025 2026-08-20T11:26:41Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經 | năm= | phần = | trước= | sau= | ghi chú= '''Di Lan Đà vấn đạo''' hay '''Mi Lan Đà vấn đạo''' (tiếng Pali: Milindapañhā, nghĩa là "Những câu hỏi của [vua] Di Lan Đà"), hoặc có các tên gọi khác như '''Kinh Mi Tiên vấn đáp''', '''Na Tiên tì-kheo kinh''' và '''Di Lan Vư…” 206025 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經 | năm= | phần = | trước= | sau= | ghi chú= '''Di Lan Đà vấn đạo''' hay '''Mi Lan Đà vấn đạo''' (tiếng Pali: Milindapañhā, nghĩa là "Những câu hỏi của [vua] Di Lan Đà"), hoặc có các tên gọi khác như '''Kinh Mi Tiên vấn đáp''', '''Na Tiên tì-kheo kinh''' và '''Di Lan Vương vấn kinh''' (彌蘭王問經) trong các tài liệu Trung Quốc, là một kinh điển Phật giáo bằng tiếng Pali, có niên đại từ khoảng năm 100 TCN đến năm 200 TCN, ghi lại cuộc đối thoại giữa tì-kheo Na Tiên (tiếng Pali: Nāgasena) và quốc vương Ấn-Hy Lạp Menandros I (tiếng Pali: Milinda) của Bactria, người trị vì vào thế kỷ thứ 2 TCN. {{Wikipediaref}} }} == 1670a Na Tiên Tì Khâu Kinh (bản 2 quyển)== '''1670a 那先比丘經 2卷 失譯人名''' == 1670b Na Tiên Tì Khâu Kinh (bản 3 quyển)== '''1670b 那先比丘經〔別本〕 3卷 失譯人名''' * [[/Quyển 1|Quyển 1]] * [[/Quyển 2|Quyển 2]] * [[/Quyển 3|Quyển 3]] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] j6a4w3wflzewg5avmmh7e514zs56u9q Biên dịch:Na Tiên Tì Khâu Kinh/Quyển 1 114 72407 206026 2026-08-20T11:42:17Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經(三卷本)/卷001 | năm= | phần = Quyển thượng | trước= | sau= [[../Quyển 2|Quyển trung]] | ghi chú= }} '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Thượng''' '''''Khuyết tên người dịch, phụ lục trong Đông Tấn lục.''''' Đức Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô…” 206026 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經(三卷本)/卷001 | năm= | phần = Quyển thượng | trước= | sau= [[../Quyển 2|Quyển trung]] | ghi chú= }} '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Thượng''' '''''Khuyết tên người dịch, phụ lục trong Đông Tấn lục.''''' Đức Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc. Khi ấy có các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, các thiên vương, đại thần, trưởng giả, nhân dân, cùng những người theo chín mươi sáu đạo khác nhau, tổng cộng hơn vạn người, hằng ngày đến trước Phật nghe kinh. Phật tự nghĩ rằng số người ngày càng đông, thân không được yên ổn. Ngài muốn rời đại chúng đến nơi thanh vắng để ngồi tư duy niệm đạo. Phật liền rời mọi người, vào núi đến khoảng rừng cây Giáo-la. Trong rừng có thần cây. Phật ngồi dưới cây suy niệm đạo thanh tịnh. Cách rừng không xa có một đàn voi hơn năm trăm con. Trong đó có voi chúa hiền lành, hiểu rõ điều thiện ác, chẳng khác người. Chung quanh voi chúa có rất nhiều voi đực, voi cái, voi ngà dài, ngà vừa và voi còn nhỏ. Khi voi chúa khát muốn đi uống nước, bầy voi con tranh nhau chạy đến trước xuống nước uống. Uống xong lại chạy nhảy đùa giỡn, khuấy đục nước. Vì thế voi chúa không có nước sạch để uống. Khi voi chúa đói muốn đi ăn cỏ, bầy voi nhỏ lại chạy đến trước ăn hết cỏ ngon, còn giẫm đạp lên đó. Vì vậy voi chúa không có cỏ sạch để ăn. Voi chúa tự nghĩ: "Ta vì đàn voi quá đông nên sinh nhiều phiền nhiễu. Bầy voi và voi con này làm nước đục, cỏ bẩn, còn ta thường phải uống nước đục, ăn cỏ bị giẫm đạp. Ta nên bỏ đàn voi này mà đến nơi thanh vắng cho thư thái chăng?" Voi chúa liền bỏ đàn, đi sâu vào núi đến rừng cây Giáo-la. Voi chúa thấy Phật đang ngồi dưới gốc cây thì vô cùng vui mừng. Nó tiến đến trước Phật, cúi đầu khuỵu gối làm lễ rồi đứng sang một bên. Phật tự nghĩ: "Ta bỏ mọi người đến đây. Voi chúa cũng bỏ đàn voi đến nơi này. Ý nghĩa thật tương đồng." Phật vì voi chúa thuyết kinh rằng: "Trong loài người, Phật là tôn quý nhất. Trong các loài voi, voi chúa cũng là bậc tôn quý. Tâm ta và tâm voi chúa nay rất tương hợp. Ta và voi chúa đều thích nơi rừng cây này." Voi chúa nghe kinh xong liền khai ngộ, hiểu được ý Phật. Từ đó nó xem xét nơi Phật đi kinh hành, dùng vòi lấy nước tưới đất, dùng vòi nhổ cỏ quét dọn mặt đất, lại dùng chân giẫm cho bằng phẳng đẹp đẽ. Sáng chiều voi chúa đều phụng sự như vậy. Về sau lâu ngày, Phật nhập đạo Niết-bàn vô vi mà đi. Voi chúa không biết Phật ở đâu, đi khắp nơi tìm kiếm mà không gặp. Nó khóc than sầu não, không vui, chẳng dám ăn uống. Lúc ấy trong nước có một ngôi chùa Phật trên núi tên là Ca-la-hoàn. Trong chùa có năm trăm sa-môn cùng cư trú, đều đã chứng quả A-la-hán. Vào các ngày lục trai mỗi tháng, họ tụng kinh suốt đêm đến sáng. Voi chúa cũng ở trên núi gần ngôi chùa ấy. Nó biết có ngày lục trai tụng kinh nên đến ngày ấy thường vào chùa nghe kinh. Các sa-môn biết voi chúa thích nghe kinh nên mỗi khi muốn tụng kinh đều đợi voi chúa đến rồi mới bắt đầu. Voi chúa nghe kinh suốt đêm đến sáng, không ngủ, không nằm, không động, không lay. Do nhiều lần nghe kinh và phụng sự Phật nên về sau tuổi thọ hết. Sau khi chết, nó được tái sinh làm người, làm con trong một gia đình Bà-la-môn. Từ đó nó không còn nghe kinh Phật, cũng không gặp sa-môn. Người này bỏ nhà vào núi sâu học đạo Bà-la-môn. Gần đó cũng có một đạo nhân Bà-la-môn khác ở trên núi. Hai người thường qua lại, kết làm tri thức. Một người tự nghĩ: "Ta chán ghét thế gian với những lo buồn vì quan quyền, già, bệnh, chết. Sau khi chết lại có thể đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh hay cảnh nghèo khổ. Vì thế ta cạo bỏ râu tóc, khoác cà-sa làm sa-môn, cầu đạo vô vi vượt thoát thế gian." Người kia tự nghĩ: "Ta nguyện được làm quốc vương, được tự tại, khiến thiên hạ nhân dân đều thuộc về ta và tuân theo mệnh lệnh của ta." Hai người cùng phát nguyện như vậy. Về sau cả hai đều qua đời rồi lại sinh làm người. Người trước kia nguyện làm quốc vương thì sinh ở vùng ven biển, làm thái tử của một nước. Cha mẹ đặt tên là Di-lan. Người trước kia nguyện cầu đạo giải thoát Niết-bàn vô vi thì sinh tại huyện Kế Tân ở Thiên Trúc. Cha mẹ đặt tên là Đà Liệp. Vừa sinh ra đã mang theo cà-sa. Sở dĩ cùng sinh với cà-sa là do nguyện lực từ đời trước. Nhà ấy có một voi chúa cũng sinh cùng ngày. Ở Thiên Trúc, voi gọi là "na". Cha mẹ nhân theo tên voi mà đặt tên con là Na Tiên. Na Tiên lớn lên, khoảng mười lăm mười sáu tuổi, có người cậu tên Lâu Hán. Lâu Hán là sa-môn, tài năng tuyệt diệu, thế gian không ai sánh bằng. Mắt thấy thấu suốt, tai nghe thấu suốt, tự biết nơi mình từ đâu đến. Đi lại có thể bay, ra vào không ngăn ngại, không lỗ mà vào được, tự tại biến hóa không việc gì không làm được. Từ trời, người cho đến các loài bay, bò, cựa động, mọi điều trong tâm chúng sinh nghĩ đến, Lâu Hán đều biết trước. Na Tiên liền đến gặp cậu và thưa rằng: "Con có lòng hướng Phật đạo, muốn cạo bỏ râu tóc, khoác cà-sa làm sa-môn. Nay con muốn làm đệ tử của cậu. Cậu có thể cho con xuất gia được chăng?" Lâu Hán biết Na Tiên đời trước từng làm nhiều việc lành, trí tuệ sâu dày nên rất thương mến và đồng ý cho xuất gia làm sa-di. Ngày Na Tiên vừa làm sa-di, thọ mười giới, học kinh, học đạo, suy nghĩ về kinh luật, liền chứng được bốn thiền và thông hiểu các kinh. Chỉ chưa thọ giới đại sa-môn. Lúc ấy trong núi có một ngôi chùa Phật tên là Hòa Thiền. Trong chùa Hòa Thiền có năm trăm sa-môn, đều đã chứng quả A-la-hán. Trong đó vị A-la-hán đứng đầu tên là Át-pha-nhật, có thể biết mọi việc quá khứ, hiện tại và tương lai ở khắp trời người. Khi Na Tiên đủ hai mươi tuổi, ông thọ đại giới, trở thành đại sa-môn. Sau đó ông đến chùa Hòa Thiền gặp Át-pha-nhật. Khi ấy năm trăm vị A-la-hán đúng vào ngày mười lăm đang tụng kinh giới của đại sa-môn trong giảng đường. Các đại sa-môn đều đã vào chỗ ngồi, Na Tiên cũng ở trong đó. Chư tăng đều ngồi yên. Át-pha-nhật quán sát tâm mọi sa-môn trong pháp hội, thấy tất cả đều là A-la-hán, chỉ riêng Na Tiên chưa chứng quả. Át-pha-nhật bèn giảng một bài kinh thí dụ rằng: Át-pha-nhật nói ví dụ rằng: "Ví như khi sàng gạo, trong đám gạo trắng tốt mà có hạt gạo đen thì phải nhặt bỏ đi. Nay trong hội chúng của ta đều thanh tịnh trong sạch, chỉ riêng Na Tiên còn là hạt gạo đen vì chưa chứng quả A-la-hán." Na Tiên nghe Át-pha-nhật nói như vậy thì vô cùng buồn bã. Ông đứng dậy lễ bái năm trăm sa-môn rồi đi ra ngoài. Na Tiên tự nghĩ: "Ta không nên ngồi trong pháp hội này. Ta vẫn chưa được giải thoát, còn các sa-môn khác đều đã giải thoát rồi. Ví như giữa bầy sư tử có một con cáo hay chó, nay ta cũng như vậy. Từ nay nếu chưa đắc đạo, ta sẽ không vào ngồi trong chúng nữa." Át-pha-nhật biết ý nghĩ của Na Tiên nên gọi ông đến trước mặt, lấy tay xoa đầu và nói: "Không bao lâu nữa ngươi sẽ chứng quả A-la-hán, đừng lo buồn." Át-pha-nhật muốn giữ Na Tiên lại. Na Tiên còn có một vị thầy khác hơn tám mươi tuổi tên là Ca Duy. Trong huyện có một vị ưu-bà-tắc rất hiền đức, thường ngày cúng cơm cho đệ tử của Ca Duy. Na Tiên theo thầy mang bình bát đi nhận thức ăn. Thầy dặn Na Tiên ngậm nước trong miệng khi đi đến nhà vị ưu-bà-tắc lấy đồ ăn. Vị ưu-bà-tắc thấy Na Tiên tuổi còn trẻ, dung mạo đoan chính, cử chỉ khác hẳn người thường. Từ trước đã biết ông có trí tuệ, từng nghe danh tiếng thông minh và giỏi thuyết pháp. Thấy Na Tiên vào nhà, vị ấy liền đứng dậy đảnh lễ rồi chắp tay nói: "Tôi đã cúng dường các sa-môn từ lâu. Chưa từng có ai vì tôi mà thuyết kinh. Nay kính mong Na Tiên từ bi nói kinh cho tôi, khai mở sự ngu si của tôi." Na Tiên nghĩ thầm: "Ta đã nhận lời dạy của thầy, phải ngậm nước không được nói. Nếu nhổ nước ra thì phạm lời thầy. Nhưng vị ưu-bà-tắc này cũng là người tài trí có chí hướng. Nếu ta vì ông thuyết pháp, có lẽ ông sẽ đắc đạo." Nghĩ vậy, Na Tiên nhổ nước ra rồi ngồi xuống thuyết pháp. Ông nói về việc bố thí, làm lành, phụng trì kinh giới. Ai thực hành thì đời này được an ổn, đời sau sinh lên cõi trời; nếu sinh lại làm người sẽ được thông minh, giàu sang, không còn đọa vào địa ngục, ngạ quỷ hay súc sinh. Người không giữ gìn kinh giới thì đời này khổ sở, đời sau lại đọa vào ba đường ác, khó có ngày ra khỏi. Vị ưu-bà-tắc nghe pháp rất vui mừng. Na Tiên thấy lòng ông hoan hỷ nên lại giảng pháp sâu xa: "Mọi vật trong thế gian đều sẽ hoại diệt, không có gì thường còn. Mọi thứ đổi thay đều là khổ. Thân người nơi thế gian cũng như vậy. Người đời đều nói thân này là ta, thuộc về ta. Nhưng thực ra đều không được tự tại. Đạo Niết-bàn là vui nhất. Nơi ấy không sinh, không già, không bệnh, không chết, không sầu, không lo. Mọi điều ác và khổ nhọc đều hoàn toàn diệt hết." Na Tiên giảng xong, vị ưu-bà-tắc liền chứng quả Tu-đà-hoàn. Chính Na Tiên cũng chứng quả Tu-đà-hoàn. Vị ưu-bà-tắc vô cùng vui mừng, liền dọn thức ăn ngon cúng dường Na Tiên. Na Tiên bảo ông trước hết hãy để phần vào bát của thầy mình. Ăn xong, rửa ráy sạch sẽ rồi, Na Tiên mang đồ ăn trở về giao lại cho thầy. Thầy nhìn đồ ăn rồi nói: "Nếu hôm nay ngươi mang đồ ăn về như thế này thì đã phạm điều giao ước của chúng ta. Ta sẽ đuổi ngươi ra khỏi tăng chúng." Na Tiên buồn bã không vui. Thầy liền triệu tập toàn thể tỳ-kheo tăng. Khi tất cả tăng chúng đã tập hợp, thầy nói: "Na Tiên đã phạm điều giao ước của chúng ta. Nên đuổi ra khỏi tăng đoàn, không được ở trong chúng nữa." Át-pha-nhật liền nêu ví dụ rằng: "Ví như một người bắn một mũi tên mà trúng hai đích. Người như thế không nên bị đuổi ra. Na Tiên tự mình đắc đạo, lại khiến một ưu-bà-tắc đắc đạo. Không nên đuổi đi." Thầy Ca Duy nói: "Dù một mũi tên trúng trăm đích đi nữa thì quy ước của đại chúng vẫn phải giữ. Không thể cho ở lại. Những người khác đâu thể như Na Tiên, vừa đắc đạo lại giúp người khác đắc đạo. Nếu lần này không đuổi Na Tiên, người sau sẽ noi theo, không có cách gì ngăn được." Toàn thể đại chúng đều im lặng. Cuối cùng theo lời vị thầy, Na Tiên bị đuổi ra khỏi tăng đoàn. Na Tiên cúi đầu đảnh lễ dưới chân thầy, rồi đi khắp lễ bái chư tăng. Lễ xong ông rời đi, vào núi sâu ngồi dưới gốc cây. Ngày đêm tinh tấn tu đạo không hề biếng nhác. Sau đó ông tự mình chứng đắc quả A-la-hán. Ông có thể bay đi trong hư không, mắt thấy xa, tai nghe thấu, biết được ý nghĩ của người khác và tự biết các đời quá khứ của mình. Sau khi chứng A-la-hán, ông trở lại chùa Hòa Thiền. Ông đảnh lễ các vị tỳ-kheo trong chùa, xin sám hối lỗi lầm trước đây. Chư tăng đều chấp nhận. Na Tiên lễ bái xong rồi lại ra đi. Ông du hành khắp các quận huyện, đường phố, ngõ xóm để thuyết giảng kinh giới, khuyên mọi người làm lành. Trong số người nghe pháp: * Có người thọ trì năm giới. * Có người chứng quả Tu-đà-hoàn. * Có người chứng quả Tư-đà-hàm. * Có người chứng quả A-na-hàm. * Có người xuất gia làm sa-môn và chứng quả A-la-hán. Tứ Đại Thiên Vương, Đế Thích ở cõi Đao Lợi và Phạm Thiên Vương ở tầng trời thứ bảy đều đến trước Na Tiên, cúi đầu lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên. Na Tiên đều vì họ mà thuyết pháp. Danh tiếng của ông vang khắp bốn cõi trời. Nơi nào Na Tiên đi qua, chư thiên, nhân dân, quỷ thần và loài rồng đều vui mừng, ai cũng được lợi ích phước đức. Sau đó Na Tiên đến nước Xá Kiệt ở Thiên Trúc, trú tại chùa Tiết Để Ca. Ở đó có một người quen từ kiếp trước. Người ấy từng sinh làm thái tử bên bờ biển, tên là Di Lan. Từ nhỏ Di Lan thích đọc sách, học khắp các đạo khác. Ông thông hiểu mọi học thuyết dị giáo, giỏi biện luận kinh pháp, không ai có thể thắng được. Sau khi vua cha qua đời, Di Lan lên ngôi làm vua. Nhà vua hỏi các đại thần: "Trong nước có đạo nhân hay người nào có thể cùng ta biện luận kinh pháp không?" Các đại thần tâu: "Có những người học Phật đạo, gọi là sa-môn. Họ thông minh uyên bác, có thể cùng đại vương luận đạo. Hiện nay ở phương bắc, tại nước Đại Tần, có một nước tên là Xá Kiệt, vốn là cung điện của vị vua xưa. Nước ấy trong ngoài yên ổn, nhân dân hiền thiện. Thành trì bốn phía có đường đi thông suốt. Cửa thành đều được chạm trổ tinh mỹ. Trong cung, các cung nữ đều có nơi ở riêng. Phố xá, chợ búa sắp xếp ngay hàng. Đường quan rộng lớn, cửa hiệu nối tiếp. Voi ngựa, xe cộ, bộ hành, nam nữ đều rất đông đúc. Các đạo nhân, thân thích, thợ thủ công, dân thường và các nước nhỏ phụ thuộc đều có nhiều người tài giỏi. Nhân dân mặc y phục năm màu rực rỡ. Phụ nữ trang điểm trắng đẹp, đeo đầy châu ngọc. Đất nước khô ráo, nhiều châu báu. Thương nhân bốn phương dùng tiền vàng để mua bán. Ngũ cốc dồi dào, nhà nhà tích trữ. Bên chợ luôn bày bán các món cơm canh ngon, đói thì có ăn, khát thì có rượu nho và các loại rượu ngon, niềm vui không thể kể hết. Vua nước ấy tên là Di Lan, dùng chính pháp trị nước." Di Lan là người tài trí hơn người, hiểu rõ kinh điển thế gian, giỏi tranh luận về quá khứ, hiện tại và tương lai. Ông cũng tinh thông việc triều chính và phép dụng binh, mọi mưu lược đều thông đạt. Một hôm nhà vua ra khỏi thành dạo chơi. Quân lính đông đảo vây quanh hộ vệ. Trong lòng ông tự cao nghĩ rằng: "Ta là vua, có thể trả lời mọi học thuyết của chín mươi sáu đạo. Người khác hỏi không thể làm khó được ta. Ý người vừa khởi lên, ta đã đoán biết họ muốn nói gì." Nhà vua nói với các cận thần: "Hiện giờ còn sớm, vào thành cũng không có việc gì làm. Chẳng lẽ nơi đây không có vị sa-môn hay đạo nhân thông hiểu kinh điển nào có thể cùng ta luận đạo sao?" Một vị cận thần tên Chiêm Di Lợi Vọng Quần tâu rằng: "Có một sa-môn tên Dã Hòa La, rất tinh thông kinh pháp, có thể cùng đại vương tranh luận đạo lý." Vua liền sai Chiêm Di Lợi Vọng Quần đi thỉnh. Ông đến gặp Dã Hòa La và nói: "Đại vương muốn gặp đại sư." Dã Hòa La đáp: "Rất tốt. Nếu đại vương muốn gặp thì hãy tự đến. Ta không đi." Chiêm Di Lợi Vọng Quần trở về tâu lại. Vua bèn lên xe cùng năm trăm kỵ binh đến chùa. Gặp Dã Hòa La xong, vua chào hỏi rồi ngồi xuống, năm trăm kỵ binh cũng ngồi theo. Vua hỏi: "Vì sao ông bỏ nhà, bỏ vợ con, cạo tóc để khoác cà-sa làm sa-môn? Ông cầu đạo gì?" Dã Hòa La đáp: "Chúng tôi học đạo Phật, thực hành điều chân chính. Đời này được phước, đời sau cũng được phước. Vì thế mới cạo bỏ râu tóc, khoác cà-sa làm sa-môn." Vua hỏi: "Người cư sĩ mặc áo trắng, có vợ con, sống tại gia mà thực hành điều chân chính thì đời này có được phước không? Đời sau có được phước không?" Dã Hòa La đáp: "Người tại gia có vợ con mà thực hành điều chân chính thì đời này được phước, đời sau cũng được phước." Vua liền nói: "Người tại gia có vợ con mà làm điều chân chính thì cả đời này và đời sau đều được phước. Vậy ông vô cớ bỏ vợ con, cạo tóc khoác cà-sa làm sa-môn để làm gì?" Dã Hòa La liền im lặng, không biết trả lời thế nào. Các cận thần nói: "Vị sa-môn này thật sự thông minh, trí tuệ sắc bén. Chỉ vì bị hỏi gấp nên chưa kịp đáp mà thôi." Các cận thần của vua đều giơ tay hô lên: "Đại vương thắng rồi! Đại vương thắng rồi!" Dã Hòa La im lặng nhận thua. Vua nhìn quanh các vị ưu-bà-tắc. Các ưu-bà-tắc cũng không tỏ vẻ xấu hổ. Vua nghĩ: "Những vị ưu-bà-tắc này không hổ thẹn như thế hẳn còn có sa-môn thông minh, giỏi kinh điển hơn nữa, có thể cùng ta tranh luận." Vua hỏi Chiêm Di Lợi: "Còn có sa-môn trí tuệ nào có thể cùng ta luận kinh thuyết đạo không?" Lúc ấy Na Tiên là bậc thầy trong hàng sa-môn, thường cùng các sa-môn ra vào. Mọi người đều mời ông giảng kinh. Na Tiên thông hiểu cốt yếu và chỗ khó của các kinh, có thể giảng đủ mười hai bộ kinh. Sau khi phân biệt từng chương đoạn, từng câu nghĩa, ông hiểu rõ đạo Niết-bàn. Không ai có thể làm ông cùng tận lý lẽ, cũng không ai thắng được ông. Ông giải được mọi nghi hoặc, làm sáng tỏ mọi điều suy nghĩ. Trí tuệ của ông sâu rộng như sông biển, có thể khuất phục chín mươi sáu ngoại đạo. Ông được bốn chúng đệ tử của Phật kính trọng, được các bậc trí giả tôn kính quy ngưỡng, thường dùng kinh đạo giáo hóa mọi người. Na Tiên đến nước Xá Kiệt, các đệ tử đi theo cũng đều là những người lỗi lạc. Na Tiên như một con sư tử dũng mãnh. Chiêm Di Lợi tâu vua: "Có một vị sa-môn khác tên là Na Tiên, trí tuệ sâu xa vi diệu, tinh thông yếu chỉ các kinh, giải mọi nghi ngờ, không điều gì không biết. Vị ấy có thể cùng đại vương luận đạo." Vua hỏi: "Quả thật có thể cùng ta luận đạo chăng?" Chiêm Di Lợi đáp: "Đúng vậy. Vị ấy không những có thể cùng đại vương luận đạo mà còn có thể cùng Phạm Thiên ở tầng trời thứ bảy luận đạo, huống chi là nhân vương." Vua liền sai Chiêm Di Lợi đi thỉnh Na Tiên. Chiêm Di Lợi đến gặp Na Tiên và thưa: "Đại vương muốn gặp ngài." Na Tiên liền cùng các đệ tử đến chỗ vua. Mặc dù chưa từng gặp Na Tiên, nhưng từ xa vua đã thấy Na Tiên trong đám đông. Cách ăn mặc và dáng đi của ông khác hẳn mọi người. Nhìn từ xa, vua biết ngay đó là Na Tiên. Vua tự nhủ: "Từ trước đến nay ta gặp rất nhiều người, vào những hội chúng rất đông, nhưng chưa từng cảm thấy sợ hãi. Nay vừa thấy Na Tiên, ta đã thấy lo lắng. Hôm nay nhất định ông ấy sẽ thắng ta. Ta chắc không bằng ông ấy. Trong lòng ta rất bất an." Chiêm Di Lợi tâu: "Na Tiên đã đến ngoài cổng." Vua hỏi: "Ai là Na Tiên?" Chiêm Di Lợi chỉ cho vua. Vua vô cùng vui mừng: "Người mà ta vừa linh cảm chính là Na Tiên." Khi thấy y phục và cử chỉ của Na Tiên khác hẳn mọi người, vua càng kính phục. Na Tiên đến trước mặt, hai bên chào hỏi xong rồi cùng ngồi đối diện. Na Tiên nói với vua: "Trong kinh Phật dạy: Người được an ổn là điều lợi lớn nhất. Biết đủ là giàu có lớn nhất. Có lòng tin là nền tảng lớn nhất. Đạo Niết-bàn là niềm vui lớn nhất." Vua hỏi: "Ngài tên là gì?" Na Tiên đáp: "Cha mẹ đặt tên tôi là Na Tiên nên mọi người gọi tôi là Na Tiên. Có lúc cha mẹ gọi tôi là Duy Tiên, có lúc gọi là Thủ La Tiên, có lúc gọi là Duy Ca Tiên. Vì thế người đời biết tôi bằng những tên ấy. Người thế gian đều có tên gọi như vậy." Vua hỏi: "Vậy ai là Na Tiên?" Rồi nhà vua hỏi tiếp: "Đầu là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Đầu không phải Na Tiên." Vua hỏi: "Mắt, tai, mũi, miệng là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Cổ, vai, tay, chân là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Đùi và cẳng chân là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Sắc tướng là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Khổ vui là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Thiện ác là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Thân là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Gan, phổi, tim, lá lách, mạch máu, ruột, dạ dày là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Nếu gộp sắc tướng, khổ vui, thiện ác, thân và tâm, năm thứ ấy lại thì có phải là Na Tiên không?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Nếu không có năm thứ ấy thì có phải Na Tiên không?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Âm thanh và hơi thở là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Vậy cái gì là Na Tiên?" Na Tiên bèn hỏi lại: "Đại vương gọi là xe. Vậy cái gì là xe? Trục xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Vành xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Nan hoa là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Moay xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Càng xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Ách kéo là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Thùng xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Đòn khiêng là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Mái che là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Nếu gom tất cả những vật liệu ấy lại một chỗ thì có gọi là xe không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Nếu những vật liệu ấy không hợp lại thì có phải xe không?" Vua đáp: "Cũng không." Na Tiên hỏi: "Âm thanh gọi tên có phải là xe không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Vậy cái gì là xe?" Vua liền im lặng, không trả lời được. Na Tiên nói: "Phật dạy rằng chính do các vật liệu ấy hợp thành mới gọi là xe. Con người cũng như vậy. Đầu, mặt, tai, mũi, miệng, cổ, vai, tay, chân, xương, thịt, gan, phổi, tim, lá lách, thận, ruột, dạ dày, sắc tướng, âm thanh, hơi thở, khổ vui, thiện ác... do các phần ấy hợp lại nên tạm gọi là người." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua lại hỏi: "Ngài có thể cùng ta luận đạo chăng?" Na Tiên đáp: "Nếu đại vương dùng trí tuệ để hỏi thì tôi có thể cùng ngài luận đạo. Nếu dùng tâm kiêu mạn của bậc đế vương thì không thể luận đạo." Vua hỏi: "Người trí luận đạo như thế nào?" Na Tiên đáp: "Người trí cùng nhau bàn luận, chất vấn, giải thích, đối đáp trên dưới, có thắng có thua, có đúng có sai. Họ tự biết điều phải điều quấy mà không sinh giận dữ. Đó là cách của người trí." Vua hỏi: "Còn vua chúa thì sao?" Na Tiên đáp: "Vua chúa thường tự do theo ý mình. Ai trái ý vua thì bị trị phạt. Đó là cách của vua chúa." Vua nói: "Ta nguyện dùng cách của người trí, không dùng cách của vua chúa. Ngài đừng xem ta là vua mà hãy nói chuyện như với sa-môn, đệ tử, ưu-bà-tắc hoặc người hầu trong tăng đoàn. Xin cứ giữ tâm ngay thẳng, không sợ hãi, cùng nhau khai mở đạo lý." Na Tiên đáp: "Rất tốt." Vua nói: "Ta muốn hỏi một điều." Na Tiên đáp: "Xin cứ hỏi." Vua nói: "Ta đã hỏi rồi." Na Tiên đáp: "Tôi cũng đã trả lời rồi." Vua nói: "Ngài trả lời điều gì?" Na Tiên đáp: "Đại vương đã hỏi điều gì?" Vua nói: "Ta chưa hỏi gì cả." Na Tiên đáp: "Vậy tôi cũng chưa trả lời gì cả." Trong lòng nhà vua suy nghĩ: "Vị sa-môn này thật trí tuệ siêu việt. Ta mới bắt đầu mà đã còn nhiều điều muốn hỏi." Vua lại nghĩ: "Trời đã tối rồi. Ngày mai ta sẽ mời Na Tiên vào cung để cùng luận đạo kỹ hơn." Vua bảo Chiêm Di Lợi: "Hôm nay trời đã tối. Ngày mai hãy mời Na Tiên vào cung để cùng luận đạo." Chiêm Di Lợi thưa với Na Tiên: "Trời sắp tối, đại vương sẽ hồi cung. Ngày mai đại vương muốn thỉnh ngài." Na Tiên đáp: "Rất tốt." Vua cưỡi ngựa trở về cung. Trên đường về, vua luôn nhớ đến tên Na Tiên, còn Na Tiên cũng nghĩ đến cuộc gặp ngày mai. Sáng hôm sau, Chiêm Di Lợi cùng các cận thần tâu vua: "Hôm nay có thỉnh Na Tiên không?" Vua đáp: "Có." Chiêm Di Lợi hỏi: "Nên để Na Tiên dẫn theo bao nhiêu sa-môn?" Vua đáp: "Tùy ý Na Tiên muốn dẫn bao nhiêu người cũng được." Quan giữ kho tên Xan tâu: "Xin cho Na Tiên chỉ dẫn mười vị sa-môn là đủ." Vua đáp: "Cứ để Na Tiên tự quyết định." Xan lại thưa: "Chỉ mười vị là được." Vua vẫn đáp: "Tùy ý Na Tiên." Xan lại nhắc lần thứ ba: "Chỉ nên cho mười vị cùng đi." Vua nghe mãi liền nổi giận: "Ngươi quả thật đúng tên Xan. Ta đâu có bảo ngươi tiếc của nhà vua, thế mà ngươi còn tiếc. Ngươi dám trái ý ta, đáng tội bị phạt." Rồi vua nói: "Thôi đi, ta tha tội cho ngươi. Chẳng lẽ làm vua mà không đủ sức cúng dường sa-môn sao?" Xan nghe vậy xấu hổ, không dám nói nữa. Chiêm Di Lợi liền đến chỗ Na Tiên, hành lễ rồi thưa: "Đại vương kính mời ngài." Na Tiên hỏi: "Nhà vua cho phép ta dẫn theo bao nhiêu sa-môn?" Chiêm Di Lợi đáp: "Tùy ý ngài." Na Tiên liền cùng Dã Hòa La và tám mươi vị sa-môn đi theo. Chiêm Di Lợi cùng mọi người đi chung, sáng sớm tiến vào thành. Trên đường, Chiêm Di Lợi hỏi Na Tiên: "Hôm qua ngài nói không có cái gì thật là Na Tiên. Vậy rốt cuộc Na Tiên là gì?" Na Tiên hỏi lại: "Theo ý ông, cái gì là Na Tiên?" Chiêm Di Lợi đáp: "Tôi cho rằng hơi thở ra vào, tức sinh khí và mạng sống, chính là Na Tiên." Na Tiên hỏi Chiêm Di Lợi Vọng Quần: "Nếu hơi thở của một người đã ra ngoài mà không trở vào nữa, người ấy còn sống được chăng?" Chiêm Di Lợi Vọng Quần đáp: "Nếu hơi thở ra mà không trở vào thì chắc chắn là chết." Na Tiên nói: "Như người thổi kèn, hơi thở ra rồi đâu có trở lại. Như người dùng ống thổi để luyện vàng hay thổi lửa, hơi thở ra rồi có trở vào không?" Chiêm Di Lợi Vọng Quần đáp: "Không trở vào." Na Tiên lại hỏi: "Như người thổi tù và bằng sừng, hơi thở ra rồi có trở vào không?" Chiêm Di Lợi Vọng Quần đáp: "Không trở vào." Na Tiên nói: "Cùng là hơi thở đã ra không trở lại, vậy vì sao người kia vẫn không chết?" Chiêm Di Lợi Vọng Quần đáp: "Về việc hơi thở ra vào ấy, tôi không hiểu được. Xin ngài giải thích." Na Tiên nói: "Hơi thở chỉ là một việc thuộc về thân. Ví như người có điều muốn nghĩ thì lưỡi phát thành lời, đó là việc của lưỡi. Ý có điều nghi ngờ thì tâm suy nghĩ, đó là việc của tâm. Mỗi thứ đều có chức năng riêng. Phân tích kỹ ra đều là không, không có thật thể nào gọi là Na Tiên cả." Chiêm Di Lợi Vọng Quần nghe xong tâm liền khai ngộ, thọ năm giới làm ưu-bà-tắc. Na Tiên liền tiến vào cung, lên điện gặp vua. Vua làm lễ Na Tiên rồi lui ra. Na Tiên ngồi xuống, tám mươi vị sa-môn cũng cùng ngồi. Vua cho dọn các món ăn ngon. Chính vua tự tay dâng thức ăn trước mặt Na Tiên. Sau khi chư sa-môn dùng cơm xong, rửa tay sạch sẽ, vua ban cho mỗi vị sa-môn một tấm cà-sa mặc trong và một đôi dép da. Riêng Na Tiên và Dã Hòa La mỗi vị được ban ba bộ cà-sa và một đôi dép da. Vua nói với Na Tiên và Dã Hòa La: "Hãy để lại mười vị, còn những người khác thì trở về." Na Tiên liền cho các sa-môn khác trở về, chỉ còn mười vị ở lại. Vua ra lệnh cho các quý nhân và cung nữ trong hậu cung: "Hãy ngồi sau màn trên điện để nghe ta cùng Na Tiên luận đạo." Các quý nhân và cung nữ đều đến ngồi sau màn để nghe Na Tiên thuyết pháp. Vua ngồi đối diện Na Tiên rồi hỏi: "Hôm nay sẽ nói điều gì?" Na Tiên đáp: "Nếu đại vương muốn nghe điều cốt yếu thì tôi sẽ nói điều cốt yếu." Vua hỏi: "Trong đạo của các ông, điều gì là quan trọng nhất? Vì sao các ông xuất gia làm sa-môn?" Na Tiên đáp: "Chúng tôi muốn từ bỏ những khổ nhọc của thế gian, không muốn còn chịu khổ ở đời sau. Vì vậy mới xuất gia làm sa-môn. Đó là điều thiện quan trọng nhất." Vua hỏi: "Có phải tất cả sa-môn đều vì không muốn chịu khổ đời này và đời sau nên xuất gia không?" Na Tiên đáp: "Không hẳn như vậy. Có bốn hạng sa-môn." Vua hỏi: "Bốn hạng nào?" Na Tiên đáp: "Có người vì mắc nợ nên xuất gia. Có người vì sợ quan quyền nên xuất gia. Có người vì nghèo khổ nên xuất gia. Có người thật lòng muốn dứt trừ khổ não đời này và đời sau nên xuất gia." Na Tiên nói tiếp: "Riêng tôi từ đầu đã một lòng cầu đạo nên xuất gia." Vua hỏi: "Vậy nay ngài vì đạo mà xuất gia sao?" Na Tiên đáp: "Từ nhỏ tôi đã làm sa-môn, gặp được kinh pháp và các bậc đệ tử Phật. Chư sa-môn đều là những người thông tuệ. Tôi học kinh giới, ghi sâu vào tâm. Vì muốn đoạn trừ khổ nhọc đời này và đời sau nên xuất gia." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Có người chết rồi không còn tái sinh nữa chăng?" Na Tiên đáp: "Có người tái sinh, cũng có người không tái sinh." Vua hỏi: "Ai tái sinh, ai không tái sinh?" Na Tiên đáp: "Người còn ân ái và tham dục thì tái sinh. Người không còn ân ái và tham dục thì không tái sinh nữa." Vua hỏi: "Người chỉ do một lòng nghĩ đến chính pháp và điều thiện nên không tái sinh chăng?" Na Tiên đáp: "Người nhờ một lòng nghĩ đến chính pháp, điều thiện, trí tuệ và các việc lành khác nên không còn tái sinh." Vua hỏi: "Chính pháp và trí tuệ có phải là một nghĩa không?" Na Tiên đáp: "Ý nghĩa khác nhau, không phải một." Vua hỏi: "Trâu, ngựa và các loài gia súc có trí tuệ hay không?" Na Tiên đáp: "Trâu ngựa và các loài gia súc đều có trí riêng của chúng, nhưng tâm tính khác nhau." Na Tiên lại nói: "Đại vương từng thấy người gặt lúa mạch chưa? Tay trái nắm lúa, tay phải dùng liềm cắt." "Người có trí cũng vậy, dùng trí tuệ để cắt đứt ái dục, giống như người gặt lúa." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi tiếp: "Những việc lành khác là gì?" Na Tiên đáp: "Thành tín, hiếu thuận, tinh tấn, nhớ điều thiện, nhất tâm và trí tuệ đều là việc lành." Vua hỏi: "Thế nào là thành tín?" Na Tiên đáp: "Thành tín là không còn nghi ngờ. Tin có Phật, có Phật pháp, có tăng chúng. Tin có A-la-hán. Tin có đời này, có đời sau. Tin hiếu dưỡng cha mẹ. Tin làm thiện được thiện báo, làm ác chịu ác báo." "Nhờ có lòng tin nên tâm được thanh tịnh, xa lìa năm điều ác." Vua hỏi: "Năm điều ác là gì?" Na Tiên đáp: "Một là tham dục. Hai là sân hận. Ba là ngủ nghỉ mê muội. Bốn là mê đắm vui chơi. Năm là nghi ngờ." "Không trừ được năm điều ấy thì tâm không định. Trừ được chúng thì tâm trở nên thanh tịnh." Na Tiên nói: "Ví như Chuyển Luân Thánh Vương cùng xe ngựa và đoàn tùy tùng vượt sông làm nước đục ngầu. Sau khi mọi người qua hết, vua muốn uống nước." "Vua có viên minh châu làm sạch nước. Thả vào nước thì nước liền trong, nhờ thế vua được nước sạch để uống." "Tâm người có điều ác giống như nước đục. Đệ tử Phật đạt được con đường vượt thoát sinh tử thì tâm thanh tịnh như viên minh châu làm trong nước. Người dứt ác, giữ lòng thành tín thì tâm thanh tịnh cũng như minh nguyệt châu." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Người tinh tấn và thành tín là như thế nào?" Na Tiên đáp: "Trong hàng đệ tử Phật có người chứng quả Tu-đà-hoàn, có người chứng Tư-đà-hàm, có người chứng A-na-hàm, có người chứng A-la-hán." "Có người thấy những vị ấy mà noi theo, thực hành thành tín, rồi cũng được đạo giải thoát." Na Tiên nói: "Ví như trên núi có mưa lớn, nước chảy xuống thành dòng sâu rộng. Người ở hai bên bờ không biết sâu cạn nên không dám qua." "Có người từ xa đến, xem xét và biết được độ sâu cạn của nước. Người ấy biết sức mình, xuống nước rồi qua được." "Người hai bên thấy vậy liền noi theo và cũng vượt sông được." "Đệ tử Phật cũng như thế. Thấy người trước nhờ tâm thanh tịnh mà chứng các quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán nên hiểu rằng tất cả đều do tâm lành và tinh tấn mà thành." "Kinh Phật dạy rằng người có lòng tin chân thật có thể tự mình đạt đạo giải thoát. Người biết chế ngự năm dục, biết thân là khổ mới có thể vượt thoát thế gian. Mọi công đức đều được thành tựu nhờ trí tuệ." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Thế nào là hiếu thuận?" Na Tiên đáp: "Mọi điều lành đều lấy hiếu thuận làm gốc. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng lấy hiếu thuận làm nền tảng." Vua hỏi: "Ba mươi bảy phẩm ấy là gì?" Na Tiên đáp: "Gồm bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám chánh đạo." Vua hỏi: "Thế nào là bốn niệm xứ?" Na Tiên đáp: "Phật dạy: * Quán thân trên thân. * Quán cảm thọ trên cảm thọ. * Quán tâm trên tâm. * Quán pháp trên pháp. Đó là bốn niệm xứ." Vua hỏi: "Thế nào là bốn chánh cần?" Na Tiên đáp: "Là dứt bỏ bốn điều bất thiện, không còn nhớ nghĩ đến chúng nữa. Đó là bốn chánh cần." "Có được bốn chánh cần thì thành tựu bốn thần túc." Vua hỏi: "Thế nào là bốn thần túc?" Na Tiên đáp: "1. Mắt thấy xa. 2. Tai nghe xa. 3. Biết được tâm niệm người khác. 4. Thân có thể bay đi. Đó là bốn thần túc." Vua hỏi: "Thế nào là năm căn?" Na Tiên đáp: "1. Thấy sắc đẹp hay xấu mà tâm không tham đắm. 2. Nghe lời khen hoặc chê mà tâm không tham đắm. 3. Ngửi hương thơm hay mùi hôi mà tâm không tham đắm. 4. Nếm vị ngon hay đắng cay mà tâm không tham đắm. 5. Thân gặp điều êm dịu không vui mừng, gặp điều thô ráp cũng không chán ghét. Đó là năm căn." Vua hỏi: "Thế nào là năm lực?" Na Tiên đáp: "Chế ngự được mắt, tai, mũi, miệng và thân, khiến tâm không sa đọa. Đó là năm lực." Vua hỏi: "Thế nào là bảy giác ý?" Na Tiên đáp: "1. Niệm giác ý. 2. Trạch pháp giác ý. 3. Tinh tấn giác ý. 4. Hỷ giác ý. 5. Khinh an giác ý. 6. Định giác ý. 7. Hộ tâm giác ý. Đó là bảy giác ý." Vua hỏi: "Thế nào là tám đạo hành?" Na Tiên đáp: "1. Chánh kiến. 2. Chánh niệm. 3. Chánh ngữ. 4. Chánh trị. 5. Chánh nghiệp. 6. Chánh phương tiện. 7. Chánh ý. 8. Chánh định. Đó là tám đạo hành." "Mọi pháp trong ba mươi bảy phẩm đều lấy hiếu thuận làm gốc." Na Tiên nói: "Người mang vật nặng đi xa mà thành công đều nhờ đất nâng đỡ. Ngũ cốc, cây cối và cỏ cây trong thiên hạ cũng đều từ đất mà sinh." "Lại như người thợ muốn xây thành lớn, trước phải đo đạc và dựng nền móng, sau mới xây thành được." "Người học đạo cũng vậy. Trước tiên phải giữ kinh giới, nghĩ điều thiện. Nhờ hiểu rõ khổ não nên từ bỏ ái dục rồi tu tập tám chánh đạo." Vua hỏi: "Dùng gì để dứt ái dục?" Na Tiên đáp: "Chuyên tâm niệm đạo thì ái dục tự diệt." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Thế nào là tinh tấn?" Na Tiên đáp: "Giữ điều lành, giúp điều lành tăng trưởng, đó là tinh tấn." "Ví như tường thành sắp đổ thì chống đỡ từ bên ngoài. Nhà sắp nghiêng cũng phải chống đỡ. Đó là tinh tấn." "Ví như vua sai quân đi đánh trận, quân thế yếu sắp thua. Vua lại cho thêm quân tiếp viện, nhờ đó được thắng." "Người có tâm ác cũng như quân yếu. Dùng tâm thiện để tiêu trừ tâm ác cũng như vua thêm quân mà thắng trận." "Dùng năm tâm thiện để diệt năm tâm ác, giống như chiến đấu được thắng lợi. Đó là tinh tấn giúp thiện pháp tăng trưởng." "Nhờ tinh tấn hỗ trợ mà người đạt được thiện đạo, vượt thoát thế gian và không còn trở lui." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thế nào là thường nhớ nghĩ các điều thiện?" Na Tiên đáp: "Ví như gom nhiều loại hoa khác nhau dùng dây xâu lại thì gió thổi cũng không tan." "Lại như người giữ kho của vua biết rõ trong quốc khố có bao nhiêu vàng bạc, châu ngọc, lưu ly và châu báu." "Người tu đạo khi muốn đắc đạo thì phải thường nhớ ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đó gọi là nhớ nghĩ con đường giải thoát." "Người có tâm cầu đạo sẽ biết điều thiện điều ác, biết việc nên làm và không nên làm, phân biệt trắng đen rồi bỏ ác theo thiện." Na Tiên nói: "Ví như người giữ cửa cung biết ai là người được vua kính trọng, ai không được kính trọng, ai có lợi cho vua, ai không có lợi cho vua." "Người được vua kính trọng và có ích thì cho vào. Người không được vua kính trọng và không có ích thì không cho vào." "Tâm người cũng như thế. Điều thiện thì tiếp nhận, điều bất thiện thì ngăn lại. Giữ ý và chế tâm cũng giống như vậy." Na Tiên thuyết pháp: "Con người phải tự mình gìn giữ tâm ý và sáu dục trong thân. Giữ tâm vững chắc thì sẽ có ngày vượt thoát thế gian." Bấy giờ vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Thế nào là nhất tâm?" Na Tiên đáp: "Trong mọi điều lành chỉ có nhất tâm là hơn hết. Khi tâm được nhất thì các điều lành đều theo đó mà thành." "Ví như lầu gác đều phải có chỗ dựa. Mọi việc thiện đều nương nơi nhất tâm." "Lại như vua dẫn bốn đạo quân xuất trận: voi chiến, kỵ binh, xe chiến và bộ binh đều hộ vệ trước sau." "Các kinh giới của Phật và mọi việc thiện cũng đều theo nhất tâm mà vận hành, giống như quân đội theo vua." Na Tiên thuyết pháp: "Trong các thiện pháp, nhất tâm là gốc. Người học đạo tuy nhiều nhưng đều phải quy về nhất tâm trước tiên." "Thân người trong vòng sinh tử liên tục trôi qua như dòng nước chảy xuôi, trước sau nối tiếp không lúc nào dừng." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thế nào là trí tuệ?" Na Tiên đáp: "Như tôi đã nói, người có trí tuệ có thể dứt mọi nghi hoặc và hiểu rõ các điều lành. Đó gọi là trí tuệ." "Ví như cầm đèn vào phòng tối. Đèn vừa vào thì bóng tối liền tan, ánh sáng hiện ra. Trí tuệ của người sáng suốt cũng như ánh đèn." "Lại như người cầm dao bén chặt gỗ. Người có trí tuệ có thể chặt đứt mọi điều ác, giống như lưỡi dao sắc." "Trong thế gian, trí tuệ là điều cao quý nhất. Nhờ có trí tuệ mà con người có thể vượt thoát khổ đau sinh tử." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Những điều kinh pháp mà ngài vừa giảng trước sau tuy khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích dứt bỏ mọi điều ác phải không?" Na Tiên đáp: "Đúng vậy. Những điều thiện khác nhau mà Phật dạy đều nhằm loại trừ mọi điều ác." Na Tiên lại nói: "Ví như vua xuất động bốn đạo quân. Tuy có nhiều binh chủng khác nhau nhưng mục đích khi xuất quân chỉ là đánh bại quân địch. Các pháp thiện mà Phật giảng cũng như vậy, đều nhằm tiêu diệt mọi điều ác." Vua nói: "Lành thay! Lành thay! Lời giảng của ngài thật sâu sắc." Vua lại hỏi: "Khi người chết đi sang đường lành hay dữ, thần thức có mang theo thân cũ mà tái sinh hay bỏ thân cũ để nhận một thần thức khác?" Na Tiên đáp: "Không phải thân cũ, cũng không rời thân cũ." Rồi Na Tiên hỏi lại: "Đại vương lúc còn bú mẹ với lúc trưởng thành có phải cùng một thân không?" Vua đáp: "Thân lúc nhỏ và thân lúc lớn khác nhau." Na Tiên nói: "Từ khi còn là tinh huyết trong bụng mẹ đến khi thành bào thai có giống nhau không? Từ lúc thành hình hài đến lúc sinh ra có giống nhau không? Từ lúc mới sinh đến khi vài tuổi có giống nhau không?" "Ví như người học chữ, người khác có thể học thay cho người ấy được không?" Vua đáp: "Không thể." Na Tiên hỏi: "Người phạm tội có thể lấy người vô tội thay mình chịu tội được không?" Vua đáp: "Không thể." Na Tiên dùng ví dụ ấy giải thích về thần thức, nhưng vua chưa hiểu. Vua nói: "Nếu người khác hỏi ngài thì ngài sẽ giải thích thế nào?" Na Tiên đáp: "Đó vẫn là thân của tôi lúc nhỏ. Từ nhỏ đến lớn chỉ là sự tiếp nối của một dòng sống. Lớn nhỏ đều thuộc cùng một đời sống được nuôi dưỡng liên tục." Na Tiên hỏi: "Ví như người thắp đèn, ngọn đèn có sáng đến sáng hôm sau không?" Vua đáp: "Có, nhờ dầu đèn mà sáng đến sáng." Na Tiên hỏi: "Ngọn lửa lúc đầu đêm có phải chính là ngọn lửa lúc nửa đêm không? Ngọn lửa nửa đêm có phải chính là ngọn lửa lúc bình minh không?" Vua đáp: "Không phải cùng một ngọn lửa." Na Tiên hỏi: "Vậy giữa đêm có phải người ấy thức dậy thắp lửa mới không? Đến sáng lại thắp lửa mới không?" Vua đáp: "Không. Chỉ một ngọn đèn cháy liên tục đến sáng." Na Tiên nói: "Thần thức của con người cũng như vậy. Trạng thái trước mất đi, trạng thái sau sinh khởi. Từ sinh đến già, từ già đến chết, sau khi chết thần thức lại đến nơi tái sinh. Đó là sự nối tiếp liên tục. Không phải thần thức cũ, cũng không tách rời thần thức cũ." Người chết rồi thần thức mới theo nghiệp mà sinh đến nơi khác. Na Tiên lại nói: "Ví như sữa biến thành lạc, từ lạc lấy chất béo, từ chất béo nấu thành đề hồ. Có thể đem đề hồ gọi lại là sữa được không?" Vua đáp: "Không thể." Na Tiên nói: "Thần thức cũng như vậy. Từ sinh đến lớn, từ lớn đến già, từ già đến chết. Chết rồi lại thọ sinh thân khác. Một thân chết đi rồi lại nhận thân khác, giống như ngọn lửa này mồi sang ngọn lửa khác." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi tiếp: "Người không còn tái sinh nữa, tự mình có biết điều đó không?" Na Tiên đáp: "Có. Tự biết." Vua hỏi: "Biết bằng cách nào?" Na Tiên đáp: "Người ấy biết mình không còn ái luyến, tham dục và các điều ác nữa nên biết mình sẽ không còn tái sinh." Na Tiên hỏi: "Ví như nhà nông cày ruộng, gieo hạt rồi thu hoạch, tích trữ lương thực vào kho. Sang năm không cày không gieo nữa mà chỉ ăn lương thực trong kho. Người ấy còn mong thu được vụ mùa mới không?" Vua đáp: "Không mong nữa." Na Tiên hỏi: "Sao người ấy biết mình sẽ không có lúa mới?" Vua đáp: "Vì không cày cấy gieo trồng nên không còn mong đợi." Na Tiên nói: "Người đắc đạo cũng như vậy. Tự biết mình đã dứt bỏ ái luyến, vui khổ và tham dục nên biết sẽ không còn tái sinh." Vua hỏi tiếp: "Người không còn tái sinh có trí tuệ khác với người thường không?" Na Tiên đáp: "Có." Vua hỏi: "Có trí sáng suốt hơn không?" Na Tiên đáp: "Có." Vua hỏi: "Trí và minh là một hay khác?" Na Tiên đáp: "Ý nghĩa tương đương." Vua hỏi: "Người có trí và minh có biết hết mọi việc không?" Na Tiên đáp: "Có điều biết được, có điều không biết được." Vua hỏi: "Thế nào là biết được và không biết được?" Na Tiên đáp: "Điều chưa học thì chưa biết. Điều đã học thì biết." "Người có trí thấy rõ mọi người và mọi vật đều sẽ đổi thay, tiêu mất, không thể tự tại. Mọi điều tâm tham đắm đều là gốc khổ. Người có trí biết tính vô thường và thành bại của mọi việc. Đó là chỗ khác với người thường." Vua hỏi: "Ngu si ở đâu khi có trí tuệ?" Na Tiên đáp: "Khi trí tuệ xuất hiện thì ngu si tự tiêu diệt." Na Tiên nói: "Ví như người cầm đèn vào phòng tối thì bóng tối lập tức mất đi. Trí tuệ cũng như vậy, khi có trí tuệ thì ngu si đều tiêu mất." Vua hỏi: "Vậy trí tuệ hiện nay ở đâu?" Na Tiên đáp: "Khi trí tuệ hoàn thành công việc của nó thì trí tuệ ấy cũng chấm dứt, nhưng kết quả vẫn còn." Na Tiên nói: "Ví như ban đêm có người viết chữ dưới ánh đèn. Đèn tắt nhưng chữ viết vẫn còn." "Trí tuệ cũng như vậy. Công việc hoàn thành rồi thì trí tuệ ấy qua đi, nhưng thành quả vẫn tồn tại." Vua hỏi: "Nói rằng trí tuệ hoàn thành việc rồi tự mất đi, nghĩa là sao?" Na Tiên đáp: "Ví như người chuẩn bị sẵn năm bình nước đề phòng cháy. Khi xảy ra hỏa hoạn, người ấy dùng năm bình nước để dập lửa." "Lửa tắt rồi, người cứu hỏa còn mong giữ nguyên những bình nước ấy nữa không?" Vua đáp: "Không. Bình nước đã dùng để dập lửa rồi." Na Tiên nói: "Người tu đạo dùng năm điều thiện để dập tắt các điều ác cũng giống như nước dập lửa." Vua hỏi: "Năm điều thiện là gì?" Na Tiên đáp: "1. Tin thiện ác có báo ứng. 2. Không hủy báng kinh giới. 3. Tinh tấn. 4. Có trí tuệ và nhớ điều thiện. 5. Nhất tâm niệm đạo. Đó là năm điều thiện." "Người thực hành được năm điều ấy sẽ phát sinh trí tuệ, thấy rõ thân và vạn vật là vô thường, thấy rõ khổ, vô chủ và tánh không." Na Tiên lại nói: "Ví như thầy thuốc mang năm loại thuốc chữa bệnh. Người bệnh uống thuốc khỏi bệnh rồi, thầy thuốc đâu còn mong dùng lại chính những viên thuốc ấy nữa." Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Năm vị thuốc ví như năm điều thiện và trí tuệ. Thầy thuốc ví như người cầu đạo. Người bệnh ví như các điều ác và ngu si. Người lành bệnh ví như người đã được giải thoát." "Khi trí tuệ đã đưa con người đến đạo giải thoát thì nhiệm vụ của trí tuệ đã hoàn thành." Na Tiên lại nói: "Ví như một dũng sĩ cầm cung tên ra trận. Dùng năm mũi tên bắn thắng quân địch. Sau khi chiến thắng, người ấy còn mong thu hồi những mũi tên ấy không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Năm mũi tên ví như năm trí. Người có trí nhờ trí mà đắc đạo, như dũng sĩ chiến thắng quân địch." "Các điều ác giống như quân địch. Người tu dùng năm tâm thiện để diệt trừ mọi điều ác. Khi điều ác đã mất thì trí thiện phát sinh." "Người nhờ trí thiện mà đạt đạo giải thoát thì đạo ấy thường còn, không mất." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Người đã đắc đạo, đời sau không còn tái sinh, vậy về sau còn khổ hay không?" Na Tiên đáp: "Có trường hợp còn khổ, có trường hợp không còn khổ." Vua hỏi: "Nghĩa là sao?" Na Tiên đáp: "Thân còn khổ nhưng tâm không còn khổ." Vua hỏi: "Vì sao thân còn khổ mà tâm không khổ?" Na Tiên đáp: "Thân còn hiện hữu nên vẫn chịu các cảm giác khổ. Nhưng tâm đã dứt mọi điều ác, mọi dục vọng nên không còn khổ nữa." Vua hỏi: "Nếu người đắc đạo vẫn chưa thoát khổ nơi thân thì có phải chưa đạt Niết-bàn không?" Vua lại nói: "Người đắc đạo đã không còn yêu ghét, thân tuy khổ mà tâm an. Vậy đắc đạo để làm gì? Nếu đã thành tựu đạo rồi thì còn lưu lại làm gì?" Na Tiên đáp: "Ví như trái cây chưa chín thì không thể ép chín ngay. Khi đã chín thì cũng không cần chờ thêm nữa." Na Tiên nói tiếp: "Điều ấy cũng giống lời Tôn giả Xá-lợi-phất từng nói: 'Ta không mong chết, cũng không mong sống. Ta chỉ đợi đúng thời. Khi thời đến thì đi.'" Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Thượng hết.''' {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] svsphd7fgy7aa6tjlri8xus0gvd5mpc Biên dịch:Na Tiên Tì Khâu Kinh/Quyển 2 114 72408 206027 2026-08-20T11:54:20Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經(三卷本)/卷002 | năm= | phần = Quyển trung | trước= [[../Quyển 1|Quyển thượng]] | sau= [[../Quyển 3|Quyển hạ]] | ghi chú= }} '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Trung''' '''''Khuyết tên người dịch, phụ lục trong Đông Tấn lục.''''' Vua hỏi: "Con người cảm thấy vui l…” 206027 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經(三卷本)/卷002 | năm= | phần = Quyển trung | trước= [[../Quyển 1|Quyển thượng]] | sau= [[../Quyển 3|Quyển hạ]] | ghi chú= }} '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Trung''' '''''Khuyết tên người dịch, phụ lục trong Đông Tấn lục.''''' Vua hỏi: "Con người cảm thấy vui là thiện hay bất thiện? Cảm thấy khổ là thiện hay bất thiện? Phật chẳng phải từng nói có vui có khổ hay sao?" Vua lại nói: "Nếu là hữu vi thì không nên có khổ." Na Tiên hỏi: "Nếu lấy sắt nung đỏ đặt vào tay thì có làm bỏng tay không? Nếu lấy băng đặt vào tay thì băng có làm đau tay không?" Vua đáp: "Đều làm tay cảm thấy khó chịu." Na Tiên hỏi: "Vậy hai vật ấy đều nóng sao?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Đều lạnh sao?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Cùng khiến tay đau nhưng một nóng một lạnh. Vì sao lại cùng gọi là làm đau tay?" Vua đáp: "Trí tuệ của tôi còn nông cạn, không giải được điều này. Xin ngài giải thích." Na Tiên nói: "Trong kinh Phật dạy có sáu việc khiến người ta vui trong lòng, sáu việc khiến người ta buồn trong lòng, sáu việc khiến người ta không vui không buồn, lại có sáu việc khiến người ta buồn do quán xét bên ngoài." Vua hỏi: "Sáu việc khiến người ta vui trong lòng là gì?" Na Tiên đáp: "1. Mắt thấy điều mong muốn nên vui. 2. Tai nghe âm thanh mong muốn nên vui. 3. Mũi ngửi được mùi hương mong muốn nên vui. 4. Lưỡi nếm được vị ngon mong muốn nên vui. 5. Thân xúc chạm điều êm ái mong muốn nên vui. 6. Tâm được điều yêu thích mong muốn nên vui. Đó là sáu việc khiến người ta vui trong lòng." Vua hỏi: "Sáu việc khiến người ta vui khi quán bên ngoài là gì?" Na Tiên đáp: "1. Mắt thấy sắc đẹp nhưng biết không thể giữ mãi, đều sẽ mất đi nên sinh niềm vui quán vô thường. 2. Tai nghe âm thanh hay nhưng biết không thể giữ mãi nên vui. 3. Mũi ngửi hương thơm nhưng biết không thể giữ mãi nên vui. 4. Lưỡi nếm vị ngon nhưng biết không thể giữ mãi nên vui. 5. Thân được điều êm dịu nhưng biết không thể giữ mãi nên vui. 6. Tâm nghĩ đến dục lạc nhưng quán biết tất cả vô thường, đều phải bỏ đi nên vui. Đó là sáu việc khiến người ta vui do quán xét bên ngoài." Vua hỏi: "Sáu việc khiến người ta buồn trong lòng là gì?" Na Tiên đáp: "1. Mắt thấy điều không thích thì buồn. 2. Tai nghe điều không muốn nghe thì buồn. 3. Mũi ngửi mùi không muốn ngửi thì buồn. 4. Miệng gặp điều không muốn nhận thì buồn. 5. Thân chạm điều không muốn chạm thì buồn. 6. Tâm có điều không yêu thích thì buồn. Đó là sáu việc khiến người ta buồn trong lòng." Vua hỏi: "Sáu việc khiến người ta không vui là gì?" Na Tiên đáp: "1. Thấy sắc xấu thì không vui. 2. Nghe âm thanh khó nghe thì không vui. 3. Ngửi mùi hôi tanh thì không vui. 4. Nếm vị đắng cay thì không vui. 5. Chạm vật thô cứng thì không vui. 6. Tâm nghĩ đến điều ghét thì không vui. Đó là sáu việc khiến người ta không vui." Vua hỏi: "Sáu việc không vui cũng không buồn là gì?" Na Tiên đáp: "1. Mắt thấy mà không vui không buồn. 2. Tai nghe mà không vui không buồn. 3. Mũi ngửi mà không vui không buồn. 4. Miệng nếm mà không vui không buồn. 5. Thân xúc chạm mà không vui không buồn. 6. Tâm suy nghĩ mà không vui không buồn. Đó là sáu việc không vui không buồn." Vua hỏi: "Sáu việc khiến người ta buồn do quán xét bên ngoài là gì?" Na Tiên đáp: "1. Thấy người chết rồi nghĩ thân và vạn vật đều vô thường, lại tự trách vì sao mình chưa đắc đạo nên buồn. 2. Nghe âm thanh không như ý, tự trách chưa đắc đạo nên buồn. 3. Ngửi hương hay mùi mà vẫn chưa đắc đạo nên buồn. 4. Nếm vị đắng ngọt mà vẫn chưa đắc đạo nên buồn. 5. Thân đối với mềm mại hay thô cứng mà vẫn chưa đắc đạo nên buồn. 6. Tâm không còn thích dục lạc nhưng vẫn chưa đắc đạo nên buồn. Đó là sáu việc khiến người ta buồn do quán xét bên ngoài." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua lại hỏi: "Khi người chết, cái gì tái sinh ở đời sau?" Na Tiên đáp: "Danh và thân tái sinh ở đời sau." Vua hỏi: "Danh thân ấy có phải chính danh thân cũ đi tái sinh không?" Na Tiên đáp: "Không. Không phải danh cũ, không phải thân cũ. Nhưng chính do danh thân hiện đời tạo nghiệp thiện ác mà sinh sang đời sau." Vua nói: "Nếu thân đời này tạo nghiệp mà thân đời sau không phải thân ấy, chẳng phải làm thiện ác rồi đều có thể thoát khỏi hậu quả sao?" Na Tiên đáp: "Nếu làm thiện ác mà không còn tái sinh thì đúng là được giải thoát. Nhưng vì nghiệp thiện ác còn tiếp tục dẫn sinh nên không thể thoát." Na Tiên đưa ví dụ: "Ví như người trộm trái cây của người khác. Chủ vườn bắt được dẫn đến vua. Kẻ trộm nói: 'Tôi không trộm cây của ông ta. Ông ta trồng cây con, còn tôi chỉ lấy quả.' Đại vương xét xem ai đúng?" Vua đáp: "Người trồng cây đúng. Kẻ trộm có tội." Na Tiên hỏi: "Vì sao có tội?" Vua đáp: "Vì trái cây từ cây người ấy trồng mà sinh ra." Na Tiên nói: "Con người cũng vậy. Chính nghiệp thiện ác đời này là gốc sinh ra quả báo đời sau." Na Tiên lại nói: "Ví như người trộm bông lúa của người khác rồi nói: 'Tôi không trộm lúa của ông, tôi chỉ lấy bông lúa thôi.' Nếu đưa ra phân xử thì ai đúng?" Vua đáp: "Người gieo lúa đúng, kẻ trộm sai." Na Tiên hỏi: "Vì sao?" Vua đáp: "Vì không có lúa gieo thì không có bông lúa." Na Tiên nói: "Đời này tạo nghiệp thiện ác cũng như thế. Đó là gốc dẫn đến đời sau." Na Tiên lại nói: "Ví như mùa đông có người đốt lửa trong nhà để sưởi rồi bỏ đi. Lửa bén vào vách làm cháy nhà và lan sang những căn nhà khác. Chủ nhà dẫn người đốt lửa đến gặp vua. Người ấy nói: 'Tôi chỉ đốt đống lửa nhỏ để sưởi. Tôi không đốt ngôi nhà.' Ai đúng?" Vua đáp: "Người đốt lửa sai. Vì chính lửa ấy gây nên." Na Tiên nói: "Con người cũng như thế. Nghiệp thiện ác đời này là gốc sinh quả báo đời sau." Na Tiên lại nói: "Ví như người thắp đèn để ăn cơm. Đèn bén vào tường, rồi lan sang tre gỗ, đốt cháy cả nhà, sau cùng cháy cả thành. Người ấy nói: 'Tôi chỉ thắp đèn để ăn cơm. Ngọn lửa lớn không phải của tôi.' Nếu kiện nhau trước vua thì ai sai?" Vua đáp: "Người thắp đèn sai." Na Tiên hỏi: "Vì sao?" Vua đáp: "Vì ngọn lửa lớn phát sinh từ ngọn lửa ban đầu." Na Tiên nói: "Đời này tạo nghiệp cũng như vậy. Chính nghiệp hiện tại là gốc của quả báo đời sau." Người không hiểu điều ấy nên không thể giải thoát. Na Tiên lại nói: "Ví như có người đính hôn với một bé gái từ nhỏ. Sau này cô gái lớn lên, người khác lại cưới nàng làm vợ. Người đính hôn trước đến đòi lại. Người sau nói: 'Ông cưới đứa bé, còn tôi cưới người phụ nữ trưởng thành. Đó đâu phải vợ của ông.' Nếu kiện ra vua thì ai đúng?" Vua đáp: "Người đính hôn trước đúng." Na Tiên hỏi: "Vì sao?" Vua đáp: "Vì cô gái ấy tuy lớn lên nhưng vẫn chính là người đã đính hôn trước đó." Na Tiên nói: "Con người cũng như vậy. Nghiệp đời này chính là gốc của đời sau." Na Tiên lại nói: "Ví như có người mang bình đến nhà người chăn bò mua sữa. Mua xong, người ấy gửi lại bình sữa và nói: 'Tôi sẽ quay lại lấy.' Một lúc sau quay lại, sữa đã tự biến thành lạc. Người mua nói: 'Tôi gửi sữa, sao nay lại trả lạc cho tôi?' Người chăn bò đáp: 'Chính sữa của ông đã tự biến thành lạc.' Hai người tranh cãi rồi đến trước vua. Na Tiên hỏi: 'Theo đại vương, ai đúng?' Vua đáp: 'Người chăn bò đúng.' Na Tiên hỏi: 'Vì sao biết?' Vua đáp: 'Chính sữa ấy để một thời gian rồi biến thành lạc. Người chăn bò đâu có lỗi gì.' Na Tiên nói: 'Con người cũng như vậy. Chính danh thân đời này tạo thiện ác nên sinh sang đời sau. Thiện ác đời này là cái gốc.'" Vua lại hỏi: "Vậy ngài Na Tiên còn tái sinh đời sau không?" Na Tiên đáp: "Điều ấy tôi đã nói rồi. Nếu tôi còn ái luyến thì sẽ còn tái sinh. Nếu tôi không còn ái luyến thì sẽ không còn tái sinh." Na Tiên nói: "Ví như có người hết sức phụng sự nhà vua. Vua biết công nên ban thưởng tiền của. Người ấy được ban thưởng, dùng để ăn mặc, hưởng thụ vui vẻ. Nhưng lại nói: 'Tôi có công với vua mà vua chưa từng thưởng gì cho tôi.' Đại vương thấy lời ấy có đúng không?" Vua đáp: "Không đúng." Na Tiên nói: "Vì vậy tôi mới nói: nếu còn ái luyến thì còn tái sinh; nếu không còn ái luyến thì không tái sinh." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Trước đây ngài nói có danh và thân. Cái gì gọi là danh, cái gì gọi là thân?" Na Tiên đáp: "Thân hiện hữu gọi là thân. Tâm suy nghĩ gọi là danh." Vua hỏi: "Vì sao danh đi tái sinh mà thân không đi tái sinh?" Na Tiên đáp: "Danh và thân luôn nối liền với nhau. Ví như trong quả trứng có lòng và màng trứng hợp lại mới thành quả trứng. Danh và thân cũng tương liên như vậy, không thể tách rời." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thế nào gọi là lâu dài?" Na Tiên đáp: "Việc đã qua gọi là lâu. Việc tương lai cũng gọi là lâu. Chỉ hiện tại thì không gọi là lâu." Vua hỏi: "Thật có lâu dài hay không?" Na Tiên đáp: "Có trường hợp có, có trường hợp không." Vua hỏi: "Thế nào là có, thế nào là không?" Na Tiên đáp: "Người đã chứng Niết-bàn thì không còn lâu dài. Người chưa đắc đạo, còn tiếp tục sinh tử thì có lâu dài." "Người đời này bố thí, hiếu dưỡng cha mẹ thì đời sau được phước báo." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Quá khứ, vị lai và hiện tại lấy gì làm gốc?" Na Tiên đáp: "Lấy vô minh làm gốc. Từ vô minh sinh thần thức. Từ thần thức sinh thân. Từ thân sinh danh. Từ danh sinh sắc. Từ sắc sinh sáu thức." "Sáu thức là: Nhãn thức. Nhĩ thức. Tỷ thức. Thiệt thức. Thân thức. Ý thức." "Sáu thức ấy hướng ra sáu cảnh: Mắt hướng sắc, tai hướng âm thanh, mũi hướng mùi hương, lưỡi hướng vị giác, thân hướng xúc chạm, tâm hướng dục vọng." "Sáu thứ ấy hòa hợp gọi là xúc. Từ xúc sinh khổ vui. Từ khổ vui sinh ái. Từ ái sinh tham dục. Từ tham dục sinh hữu. Từ hữu sinh sinh. Từ sinh sinh già. Từ già sinh bệnh. Từ bệnh sinh chết. Từ chết sinh khóc than. Từ khóc than sinh ưu sầu. Từ ưu sầu sinh đau khổ trong tâm. Tất cả những điều ấy hợp lại gọi là con người. Vì vậy sinh tử không bao giờ dứt." Na Tiên nói: "Ví như người gieo ngũ cốc. Từ hạt sinh rễ, từ rễ sinh thân cây, lá và quả. Thu hoạch rồi năm sau lại gieo tiếp. Đại vương nghĩ xem, hạt giống ấy có khi nào tự nhiên dứt hẳn không mọc nữa?" Vua đáp: "Nếu cứ gieo mãi thì không dứt." Na Tiên nói: "Sinh tử cũng như vậy, nối tiếp không ngừng." Na Tiên lại nói: "Ví như gà sinh trứng, trứng sinh gà. Từ trứng lại sinh trứng, từ gà lại sinh gà. Sinh tử của con người cũng như vậy, không có điểm dứt." Na Tiên bèn vẽ một vòng tròn trên đất rồi hỏi: "Chiếc bánh xe này có góc cạnh không?" Vua đáp: "Không, chỉ là hình tròn." Na Tiên nói: "Phật dạy sinh tử cũng như bánh xe, xoay chuyển liên tục không có điểm đầu cuối." Na Tiên lại nói: "Khi mắt gặp sắc và sinh nhận thức, ba thứ ấy hòa hợp. Từ sự hòa hợp ấy sinh khổ vui; từ khổ vui sinh ái; từ ái sinh dục; từ dục sinh hữu; từ hữu sinh sinh; từ sinh tạo thiện ác; từ thiện ác lại tiếp tục sinh. Tai với âm thanh cũng như vậy. Mũi với hương cũng như vậy. Lưỡi với vị cũng như vậy. Thân với xúc cũng như vậy. Ý với pháp cũng như vậy." "Con người cứ thế nối tiếp sinh ra, không lúc nào dứt." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Ngài nói sinh tử không có gốc. Ý ấy là gì?" Na Tiên đáp: "Nếu có một cái gốc cố định thì sinh tử đã chấm dứt rồi. Chính vì cứ lấy cái trước làm nhân cho cái sau nên vòng sinh tử tiếp diễn." Vua hỏi: "Vậy sinh tử có thể từ nơi khác thêm vào hay không?" Na Tiên hỏi lại: "Trong đời, người và các loài côn trùng, sâu bọ có sinh trưởng ngoài nhân duyên của chính chúng không?" Vua đáp: "Điều ta hỏi là nguồn gốc của sinh tử." Na Tiên đáp: "Cây cối lấy hạt giống làm gốc. Ngũ cốc lấy hạt giống làm gốc. Vạn vật đều sinh từ nhân duyên đồng loại. Con người lấy sáu căn và ái dục làm gốc." "Mắt có sắc và thức. Tai có tiếng và thức. Mũi có hương và thức. Lưỡi có vị và thức. Thân có xúc và thức. Ý có pháp và thức." "Từ đó sinh khổ vui, từ khổ vui sinh ái, từ ái sinh dục, từ dục mà tạo thành mọi thứ khổ hợp lại thành con người." Na Tiên lại nói: "Nếu không có mắt thì không thấy sắc. Không thấy sắc thì không nhận biết. Không nhận biết thì không có xúc. Không có xúc thì không có khổ vui. Không có khổ vui thì không có ái. Không có ái thì không có dục. Không có dục thì không có hữu. Không có hữu thì không có sinh. Không có sinh thì không già, không bệnh, không chết. Không chết thì không sầu, không khóc, không đau khổ trong lòng. Dứt hết các khổ ấy tức chứng Niết-bàn." "Các căn khác cũng như vậy. Không tai, không nghe. Không mũi, không ngửi. Không lưỡi, không nếm. Không thân, không xúc. Không ý thức, không nghĩ tưởng. Không có các duyên ấy thì không có sinh tử. Dứt các khổ ấy thì chứng Niết-bàn." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Trên đời có vật nào tự nhiên sinh ra không?" Na Tiên đáp: "Không có. Mọi vật đều có nhân duyên." Na Tiên hỏi: "Cung điện đại vương đang ngồi là do người làm hay tự nhiên có?" Vua đáp: "Do người làm. Gỗ lấy từ cây, đất lấy từ đất mà xây thành." Na Tiên nói: "Con người cũng như vậy. Các giới hòa hợp nên thành người. Không có vật gì tự nhiên sinh ra." Na Tiên lại nói: "Ví như thợ gốm phải lấy đất và nước trộn thành bùn, nung bằng lửa rồi mới thành đồ gốm. Đất không thể tự biến thành đồ dùng." "Lại như đàn không dây, không trụ, không người gảy, có tự phát ra âm thanh không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Nếu có dây, có trụ, có người gảy thì có âm thanh không?" Vua đáp: "Có." Na Tiên nói: "Cho nên mọi vật đều do nhân duyên." Na Tiên lại hỏi: "Nếu không có hai thanh gỗ và không có người dùi cọ thì có sinh ra lửa không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Nếu có hai thanh gỗ và có người dùi cọ thì có lửa không?" Vua đáp: "Có." Na Tiên nói: "Mọi vật đều phải có nhân duyên." Na Tiên lại hỏi: "Nếu không có kính lấy lửa, không có mặt trời và không có người sử dụng thì có thể phát lửa không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Nếu có kính lấy lửa, có mặt trời và có người sử dụng thì có thể phát lửa không?" Vua đáp: "Có." Na Tiên nói: "Mọi vật đều nhờ nhân duyên." Na Tiên lại hỏi: "Nếu không có gương và ánh sáng thì người ta có thể tự thấy mặt mình không?" Vua đáp: "Không thể." Na Tiên hỏi: "Nếu có gương, có ánh sáng thì có thấy được không?" Vua đáp: "Có." Na Tiên nói: "Cho nên không có vật gì tự nhiên sinh ra." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Trên đời thật có con người chăng?" Na Tiên đáp: "Không thể xác định có một con người thường còn. Vậy đại vương gọi cái gì là người?" Vua đáp: "Mạng sống trong thân chính là người." Na Tiên hỏi: "Nếu mạng sống ấy là người, vậy nó có thể dùng mắt để thấy sắc, dùng tai để nghe tiếng, dùng mũi để ngửi hương, dùng lưỡi để biết vị, dùng thân để biết xúc, dùng ý để biết các pháp hay không?" Vua đáp: "Được." Na Tiên nói: "Nay tôi và đại vương đang ngồi trong cung điện này. Chung quanh có nhiều cửa sổ. Đại vương muốn nhìn qua cửa nào cũng được phải không?" Vua đáp: "Được." Na Tiên nói: "Nếu mạng sống ở trong mắt thì chỉ thấy bằng mắt chứ không thể dùng tai, mũi, miệng, thân hay ý để thấy sắc. Nếu mạng sống ở trong tai thì chỉ nghe bằng tai chứ không thể thấy sắc hay ngửi hương. Nếu ở mũi thì chỉ ngửi được. Nếu ở lưỡi thì chỉ nếm được. Nếu ở thân thì chỉ biết xúc chạm. Nếu ở ý thức thì chỉ biết suy nghĩ." Vua đáp: "Đúng vậy." Na Tiên nói: "Những điều đại vương nói trước sau không phù hợp." Na Tiên lại nói: "Ví như tôi và đại vương cùng ngồi trong điện này. Nếu phá hết bốn cửa sổ thì tầm nhìn có rộng hơn không?" Na Tiên hỏi: "Nếu khoét mắt đi thì tầm nhìn có xa hơn không? Xẻ tai cho lớn thì nghe có xa hơn không? Khoét rộng mũi thì ngửi có tốt hơn không? Mở rộng miệng thì nếm vị có nhiều hơn không? Lột da ra thì cảm nhận xúc chạm có tăng hơn không? Cắt xẻ ý thức thì trí biết có lớn hơn không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Vậy lời đại vương nói trước sau cũng không phù hợp." Na Tiên lại hỏi: "Nếu người giữ kho đến trước mặt đại vương đứng đó, đại vương có biết ông ấy đang đứng trước mặt không?" Vua đáp: "Biết." Na Tiên hỏi: "Nếu người ấy đi vào phòng trong, đại vương có biết không?" Vua đáp: "Biết." Na Tiên nói: "Nếu mạng sống thật ở trong thân, khi người ta đem thức ăn đặt vào miệng thì biết vị ngọt, chua, mặn, cay, đắng." Vua đáp: "Đúng vậy." Na Tiên nói: "Lời ấy của đại vương lại không phù hợp." Na Tiên lại nói: "Ví như người đựng rượu ngon trong chum lớn, bịt kín miệng chum rồi đặt một người vào trong chum. Người ấy có biết vị rượu không?" Vua đáp: "Không biết." Na Tiên hỏi: "Vì sao?" Vua đáp: "Vì rượu chưa vào miệng, chưa đến lưỡi." Na Tiên nói: "Như vậy lời của đại vương trước sau lại không phù hợp." Vua nói: "Ta ngu muội, chưa hiểu được nghĩa này. Xin ngài giải thích." Na Tiên đáp: "Con người do mắt thấy sắc mà thần thức động. Thần thức động thì sinh khổ vui. Ý niệm cũng như vậy. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý đều do duyên hợp mà thành. Tâm có niệm thì thần thức động. Thần thức động sinh khổ vui. Từ khổ vui sinh ý niệm. Từ ý niệm lại sinh các niệm khác, tiếp nối không ngừng, không có chủ thể thường còn." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Khi mắt sinh khởi thì mắt và thần thức sinh cùng lúc phải không?" Na Tiên đáp: "Đúng vậy, cùng sinh." Vua hỏi: "Mắt sinh trước hay thần thức sinh trước?" Na Tiên đáp: "Mắt sinh trước, thần thức sinh sau." Vua hỏi: "Mắt có nói với thần thức rằng: 'Ta sinh ở đâu thì ngươi hãy theo đó mà sinh' không? Hay thần thức nói với mắt rằng: 'Ngươi sinh ở đâu thì ta theo đó mà sinh'?" Na Tiên đáp: "Không hề có chuyện ấy." Vua hỏi: "Ngài nói đồng thời cùng sinh, sao lại không nói với nhau?" Na Tiên đáp: "Có bốn trường hợp tuy cùng xảy ra nhưng không hề nói với nhau: Dòng chảy xuôi xuống. Theo cửa mà đi. Theo vết bánh xe. Theo sự tính đếm. Đó là bốn trường hợp không hề nói với nhau." Vua hỏi: "Thế nào là dòng chảy xuống?" Na Tiên đáp: "Ví như trên núi cao có mưa, nước theo dốc mà chảy xuống. Lần mưa sau, nước vẫn chảy theo dòng cũ. Nước trước có nói với nước sau rằng: 'Hãy theo ta' không? Nước sau có nói với nước trước rằng: 'Ta sẽ theo ngươi' không?" Vua đáp: "Không. Mỗi dòng nước tự chảy." Na Tiên nói: "Mắt và thần thức cũng vậy. Mắt không bảo thần thức đi theo, thần thức cũng không bảo mắt. Đó gọi là theo dòng chảy." "Tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng như vậy." Vua hỏi: "Thế nào là theo cửa?" Na Tiên đáp: "Ví như trong một thành lớn chỉ có một cổng. Một người ra khỏi thành tất phải đi qua cổng ấy. Sau đó lại có người khác ra, cũng đi qua cổng ấy. Người trước có bảo người sau theo mình không? Người sau có bảo sẽ theo người trước không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Mắt giống như cửa. Thần thức theo mắt mà sinh nhưng không hề có sự bảo nhau. Đó gọi là theo cửa." Vua hỏi: "Thế nào là theo vết bánh xe?" Na Tiên đáp: "Ví như xe đi trước để lại vết bánh. Xe đi sau đi theo đúng vết ấy. Bánh xe trước có bảo bánh xe sau hãy theo mình không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Con người cũng giống như vậy. Mắt không bảo thần thức, thần thức cũng không bảo mắt. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng như thế." Vua hỏi: "Thế nào là sự tính đếm?" Na Tiên đáp: "Tính đếm là học tập, ghi nhớ và hiểu biết. Tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý dần dần phối hợp với nhau mới thành sự nhận biết, chứ không phải chỉ từ một thứ mà sinh ra sự hiểu biết." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Mắt sinh khởi có cùng với khổ vui sinh khởi không?" Na Tiên đáp: "Có. Khổ vui đều sinh từ sự tiếp xúc." Vua hỏi: "Tiếp xúc là gì?" Na Tiên đáp: "Hai bên chạm nhau gọi là xúc. Ví như hai con dê húc nhau. Một con là mắt, một con là sắc. Sự gặp nhau gọi là xúc. Lại như một bàn tay là mắt, một bàn tay là sắc. Hai tay chạm nhau gọi là xúc. Lại như hai hòn đá đập vào nhau. Một hòn là mắt, một hòn là sắc. Chỗ va chạm gọi là xúc. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý và thức đều như vậy." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Hạnh phúc thuộc loại gì?" Na Tiên đáp: "Tự mình cảm nhận được gọi là vui." Na Tiên nói: "Ví như một người phụng sự nhà vua rất tốt. Vua ban cho của cải. Người ấy được hưởng thụ mọi điều sung sướng rồi nghĩ: 'Ta phụng sự vua nên được thưởng như thế này.' Đó là tự biết niềm vui." "Lại như người trong đời giữ tâm thiện, nói lời thiện, làm việc thiện. Sau khi chết sinh lên cõi trời. Người ấy hưởng đủ mọi niềm vui rồi tự nghĩ: 'Ngày trước ta suy nghĩ thiện, nói lời thiện, làm việc thiện nên nay được sinh lên đây.' Đó gọi là tự biết niềm vui." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thế nào là giác?" Na Tiên đáp: "Do hiểu biết mà thành giác." "Ví như người giữ kho vào quốc khố, biết rõ vàng bạc, ngọc ngà, châu báu, vải lụa và hương liệu để ở đâu. Đó gọi là giác biết." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Sự suy nghĩ của con người thuộc loại gì?" Na Tiên đáp: "Suy nghĩ dẫn đến hành động. Ví như người pha thuốc độc rồi tự uống, lại cho người khác uống. Chính mình khổ mà người khác cũng khổ." "Người làm ác cũng vậy. Sau khi chết đọa địa ngục. Những người bị mình dẫn dắt làm ác cũng cùng chịu khổ." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thế nào là sự rung động bên trong?" Na Tiên đáp: "Khi ý chí và suy nghĩ khởi lên thì bên trong liền động." Vua hỏi: "Sự vận hành ấy như thế nào?" Na Tiên đáp: "Ví như chuông đồng hay nồi đồng bị gõ. Tiếng vang phát ra rồi còn dư âm kéo dài. Ý khởi là động, dư âm tiếp nối là hành." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Có thể tách riêng đâu là xúc, đâu là trí, đâu là niệm, đâu là ý, đâu là động được không?" Na Tiên đáp: "Không thể. Ví như đầu bếp nấu món canh ngon có nước, thịt, hành, tỏi, gừng, muối, tương và gạo nếp. Nếu đại vương bảo: 'Hãy lấy riêng vị nước, rồi vị hành, rồi vị gừng, rồi vị muối tương từ bát canh đã nấu xong đem cho ta.' Điều đó có làm được không?" Vua đáp: "Không thể. Canh đã hòa thành một vị rồi." Na Tiên nói: "Các pháp cũng như vậy. Đã hòa hợp thì không phân riêng được đâu là khổ vui, đâu là trí, đâu là động, đâu là niệm." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua lại hỏi: "Con người có thể dùng mắt để biết vị mặn của muối không?" Na Tiên đáp: "Đại vương cho là có thể sao?" Vua hỏi: "Mắt không biết vị mặn sao?" Na Tiên đáp: "Chỉ có lưỡi mới biết vị mặn, mắt không biết được." Vua hỏi: "Vậy lưỡi dùng để biết vị sao?" Na Tiên đáp: "Đúng vậy. Con người dùng lưỡi để phân biệt các vị." Vua hỏi: "Vị của mọi loại muối đều phải dùng lưỡi mới biết được sao?" Na Tiên đáp: "Đúng vậy." Vua hỏi: "Nếu xe chở muối hay bò kéo muối thì xe và bò có biết vị mặn không?" Na Tiên đáp: "Không." Vua hỏi: "Vị mặn có cân được không?" Na Tiên đáp: "Đại vương cho rằng vị mặn cân được sao?" Vua nói: "Không. Chỉ cân được trọng lượng của muối thôi." Na Tiên nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Năm loại nhận biết trong thân người là do nhiều việc hợp thành hay chỉ một việc?" Na Tiên đáp: "Do nhiều duyên hợp thành, không phải chỉ một việc." "Ví như trên cùng một thửa đất, các loại ngũ cốc đều mọc theo duyên riêng. Năm nhận biết của con người cũng như vậy." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Người đời đều có đầu, tóc, da, mặt, mắt, tai, mũi, miệng, thân thể và tay chân đầy đủ. Vì sao có người sống lâu, có người chết yểu; có người nhiều bệnh, ít bệnh; giàu nghèo, sang hèn; tài giỏi hay kém cỏi; đẹp hay xấu; được tin hay bị nghi ngờ; sáng suốt hay ngu độn?" Na Tiên đáp: "Ví như các loại cây ăn quả. Có quả chua, đắng, cay, ngọt và chua vừa. Đều là cây nhưng hương vị khác nhau." Na Tiên hỏi: "Vì sao khác nhau?" Vua đáp: "Vì chủng loại khác nhau." Na Tiên nói: "Con người cũng thế. Tâm niệm mỗi người khác nhau nên kết quả khác nhau. Có người sống lâu, có người chết yểu. Có người nhiều bệnh, có người ít bệnh. Có người giàu, có người nghèo. Có người sang, có người hèn. Có người tài giỏi, có người kém cỏi. Có người đẹp, có người xấu. Có người được tin cậy, có người không được tin. Có người sáng suốt, có người ngu đần." "Vì thế Phật dạy: ai làm thiện hay làm ác đều tự nhận lấy quả báo tương ứng. Giàu sang hay nghèo khó đều do nghiệp lành dữ từ đời trước mà có." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Người muốn làm điều thiện thì nên làm trước hay để sau?" Na Tiên đáp: "Nên làm trước. Để đến sau thì không còn ích lợi." Na Tiên hỏi: "Nếu đại vương đang khát nước rồi mới sai người đào giếng, có hết khát ngay không?" Vua đáp: "Không. Phải đào từ trước." Na Tiên nói: "Con người cũng như vậy. Việc thiện phải chuẩn bị từ trước." Na Tiên lại hỏi: "Nếu đại vương đói mới đi cày ruộng, bón phân, gieo lúa thì có cơm ăn ngay không?" Vua đáp: "Không. Phải có lương thực dự trữ từ trước." Na Tiên nói: "Người ta cũng vậy. Phải làm thiện từ trước. Đến lúc nguy cấp mới làm thì không còn ích lợi." Na Tiên hỏi: "Nếu đại vương có giặc đến mà lúc ấy mới huấn luyện voi, ngựa và binh sĩ thì có kịp không?" Vua đáp: "Không. Phải chuẩn bị từ trước." Na Tiên nói: "Kinh Phật dạy rằng con người phải tự tu tập điều thiện từ trước. Làm thiện quá muộn thì không còn nhiều lợi ích." "Đại vương chớ bỏ chính đạo theo tà đạo. Chớ noi theo người ngu bỏ thiện làm ác, đến khi hối hận thì đã muộn." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua lại hỏi: "Các sa-môn nói lửa địa ngục nóng hơn lửa thế gian. Lại nói đá nhỏ bỏ vào lửa thế gian đến tối vẫn chưa cháy hết. Nhưng đá lớn ném vào lửa địa ngục thì cháy tiêu ngay. Lại nói người tạo tội đọa địa ngục chịu khổ hàng ngàn vạn năm mà thân vẫn không tiêu mất. Điều ấy ta thật không tin." Na Tiên hỏi vua: "Đại vương có từng nghe nói loài mãng xà cái, giao long cái, ba ba cái hay cua cái mang thai sống bằng cát đá không?" Vua đáp: "Có. Chúng đều ăn những thứ ấy." Na Tiên hỏi: "Cát đá vào bụng chúng có tiêu không?" Vua đáp: "Đều tiêu." Na Tiên hỏi: "Thai trong bụng chúng có tiêu không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Vì sao không tiêu?" Vua đáp: "Vì số mệnh và nghiệp báo của nó như vậy nên không tiêu." Na Tiên nói: "Người trong địa ngục cũng như vậy. Trải qua ngàn vạn năm mà không chết mất là vì tội nghiệp chưa hết nên không tiêu diệt." Na Tiên lại hỏi: "Sư tử cái, hổ cái, chó cái, mèo cái khi mang thai đều ăn thịt và xương. Thịt xương vào bụng có tiêu không?" Vua đáp: "Đều tiêu hết." Na Tiên hỏi: "Thai trong bụng có tiêu không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Vì sao không tiêu?" Vua đáp: "Vì nghiệp báo của nó như vậy." Na Tiên nói: "Người trong địa ngục cũng thế. Tội lỗi chưa hết nên không chết mất." Na Tiên lại hỏi: "Bò cái, ngựa cái, lừa cái, nai cái, hươu cái mang thai đều ăn cỏ. Cỏ vào bụng có tiêu không?" Vua đáp: "Đều tiêu hết." Na Tiên hỏi: "Thai trong bụng có tiêu hết không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Vì sao không tiêu?" Vua đáp: "Do nghiệp báo của nó như vậy." Na Tiên nói: "Người trong địa ngục cũng vậy. Nghiệp tội chưa hết nên không chết mất." Na Tiên lại hỏi: "Phụ nữ và con gái các nhà giàu ăn uống rất ngon. Thức ăn vào bụng có tiêu không?" Vua đáp: "Đều tiêu." Na Tiên hỏi: "Thai trong bụng có tiêu không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Vì sao không tiêu?" Vua đáp: "Do nghiệp báo khiến như vậy." Na Tiên nói: "Người trong địa ngục cũng thế. Trải qua hàng ngàn năm không mất đi là vì tội lỗi đời trước chưa hết." Na Tiên nói: "Người ở địa ngục lớn lên, già đi trong địa ngục, đến khi nghiệp hết mới chết." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Các sa-môn nói rằng đất nằm trên nước, nước nằm trên gió, gió nằm trên hư không. Ta không tin điều ấy." Na Tiên liền lấy chén nước của vua, dùng ba ngón tay hớt lấy một ít nước rồi hỏi: "Nước này có được gió giữ không?" Vua đáp: "Đúng vậy." Na Tiên nói: "Nước được gió giữ cũng giống như thế." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Đạo Niết-bàn có phải sau cùng không còn gì nữa chăng?" Na Tiên đáp: "Niết-bàn không còn gì để sinh khởi nữa." Na Tiên nói: "Người ngu luôn tìm cầu yêu thương thân trong và ngoài, vì thế không thoát được già, bệnh, chết. Người trí học đạo thì không chấp trước thân trong hay thân ngoài. Không còn ái luyến thì không còn tham dục. Không còn tham dục thì không còn tái sinh. Không còn tái sinh thì không còn sinh, già. Không sinh không già thì không bệnh, không chết. Không bệnh không chết thì không buồn, không khóc. Không buồn không khóc thì không đau khổ trong lòng. Như vậy được đạo Niết-bàn." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Những người học đạo có phải ai cũng đạt Niết-bàn không?" Na Tiên đáp: "Không phải ai cũng đạt. Người đi đúng đường thiện, biết việc gì nên làm thì làm, việc gì không nên làm thì tránh. Điều nên nghĩ thì nghĩ, điều không nên nghĩ thì bỏ. Người như vậy mới đạt Niết-bàn." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Người chưa đạt Niết-bàn có biết Niết-bàn là an vui không?" Na Tiên đáp: "Có." Vua hỏi: "Chưa chứng Niết-bàn thì làm sao biết là an vui?" Na Tiên hỏi lại: "Người chưa từng bị chặt tay chân có biết đó là đau không?" Vua đáp: "Dù chưa từng bị chặt vẫn biết là đau." Na Tiên hỏi: "Nhờ đâu mà biết?" Vua đáp: "Do thấy người khác bị chặt tay chân kêu la đau đớn." Na Tiên nói: "Người chưa chứng Niết-bàn cũng vậy. Nhờ những người đã chứng Niết-bàn nói cho nghe nên biết đó là niềm vui." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Ngài Na Tiên có từng thấy Phật không?" Na Tiên đáp: "Chưa từng thấy." Vua hỏi: "Các vị thầy của ngài có thấy Phật không?" Na Tiên đáp: "Cũng chưa từng." Vua nói: "Nếu ngài và các thầy đều không thấy Phật thì chắc là không có Phật." Na Tiên hỏi lại: "Đại vương có từng thấy nơi năm trăm sông hợp dòng không?" Vua đáp: "Chưa từng." Na Tiên hỏi: "Phụ vương và tổ phụ của đại vương có từng thấy không?" Vua đáp: "Cũng chưa từng." Na Tiên hỏi: "Vậy vì phụ vương và tổ phụ đều chưa từng thấy nên không có nơi năm trăm sông hợp dòng sao?" Vua đáp: "Không phải. Dù chúng tôi chưa thấy nhưng nơi ấy thật có." Na Tiên nói: "Phật cũng như vậy. Dù tôi và các thầy chưa từng thấy Phật, nhưng Phật thật có." Vua nói: "Lành thay." '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Trung hết.''' {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] m5v3y7lhobyq8i62ywnucn2tlxj32id