Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.47.0-wmf.16 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Event Event talk Đề tài Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 0 2380 206030 205976 2026-08-20T20:23:48Z ~2026-45823-45 20527 /* */ 206030 wikitext text/x-wiki {{đầu đề |tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa |tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa |năm=1967 |dịch giả= |phần= |trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]] |sau= |wikipedia= |ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ Nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính lần duy nhất vào năm 1974. Nó bị bãi bỏ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Việt Nam Cộng hoà tuyên bố đầu hàng và giải thể. Ở dưới sẽ trình bày nguyên văn Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1967 và việc tu chính nó năm 1974. }} <pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 /> ==Tu chính án Hiến pháp (1974)== '''''VIỆT-NAM CỘNG-HÒA''''' '''PHỦ TỔNG-THỐNG''' <center>'''''LUẬT SỐ 001/74 NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 1974'''''</center> <center>'''« TU-CHÍNH HIẾN-PHÁP NGÀY 1-4-1967 »'''</center> Chiếu Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 1 tháng 4 năm 1967; Sau khi Quốc Hội đã thảo luận và biểu quyết, <center>''TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA''</center> ban hành Luật số 001/74 ngày 22 tháng 01 năm 1974 « tu chính Hiến Pháp ngày 1-4-1967 » nguyên văn như sau: Điều 1. Nay sửa đổi các Điều 52, 80 và 114 của bản văn Hiến Pháp ngày 1-4-1967 như sau: <center>''ĐIỀU 52 (mới)''</center> 1. Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một (1) Liên Danh được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín. 2. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là năm (5) năm, Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử hai lần. 3. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi (60) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy. 4. Cuộc bầu cử Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày Chủ nhật, bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt. <center>''ĐIỀU 80 (mới)''</center> 1. Tối Cao Pháp Viện gồm chín (9) Thẩm Phán do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm trên một danh sách do Tối Cao Pháp Viện và Bộ Tư Pháp thiết lập, gồm những Thẩm Phán hội đủ các điều kiện sau: — Ở trong ngạch Thẩm Phán Xử Án hay Thẩm Phán Công Tố các Tòa Sơ Thẩm và Thượng Thẩm hoặc ngạch Thẩm Phán Hành Chánh ít nhất 15 năm. Từ cấp bậc Hội Thẩm và Thẩm Lý các Tòa Thượng Thẩm hoặc Cố Vấn Hạng Nhì Tham Chính Viện trở lên. 2. Nhiệm kỳ của Thẩm Phán, Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm, cứ hai (2) năm Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm lại một phần ba (1/3) trên một danh sách được thiết lập theo các điều kiện ấn định tại đoạn 1 điều này. 3. Một Đạo Luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện. <center>''ĐIỀU 114 (mới)''</center> Trong nhiệm kỳ đầu tiên và nhiệm kỳ thứ hai, Tổng Thống có thể bổ nhiệm Đô Trưởng, Tỉnh Trưởng và Thị Trưởng. Điều 2. Tổng Thống và Phó Tổng Thống đương nhiệm sẽ mãn nhiệm đúng mười hai (12) giờ trưa ngày ba mươi mốt tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám (31-10-1975) và có thể tái ứng cử một lần nữa, chiếu đoạn 2 Điều 52 (mới) Hiến Pháp. Các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện đương nhiệm sẽ mãn nhiệm ngày hai mươi hai tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi bốn (22-10-1974). Trong nhiệm kỳ đầu tiên áp dụng thể thức tuyển chọn qui định tại Điều 80 (mới) Hiến Pháp, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện được chia làm ba (3) nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm: nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ hai (2) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ bốn (4) năm và nhóm thứ ba có nhiệm kỳ sáu (6) năm. Luật này được ban hành theo thủ tục khẩn cấp và đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Hòa. :::::::::::''Saigon, ngày 22 tháng 01 năm 1974'' :::::::::::''Ký tên NGUYỄN VĂN THIỆU'' ==Nguồn== * Cuốn ''Hiến pháp chú thích'', Trương Tiến Đạt (1967). * Cuốn ''Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà ban hành ngày 1 thánh 4 năm 1967'', Bộ Dân vận và Chiêu hồi Việt Nam Cộng hoà (1974). {{PVCC-CPVN}} [[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]] 4ukeveixoz78gh0n6hlrl86dz91yk9x Kinh Vực Sâu 0 7504 206029 204760 2026-08-20T14:48:01Z ~2026-45701-97 20525 206029 wikitext text/x-wiki {{Chất lượng vk|50%}}{{đầu đề | tựa đề = Kinh Vực Sâu | tác giả = không rõ | dịch giả = | năm = | phần = | trước = [[Chủ đề:Tôn giáo]] | sau = | ghi chú = }} {{văn| Lạy Chúa con ở dưới vực sâu kêu lên Chúa ,/ xsbbsshin Chúa hãy thương nhận lời con kêu van,/ hãy lắng nghe tiếng con cầu xin./ Nếu Chúa chấp tội, nào ai rỗi được? / Bởi Chúa hằng có lòng lành, / cùng vì lời Chúa phán hứa,/ con đã trông cậy Chúa./ Linh hồn con cậy vì lời hứa ấy, / thì đã trông cậy Chúa./ Những kẻ làm dân Đức Chúa Trời, đêm ngày hãy trông cậy Người cho liên, / vì Người rất nhân lành hay thương vô cùng, / sẽ tha hết mọi tội lỗi, / kẻ làm dân Người thay thảy. Lạy Chúa , xin ban cho linh hồn (tên linh hồn) được nghỉ ngơi đời đời, / và được sáng soi vô cùng. Lạy Chúa , xin cứu lấy linh hồn (tên linh hồn) cho khỏi tù ngục, và được nghỉ yên. Amen. Lạy ơn Đức Chúa Giêsu, Chúa đã phán dạy rằng con hãy xin thì con sẽ được / vậy con xin Chúa con lòng lành vô cùng / thương đến các linh hồn ở luyện ngục, xin Chúa nghe lời con cầu xin kêu van cho linh hồn ông bà, cha mẹ, anh em bạn hữu con, xin Chúa mở cửa thiên đàng cho các linh hồn ấy vào, xin cho các linh hồn ấy được sự sống vô cùng hằng soi cho liên. Amen. }} [[Thể loại:Kinh Kitô giáo]] 0wb2itevjqhr9obliahvz8azn9xyanu Hiệp ước của WIPO về Quyền tác giả 0 12950 206033 107338 2026-08-21T00:44:14Z Tariala 20522 /* */ 206033 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Hiệp ước của WIPO về Quyền tác giả | tác giả = | ghi đè tác giả = Hội nghị ngoại giao | dịch giả = | năm = 1996 | phần = | trước = | sau = | ấn bản = có | ghi chú = Hiệp ước được ký kết tại Geneva (Thụy Sĩ) vào ngày 20 tháng 12 năm 1996. }} <center>'''Hiệp ước của WIPO về Quyền tác giả (WCT) (1996)<br> '''với<br> '''Các tuyên bố đã được thông qua của Hội nghị ngoại giao thông qua Hiệp ước<br> '''và<br> '''Các quy định của Công ước Berne (1971)<br> '''dẫn chiếu trong Hiệp ước''' '''Hiệp ước Quyền tác giả WIPO (WCT) (1996)­''' </center> ==={{mục|0|Phần mở đầu}}=== Các Bên Ký kết, Mong muốn duy trì và phát triển sự bảo hộ các quyền tác giả đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật một cách có hiệu quả và đồng bộ nhất, Thừa nhận sự cần thiết đưa ra những quy định quốc tế mới và xác định rõ nội dung của các quy định hiện có nhằm đặt ra các giải pháp thoả đáng cho các vấn đề nảy sinh do sự phát triển mới về nền kinh tế, xã hội, văn hoá và công nghệ, Thừa nhận ảnh hưởng sâu rộng của sự phát triển và thành tựu của công nghệ tin học và truyền thông đối với việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm văn học và nghệ thuật, Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền tác giả như là sự khích lệ công việc sáng tạo ra tác phẩm văn học và nghệ thuật, Thừa nhận sự cần thiết duy trì cân bằng giữa quyền của tác giả và lợi ích của công chúng, đặc biệt trong giáo dục, nghiên cứu và tiếp cận thông tin, như được nêu trong Công ước Berne, Đã thoả thuận như sau: ==={{mục|1|Điều 1 Liên quan đến Công ước Berne}}=== (1) Hiệp ước này là một thoả thuận đặc biệt theo nghĩa của Điều 20 của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật đối với các Bên ký kết là những Bên ký kết Liên hiệp do Công ước thành lập. Hiệp ước này không có bất kỳ sự dẫn chiếu nào tới các hiệp ước khác ngoài Công ước Berne, cũng như không làm phương hại tới các quyền và nghĩa vụ được quy định tại bất kỳ hiệp ước nào khác. (2) Không có quy định nào trong Hiệp ước làm tổn hại đến những nghĩa vụ hiện tại mà các Bên ký kết đã có với nhau theo Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. (3) Sau đây, "Công ước Berne" được hiểu là nói đến Nghị định thư Paris ngày 24/6/1971 của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật (4) Các Bên ký kết phải tuân thủ các Điều 1 tới Điều 21 và Bản Phụ lục của Công ước Berne.<ref>Tuyên bố được thông qua liên quan đến Điều 1(4): như quy định ở Điều 9 của Công ước Berne và các ngoại lệ được cho phép theo đó, quyền sao chép hoàn toàn áp dụng trong môi trường kỹ thuật số, đặc biệt đối với việc sử dụng các tác phẩm ở dạng kỹ thuật số. Điểm này được hiểu là việc lưu giữ một tác phẩm được bảo hộ dưới dạng kỹ thuật số trong môi trường điện tử tạo thành việc sao chép theo nghĩa của Điều 9 Công ước Berne.</ref> ==={{mục|2|Điều 2 Phạm vi bảo hộ quyền tác giả}}=== Sự bảo hộ quyền tác giả được dành cho tác phẩm đã được thể hiện chứ không dành cho bản thân ý tưởng, thủ tục, phương thức hoạt động hoặc các khái niệm toán học. ==={{mục|3|Điều 3 Áp dụng các điều từ Điều 2 đến Điều 6 của Công ước Berne}}=== Các Bên ký kết phải áp dụng các điều khoản sửa đổi thích hợp các quy định của các điều từ Điều 2 đến Điều 6 của Công ước Berne được quy định trong Hiệp ước này.<ref>Tuyên bố được thông qua liên quan đến Điều 3: khi áp dụng Điều 3 của Hiệp ước, được hiểu rằng thuật ngữ "nước thuộc Liên hiệp" ở các điều từ Điều 2 đến Điều 6 của Công ước Berne phải được xem như là nói đến các Bên ký kết Hiệp ước này trong việc áp dụng các Điều Khoản của Công ước Berne nói trên đối với việc bảo hộ được quy định trong Hiệp ước này. Hiểu tương tự đối với thuật ngữ "nước ngoài Liên hiệp" ở các Điều Khoản trên của Công ước Berne, trong các trường hợp tương tự cũng được xem như là nói tới nước không phải là Bên ký kết Hiệp ước này và thuật ngữ "Công ước này" ở các Điều 2(8), 2<sup>bis</sup>(2), 3, 4 và 5 của Công ước Berne phải được xem là nói đến Công ước Berne và Hiệp ước này. Cuối cùng, được hiểu rằng liên quan đến các Điều 3 tới 6 của Công ước Berne về "công dân của một trong các nước thuộc Liên hiệp", khi các Điều này được áp dụng đối với Hiệp ước này, có nghĩa là công dân của một trong các nước thành viên của của tổ chức liên chính phủ là thành viên của Hiệp ước này.</ref> ==={{mục|4|Điều 4 Chương trình máy tính}}=== Chương trình máy tính được bảo hộ như là tác phẩm văn học theo nghĩa của Điều 2 Công ước Berne. Sự bảo hộ này áp dụng cho các chương trình máy tính, bất kể chúng được thể hiện dưới hình thức hoặc phương thức nào.<ref>Tuyên bố được thông qua liên quan đến Điều 4: phạm vi bảo hộ đối với chương trình máy tính theo Điều 4 của Hiệp ước này cùng với Điều 2 là phù hợp với Điều 2 của Công ước Berne và các quy định tương ứng của Hiệp định TRIPS.</ref> ==={{mục|5|Điều 5 Sưu tập dữ liệu (Cơ sở dữ liệu)}}=== Các dữ liệu hoặc tư liệu khác được sưu tập dưới bất kỳ hình thức nào, mà tạo nên những sáng tạo trí tuệ, thì được bảo hộ. Sự bảo hộ này không dành cho chính bản thân dữ liệu hoặc tư liệu đó và không làm phương hại đến bất kỳ quyền tác giả nào đang tồn tại đối với dữ liệu hoặc tư liệu trong sưu tập đó.<ref>Tuyên bố được thông qua liên quan đến Điều 5: phạm vi bảo hộ đối với sưu tập dữ liệu theo Điều 5 của Hiệp ước này, cùng với Điều 2 là phù hợp với Điều 2 của Công ước Berne và tương đương với các Điều Khoản tương ứng của Hiệp định TRIPS.</ref> ==={{mục|6|Điều 6 Quyền phân phối}}=== (1) Tác giả của tác phẩm văn học và nghệ thuật được hưởng quyền độc quyền cho phép cung cấp tới công chúng bản gốc và bản sao tác phẩm đó thông qua việc bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu. (2) Không một quy định nào trong Hiệp ước này ảnh hưởng đến quyền tự do của các Bên ký kết xác định các điều kiện có thể làm triệt tiêu, quyền được quy định tại Khoản (1) áp dụng sau khi bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu lần thứ nhất bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm với sự cho phép của tác giả.<ref>Tuyên bố được thông qua liên qụan đến Điều 6 và 7: như được sử dụng ở các Điều này, thuật ngữ "bản sao" và "bản gốc và bản sao", tuỳ thuộc vào quyền phân phối và quyền cho thuê theo các Điều này, chỉ đề cập tới các bản đã được định hình và có thể đưa vào lưu thông như các vật hữu hình.</ref> ==={{mục|7|Điều 7 Quyền cho thuê}}=== (1) Các tác giả của :(i) chương trình máy tính; :(ii) tác phẩm điện ảnh; và :(iii) tác phẩm được thể hiện trong bản ghi âm, như được xác định theo luật pháp quốc gia của Bên ký kết, sẽ được hưởng quyền độc quyền cho công chúng thuê nhằm mục đích thương mại đối với bản gốc hoặc bản sao tác phẩm của họ. (2) Khoản (1) không áp dụng :(i) đối với các chương trình máy tính, khi bản thân chương trình đó không phải đối tượng chính của việc cho thuê; và :(ii) đối với các tác phẩm điện ảnh, trừ khi việc cho thuê thương mại như vậy dẫn tới việc sao chép tràn lan các tác phẩm này, làm suy giảm thực tế quyền độc quyền sao chép. (3) Không trái với các quy định của Khoản (1), Bên ký kết, vào ngày 15/4/1994 đã và đang áp dụng một hệ thống trả tiền thù lao thoả đáng cho tác giả đối với việc cho thuê bản sao bản ghi âm các tác phẩm của họ có thể duy trì hệ thống đó với điều kiện là việc cho thuê thương mại bản ghi âm có tác phẩm như vậy không làm suy giảm thực tế quyền độc quyền sao chép của tác giả.<ref>Tuyên bố được thông qua liên qụan đến Điều 6 và 7: như được sử dụng ở các Điều này, thuật ngữ "bản sao" và "bản gốc và bản sao", tuỳ thuộc vào quyền phân phối và quyền cho thuê theo các Điều này, là chỉ đề cập tới các bản đã được định hình và có thể đưa vào lưu thông như các vật hữu hình.</ref><ref>Tuyên bố được thông qua liên quan đến Điều 7: điểm này được hiểu rằng nghĩa vụ tuân theo Điều 7(1) không buộc nước thành viên quy định độc quyền cho thuê thương mại cho tác giả mà không được hưởng các quyền này theo luật pháp nước đó đối với bản ghi âm. Điểm này được hiểu rằng nghĩa vụ này cũng phù hợp với điều 14(4) của Hiệp định TRIPS.</ref> ==={{mục|8|Điều 8 Quyền truyền đạt tới công chúng}}=== Không trái với các quy định của Điều 11(1)(ii), 11<sup>bis</sup>(1)(i) và (ii), 11<sup>ter</sup>(1)(ii) 14(1)(ii) và 11<sup>bis</sup>(1), của Công ước Berne các tác giả của các tác phẩm văn học và nghệ thuật được hưởng quyền độc quyền cho phép truyền đạt tới công chúng tác phẩm của họ, bằng vô tuyến hay hữu tuyến, kể cả việc đưa tác phẩm của họ tới công chúng theo cách thức mà những thành viên trong xã hội có thể tiếp cận các tác phẩm đó tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn.<ref>Tuyên bố được thông qua liên quan đến Điều 8: điểm này được hiểu là chỉ riêng việc cung cấp phương tiện vật chất để tạo điều kiện hoặc để thực hiện truyền đạt không tới mức truyền đạt theo nghĩa của Hiệp ước này hoặc Công ước Berne. Được hiểu là không có quy định nào ở Điều 8 ngăn cấm nước thành viên áp dụng Điều 11<sup>bis</sup>(2).</ref> ==={{mục|9|Điều 9 Thời hạn bảo hộ tác phẩm nhiếp ảnh}}=== Đối với tác phẩm nhiếp ảnh, Bên ký kết không phải áp dụng các quy định của Điều 7(4) của Công ước Berne. ==={{mục|10|Điều 10 Hạn chế và ngoại lệ}}=== (1) Các Bên ký kết có thể quy định trong pháp luật nước mình những hạn chế và ngoại lệ đối với các quyền dành cho tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật theo Hiệp ước này trong những trường hợp đặc biệt cụ thể, không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không làm phương hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả. (2) Khi áp dụng Công ước Berne, các Bên ký kết phải xác định rõ các hạn chế hoặc ngoại lệ đối với các quyền được quy định trong những trường hợp đặc biệt cụ thể mà không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không làm phương hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả.<ref>Tuyên bố được thông qua liên quan đến Điều 10: điểm này được hiểu rằng các quy định của Điều 10 cho phép nước thành viên đưa ra và mở rộng một cách hợp lý đến các hạn chế và ngoại lệ trong môi trường kỹ thuật số theo luật pháp nước mình. Tương tự như vậy, các quy định này phải được hiểu là cho phép nước thành viên đặt ra các hạn chế và ngoại lệ mới phù hợp trong môi trường mạng kỹ thuật số. Điểm này cũng được hiểu là Điều 10(2) không giảm đi cũng không mở rộng phạm vi khả năng áp dụng các hạn chế và ngoại lệ được phép theo Công ước Berne.</ref> ==={{mục|11|Điều 11 Các nghĩa vụ về biện pháp công nghệ}}=== Các Bên ký kết phải quy định sự bảo hộ pháp lý tương xứng và các biện pháp thực thi pháp lý hiệu quả đối với việc vô hiệu hoá các biện pháp công nghệ được tác giả sử dụng trong việc thực thi các quyền của mình theo Hiệp ước này hoặc Công ước Berne và ngăn chặn các hành vi mà không được tác giả cho phép hoặc không được phép theo luật đối với tác phẩm. ==={{mục|12|Điều 12 Các nghĩa vụ về thông tin quản lý quyền}}=== (1) Các Bên ký kết phải áp dụng các biện pháp thực thi pháp lý tương xứng và hiệu quả đối với bất kỳ người nào cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, hoặc theo các biện pháp thực thi dân sự dựa có cơ sở hợp lý biết rằng hành vi đó gây ra, tạo khả năng, điều kiện hoặc che giấu sự vi phạm bất kỳ quyền nào được quy định trong Hiệp ước này hoặc Công ước Berne: :(i) dỡ bỏ hoặc thay đổi bất kỳ thông tin quản lý quyền điện tử nào mà không được sự cho phép; :(ii) phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng hoặc truyền đạt tới công chúng một cách trái phép, các tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm biết rằng thông tin quản lý quyền điện tử đã bị dỡ bỏ hoặc đã bị thay đổi một cách trái phép. (2) Như được sử dụng ở Điều này, "thông tin quản lý quyền" nghĩa là thông tin xác định tác phẩm, tác giả của tác phẩm, chủ sở hữu các quyền đối với tác phẩm, hoặc thông tin về thời hạn và điều kiện sử dụng tác phẩm, và mọi con số hoặc mã ký hiệu thể hiện thông tin đó, khi các mục thông tin này được gắn với bản sao tác phẩm hoặc xuất hiện cùng với việc truyền đạt tác phẩm tới công chúng.<ref>Tuyên bố được thông qua liên quan đến Điều 12: Điểm này được hiểu rằng nói tới "sự vi phạm bất kể quyền nào được quy định trong Hiệp ước này hoặc Công ước Berne" bao gồm cả quyền độc quyền và quyền hưởng thù lao. Điểm này cũng được hiểu là nước thành viên sẽ không dựa vào Điều này để lập ra hoặc thi hành các hệ thống quản lý quyền có thể gây ra việc áp đặt các thủ tục hình thức không được phép theo Công ước Berne hoặc Hiệp ước này, ngăn cản việc tự do lưu thông hàng hoá hoặc cản trở việc hưởng các quyền theo Hiệp ước.</ref> ==={{mục|13|Điều 13 Áp dụng vào thời điểm bắt đầu có hiệu lực}}=== Các Bên ký kết phải áp dụng các quy định của Điều 18 Công ước Berne đối với mọi tác phẩm được bảo hộ quy định trong Hiệp ước này. ==={{mục|14|Điều 14 Các quy định về thực thi quyền}}=== (1) Các Bên ký kết phù hợp với hệ thống pháp luật của nước mình cam kết ban hành các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo áp dụng Hiệp ước này. (2) Các Bên ký kết phải đảm bảo rằng các thủ tục thực thi đã có trong luật pháp nước mình cũng cho phép thực hiện hành động có hiệu quả chống lại bất kỳ hành vi xâm phạm các quyền được quy định trong Hiệp ước này, bao gồm những biện pháp để ngăn chặn sự xâm phạm và các biện pháp đủ mạnh để kịp thời ngăn ngừa xâm phạm. ==={{mục|15|Điều 15 Hội đồng}}=== (1) :(a) Các Bên ký kết sẽ thành lập một Hội đồng. :(b) Mỗi Bên ký kết có một đại biểu đại diện có thể nhận sự trợ giúp của các đại biểu dự khuyết, cố vấn và chuyên gia. :(c) Các chi phí cho đoàn đại diện do Bên ký kết chỉ định đoàn chịu. Hội đồng có thể yêu cầu Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (sau đây gọi tắt là WIPO) dành cho sự trợ giúp về tài chính nhằm tạo sự thuận lợi cho việc tham gia của các đoàn của những Bên ký kết được Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc coi là những nước đang phát triển hoặc là những nước đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. (2) :(a) Hội đồng phải giải quyết những vấn đề liên quan đến việc duy trì, phát triển Hiệp ước này, việc áp dụng và thực hiện Hiệp ước. :(b) Hội đồng phải thực hiện các chức năng đã được xác định theo Điều 17(2) trong trường hợp tổ chức liên chính phủ trở thành Bên tham gia Hiệp ước. :(c) Hội đồng quyết định việc triệu tập hội nghị ngoại giao để sửa đổi Hiệp ước và đưa ra các khuyến nghị cần thiết cho Tổng Giám đốc WIPO về việc chuẩn bị hội nghị ngoại giao này. (3) :(a) Mỗi Quốc gia là Bên ký kết có một phiếu bầu và chỉ được bỏ phiếu nhân danh quốc gia mình. :(b) Bên ký kết là tổ chức liên chính phủ được tham gia bỏ phiếu thay cho các Bên ký kết của tổ chức mình với số phiếu bầu tương đương với số Bên ký kết của tổ chức mình là Bên tham gia Hiệp ước này. Không một tổ chức liên chính phủ nào được tham gia bỏ phiếu nếu bất kỳ một Bên ký kết nào của tổ chức này thực hiện quyền bỏ phiếu của mình và ngược lại. (4) Hội đồng nhóm họp thường kỳ hai năm một lần theo sự triệu tập của Tổng Giám đốc WIPO. (5) Hội đồng phải lập ra quy chế hoạt động của mình, kể cả việc triệu tập khoá họp bất thường, yêu cầu về số đại biểu tối thiểu hợp lệ, và đa số phiếu bầu cần thiết cho việc thông qua những quyết định khác nhau tuỳ thuộc vào những quy định của Hiệp ước. ==={{mục|16|Điều 16 Văn phòng Quốc tế}}=== Văn phòng Quốc tế của WIPO sẽ thực hiện những công việc quản lý liên quan đến Hiệp ước. ==={{mục|17|Điều 17 Điều kiện để trở thành Bên tham gia Hiệp ước}}=== (1) Bất kỳ Nước thành viên nào của WIPO đều có thể trở thành Bên tham gia Hiệp ước này. (2) Hội đồng có quyền quyết định chấp nhận bất kỳ tổ chức liên chính phủ nào mà tuyên bố rằng mình có đủ thẩm quyền, và có điều lệ riêng ràng buộc tất cả các Bên ký kết của tổ chức và rằng tổ chức đã được uỷ quyền, theo quy chế hoạt động của tổ chức mình, đối với các vấn đề được quy định trong Hiệp ước này, trở thành Bên tham gia Hiệp ước này. (3) Cộng đồng châu Âu, có đưa ra tuyên bố nói tại Khoản trên tại Hội nghị Ngoại giao thông qua Hiệp ước này, có thể trở thành Bên tham gia Hiệp ước. ==={{mục|18|Điều 18 Các quyền và nghĩa vụ theo Hiệp ước}}=== Các Bên ký kết được hưởng tất cả các quyền và thực hiện tất cả các nghĩa vụ theo Hiệp ước, trừ trường hợp các quy định riêng của Hiệp ước này có quy định khác. ==={{mục|19|Điều 19 Ký kết Hiệp ước}}=== Đến ngày 31/12/1997 Hiệp ước này được mở để mọi nước Thành viên của WIPO và Cộng đồng châu Âu ký. ==={{mục|20|Điều 20 Đưa Hiệp ước vào hiệu lực}}=== Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực 3 tháng sau khi có 30 văn kiện phê chuẩn hay gia nhập của các Nước được nộp tới Tổng Giám đốc WIPO. ==={{mục|21|Điều 21 Ngày có hiệu lực để trở thành Bên tham gia Hiệp ước}}=== Hiệp ước sẽ ràng buộc: :(i) 30 Nước nói tại Điều 20 từ ngày Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực; :(ii) Các Nước khác, từ ngày hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày Nước đó nộp văn kiện của mình tới Tổng Giám đốc WIPO; :(iii) Cộng đồng châu Âu, từ ngày hết thời hạn 3 tháng sau khi nộp văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập của mình nếu văn kiện này được nộp sau khi Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực theo Điều 20, hoặc 3 tháng sau khi Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực nếu như văn kiện này được nộp trước khi Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực; :(iv) mọi tổ chức liên chính phủ khác được chấp nhận trở thành Bên tham gia Hiệp ước này từ ngày hết thời hạn 3 tháng sau khi nộp văn kiện gia nhập của mình. ==={{mục|22|Điều 22 Không có bảo lưu đối với Hiệp ước}}=== Không một bảo nào đối với Hiệp ước này được chấp nhận. ==={{mục|23|Điều 23 Rút khỏi Hiệp ước}}=== Các Bên ký kết có thể rút khỏi Hiệp ước này thông qua thông báo gửi tới Tổng Giám đốc WIPO. Việc rút khỏi này có hiệu lực một năm sau ngày Tổng Giám đốc WIPO nhận được thông báo. ==={{mục|24|Điều 24 Ngôn ngữ của Hiệp ước}}=== (1) Hiệp ước được ký từng đơn bản bằng tiếng Anh, Ả Rập, Trung Quốc, Pháp, Nga và Tây Ban Nha, các bản này có giá trị ngang nhau. (2) Văn bản chính thức bằng những thứ tiếng khác với thứ tiếng nêu tại Khoản (1) sẽ do Tổng Giám đốc WIPO lập ra theo yêu cầu của thành viên có liên quan phải lấy ý kiến của tất cả các Bên ký kết có liên quan. Trong Khoản này, thì "Bên ký kết có liên quan" có nghĩa là bất kỳ Bên ký kết nào của WIPO có ngôn ngữ chính thức, hoặc có một trong các ngôn ngữ chính thức đang hoặc yêu cầu lập; Cộng đồng châu Âu và các tổ chức liên chính phủ có thể trở thành Bên ký kết Hiệp ước, nếu một trong các ngôn ngữ chính thức của những tổ chức đó được yêu cầu lập. ==={{mục|25|Điều 25 Lưu giữ}}=== Tổng Giám đốc WIPO là người lưu giữ Hiệp ước. ---- Hiệp ước được Hội nghị Ngoại giao của WIPO về một số vấn đề về quyền tác giả và quyền kề cận thông qua tại Geneva, ngày 20/12/1996. ===Các trích dẫn liên quan đến Hiệp ước=== {{reflist}} {{PD-UN}} [[Thể loại:Công ước]] [[Thể loại:Luật bản quyền]] r1tfogm9284kqw1up0pz44u3uk1rk1z Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946 0 17110 206032 205850 2026-08-21T00:32:50Z Tariala 20522 /* */ 206032 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt 6-3-1946 | tác giả = | ghi đè tác giả = của Hội nghị Ngoại giao | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ấn bản = có | năm = 1946 | wikipedia = Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) | ghi chú = Bằng việc Pháp và Trung Quốc ký kết Hiệp ước Trùng Khánh vào tháng 2 năm 1946, quân Pháp được phép tiến ra phía Bắc vĩ tuyến 16 của Liên bang Đông Dương (bao gồm Bắc Việt Nam) để thay quân Trung Quốc trong việc giải giáp quân Nhật. Đông Dương lúc đó là thuộc địa của Pháp nên Pháp muốn tái chiếm nơi này, và quân Pháp lúc đó đang có đụng độ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Nam Đông Dương, cụ thể là Nam Việt Nam. Nhằm tránh đụng độ với Pháp ở cả Bắc Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhân nhượng Pháp. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký tắt một bản hiệp định sơ bộ gồm 3 khoản chính và 4 khoản phụ, qua đó Việt Nam chỉ là quốc gia tự do trong Liên hiệp Pháp và việc Nam Kỳ có nhập vào Việt Nam không thì phụ thuộc vào trưng cầu dân ý. }} == Toàn văn Hiệp định == <center>'''HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ'''</center> Một bên là Chính phủ Cộng hòa Pháp do ông Xanh tơ ny (Sainteny), người thay mặt và có sự ủy nhiệm chính thức của Thủy sư đô đốc Đác giăng li ơ (George Thierry d' Argenlieu), Thượng sứ Pháp thụ nhiệm ủy quyền của Chính phủ Cộng hòa Pháp làm đại biểu. Một bên là {{SIC|Chinh|Chính}} phủ Cộng hòa Việt Nam do cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng là ông Vũ Hồng Khanh làm đại biểu.. Hai bên đã thỏa thuận về các khoản sau đây: :1) Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình, và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương ở trong khối Liên hiệp Pháp. Về việc hợp nhất ba Kỳ, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận, những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết. :2) Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, đón tiếp quân đội Pháp khi quân đội ấy chiểu theo theo các hiệp định quốc tế đến thay thế quân đội Trung Hoa. Một Hiệp định phụ khoản đính theo Hiệp định sơ bộ này sẽ định rõ cách thức thi hành công việc thay thế ấy. :3) Các điều khoản kể trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi ký hiệp định, hai Chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ ngay cuộc xung đột, để giữ nguyên quân đội hai bên tại vị trí hiện thời và để gây ra một bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay các cuộc điều đình thân thiện và thành thực. Trong cuộc điều đình ấy sẽ bàn về: ::a) Những liên lạc ngoại giao của Việt Nam với nước ngoài. ::b) Chế độ tương lai của Đông Dương. ::c) Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam. :Các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Paris có thể được chọn làm nơi hội họp cuộc hội nghị. :::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946'' {| class="wikitable sortable" |- ! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký'' |- | HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY |} == Phụ khoản kèm theo == <center>'''PHỤ KHOẢN'''</center> <center>'''Đính theo Hiệp định sơ bộ của Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Việt Nam'''</center> Hai Chính phủ kể trong bản Hiệp định sơ bộ đã thỏa thuận các khoản sau này: :1) Những lực l­ượng quân bị thay thế quân đội Trung Hoa sẽ gồm có: ::a) 10.000 quân Việt Nam với các sĩ quan Việt Nam thuộc quyền điều khiển của các nhà chức trách quân sự Việt Nam. ::b) 15.000 quân Pháp, trong số đó đã kể số lính Pháp hiện nay đã đóng trong cõi Việt Nam ở phía Bắc vĩ tuyến 16. ::15.000 lính Pháp ấy phải là những người Pháp chính tông, trừ những đội phụ trách canh phòng tù binh Nhật Bản. ::Tổng cộng các lực lượng kể trên sẽ đặt dưới quyền của Tư lệnh Pháp do các đội viên Việt Nam cộng tác. ::Khi các đội quân Pháp đã đổ bộ, một Hội nghị Tham mưu gồm các đại biểu của Bộ tư lệnh Pháp và Bộ tư lệnh Việt Nam sẽ định rõ sự tiến triển, sự du nhập, và cách sử dụng các đội quân Pháp và các đội quân Việt Nam đã kể trên. ::Sẽ lập ra những Ủy ban binh vụ Pháp - Việt ở tất cả các cấp quân đội để chuyên việc liên lạc binh sĩ Pháp và Việt Nam theo tinh thần cộng tác thân hữu. :2) Những đội quân Pháp dùng để thay thế quân đội Trung Hoa sẽ chia ra làm 3 hạng: ::a) ''Những đội phụ trách việc canh phòng tù binh Nhật Bản''. - Các đội này sẽ rút về Pháp ngay khi nào nhiệm vụ của họ đã xong, nghĩa là sau khi tù binh Nhật Bản đã được đem ra khỏi xứ này; dù sao thời gian ấy không được quá 10 tháng. ::b) ''Những đội quân cùng với quân đội Việt Nam phụ trách về việc công an và phòng vệ đất nước Việt Nam''. - Cứ mỗi năm một phần năm (1/5) các đội quân sẽ về Pháp để quân đội Việt Nam thay thế. Vậy trong 5 năm, quân đội Việt Nam sẽ thay thế toàn số quân đội Pháp này. ::c) ''Những đội quân phụ trách việc phòng vệ các căn cứ hải và không quân''. - Thời hạn của nhiệm vụ giao cho các đội này sẽ do các cuộc hội nghị sau quyết định. :3) Ở các nơi đồn trú có quân đội Pháp và quân đội Việt Nam đóng giữ, những khu vực riêng biệt cho đôi bên sẽ được định rõ. :4) Chính phủ Pháp cam đoan không dùng các tù binh Nhật vào những việc có mục đích quân sự. :::::::::::::::::::::::::::::''Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946'' {| class="wikitable" |- ! ''đã ký'' !! ''đã ký'' !! ''đã ký'' |- | HỒ CHÍ MINH || VŨ HỒNG KHANH|| XANH TƠ NY |} {{PVCC-CPVN}} [[Thể loại:Hiệp định]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] [[Thể loại:Văn kiện ngoại giao]] [[zh:越法初步协定(1946年)]] 1ji12qvc2vc2tutfvff0qezuj5oeumj Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa 0 34598 206031 205766 2026-08-20T20:24:32Z ~2026-45823-45 20527 /* */ 206031 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Bản Tuyên Cáo của Quốc Trưởng Việt Nam thành lập chế độ Cộng Hòa | tác giả = Ngô Đình Diệm | dịch giả = | phần = | trước = [[Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949|Hiệp định Élysée 1949]] | sau = [[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]] | năm = 1955 | ghi chú = Bản tuyên ngôn này được tạo ra ngày 26 tháng 10 năm 1955 để bãi bỏ [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] và thành lập [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] (Đệ Nhất Cộng hoà), dẫn tới việc Quốc trưởng [[w:Bảo Đại|Bảo Đại]] bị phế truất và Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống. Việt Nam Cộng hoà sẽ ban hành hiến pháp để chính thức hóa sự tồn tại của mình đúng một năm sau. }} <pages index="Con duong chinh nghia, quyen 2.pdf" from=11 fromsection="ct26101955" to=13 tosection="ct26101955" /> {{PVCC-CPVN}} [[Thể loại:Tuyên ngôn]] 74rv2x7xei7hby2qu579nx90sslts3u Biên dịch:Neelakesi 114 72377 206042 205837 2026-08-21T08:39:28Z Mrfly911 2215 206042 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Neelakesi | tác giả= | ngôn ngữ = ta | bản gốc= நீலகேசி | năm= | phần = | trước= | sau= | ghi chú= '''Neelakesi''' ( tiếng Tamil: நீலகேசி, đã Latinh hoá: Nīlakēci, n.đ. 'Woman with blue hair', nghĩa đen: 'Người phụ nữ có mái tóc xanh') là một tác phẩm thơ sử thi Jain bằng tiếng Tamil. Truyền thống văn học Tamil xếp nó vào nhóm năm bài thơ sử thi nhỏ, cùng với Naga kumara kaviyam, Udhyana kumara Kaviyam, Yasodhara Kaviyam và Soolamani. Đây là một tác phẩm tranh luận được viết như một phản biện của đạo Jain đối với những chỉ trích của Phật giáo trong sử thi lớn Tamil Kundalakesi. {{Wikipediaref}} }} == The Debate on Meaning of Life in the Tamil Minor Epic Neelakesi: Drawing Some Inspirations to Engage the Gen Z in Religious Matters== * [[/The Debate on Meaning of Life in the Tamil Minor Epic Neelakesi: Drawing Some Inspirations to Engage the Gen Z in Religious Matters|The Debate on Meaning of Life in the Tamil Minor Epic Neelakesi: Drawing Some Inspirations to Engage the Gen Z in Religious Matters]] ==Neelakesi நீலகேசி== * [[/Giấc mơ Parthiban/Phần III/Neelakesi|Giấc mơ Parthiban/Phần III/Neelakesi]] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Kỳ Na giáo]] nci0tsh9zmxkekjib8grvetd3mk0jzp Biên dịch:Na Tiên Tì Khâu Kinh 114 72406 206034 206025 2026-08-21T03:19:17Z Mrfly911 2215 206034 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經 | năm= | phần = | trước= | sau= | ghi chú= '''Di Lan Đà vấn đạo''' hay '''Mi Lan Đà vấn đạo''' (tiếng Pali: Milindapañhā, nghĩa là "Những câu hỏi của [vua] Di Lan Đà"), hoặc có các tên gọi khác như '''Kinh Mi Tiên vấn đáp''', '''Na Tiên tì-kheo kinh''' và '''Di Lan Vương vấn kinh''' (彌蘭王問經) trong các tài liệu Trung Quốc, là một kinh điển Phật giáo bằng tiếng Pali, có niên đại từ khoảng năm 100 TCN đến năm 200 TCN, ghi lại cuộc đối thoại giữa tì-kheo Na Tiên (tiếng Pali: Nāgasena) và quốc vương Ấn-Hy Lạp Menandros I (tiếng Pali: Milinda) của Bactria, người trị vì vào thế kỷ thứ 2 TCN. {{Wikipediaref}} }} == 1670a Na Tiên Tì Khâu Kinh (bản 2 quyển)== '''1670a 那先比丘經 2卷 失譯人名''' == 1670b Na Tiên Tì Khâu Kinh (bản 3 quyển)== '''1670b 那先比丘經〔別本〕 3卷 失譯人名''' * [[/Quyển 1|Quyển 1]] * [[/Quyển 2|Quyển 2]] * [[/Quyển 3|Quyển 3]] {{Kinh điển Phật giáo}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] 83x85mt4eaz0z8uoiougzucuwo14zoe Biên dịch:Na Tiên Tì Khâu Kinh/Quyển 1 114 72407 206035 206026 2026-08-21T03:20:43Z Mrfly911 2215 206035 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經(三卷本)/卷001 | năm= | phần = Quyển thượng | trước= | sau= [[../Quyển 2|Quyển trung]] | ghi chú= }} '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Thượng''' '''''Khuyết tên người dịch, phụ lục trong Đông Tấn lục.''''' Đức Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc. Khi ấy có các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, các thiên vương, đại thần, trưởng giả, nhân dân, cùng những người theo chín mươi sáu đạo khác nhau, tổng cộng hơn vạn người, hằng ngày đến trước Phật nghe kinh. Phật tự nghĩ rằng số người ngày càng đông, thân không được yên ổn. Ngài muốn rời đại chúng đến nơi thanh vắng để ngồi tư duy niệm đạo. Phật liền rời mọi người, vào núi đến khoảng rừng cây Giáo-la. Trong rừng có thần cây. Phật ngồi dưới cây suy niệm đạo thanh tịnh. Cách rừng không xa có một đàn voi hơn năm trăm con. Trong đó có voi chúa hiền lành, hiểu rõ điều thiện ác, chẳng khác người. Chung quanh voi chúa có rất nhiều voi đực, voi cái, voi ngà dài, ngà vừa và voi còn nhỏ. Khi voi chúa khát muốn đi uống nước, bầy voi con tranh nhau chạy đến trước xuống nước uống. Uống xong lại chạy nhảy đùa giỡn, khuấy đục nước. Vì thế voi chúa không có nước sạch để uống. Khi voi chúa đói muốn đi ăn cỏ, bầy voi nhỏ lại chạy đến trước ăn hết cỏ ngon, còn giẫm đạp lên đó. Vì vậy voi chúa không có cỏ sạch để ăn. Voi chúa tự nghĩ: "Ta vì đàn voi quá đông nên sinh nhiều phiền nhiễu. Bầy voi và voi con này làm nước đục, cỏ bẩn, còn ta thường phải uống nước đục, ăn cỏ bị giẫm đạp. Ta nên bỏ đàn voi này mà đến nơi thanh vắng cho thư thái chăng?" Voi chúa liền bỏ đàn, đi sâu vào núi đến rừng cây Giáo-la. Voi chúa thấy Phật đang ngồi dưới gốc cây thì vô cùng vui mừng. Nó tiến đến trước Phật, cúi đầu khuỵu gối làm lễ rồi đứng sang một bên. Phật tự nghĩ: "Ta bỏ mọi người đến đây. Voi chúa cũng bỏ đàn voi đến nơi này. Ý nghĩa thật tương đồng." Phật vì voi chúa thuyết kinh rằng: "Trong loài người, Phật là tôn quý nhất. Trong các loài voi, voi chúa cũng là bậc tôn quý. Tâm ta và tâm voi chúa nay rất tương hợp. Ta và voi chúa đều thích nơi rừng cây này." Voi chúa nghe kinh xong liền khai ngộ, hiểu được ý Phật. Từ đó nó xem xét nơi Phật đi kinh hành, dùng vòi lấy nước tưới đất, dùng vòi nhổ cỏ quét dọn mặt đất, lại dùng chân giẫm cho bằng phẳng đẹp đẽ. Sáng chiều voi chúa đều phụng sự như vậy. Về sau lâu ngày, Phật nhập đạo Niết-bàn vô vi mà đi. Voi chúa không biết Phật ở đâu, đi khắp nơi tìm kiếm mà không gặp. Nó khóc than sầu não, không vui, chẳng dám ăn uống. Lúc ấy trong nước có một ngôi chùa Phật trên núi tên là Ca-la-hoàn. Trong chùa có năm trăm sa-môn cùng cư trú, đều đã chứng quả A-la-hán. Vào các ngày lục trai mỗi tháng, họ tụng kinh suốt đêm đến sáng. Voi chúa cũng ở trên núi gần ngôi chùa ấy. Nó biết có ngày lục trai tụng kinh nên đến ngày ấy thường vào chùa nghe kinh. Các sa-môn biết voi chúa thích nghe kinh nên mỗi khi muốn tụng kinh đều đợi voi chúa đến rồi mới bắt đầu. Voi chúa nghe kinh suốt đêm đến sáng, không ngủ, không nằm, không động, không lay. Do nhiều lần nghe kinh và phụng sự Phật nên về sau tuổi thọ hết. Sau khi chết, nó được tái sinh làm người, làm con trong một gia đình Bà-la-môn. Từ đó nó không còn nghe kinh Phật, cũng không gặp sa-môn. Người này bỏ nhà vào núi sâu học đạo Bà-la-môn. Gần đó cũng có một đạo nhân Bà-la-môn khác ở trên núi. Hai người thường qua lại, kết làm tri thức. Một người tự nghĩ: "Ta chán ghét thế gian với những lo buồn vì quan quyền, già, bệnh, chết. Sau khi chết lại có thể đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh hay cảnh nghèo khổ. Vì thế ta cạo bỏ râu tóc, khoác cà-sa làm sa-môn, cầu đạo vô vi vượt thoát thế gian." Người kia tự nghĩ: "Ta nguyện được làm quốc vương, được tự tại, khiến thiên hạ nhân dân đều thuộc về ta và tuân theo mệnh lệnh của ta." Hai người cùng phát nguyện như vậy. Về sau cả hai đều qua đời rồi lại sinh làm người. Người trước kia nguyện làm quốc vương thì sinh ở vùng ven biển, làm thái tử của một nước. Cha mẹ đặt tên là Di-lan. Người trước kia nguyện cầu đạo giải thoát Niết-bàn vô vi thì sinh tại huyện Kế Tân ở Thiên Trúc. Cha mẹ đặt tên là Đà Liệp. Vừa sinh ra đã mang theo cà-sa. Sở dĩ cùng sinh với cà-sa là do nguyện lực từ đời trước. Nhà ấy có một voi chúa cũng sinh cùng ngày. Ở Thiên Trúc, voi gọi là "na". Cha mẹ nhân theo tên voi mà đặt tên con là Na Tiên. Na Tiên lớn lên, khoảng mười lăm mười sáu tuổi, có người cậu tên Lâu Hán. Lâu Hán là sa-môn, tài năng tuyệt diệu, thế gian không ai sánh bằng. Mắt thấy thấu suốt, tai nghe thấu suốt, tự biết nơi mình từ đâu đến. Đi lại có thể bay, ra vào không ngăn ngại, không lỗ mà vào được, tự tại biến hóa không việc gì không làm được. Từ trời, người cho đến các loài bay, bò, cựa động, mọi điều trong tâm chúng sinh nghĩ đến, Lâu Hán đều biết trước. Na Tiên liền đến gặp cậu và thưa rằng: "Con có lòng hướng Phật đạo, muốn cạo bỏ râu tóc, khoác cà-sa làm sa-môn. Nay con muốn làm đệ tử của cậu. Cậu có thể cho con xuất gia được chăng?" Lâu Hán biết Na Tiên đời trước từng làm nhiều việc lành, trí tuệ sâu dày nên rất thương mến và đồng ý cho xuất gia làm sa-di. Ngày Na Tiên vừa làm sa-di, thọ mười giới, học kinh, học đạo, suy nghĩ về kinh luật, liền chứng được bốn thiền và thông hiểu các kinh. Chỉ chưa thọ giới đại sa-môn. Lúc ấy trong núi có một ngôi chùa Phật tên là Hòa Thiền. Trong chùa Hòa Thiền có năm trăm sa-môn, đều đã chứng quả A-la-hán. Trong đó vị A-la-hán đứng đầu tên là Át-pha-nhật, có thể biết mọi việc quá khứ, hiện tại và tương lai ở khắp trời người. Khi Na Tiên đủ hai mươi tuổi, ông thọ đại giới, trở thành đại sa-môn. Sau đó ông đến chùa Hòa Thiền gặp Át-pha-nhật. Khi ấy năm trăm vị A-la-hán đúng vào ngày mười lăm đang tụng kinh giới của đại sa-môn trong giảng đường. Các đại sa-môn đều đã vào chỗ ngồi, Na Tiên cũng ở trong đó. Chư tăng đều ngồi yên. Át-pha-nhật quán sát tâm mọi sa-môn trong pháp hội, thấy tất cả đều là A-la-hán, chỉ riêng Na Tiên chưa chứng quả. Át-pha-nhật bèn giảng một bài kinh thí dụ rằng: Át-pha-nhật nói ví dụ rằng: "Ví như khi sàng gạo, trong đám gạo trắng tốt mà có hạt gạo đen thì phải nhặt bỏ đi. Nay trong hội chúng của ta đều thanh tịnh trong sạch, chỉ riêng Na Tiên còn là hạt gạo đen vì chưa chứng quả A-la-hán." Na Tiên nghe Át-pha-nhật nói như vậy thì vô cùng buồn bã. Ông đứng dậy lễ bái năm trăm sa-môn rồi đi ra ngoài. Na Tiên tự nghĩ: "Ta không nên ngồi trong pháp hội này. Ta vẫn chưa được giải thoát, còn các sa-môn khác đều đã giải thoát rồi. Ví như giữa bầy sư tử có một con cáo hay chó, nay ta cũng như vậy. Từ nay nếu chưa đắc đạo, ta sẽ không vào ngồi trong chúng nữa." Át-pha-nhật biết ý nghĩ của Na Tiên nên gọi ông đến trước mặt, lấy tay xoa đầu và nói: "Không bao lâu nữa ngươi sẽ chứng quả A-la-hán, đừng lo buồn." Át-pha-nhật muốn giữ Na Tiên lại. Na Tiên còn có một vị thầy khác hơn tám mươi tuổi tên là Ca Duy. Trong huyện có một vị ưu-bà-tắc rất hiền đức, thường ngày cúng cơm cho đệ tử của Ca Duy. Na Tiên theo thầy mang bình bát đi nhận thức ăn. Thầy dặn Na Tiên ngậm nước trong miệng khi đi đến nhà vị ưu-bà-tắc lấy đồ ăn. Vị ưu-bà-tắc thấy Na Tiên tuổi còn trẻ, dung mạo đoan chính, cử chỉ khác hẳn người thường. Từ trước đã biết ông có trí tuệ, từng nghe danh tiếng thông minh và giỏi thuyết pháp. Thấy Na Tiên vào nhà, vị ấy liền đứng dậy đảnh lễ rồi chắp tay nói: "Tôi đã cúng dường các sa-môn từ lâu. Chưa từng có ai vì tôi mà thuyết kinh. Nay kính mong Na Tiên từ bi nói kinh cho tôi, khai mở sự ngu si của tôi." Na Tiên nghĩ thầm: "Ta đã nhận lời dạy của thầy, phải ngậm nước không được nói. Nếu nhổ nước ra thì phạm lời thầy. Nhưng vị ưu-bà-tắc này cũng là người tài trí có chí hướng. Nếu ta vì ông thuyết pháp, có lẽ ông sẽ đắc đạo." Nghĩ vậy, Na Tiên nhổ nước ra rồi ngồi xuống thuyết pháp. Ông nói về việc bố thí, làm lành, phụng trì kinh giới. Ai thực hành thì đời này được an ổn, đời sau sinh lên cõi trời; nếu sinh lại làm người sẽ được thông minh, giàu sang, không còn đọa vào địa ngục, ngạ quỷ hay súc sinh. Người không giữ gìn kinh giới thì đời này khổ sở, đời sau lại đọa vào ba đường ác, khó có ngày ra khỏi. Vị ưu-bà-tắc nghe pháp rất vui mừng. Na Tiên thấy lòng ông hoan hỷ nên lại giảng pháp sâu xa: "Mọi vật trong thế gian đều sẽ hoại diệt, không có gì thường còn. Mọi thứ đổi thay đều là khổ. Thân người nơi thế gian cũng như vậy. Người đời đều nói thân này là ta, thuộc về ta. Nhưng thực ra đều không được tự tại. Đạo Niết-bàn là vui nhất. Nơi ấy không sinh, không già, không bệnh, không chết, không sầu, không lo. Mọi điều ác và khổ nhọc đều hoàn toàn diệt hết." Na Tiên giảng xong, vị ưu-bà-tắc liền chứng quả Tu-đà-hoàn. Chính Na Tiên cũng chứng quả Tu-đà-hoàn. Vị ưu-bà-tắc vô cùng vui mừng, liền dọn thức ăn ngon cúng dường Na Tiên. Na Tiên bảo ông trước hết hãy để phần vào bát của thầy mình. Ăn xong, rửa ráy sạch sẽ rồi, Na Tiên mang đồ ăn trở về giao lại cho thầy. Thầy nhìn đồ ăn rồi nói: "Nếu hôm nay ngươi mang đồ ăn về như thế này thì đã phạm điều giao ước của chúng ta. Ta sẽ đuổi ngươi ra khỏi tăng chúng." Na Tiên buồn bã không vui. Thầy liền triệu tập toàn thể tỳ-kheo tăng. Khi tất cả tăng chúng đã tập hợp, thầy nói: "Na Tiên đã phạm điều giao ước của chúng ta. Nên đuổi ra khỏi tăng đoàn, không được ở trong chúng nữa." Át-pha-nhật liền nêu ví dụ rằng: "Ví như một người bắn một mũi tên mà trúng hai đích. Người như thế không nên bị đuổi ra. Na Tiên tự mình đắc đạo, lại khiến một ưu-bà-tắc đắc đạo. Không nên đuổi đi." Thầy Ca Duy nói: "Dù một mũi tên trúng trăm đích đi nữa thì quy ước của đại chúng vẫn phải giữ. Không thể cho ở lại. Những người khác đâu thể như Na Tiên, vừa đắc đạo lại giúp người khác đắc đạo. Nếu lần này không đuổi Na Tiên, người sau sẽ noi theo, không có cách gì ngăn được." Toàn thể đại chúng đều im lặng. Cuối cùng theo lời vị thầy, Na Tiên bị đuổi ra khỏi tăng đoàn. Na Tiên cúi đầu đảnh lễ dưới chân thầy, rồi đi khắp lễ bái chư tăng. Lễ xong ông rời đi, vào núi sâu ngồi dưới gốc cây. Ngày đêm tinh tấn tu đạo không hề biếng nhác. Sau đó ông tự mình chứng đắc quả A-la-hán. Ông có thể bay đi trong hư không, mắt thấy xa, tai nghe thấu, biết được ý nghĩ của người khác và tự biết các đời quá khứ của mình. Sau khi chứng A-la-hán, ông trở lại chùa Hòa Thiền. Ông đảnh lễ các vị tỳ-kheo trong chùa, xin sám hối lỗi lầm trước đây. Chư tăng đều chấp nhận. Na Tiên lễ bái xong rồi lại ra đi. Ông du hành khắp các quận huyện, đường phố, ngõ xóm để thuyết giảng kinh giới, khuyên mọi người làm lành. Trong số người nghe pháp: * Có người thọ trì năm giới. * Có người chứng quả Tu-đà-hoàn. * Có người chứng quả Tư-đà-hàm. * Có người chứng quả A-na-hàm. * Có người xuất gia làm sa-môn và chứng quả A-la-hán. Tứ Đại Thiên Vương, Đế Thích ở cõi Đao Lợi và Phạm Thiên Vương ở tầng trời thứ bảy đều đến trước Na Tiên, cúi đầu lễ dưới chân rồi ngồi sang một bên. Na Tiên đều vì họ mà thuyết pháp. Danh tiếng của ông vang khắp bốn cõi trời. Nơi nào Na Tiên đi qua, chư thiên, nhân dân, quỷ thần và loài rồng đều vui mừng, ai cũng được lợi ích phước đức. Sau đó Na Tiên đến nước Xá Kiệt ở Thiên Trúc, trú tại chùa Tiết Để Ca. Ở đó có một người quen từ kiếp trước. Người ấy từng sinh làm thái tử bên bờ biển, tên là Di Lan. Từ nhỏ Di Lan thích đọc sách, học khắp các đạo khác. Ông thông hiểu mọi học thuyết dị giáo, giỏi biện luận kinh pháp, không ai có thể thắng được. Sau khi vua cha qua đời, Di Lan lên ngôi làm vua. Nhà vua hỏi các đại thần: "Trong nước có đạo nhân hay người nào có thể cùng ta biện luận kinh pháp không?" Các đại thần tâu: "Có những người học Phật đạo, gọi là sa-môn. Họ thông minh uyên bác, có thể cùng đại vương luận đạo. Hiện nay ở phương bắc, tại nước Đại Tần, có một nước tên là Xá Kiệt, vốn là cung điện của vị vua xưa. Nước ấy trong ngoài yên ổn, nhân dân hiền thiện. Thành trì bốn phía có đường đi thông suốt. Cửa thành đều được chạm trổ tinh mỹ. Trong cung, các cung nữ đều có nơi ở riêng. Phố xá, chợ búa sắp xếp ngay hàng. Đường quan rộng lớn, cửa hiệu nối tiếp. Voi ngựa, xe cộ, bộ hành, nam nữ đều rất đông đúc. Các đạo nhân, thân thích, thợ thủ công, dân thường và các nước nhỏ phụ thuộc đều có nhiều người tài giỏi. Nhân dân mặc y phục năm màu rực rỡ. Phụ nữ trang điểm trắng đẹp, đeo đầy châu ngọc. Đất nước khô ráo, nhiều châu báu. Thương nhân bốn phương dùng tiền vàng để mua bán. Ngũ cốc dồi dào, nhà nhà tích trữ. Bên chợ luôn bày bán các món cơm canh ngon, đói thì có ăn, khát thì có rượu nho và các loại rượu ngon, niềm vui không thể kể hết. Vua nước ấy tên là Di Lan, dùng chính pháp trị nước." Di Lan là người tài trí hơn người, hiểu rõ kinh điển thế gian, giỏi tranh luận về quá khứ, hiện tại và tương lai. Ông cũng tinh thông việc triều chính và phép dụng binh, mọi mưu lược đều thông đạt. Một hôm nhà vua ra khỏi thành dạo chơi. Quân lính đông đảo vây quanh hộ vệ. Trong lòng ông tự cao nghĩ rằng: "Ta là vua, có thể trả lời mọi học thuyết của chín mươi sáu đạo. Người khác hỏi không thể làm khó được ta. Ý người vừa khởi lên, ta đã đoán biết họ muốn nói gì." Nhà vua nói với các cận thần: "Hiện giờ còn sớm, vào thành cũng không có việc gì làm. Chẳng lẽ nơi đây không có vị sa-môn hay đạo nhân thông hiểu kinh điển nào có thể cùng ta luận đạo sao?" Một vị cận thần tên Chiêm Di Lợi Vọng Quần tâu rằng: "Có một sa-môn tên Dã Hòa La, rất tinh thông kinh pháp, có thể cùng đại vương tranh luận đạo lý." Vua liền sai Chiêm Di Lợi Vọng Quần đi thỉnh. Ông đến gặp Dã Hòa La và nói: "Đại vương muốn gặp đại sư." Dã Hòa La đáp: "Rất tốt. Nếu đại vương muốn gặp thì hãy tự đến. Ta không đi." Chiêm Di Lợi Vọng Quần trở về tâu lại. Vua bèn lên xe cùng năm trăm kỵ binh đến chùa. Gặp Dã Hòa La xong, vua chào hỏi rồi ngồi xuống, năm trăm kỵ binh cũng ngồi theo. Vua hỏi: "Vì sao ông bỏ nhà, bỏ vợ con, cạo tóc để khoác cà-sa làm sa-môn? Ông cầu đạo gì?" Dã Hòa La đáp: "Chúng tôi học đạo Phật, thực hành điều chân chính. Đời này được phước, đời sau cũng được phước. Vì thế mới cạo bỏ râu tóc, khoác cà-sa làm sa-môn." Vua hỏi: "Người cư sĩ mặc áo trắng, có vợ con, sống tại gia mà thực hành điều chân chính thì đời này có được phước không? Đời sau có được phước không?" Dã Hòa La đáp: "Người tại gia có vợ con mà thực hành điều chân chính thì đời này được phước, đời sau cũng được phước." Vua liền nói: "Người tại gia có vợ con mà làm điều chân chính thì cả đời này và đời sau đều được phước. Vậy ông vô cớ bỏ vợ con, cạo tóc khoác cà-sa làm sa-môn để làm gì?" Dã Hòa La liền im lặng, không biết trả lời thế nào. Các cận thần nói: "Vị sa-môn này thật sự thông minh, trí tuệ sắc bén. Chỉ vì bị hỏi gấp nên chưa kịp đáp mà thôi." Các cận thần của vua đều giơ tay hô lên: "Đại vương thắng rồi! Đại vương thắng rồi!" Dã Hòa La im lặng nhận thua. Vua nhìn quanh các vị ưu-bà-tắc. Các ưu-bà-tắc cũng không tỏ vẻ xấu hổ. Vua nghĩ: "Những vị ưu-bà-tắc này không hổ thẹn như thế hẳn còn có sa-môn thông minh, giỏi kinh điển hơn nữa, có thể cùng ta tranh luận." Vua hỏi Chiêm Di Lợi: "Còn có sa-môn trí tuệ nào có thể cùng ta luận kinh thuyết đạo không?" Lúc ấy Na Tiên là bậc thầy trong hàng sa-môn, thường cùng các sa-môn ra vào. Mọi người đều mời ông giảng kinh. Na Tiên thông hiểu cốt yếu và chỗ khó của các kinh, có thể giảng đủ mười hai bộ kinh. Sau khi phân biệt từng chương đoạn, từng câu nghĩa, ông hiểu rõ đạo Niết-bàn. Không ai có thể làm ông cùng tận lý lẽ, cũng không ai thắng được ông. Ông giải được mọi nghi hoặc, làm sáng tỏ mọi điều suy nghĩ. Trí tuệ của ông sâu rộng như sông biển, có thể khuất phục chín mươi sáu ngoại đạo. Ông được bốn chúng đệ tử của Phật kính trọng, được các bậc trí giả tôn kính quy ngưỡng, thường dùng kinh đạo giáo hóa mọi người. Na Tiên đến nước Xá Kiệt, các đệ tử đi theo cũng đều là những người lỗi lạc. Na Tiên như một con sư tử dũng mãnh. Chiêm Di Lợi tâu vua: "Có một vị sa-môn khác tên là Na Tiên, trí tuệ sâu xa vi diệu, tinh thông yếu chỉ các kinh, giải mọi nghi ngờ, không điều gì không biết. Vị ấy có thể cùng đại vương luận đạo." Vua hỏi: "Quả thật có thể cùng ta luận đạo chăng?" Chiêm Di Lợi đáp: "Đúng vậy. Vị ấy không những có thể cùng đại vương luận đạo mà còn có thể cùng Phạm Thiên ở tầng trời thứ bảy luận đạo, huống chi là nhân vương." Vua liền sai Chiêm Di Lợi đi thỉnh Na Tiên. Chiêm Di Lợi đến gặp Na Tiên và thưa: "Đại vương muốn gặp ngài." Na Tiên liền cùng các đệ tử đến chỗ vua. Mặc dù chưa từng gặp Na Tiên, nhưng từ xa vua đã thấy Na Tiên trong đám đông. Cách ăn mặc và dáng đi của ông khác hẳn mọi người. Nhìn từ xa, vua biết ngay đó là Na Tiên. Vua tự nhủ: "Từ trước đến nay ta gặp rất nhiều người, vào những hội chúng rất đông, nhưng chưa từng cảm thấy sợ hãi. Nay vừa thấy Na Tiên, ta đã thấy lo lắng. Hôm nay nhất định ông ấy sẽ thắng ta. Ta chắc không bằng ông ấy. Trong lòng ta rất bất an." Chiêm Di Lợi tâu: "Na Tiên đã đến ngoài cổng." Vua hỏi: "Ai là Na Tiên?" Chiêm Di Lợi chỉ cho vua. Vua vô cùng vui mừng: "Người mà ta vừa linh cảm chính là Na Tiên." Khi thấy y phục và cử chỉ của Na Tiên khác hẳn mọi người, vua càng kính phục. Na Tiên đến trước mặt, hai bên chào hỏi xong rồi cùng ngồi đối diện. Na Tiên nói với vua: "Trong kinh Phật dạy: Người được an ổn là điều lợi lớn nhất. Biết đủ là giàu có lớn nhất. Có lòng tin là nền tảng lớn nhất. Đạo Niết-bàn là niềm vui lớn nhất." Vua hỏi: "Ngài tên là gì?" Na Tiên đáp: "Cha mẹ đặt tên tôi là Na Tiên nên mọi người gọi tôi là Na Tiên. Có lúc cha mẹ gọi tôi là Duy Tiên, có lúc gọi là Thủ La Tiên, có lúc gọi là Duy Ca Tiên. Vì thế người đời biết tôi bằng những tên ấy. Người thế gian đều có tên gọi như vậy." Vua hỏi: "Vậy ai là Na Tiên?" Rồi nhà vua hỏi tiếp: "Đầu là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Đầu không phải Na Tiên." Vua hỏi: "Mắt, tai, mũi, miệng là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Cổ, vai, tay, chân là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Đùi và cẳng chân là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Sắc tướng là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Khổ vui là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Thiện ác là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Thân là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Gan, phổi, tim, lá lách, mạch máu, ruột, dạ dày là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Nếu gộp sắc tướng, khổ vui, thiện ác, thân và tâm, năm thứ ấy lại thì có phải là Na Tiên không?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Nếu không có năm thứ ấy thì có phải Na Tiên không?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Âm thanh và hơi thở là Na Tiên chăng?" Na Tiên đáp: "Không phải." Vua hỏi: "Vậy cái gì là Na Tiên?" Na Tiên bèn hỏi lại: "Đại vương gọi là xe. Vậy cái gì là xe? Trục xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Vành xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Nan hoa là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Moay xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Càng xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Ách kéo là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Thùng xe là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Đòn khiêng là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Mái che là xe chăng?" Vua đáp: "Không phải." Na Tiên hỏi: "Nếu gom tất cả những vật liệu ấy lại một chỗ thì có gọi là xe không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Nếu những vật liệu ấy không hợp lại thì có phải xe không?" Vua đáp: "Cũng không." Na Tiên hỏi: "Âm thanh gọi tên có phải là xe không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên hỏi: "Vậy cái gì là xe?" Vua liền im lặng, không trả lời được. Na Tiên nói: "Phật dạy rằng chính do các vật liệu ấy hợp thành mới gọi là xe. Con người cũng như vậy. Đầu, mặt, tai, mũi, miệng, cổ, vai, tay, chân, xương, thịt, gan, phổi, tim, lá lách, thận, ruột, dạ dày, sắc tướng, âm thanh, hơi thở, khổ vui, thiện ác... do các phần ấy hợp lại nên tạm gọi là người." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua lại hỏi: "Ngài có thể cùng ta luận đạo chăng?" Na Tiên đáp: "Nếu đại vương dùng trí tuệ để hỏi thì tôi có thể cùng ngài luận đạo. Nếu dùng tâm kiêu mạn của bậc đế vương thì không thể luận đạo." Vua hỏi: "Người trí luận đạo như thế nào?" Na Tiên đáp: "Người trí cùng nhau bàn luận, chất vấn, giải thích, đối đáp trên dưới, có thắng có thua, có đúng có sai. Họ tự biết điều phải điều quấy mà không sinh giận dữ. Đó là cách của người trí." Vua hỏi: "Còn vua chúa thì sao?" Na Tiên đáp: "Vua chúa thường tự do theo ý mình. Ai trái ý vua thì bị trị phạt. Đó là cách của vua chúa." Vua nói: "Ta nguyện dùng cách của người trí, không dùng cách của vua chúa. Ngài đừng xem ta là vua mà hãy nói chuyện như với sa-môn, đệ tử, ưu-bà-tắc hoặc người hầu trong tăng đoàn. Xin cứ giữ tâm ngay thẳng, không sợ hãi, cùng nhau khai mở đạo lý." Na Tiên đáp: "Rất tốt." Vua nói: "Ta muốn hỏi một điều." Na Tiên đáp: "Xin cứ hỏi." Vua nói: "Ta đã hỏi rồi." Na Tiên đáp: "Tôi cũng đã trả lời rồi." Vua nói: "Ngài trả lời điều gì?" Na Tiên đáp: "Đại vương đã hỏi điều gì?" Vua nói: "Ta chưa hỏi gì cả." Na Tiên đáp: "Vậy tôi cũng chưa trả lời gì cả." Trong lòng nhà vua suy nghĩ: "Vị sa-môn này thật trí tuệ siêu việt. Ta mới bắt đầu mà đã còn nhiều điều muốn hỏi." Vua lại nghĩ: "Trời đã tối rồi. Ngày mai ta sẽ mời Na Tiên vào cung để cùng luận đạo kỹ hơn." Vua bảo Chiêm Di Lợi: "Hôm nay trời đã tối. Ngày mai hãy mời Na Tiên vào cung để cùng luận đạo." Chiêm Di Lợi thưa với Na Tiên: "Trời sắp tối, đại vương sẽ hồi cung. Ngày mai đại vương muốn thỉnh ngài." Na Tiên đáp: "Rất tốt." Vua cưỡi ngựa trở về cung. Trên đường về, vua luôn nhớ đến tên Na Tiên, còn Na Tiên cũng nghĩ đến cuộc gặp ngày mai. Sáng hôm sau, Chiêm Di Lợi cùng các cận thần tâu vua: "Hôm nay có thỉnh Na Tiên không?" Vua đáp: "Có." Chiêm Di Lợi hỏi: "Nên để Na Tiên dẫn theo bao nhiêu sa-môn?" Vua đáp: "Tùy ý Na Tiên muốn dẫn bao nhiêu người cũng được." Quan giữ kho tên Xan tâu: "Xin cho Na Tiên chỉ dẫn mười vị sa-môn là đủ." Vua đáp: "Cứ để Na Tiên tự quyết định." Xan lại thưa: "Chỉ mười vị là được." Vua vẫn đáp: "Tùy ý Na Tiên." Xan lại nhắc lần thứ ba: "Chỉ nên cho mười vị cùng đi." Vua nghe mãi liền nổi giận: "Ngươi quả thật đúng tên Xan. Ta đâu có bảo ngươi tiếc của nhà vua, thế mà ngươi còn tiếc. Ngươi dám trái ý ta, đáng tội bị phạt." Rồi vua nói: "Thôi đi, ta tha tội cho ngươi. Chẳng lẽ làm vua mà không đủ sức cúng dường sa-môn sao?" Xan nghe vậy xấu hổ, không dám nói nữa. Chiêm Di Lợi liền đến chỗ Na Tiên, hành lễ rồi thưa: "Đại vương kính mời ngài." Na Tiên hỏi: "Nhà vua cho phép ta dẫn theo bao nhiêu sa-môn?" Chiêm Di Lợi đáp: "Tùy ý ngài." Na Tiên liền cùng Dã Hòa La và tám mươi vị sa-môn đi theo. Chiêm Di Lợi cùng mọi người đi chung, sáng sớm tiến vào thành. Trên đường, Chiêm Di Lợi hỏi Na Tiên: "Hôm qua ngài nói không có cái gì thật là Na Tiên. Vậy rốt cuộc Na Tiên là gì?" Na Tiên hỏi lại: "Theo ý ông, cái gì là Na Tiên?" Chiêm Di Lợi đáp: "Tôi cho rằng hơi thở ra vào, tức sinh khí và mạng sống, chính là Na Tiên." Na Tiên hỏi Chiêm Di Lợi Vọng Quần: "Nếu hơi thở của một người đã ra ngoài mà không trở vào nữa, người ấy còn sống được chăng?" Chiêm Di Lợi Vọng Quần đáp: "Nếu hơi thở ra mà không trở vào thì chắc chắn là chết." Na Tiên nói: "Như người thổi kèn, hơi thở ra rồi đâu có trở lại. Như người dùng ống thổi để luyện vàng hay thổi lửa, hơi thở ra rồi có trở vào không?" Chiêm Di Lợi Vọng Quần đáp: "Không trở vào." Na Tiên lại hỏi: "Như người thổi tù và bằng sừng, hơi thở ra rồi có trở vào không?" Chiêm Di Lợi Vọng Quần đáp: "Không trở vào." Na Tiên nói: "Cùng là hơi thở đã ra không trở lại, vậy vì sao người kia vẫn không chết?" Chiêm Di Lợi Vọng Quần đáp: "Về việc hơi thở ra vào ấy, tôi không hiểu được. Xin ngài giải thích." Na Tiên nói: "Hơi thở chỉ là một việc thuộc về thân. Ví như người có điều muốn nghĩ thì lưỡi phát thành lời, đó là việc của lưỡi. Ý có điều nghi ngờ thì tâm suy nghĩ, đó là việc của tâm. Mỗi thứ đều có chức năng riêng. Phân tích kỹ ra đều là không, không có thật thể nào gọi là Na Tiên cả." Chiêm Di Lợi Vọng Quần nghe xong tâm liền khai ngộ, thọ năm giới làm ưu-bà-tắc. Na Tiên liền tiến vào cung, lên điện gặp vua. Vua làm lễ Na Tiên rồi lui ra. Na Tiên ngồi xuống, tám mươi vị sa-môn cũng cùng ngồi. Vua cho dọn các món ăn ngon. Chính vua tự tay dâng thức ăn trước mặt Na Tiên. Sau khi chư sa-môn dùng cơm xong, rửa tay sạch sẽ, vua ban cho mỗi vị sa-môn một tấm cà-sa mặc trong và một đôi dép da. Riêng Na Tiên và Dã Hòa La mỗi vị được ban ba bộ cà-sa và một đôi dép da. Vua nói với Na Tiên và Dã Hòa La: "Hãy để lại mười vị, còn những người khác thì trở về." Na Tiên liền cho các sa-môn khác trở về, chỉ còn mười vị ở lại. Vua ra lệnh cho các quý nhân và cung nữ trong hậu cung: "Hãy ngồi sau màn trên điện để nghe ta cùng Na Tiên luận đạo." Các quý nhân và cung nữ đều đến ngồi sau màn để nghe Na Tiên thuyết pháp. Vua ngồi đối diện Na Tiên rồi hỏi: "Hôm nay sẽ nói điều gì?" Na Tiên đáp: "Nếu đại vương muốn nghe điều cốt yếu thì tôi sẽ nói điều cốt yếu." Vua hỏi: "Trong đạo của các ông, điều gì là quan trọng nhất? Vì sao các ông xuất gia làm sa-môn?" Na Tiên đáp: "Chúng tôi muốn từ bỏ những khổ nhọc của thế gian, không muốn còn chịu khổ ở đời sau. Vì vậy mới xuất gia làm sa-môn. Đó là điều thiện quan trọng nhất." Vua hỏi: "Có phải tất cả sa-môn đều vì không muốn chịu khổ đời này và đời sau nên xuất gia không?" Na Tiên đáp: "Không hẳn như vậy. Có bốn hạng sa-môn." Vua hỏi: "Bốn hạng nào?" Na Tiên đáp: "Có người vì mắc nợ nên xuất gia. Có người vì sợ quan quyền nên xuất gia. Có người vì nghèo khổ nên xuất gia. Có người thật lòng muốn dứt trừ khổ não đời này và đời sau nên xuất gia." Na Tiên nói tiếp: "Riêng tôi từ đầu đã một lòng cầu đạo nên xuất gia." Vua hỏi: "Vậy nay ngài vì đạo mà xuất gia sao?" Na Tiên đáp: "Từ nhỏ tôi đã làm sa-môn, gặp được kinh pháp và các bậc đệ tử Phật. Chư sa-môn đều là những người thông tuệ. Tôi học kinh giới, ghi sâu vào tâm. Vì muốn đoạn trừ khổ nhọc đời này và đời sau nên xuất gia." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Có người chết rồi không còn tái sinh nữa chăng?" Na Tiên đáp: "Có người tái sinh, cũng có người không tái sinh." Vua hỏi: "Ai tái sinh, ai không tái sinh?" Na Tiên đáp: "Người còn ân ái và tham dục thì tái sinh. Người không còn ân ái và tham dục thì không tái sinh nữa." Vua hỏi: "Người chỉ do một lòng nghĩ đến chính pháp và điều thiện nên không tái sinh chăng?" Na Tiên đáp: "Người nhờ một lòng nghĩ đến chính pháp, điều thiện, trí tuệ và các việc lành khác nên không còn tái sinh." Vua hỏi: "Chính pháp và trí tuệ có phải là một nghĩa không?" Na Tiên đáp: "Ý nghĩa khác nhau, không phải một." Vua hỏi: "Trâu, ngựa và các loài gia súc có trí tuệ hay không?" Na Tiên đáp: "Trâu ngựa và các loài gia súc đều có trí riêng của chúng, nhưng tâm tính khác nhau." Na Tiên lại nói: "Đại vương từng thấy người gặt lúa mạch chưa? Tay trái nắm lúa, tay phải dùng liềm cắt." "Người có trí cũng vậy, dùng trí tuệ để cắt đứt ái dục, giống như người gặt lúa." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi tiếp: "Những việc lành khác là gì?" Na Tiên đáp: "Thành tín, hiếu thuận, tinh tấn, nhớ điều thiện, nhất tâm và trí tuệ đều là việc lành." Vua hỏi: "Thế nào là thành tín?" Na Tiên đáp: "Thành tín là không còn nghi ngờ. Tin có Phật, có Phật pháp, có tăng chúng. Tin có A-la-hán. Tin có đời này, có đời sau. Tin hiếu dưỡng cha mẹ. Tin làm thiện được thiện báo, làm ác chịu ác báo." "Nhờ có lòng tin nên tâm được thanh tịnh, xa lìa năm điều ác." Vua hỏi: "Năm điều ác là gì?" Na Tiên đáp: "Một là tham dục. Hai là sân hận. Ba là ngủ nghỉ mê muội. Bốn là mê đắm vui chơi. Năm là nghi ngờ." "Không trừ được năm điều ấy thì tâm không định. Trừ được chúng thì tâm trở nên thanh tịnh." Na Tiên nói: "Ví như Chuyển Luân Thánh Vương cùng xe ngựa và đoàn tùy tùng vượt sông làm nước đục ngầu. Sau khi mọi người qua hết, vua muốn uống nước." "Vua có viên minh châu làm sạch nước. Thả vào nước thì nước liền trong, nhờ thế vua được nước sạch để uống." "Tâm người có điều ác giống như nước đục. Đệ tử Phật đạt được con đường vượt thoát sinh tử thì tâm thanh tịnh như viên minh châu làm trong nước. Người dứt ác, giữ lòng thành tín thì tâm thanh tịnh cũng như minh nguyệt châu." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Người tinh tấn và thành tín là như thế nào?" Na Tiên đáp: "Trong hàng đệ tử Phật có người chứng quả Tu-đà-hoàn, có người chứng Tư-đà-hàm, có người chứng A-na-hàm, có người chứng A-la-hán." "Có người thấy những vị ấy mà noi theo, thực hành thành tín, rồi cũng được đạo giải thoát." Na Tiên nói: "Ví như trên núi có mưa lớn, nước chảy xuống thành dòng sâu rộng. Người ở hai bên bờ không biết sâu cạn nên không dám qua." "Có người từ xa đến, xem xét và biết được độ sâu cạn của nước. Người ấy biết sức mình, xuống nước rồi qua được." "Người hai bên thấy vậy liền noi theo và cũng vượt sông được." "Đệ tử Phật cũng như thế. Thấy người trước nhờ tâm thanh tịnh mà chứng các quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán nên hiểu rằng tất cả đều do tâm lành và tinh tấn mà thành." "Kinh Phật dạy rằng người có lòng tin chân thật có thể tự mình đạt đạo giải thoát. Người biết chế ngự năm dục, biết thân là khổ mới có thể vượt thoát thế gian. Mọi công đức đều được thành tựu nhờ trí tuệ." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Thế nào là hiếu thuận?" Na Tiên đáp: "Mọi điều lành đều lấy hiếu thuận làm gốc. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng lấy hiếu thuận làm nền tảng." Vua hỏi: "Ba mươi bảy phẩm ấy là gì?" Na Tiên đáp: "Gồm bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám chánh đạo." Vua hỏi: "Thế nào là bốn niệm xứ?" Na Tiên đáp: "Phật dạy: * Quán thân trên thân. * Quán cảm thọ trên cảm thọ. * Quán tâm trên tâm. * Quán pháp trên pháp. Đó là bốn niệm xứ." Vua hỏi: "Thế nào là bốn chánh cần?" Na Tiên đáp: "Là dứt bỏ bốn điều bất thiện, không còn nhớ nghĩ đến chúng nữa. Đó là bốn chánh cần." "Có được bốn chánh cần thì thành tựu bốn thần túc." Vua hỏi: "Thế nào là bốn thần túc?" Na Tiên đáp: "1. Mắt thấy xa. 2. Tai nghe xa. 3. Biết được tâm niệm người khác. 4. Thân có thể bay đi. Đó là bốn thần túc." Vua hỏi: "Thế nào là năm căn?" Na Tiên đáp: "1. Thấy sắc đẹp hay xấu mà tâm không tham đắm. 2. Nghe lời khen hoặc chê mà tâm không tham đắm. 3. Ngửi hương thơm hay mùi hôi mà tâm không tham đắm. 4. Nếm vị ngon hay đắng cay mà tâm không tham đắm. 5. Thân gặp điều êm dịu không vui mừng, gặp điều thô ráp cũng không chán ghét. Đó là năm căn." Vua hỏi: "Thế nào là năm lực?" Na Tiên đáp: "Chế ngự được mắt, tai, mũi, miệng và thân, khiến tâm không sa đọa. Đó là năm lực." Vua hỏi: "Thế nào là bảy giác ý?" Na Tiên đáp: "1. Niệm giác ý. 2. Trạch pháp giác ý. 3. Tinh tấn giác ý. 4. Hỷ giác ý. 5. Khinh an giác ý. 6. Định giác ý. 7. Hộ tâm giác ý. Đó là bảy giác ý." Vua hỏi: "Thế nào là tám đạo hành?" Na Tiên đáp: "1. Chánh kiến. 2. Chánh niệm. 3. Chánh ngữ. 4. Chánh trị. 5. Chánh nghiệp. 6. Chánh phương tiện. 7. Chánh ý. 8. Chánh định. Đó là tám đạo hành." "Mọi pháp trong ba mươi bảy phẩm đều lấy hiếu thuận làm gốc." Na Tiên nói: "Người mang vật nặng đi xa mà thành công đều nhờ đất nâng đỡ. Ngũ cốc, cây cối và cỏ cây trong thiên hạ cũng đều từ đất mà sinh." "Lại như người thợ muốn xây thành lớn, trước phải đo đạc và dựng nền móng, sau mới xây thành được." "Người học đạo cũng vậy. Trước tiên phải giữ kinh giới, nghĩ điều thiện. Nhờ hiểu rõ khổ não nên từ bỏ ái dục rồi tu tập tám chánh đạo." Vua hỏi: "Dùng gì để dứt ái dục?" Na Tiên đáp: "Chuyên tâm niệm đạo thì ái dục tự diệt." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Thế nào là tinh tấn?" Na Tiên đáp: "Giữ điều lành, giúp điều lành tăng trưởng, đó là tinh tấn." "Ví như tường thành sắp đổ thì chống đỡ từ bên ngoài. Nhà sắp nghiêng cũng phải chống đỡ. Đó là tinh tấn." "Ví như vua sai quân đi đánh trận, quân thế yếu sắp thua. Vua lại cho thêm quân tiếp viện, nhờ đó được thắng." "Người có tâm ác cũng như quân yếu. Dùng tâm thiện để tiêu trừ tâm ác cũng như vua thêm quân mà thắng trận." "Dùng năm tâm thiện để diệt năm tâm ác, giống như chiến đấu được thắng lợi. Đó là tinh tấn giúp thiện pháp tăng trưởng." "Nhờ tinh tấn hỗ trợ mà người đạt được thiện đạo, vượt thoát thế gian và không còn trở lui." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thế nào là thường nhớ nghĩ các điều thiện?" Na Tiên đáp: "Ví như gom nhiều loại hoa khác nhau dùng dây xâu lại thì gió thổi cũng không tan." "Lại như người giữ kho của vua biết rõ trong quốc khố có bao nhiêu vàng bạc, châu ngọc, lưu ly và châu báu." "Người tu đạo khi muốn đắc đạo thì phải thường nhớ ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Đó gọi là nhớ nghĩ con đường giải thoát." "Người có tâm cầu đạo sẽ biết điều thiện điều ác, biết việc nên làm và không nên làm, phân biệt trắng đen rồi bỏ ác theo thiện." Na Tiên nói: "Ví như người giữ cửa cung biết ai là người được vua kính trọng, ai không được kính trọng, ai có lợi cho vua, ai không có lợi cho vua." "Người được vua kính trọng và có ích thì cho vào. Người không được vua kính trọng và không có ích thì không cho vào." "Tâm người cũng như thế. Điều thiện thì tiếp nhận, điều bất thiện thì ngăn lại. Giữ ý và chế tâm cũng giống như vậy." Na Tiên thuyết pháp: "Con người phải tự mình gìn giữ tâm ý và sáu dục trong thân. Giữ tâm vững chắc thì sẽ có ngày vượt thoát thế gian." Bấy giờ vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi: "Thế nào là nhất tâm?" Na Tiên đáp: "Trong mọi điều lành chỉ có nhất tâm là hơn hết. Khi tâm được nhất thì các điều lành đều theo đó mà thành." "Ví như lầu gác đều phải có chỗ dựa. Mọi việc thiện đều nương nơi nhất tâm." "Lại như vua dẫn bốn đạo quân xuất trận: voi chiến, kỵ binh, xe chiến và bộ binh đều hộ vệ trước sau." "Các kinh giới của Phật và mọi việc thiện cũng đều theo nhất tâm mà vận hành, giống như quân đội theo vua." Na Tiên thuyết pháp: "Trong các thiện pháp, nhất tâm là gốc. Người học đạo tuy nhiều nhưng đều phải quy về nhất tâm trước tiên." "Thân người trong vòng sinh tử liên tục trôi qua như dòng nước chảy xuôi, trước sau nối tiếp không lúc nào dừng." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thế nào là trí tuệ?" Na Tiên đáp: "Như tôi đã nói, người có trí tuệ có thể dứt mọi nghi hoặc và hiểu rõ các điều lành. Đó gọi là trí tuệ." "Ví như cầm đèn vào phòng tối. Đèn vừa vào thì bóng tối liền tan, ánh sáng hiện ra. Trí tuệ của người sáng suốt cũng như ánh đèn." "Lại như người cầm dao bén chặt gỗ. Người có trí tuệ có thể chặt đứt mọi điều ác, giống như lưỡi dao sắc." "Trong thế gian, trí tuệ là điều cao quý nhất. Nhờ có trí tuệ mà con người có thể vượt thoát khổ đau sinh tử." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Những điều kinh pháp mà ngài vừa giảng trước sau tuy khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích dứt bỏ mọi điều ác phải không?" Na Tiên đáp: "Đúng vậy. Những điều thiện khác nhau mà Phật dạy đều nhằm loại trừ mọi điều ác." Na Tiên lại nói: "Ví như vua xuất động bốn đạo quân. Tuy có nhiều binh chủng khác nhau nhưng mục đích khi xuất quân chỉ là đánh bại quân địch. Các pháp thiện mà Phật giảng cũng như vậy, đều nhằm tiêu diệt mọi điều ác." Vua nói: "Lành thay! Lành thay! Lời giảng của ngài thật sâu sắc." Vua lại hỏi: "Khi người chết đi sang đường lành hay dữ, thần thức có mang theo thân cũ mà tái sinh hay bỏ thân cũ để nhận một thần thức khác?" Na Tiên đáp: "Không phải thân cũ, cũng không rời thân cũ." Rồi Na Tiên hỏi lại: "Đại vương lúc còn bú mẹ với lúc trưởng thành có phải cùng một thân không?" Vua đáp: "Thân lúc nhỏ và thân lúc lớn khác nhau." Na Tiên nói: "Từ khi còn là tinh huyết trong bụng mẹ đến khi thành bào thai có giống nhau không? Từ lúc thành hình hài đến lúc sinh ra có giống nhau không? Từ lúc mới sinh đến khi vài tuổi có giống nhau không?" "Ví như người học chữ, người khác có thể học thay cho người ấy được không?" Vua đáp: "Không thể." Na Tiên hỏi: "Người phạm tội có thể lấy người vô tội thay mình chịu tội được không?" Vua đáp: "Không thể." Na Tiên dùng ví dụ ấy giải thích về thần thức, nhưng vua chưa hiểu. Vua nói: "Nếu người khác hỏi ngài thì ngài sẽ giải thích thế nào?" Na Tiên đáp: "Đó vẫn là thân của tôi lúc nhỏ. Từ nhỏ đến lớn chỉ là sự tiếp nối của một dòng sống. Lớn nhỏ đều thuộc cùng một đời sống được nuôi dưỡng liên tục." Na Tiên hỏi: "Ví như người thắp đèn, ngọn đèn có sáng đến sáng hôm sau không?" Vua đáp: "Có, nhờ dầu đèn mà sáng đến sáng." Na Tiên hỏi: "Ngọn lửa lúc đầu đêm có phải chính là ngọn lửa lúc nửa đêm không? Ngọn lửa nửa đêm có phải chính là ngọn lửa lúc bình minh không?" Vua đáp: "Không phải cùng một ngọn lửa." Na Tiên hỏi: "Vậy giữa đêm có phải người ấy thức dậy thắp lửa mới không? Đến sáng lại thắp lửa mới không?" Vua đáp: "Không. Chỉ một ngọn đèn cháy liên tục đến sáng." Na Tiên nói: "Thần thức của con người cũng như vậy. Trạng thái trước mất đi, trạng thái sau sinh khởi. Từ sinh đến già, từ già đến chết, sau khi chết thần thức lại đến nơi tái sinh. Đó là sự nối tiếp liên tục. Không phải thần thức cũ, cũng không tách rời thần thức cũ." Người chết rồi thần thức mới theo nghiệp mà sinh đến nơi khác. Na Tiên lại nói: "Ví như sữa biến thành lạc, từ lạc lấy chất béo, từ chất béo nấu thành đề hồ. Có thể đem đề hồ gọi lại là sữa được không?" Vua đáp: "Không thể." Na Tiên nói: "Thần thức cũng như vậy. Từ sinh đến lớn, từ lớn đến già, từ già đến chết. Chết rồi lại thọ sinh thân khác. Một thân chết đi rồi lại nhận thân khác, giống như ngọn lửa này mồi sang ngọn lửa khác." Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" Vua hỏi tiếp: "Người không còn tái sinh nữa, tự mình có biết điều đó không?" Na Tiên đáp: "Có. Tự biết." Vua hỏi: "Biết bằng cách nào?" Na Tiên đáp: "Người ấy biết mình không còn ái luyến, tham dục và các điều ác nữa nên biết mình sẽ không còn tái sinh." Na Tiên hỏi: "Ví như nhà nông cày ruộng, gieo hạt rồi thu hoạch, tích trữ lương thực vào kho. Sang năm không cày không gieo nữa mà chỉ ăn lương thực trong kho. Người ấy còn mong thu được vụ mùa mới không?" Vua đáp: "Không mong nữa." Na Tiên hỏi: "Sao người ấy biết mình sẽ không có lúa mới?" Vua đáp: "Vì không cày cấy gieo trồng nên không còn mong đợi." Na Tiên nói: "Người đắc đạo cũng như vậy. Tự biết mình đã dứt bỏ ái luyến, vui khổ và tham dục nên biết sẽ không còn tái sinh." Vua hỏi tiếp: "Người không còn tái sinh có trí tuệ khác với người thường không?" Na Tiên đáp: "Có." Vua hỏi: "Có trí sáng suốt hơn không?" Na Tiên đáp: "Có." Vua hỏi: "Trí và minh là một hay khác?" Na Tiên đáp: "Ý nghĩa tương đương." Vua hỏi: "Người có trí và minh có biết hết mọi việc không?" Na Tiên đáp: "Có điều biết được, có điều không biết được." Vua hỏi: "Thế nào là biết được và không biết được?" Na Tiên đáp: "Điều chưa học thì chưa biết. Điều đã học thì biết." "Người có trí thấy rõ mọi người và mọi vật đều sẽ đổi thay, tiêu mất, không thể tự tại. Mọi điều tâm tham đắm đều là gốc khổ. Người có trí biết tính vô thường và thành bại của mọi việc. Đó là chỗ khác với người thường." Vua hỏi: "Ngu si ở đâu khi có trí tuệ?" Na Tiên đáp: "Khi trí tuệ xuất hiện thì ngu si tự tiêu diệt." Na Tiên nói: "Ví như người cầm đèn vào phòng tối thì bóng tối lập tức mất đi. Trí tuệ cũng như vậy, khi có trí tuệ thì ngu si đều tiêu mất." Vua hỏi: "Vậy trí tuệ hiện nay ở đâu?" Na Tiên đáp: "Khi trí tuệ hoàn thành công việc của nó thì trí tuệ ấy cũng chấm dứt, nhưng kết quả vẫn còn." Na Tiên nói: "Ví như ban đêm có người viết chữ dưới ánh đèn. Đèn tắt nhưng chữ viết vẫn còn." "Trí tuệ cũng như vậy. Công việc hoàn thành rồi thì trí tuệ ấy qua đi, nhưng thành quả vẫn tồn tại." Vua hỏi: "Nói rằng trí tuệ hoàn thành việc rồi tự mất đi, nghĩa là sao?" Na Tiên đáp: "Ví như người chuẩn bị sẵn năm bình nước đề phòng cháy. Khi xảy ra hỏa hoạn, người ấy dùng năm bình nước để dập lửa." "Lửa tắt rồi, người cứu hỏa còn mong giữ nguyên những bình nước ấy nữa không?" Vua đáp: "Không. Bình nước đã dùng để dập lửa rồi." Na Tiên nói: "Người tu đạo dùng năm điều thiện để dập tắt các điều ác cũng giống như nước dập lửa." Vua hỏi: "Năm điều thiện là gì?" Na Tiên đáp: "1. Tin thiện ác có báo ứng. 2. Không hủy báng kinh giới. 3. Tinh tấn. 4. Có trí tuệ và nhớ điều thiện. 5. Nhất tâm niệm đạo. Đó là năm điều thiện." "Người thực hành được năm điều ấy sẽ phát sinh trí tuệ, thấy rõ thân và vạn vật là vô thường, thấy rõ khổ, vô chủ và tánh không." Na Tiên lại nói: "Ví như thầy thuốc mang năm loại thuốc chữa bệnh. Người bệnh uống thuốc khỏi bệnh rồi, thầy thuốc đâu còn mong dùng lại chính những viên thuốc ấy nữa." Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Năm vị thuốc ví như năm điều thiện và trí tuệ. Thầy thuốc ví như người cầu đạo. Người bệnh ví như các điều ác và ngu si. Người lành bệnh ví như người đã được giải thoát." "Khi trí tuệ đã đưa con người đến đạo giải thoát thì nhiệm vụ của trí tuệ đã hoàn thành." Na Tiên lại nói: "Ví như một dũng sĩ cầm cung tên ra trận. Dùng năm mũi tên bắn thắng quân địch. Sau khi chiến thắng, người ấy còn mong thu hồi những mũi tên ấy không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Năm mũi tên ví như năm trí. Người có trí nhờ trí mà đắc đạo, như dũng sĩ chiến thắng quân địch." "Các điều ác giống như quân địch. Người tu dùng năm tâm thiện để diệt trừ mọi điều ác. Khi điều ác đã mất thì trí thiện phát sinh." "Người nhờ trí thiện mà đạt đạo giải thoát thì đạo ấy thường còn, không mất." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Người đã đắc đạo, đời sau không còn tái sinh, vậy về sau còn khổ hay không?" Na Tiên đáp: "Có trường hợp còn khổ, có trường hợp không còn khổ." Vua hỏi: "Nghĩa là sao?" Na Tiên đáp: "Thân còn khổ nhưng tâm không còn khổ." Vua hỏi: "Vì sao thân còn khổ mà tâm không khổ?" Na Tiên đáp: "Thân còn hiện hữu nên vẫn chịu các cảm giác khổ. Nhưng tâm đã dứt mọi điều ác, mọi dục vọng nên không còn khổ nữa." Vua hỏi: "Nếu người đắc đạo vẫn chưa thoát khổ nơi thân thì có phải chưa đạt Niết-bàn không?" Vua lại nói: "Người đắc đạo đã không còn yêu ghét, thân tuy khổ mà tâm an. Vậy đắc đạo để làm gì? Nếu đã thành tựu đạo rồi thì còn lưu lại làm gì?" Na Tiên đáp: "Ví như trái cây chưa chín thì không thể ép chín ngay. Khi đã chín thì cũng không cần chờ thêm nữa." Na Tiên nói tiếp: "Điều ấy cũng giống lời Tôn giả Xá-lợi-phất từng nói: 'Ta không mong chết, cũng không mong sống. Ta chỉ đợi đúng thời. Khi thời đến thì đi.'" Vua nói: "Lành thay! Lành thay!" '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Thượng hết.''' {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] b44p7l0dvhbkq2vfrj1cyfj7zpiaw2g Biên dịch:Na Tiên Tì Khâu Kinh/Quyển 3 114 72409 206028 2026-08-20T12:05:09Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經(三卷本)/卷003 | năm= | phần = Quyển hạ | trước= [[../Quyển 2|Quyển trung]] | sau= | ghi chú= }} '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Hạ''' '''''Khuyết tên người dịch, phụ lục trong Đông Tấn lục.''''' Vua lại hỏi: "Có ai còn cao hơn Phật nữa không?" Na Tiên đáp:…” 206028 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Na Tiên tì-kheo kinh | tác giả= | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 那先比丘經(三卷本)/卷003 | năm= | phần = Quyển hạ | trước= [[../Quyển 2|Quyển trung]] | sau= | ghi chú= }} '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Hạ''' '''''Khuyết tên người dịch, phụ lục trong Đông Tấn lục.''''' Vua lại hỏi: "Có ai còn cao hơn Phật nữa không?" Na Tiên đáp: "Không. Không ai hơn Phật." Vua hỏi: "Làm sao biết không ai hơn Phật?" Na Tiên hỏi: "Ví như người chưa từng vào biển lớn, vẫn biết nước biển rất rộng. Có năm sông lớn: Hằng Hà. Tín Tha. Tư Tha. Tể Xoa. Thi Ba Di. Mỗi sông lại nhận nước từ năm trăm sông nhỏ. Ngày đêm nước đổ vào biển mà biển không tăng không giảm. Đại vương có biết điều ấy không?" Vua đáp: "Biết." Na Tiên nói: "Cũng vậy, các bậc đắc đạo đều cùng nói rằng không ai hơn Phật. Vì thế tôi tin." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Dựa vào đâu mà biết không ai hơn Phật?" Na Tiên hỏi: "Người đầu tiên tạo ra chữ viết là ai?" Vua đáp: "Là người tên Chất." Na Tiên hỏi: "Đại vương từng gặp người ấy chưa?" Vua đáp: "Chưa. Ông ấy mất từ lâu rồi." Na Tiên hỏi: "Chưa từng gặp thì làm sao biết ông ấy là người sáng tạo chữ viết?" Vua đáp: "Nhờ chữ viết cổ truyền lại nên biết." Na Tiên nói: "Chúng tôi cũng như vậy. Thấy kinh và giới luật của Phật chẳng khác nào thấy Phật. Giáo pháp của Phật sâu xa vi diệu. Người biết rồi truyền lại cho người sau. Vì thế tôi biết không ai hơn Phật." Vua hỏi: "Đạo Phật có thể thực hành lâu dài không?" Na Tiên đáp: "Những điều Phật dạy và các giới luật đều rất tốt đẹp, nên giữ gìn thực hành cho đến già." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Người chết rồi thân này không theo sang đời sau phải không?" Na Tiên đáp: "Đúng vậy. Người chết rồi lại nhận thân mới, thân cũ không theo đi." Na Tiên nói: "Ví như tim đèn này mồi cho tim đèn khác cháy sáng. Tim cũ vẫn còn, tim mới tiếp tục cháy. Thân người cũng vậy. Bỏ thân cũ rồi nhận thân mới." Na Tiên hỏi: "Khi còn nhỏ đại vương có học chữ học kinh không?" Vua đáp: "Có." Na Tiên hỏi: "Những điều vị thầy dạy ngày trước có còn nguyên như trước không?" Vua đáp: "Không. Chỉ còn sự tiếp nối hiểu biết mà thôi." Na Tiên nói: "Con người cũng như vậy. Bỏ thân cũ rồi nhận thân mới." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thật có trí tuệ chăng?" Na Tiên đáp: "Không có một thực thể riêng gọi là trí tuệ." Na Tiên nói: "Ví như người trộm trái cây của người khác. Người ấy có tội không?" Vua đáp: "Có." Na Tiên hỏi: "Khi mới trồng cây vốn chưa có quả. Vậy sao người trộm có tội?" Vua đáp: "Nếu không trồng cây thì làm gì có quả." Na Tiên nói: "Con người cũng vậy. Do những việc thiện ác đời này mà đời sau nhận thân mới." Vua hỏi: "Nghiệp thiện ác ở đâu?" Na Tiên đáp: "Nghiệp theo người như bóng theo hình. Người chết thì thân mất nhưng nghiệp không mất." "Ví như ban đêm đốt đèn viết chữ. Đèn tắt nhưng chữ vẫn còn. Những việc làm đời này sẽ cho quả ở đời sau." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Có thể chỉ rõ thiện ác ở chỗ nào không?" Na Tiên đáp: "Không thể." Na Tiên hỏi: "Khi cây chưa có quả, có thể chỉ trước nơi quả sẽ mọc không?" Vua đáp: "Không thể." Na Tiên nói: "Người chưa đắc đạo cũng không thể biết trước thiện ác ở đâu." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Người sẽ tái sinh đời sau có tự biết không?" Na Tiên đáp: "Có." Vua hỏi: "Biết bằng cách nào?" Na Tiên đáp: "Ví như người nông dân gieo trồng đúng thời, gặp mưa thuận gió hòa thì biết chắc sẽ có mùa màng tốt. Người biết mình sẽ tái sinh cũng như vậy." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thật có Niết-bàn không?" Na Tiên đáp: "Thật có." Vua hỏi: "Ngài có thể chỉ cho ta biết Phật hiện ở đâu không?" Na Tiên đáp: "Không thể. Phật đã nhập Niết-bàn rồi." Na Tiên nói: "Ví như một đám lửa lớn đã tắt. Có thể chỉ nơi ánh lửa đang ở đâu được không?" Vua đáp: "Không thể." Na Tiên nói: "Phật nhập Niết-bàn cũng như vậy." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Sa-môn có yêu quý thân mình không?" Na Tiên đáp: "Không." Vua hỏi: "Nếu không yêu thân thì vì sao còn giữ gìn thân thể, ăn uống cho tốt, ngủ nghỉ yên ổn?" Na Tiên hỏi: "Đại vương từng ra trận chưa?" Vua đáp: "Rồi." Na Tiên hỏi: "Có từng bị thương bởi đao kiếm không?" Vua đáp: "Có." Na Tiên hỏi: "Vết thương ấy được chữa thế nào?" Vua đáp: "Dùng thuốc và băng bó." Na Tiên hỏi: "Đại vương làm vậy vì yêu vết thương chăng?" Vua đáp: "Không. Chỉ muốn nó mau lành." Na Tiên nói: "Sa-môn cũng như vậy. Không yêu thân mình. Ăn uống không phải để hưởng thụ, không phải để làm đẹp hay nuôi dưỡng sắc tướng. Chỉ vì muốn duy trì thân thể để thực hành kinh giới." "Phật dạy thân người có chín lỗ, giống như chín vết thương luôn chảy ra những thứ bất tịnh." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Phật thật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thân sắc vàng và có hào quang phải không?" Na Tiên đáp: "Đúng vậy." Vua hỏi: "Cha mẹ Phật có những tướng ấy không?" Na Tiên đáp: "Không." Vua nói: "Nếu cha mẹ không có thì Phật cũng không thể có." Na Tiên đáp: "Dù cha mẹ không có, Phật vẫn có những tướng ấy." Na Tiên hỏi: "Đại vương từng thấy hoa sen chưa?" Vua đáp: "Đã thấy." Na Tiên hỏi: "Hoa sen sinh từ bùn nước. Màu sắc và hương thơm của nó có giống bùn nước không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Phật cũng như vậy. Sinh trong thế gian, lớn lên trong thế gian nhưng không giống những điều ô nhiễm của thế gian." Vua nói: "Lành thay." Vua lại nói: "Con cái thường giống cha mẹ. Nếu cha mẹ không có những tướng ấy thì Phật chắc cũng không có." Na Tiên đáp: "Dù cha mẹ Phật không có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp và thân sắc vàng, nhưng Phật thật sự có những tướng ấy." Na Tiên hỏi: "Đại vương đã từng thấy hoa sen chưa?" Vua đáp: "Đã thấy." Na Tiên hỏi: "Hoa sen sinh từ đất, lớn lên trong bùn nước. Sắc đẹp và hương thơm của nó có giống màu sắc của bùn nước không?" Vua đáp: "Không giống." Na Tiên nói: "Dù cha mẹ Phật không có những tướng ấy, Phật vẫn thật có những tướng ấy. Phật sinh trong thế gian, lớn lên trong thế gian nhưng không giống các pháp thế gian." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Phật có thật giống Phạm Thiên ở tầng trời thứ bảy, không giao hội với phụ nữ phải không?" Na Tiên đáp: "Đúng vậy. Hoàn toàn xa lìa phụ nữ, thanh tịnh không nhiễm ô." Vua hỏi: "Nếu Phật sống như Phạm Thiên thì Phật là đệ tử của Phạm Thiên phải không?" Na Tiên hỏi: "Phạm Thiên ở tầng trời thứ bảy còn có tâm niệm hay không?" Vua đáp: "Còn có." Na Tiên nói: "Vì còn có tâm niệm nên Phạm Thiên tầng trời thứ bảy và các vị trời cao hơn đều là đệ tử của Phật." Na Tiên lại hỏi: "Tiếng chim hót thuộc loại nào?" Vua đáp: "Giống tiếng ngỗng." Na Tiên nói: "Dù tiếng giống nhau nhưng loài chim và loài ngỗng vẫn khác nhau. Phật cũng như vậy, không phải đệ tử của Phạm Thiên." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Phật có phải học kinh giới rồi mới biết và thực hành không?" Na Tiên đáp: "Phật biết và thực hành trọn vẹn kinh giới." Vua hỏi: "Phật học kinh giới từ vị thầy nào?" Na Tiên đáp: "Phật không có thầy. Khi thành đạo, Ngài tự biết tất cả các pháp. Phật không như các đệ tử phải học những điều Phật dạy. Các đệ tử đều phải phụng hành suốt đời." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Khi cha mẹ chết, người ta khóc mà chảy nước mắt. Khi nghe kinh Phật, có người cũng khóc mà chảy nước mắt. Hai loại nước mắt ấy có khác nhau không?" Na Tiên đáp: "Khác nhau. Người khóc cha mẹ là vì thương nhớ, ân nghĩa, sầu khổ và đau buồn. Sự đau buồn ấy thuộc về ngu si chấp ái. Người nghe kinh Phật mà rơi lệ là vì lòng từ bi, thương xót nỗi khổ của thế gian. Công đức ấy rất lớn." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Người đã giải thoát và người chưa giải thoát khác nhau thế nào?" Na Tiên đáp: "Người chưa giải thoát còn có lòng tham dục. Người đã giải thoát không còn lòng tham dục, chỉ ăn uống để duy trì mạng sống." Vua nói: "Ta thấy người đời luôn muốn hưởng thụ thân xác, thích món ăn ngon, không bao giờ biết đủ." Na Tiên đáp: "Người chưa giải thoát xem ăn uống là niềm vui. Người đã giải thoát tuy ăn uống nhưng không xem đó là niềm vui hay sự ngon ngọt, chỉ để nuôi thân mà thôi." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Con người có thể nhớ những việc xa xưa không?" Na Tiên đáp: "Khi lo buồn, người ta thường nhớ chuyện lâu xa." Vua hỏi: "Nhờ ý nhớ hay nhờ niệm nhớ?" Na Tiên hỏi lại: "Đại vương có từng học điều gì rồi sau đó nhớ lại không?" Vua đáp: "Có. Có lúc đã học rồi lại quên." Na Tiên hỏi: "Lúc ấy thật sự không có ký ức hay chỉ là tâm tán loạn nên quên?" Vua đáp: "Khi ấy tâm tán loạn." Na Tiên nói: "Như vậy đủ biết là có niệm." Vua lại hỏi: "Những gì làm phát sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Con người có mười sáu nhân duyên sinh niệm: Nhớ việc lâu xa. Nhớ điều mới học. Việc lớn làm phát sinh niệm. Nghĩ đến điều thiện mà sinh niệm. Nhớ lại nỗi khổ đã trải qua. Tự suy nghĩ mà sinh niệm. Nhớ các việc từng làm. Được người khác nhắc nhở mà sinh niệm. Thấy hình tượng mà sinh niệm. Từ điều đã quên mà nhớ lại. Do nhận biết mà sinh niệm. Do tính toán mà sinh niệm. Do nợ nần mà sinh niệm. Do nhất tâm mà sinh niệm. Do đọc sách mà sinh niệm. Do thấy lại vật từng gửi gắm mà sinh niệm." Vua hỏi: "Thế nào là nhớ việc lâu xa?" Na Tiên đáp: "Như ngài A-nan, nữ cư sĩ Cưu-thù-đơn-bà và nhiều vị khác có thể nhớ việc từ vô số đời trước. Đó là nhớ việc lâu xa." Vua hỏi: "Thế nào là nhớ điều mới học?" Na Tiên đáp: "Như người từng học tính toán rồi quên. Khi thấy người khác tính toán thì nhớ lại." Vua hỏi: "Thế nào là việc lớn làm phát sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Ví như thái tử lên ngôi vua rồi nhớ mình hiện là bậc tôn quý." Vua hỏi: "Thế nào là nghĩ thiện mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Ví như được người khác kính trọng tiếp đãi tử tế, rồi nhớ lại ân tình ấy." Vua hỏi: "Thế nào là nhớ nỗi khổ đã trải qua?" Na Tiên đáp: "Ví như người từng bị đánh đập hoặc bị giam cầm, về sau nhớ lại." Vua hỏi: "Thế nào là tự suy nghĩ mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Ví như nhớ đến gia đình, thân thuộc hoặc các loài vật đã từng thấy." Vua hỏi: "Thế nào là nhớ việc đã từng làm?" Na Tiên đáp: "Ví như nhớ tên gọi của muôn vật, màu sắc, hương thơm, mùi hôi, vị ngọt, vị đắng. Đó là nhớ những điều từng tiếp xúc." Vua hỏi: "Thế nào là do người khác nhắc mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Người hay quên được người khác nhắc nhở nên nhớ lại." Vua hỏi: "Thế nào là do hình tượng mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Người, bò, ngựa đều có hình dáng riêng. Thấy hình dáng liền nhớ." Vua hỏi: "Thế nào là từ điều đã quên mà nhớ lại?" Na Tiên đáp: "Ví như bỗng quên một việc, suy nghĩ nhiều lần rồi nhớ ra." Vua hỏi: "Thế nào là do nhận biết mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Ví như người học chữ nhận ra chữ đã học." Vua hỏi: "Thế nào là do tính toán mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Ví như người giỏi tính toán, mọi phép tính đều rõ ràng." Vua hỏi: "Thế nào là do nợ nần mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Ví như người nhớ mình có món nợ cần phải trả." Vua hỏi: "Thế nào là nhất tâm mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Sa-môn nhất tâm có thể nhớ lại việc trong hàng nghìn ức đời trước. Đó là nhất tâm sinh niệm." Vua hỏi: "Thế nào là đọc sách mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Ví như thấy sách cổ của các vị đế vương rồi nhớ đến thời đại và người đã viết sách ấy." Vua hỏi: "Thế nào là thấy vật đã gửi mà sinh niệm?" Na Tiên đáp: "Người từng gửi vật gì, sau thấy lại vật ấy liền nhớ." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Nếu Phật biết hết mọi việc quá khứ, hiện tại và tương lai, vì sao Ngài không dạy tất cả cho đệ tử trong một lần mà lại dạy dần từng bước?" Na Tiên hỏi: "Trong nước có thầy thuốc không?" Vua đáp: "Có." Na Tiên hỏi: "Thầy thuốc ấy có biết hết mọi loại thuốc trên đời không?" Vua đáp: "Có thể biết hết." Na Tiên hỏi: "Vậy khi chữa bệnh, thầy thuốc có cho người bệnh uống tất cả thuốc một lần hay tùy bệnh mà cho từng thứ?" Vua đáp: "Người chưa bệnh thì không thể cho thuốc trước. Có bệnh mới cho thuốc thích hợp." Na Tiên nói: "Phật cũng như vậy. Dù biết hết quá khứ, vị lai và hiện tại, nhưng không thể đem tất cả giáo pháp dạy cho mọi người cùng một lúc. Chỉ có thể tùy căn cơ mà dần dần truyền dạy kinh giới, khiến họ thực hành." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Các sa-môn nói rằng người ở thế gian tuy làm nhiều điều ác, nhưng đến lúc sắp chết chỉ cần niệm Phật thì sau khi chết được sinh lên trời. Ta không tin điều ấy. Lại nói chỉ giết một sinh mạng thôi cũng có thể đọa địa ngục. Ta cũng không tin." Na Tiên hỏi: "Ví như đem một hòn đá nhỏ đặt trên mặt nước. Hòn đá nổi hay chìm?" Vua đáp: "Chìm." Na Tiên hỏi: "Nếu đặt một trăm hòn đá lớn lên thuyền thì thuyền có chìm không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Một trăm hòn đá nhờ sức nâng của thuyền nên không chìm. Con người cũng vậy. Dù trước đây từng làm ác, nhưng lúc cuối đời nhất tâm niệm Phật thì nhờ công đức ấy mà không đọa địa ngục, được sinh lên trời. Còn người như hòn đá nhỏ rơi xuống nước, tức người làm ác mà không biết đến Phật pháp, sau khi chết sẽ đọa địa ngục." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Vì sao các ngài xuất gia học đạo làm sa-môn?" Na Tiên đáp: "Tôi thấy khổ trong quá khứ, khổ trong hiện tại và khổ trong tương lai. Muốn dứt bỏ tất cả các khổ ấy, không muốn tiếp tục thọ nhận nữa, nên xuất gia học đạo." Vua hỏi: "Khổ của đời sau còn chưa đến. Vì sao phải lo tu đạo từ bây giờ?" Na Tiên hỏi: "Đại vương có nước thù địch thường muốn đánh mình không?" Vua đáp: "Có." Na Tiên hỏi: "Khi quân địch kéo đến mới xây thành, đào hào, chuẩn bị binh khí hay phải chuẩn bị từ trước?" Vua đáp: "Phải chuẩn bị từ trước." Na Tiên hỏi: "Vì sao phải chuẩn bị trước?" Vua đáp: "Để phòng khi quân địch bất ngờ đến." Na Tiên hỏi: "Nếu quân địch còn chưa đến thì tại sao phải chuẩn bị?" Na Tiên lại hỏi: "Đợi khát mới đào giếng, đợi đói mới gieo lúa phải không?" Vua đáp: "Không. Đều phải chuẩn bị trước." Na Tiên nói: "Khổ của đời sau cũng như vậy. Cho nên phải tu đạo từ trước." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Từ đây đến tầng trời Phạm Thiên thứ bảy xa đến đâu?" Na Tiên đáp: "Rất xa. Nếu có một tảng đá lớn bằng cung điện của đại vương rơi từ tầng trời ấy xuống thì phải sáu tháng mới đến mặt đất." Vua nói: "Các sa-môn lại nói rằng người chứng A-la-hán có thể trong khoảng co duỗi cánh tay liền bay lên tầng trời Phạm Thiên thứ bảy. Điều ấy ta không tin. Xa đến hàng nghìn vạn ức dặm, sao có thể nhanh như vậy?" Na Tiên hỏi: "Đại vương sinh ở nước nào?" Vua đáp: "Tôi sinh ở nước Đại Tần, tên là A Lê Tán." Na Tiên hỏi: "Nước ấy cách đây bao xa?" Vua đáp: "Hai nghìn do-tuần, khoảng tám vạn dặm." Na Tiên hỏi: "Đại vương có thường nhớ đến quê hương không?" Vua đáp: "Thường nhớ." Na Tiên nói: "Xin thử nghĩ đến nước ấy." Vua đáp: "Ta vừa nghĩ xong." Na Tiên hỏi: "Vậy tám vạn dặm ấy đại vương đi mất bao lâu?" Vua đáp: "Trong một niệm liền đến." Na Tiên nói: "Đó chính là ý nghĩa ấy." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Nếu có hai người cùng lúc chết. Một người sinh lên tầng trời Phạm Thiên thứ bảy. Một người sinh ở Kế Tân cách đây bảy trăm hai mươi dặm. Ai đến trước?" Na Tiên đáp: "Hai người đến cùng lúc." Vua hỏi: "Một nơi xa, một nơi gần, sao lại cùng lúc?" Na Tiên hỏi: "Xin đại vương nghĩ đến nước A Lê Tán." Vua đáp: "Ta đã nghĩ." Na Tiên hỏi: "Xin lại nghĩ đến nước Kế Tân." Vua đáp: "Ta đã nghĩ." Na Tiên hỏi: "Nghĩ đến nơi nào nhanh hơn?" Vua đáp: "Nhanh như nhau." Na Tiên nói: "Hai người chết rồi tái sinh cũng như vậy." Na Tiên lại hỏi: "Nếu có hai con chim cùng đậu một lúc, một con đậu trên cây cao, một con đậu trên cây thấp. Bóng của chúng xuống đất, bóng nào đến trước?" Vua đáp: "Cùng lúc." Na Tiên nói: "Việc tái sinh cũng như vậy." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Con người dùng mấy điều để học biết đạo?" Na Tiên đáp: "Dùng bảy điều: Nghĩ đến thiện ác. Tinh tấn. Ưa thích đạo. Chế phục tâm làm lành. Thường nhớ đạo. Nhất tâm. Đối với mọi việc không còn yêu ghét." Vua hỏi: "Nhờ đủ bảy điều ấy mới biết đạo sao?" Na Tiên đáp: "Không hẳn. Chính trí tuệ phân biệt thiện ác mới trực tiếp biết đạo. Sáu điều kia là trợ duyên." Vua hỏi: "Nếu chỉ nhờ trí tuệ thì vì sao còn nói bảy điều?" Na Tiên hỏi: "Ví như thanh gươm nằm trong vỏ dựa vào tường. Tự nó có chém được gì không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Tâm tuy có trí nhưng vẫn cần sáu điều kia hỗ trợ mới thành tựu được trí tuệ." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Làm thiện được phước lớn hay làm ác chịu họa lớn?" Na Tiên đáp: "Làm thiện được phước lớn. Làm ác chịu họa nhỏ hơn. Người làm ác thường hối hận nên tội dần giảm bớt. Người làm thiện ngày đêm vui mừng nhớ nghĩ điều lành nên phước ngày càng lớn." Na Tiên nói: "Xưa khi Phật còn tại thế, trong nước có một người cụt tay chân. Người ấy dùng thân mình nâng một đóa sen dâng lên Phật. Phật liền bảo các tỳ-kheo: 'Người cụt tay chân này trong chín mươi mốt kiếp về sau sẽ không đọa địa ngục, ngạ quỷ hay súc sinh. Sau khi sinh lên trời, hết phước lại sinh làm người.'" "Vì thế tôi biết rằng chỉ một việc thiện nhỏ cũng được phước rất lớn. Người làm ác nếu biết hối lỗi thì tội dần tiêu diệt. Vì thế tôi nói làm ác chịu họa nhỏ hơn." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Người trí làm ác và người ngu làm ác, ai chịu quả báo nặng hơn?" Na Tiên đáp: "Người ngu làm ác chịu quả báo nặng hơn. Người trí làm ác chịu quả báo nhẹ hơn." Vua nói: "Ta không đồng ý. Pháp luật nước ta quy định đại thần phạm tội thì bị phạt nặng, dân thường phạm tội thì bị phạt nhẹ. Vậy người trí phạm tội phải nặng hơn người ngu mới đúng." Na Tiên hỏi: "Ví như có cục sắt nung đỏ đặt dưới đất. Một người biết đó là sắt nóng, một người không biết. Hai người cùng cầm vào. Ai bị bỏng nặng hơn?" Vua đáp: "Người không biết bị bỏng nặng hơn." Na Tiên nói: "Người ngu làm ác mà không biết hối hận nên quả báo nặng. Người trí làm ác biết điều ấy không đúng, ngày ngày tự hối lỗi nên quả báo nhẹ." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Có người nào mang chính thân này bay đến tầng trời Phạm Thiên thứ bảy, đến Uất-đan-việt hay bất cứ nơi nào mình muốn không?" Na Tiên đáp: "Có." Vua hỏi: "Làm sao có thể mang thân này đến những nơi xa như thế?" Na Tiên hỏi: "Khi còn nhỏ đại vương có từng nhảy qua hơn một trượng đất không?" Vua đáp: "Có. Khi muốn nhảy liền nhảy được." Na Tiên nói: "Người đắc đạo cũng vậy. Muốn đến tầng trời Phạm Thiên thứ bảy hay Uất-đan-việt thì có thể đến." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Các sa-môn nói có loài vật xương dài bốn nghìn dặm. Đó là xương của loài gì?" Na Tiên hỏi: "Đại vương có từng nghe trong biển lớn có loài cá tên Chất, dài hai vạn tám nghìn dặm không?" Vua đáp: "Có nghe." Na Tiên nói: "Loài cá ấy có xương sườn dài bốn nghìn dặm." Vua rất kinh ngạc. Vua lại hỏi: "Các sa-môn nói có thể dứt hẳn hơi thở. Điều ấy thế nào?" Na Tiên hỏi: "Đại vương có biết ý chí không?" Vua đáp: "Biết." Na Tiên hỏi: "Đại vương cho rằng ý chí ở trong thân phải không?" Vua đáp: "Phải." Na Tiên nói: "Người ngu không thể chế ngự thân miệng, không giữ được kinh giới. Người như vậy không làm chủ được chính mình. Còn người học đạo có thể chế ngự thân tâm, giữ giới luật, nhất tâm tu tập. Khi chứng bốn thiền thì có thể không còn hơi thở thô động." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Tại sao gọi là biển? Vì nước nên gọi là biển hay vì nguyên nhân khác?" Na Tiên đáp: "Biển được gọi là biển vì nước và muối hòa trộn với nhau." Vua hỏi: "Vì sao nước biển đều mặn?" Na Tiên đáp: "Do trải qua thời gian lâu dài tích tụ và do vô số loài cá, rùa, sâu trùng sinh sống trong đó nên thành vị mặn." Vua nói: "Lành thay." Vua lại hỏi: "Người đắc đạo có thể suy xét hết những việc sâu kín không?" Na Tiên đáp: "Có thể." Na Tiên nói: "Kinh Phật rất sâu xa, thấu rõ mọi việc. Những điều không thể đo lường đều được trí tuệ phân biệt và quyết định." Vua nói: "Lành thay." Vua hỏi: "Thần thức, trí tuệ và tự nhiên là một hay khác?" Na Tiên đáp: "Thần thức là sự nhận biết phát sinh. Trí tuệ là sự hiểu đạo. Còn 'tự nhiên' chỉ là hư không, không phải con người." Vua hỏi: "Rốt cuộc cái gì gọi là con người? Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, miệng biết vị, thân biết cứng mềm, ý biết thiện ác. Vậy cái gì là con người?" Na Tiên hỏi: "Nếu lấy mắt ra thì có nhìn xa hơn không? Xé rộng tai ra thì có nghe xa hơn không? Khoét rộng mũi thì có ngửi nhiều hơn không? Mở rộng miệng thì có biết nhiều vị hơn không? Lột da thịt đi thì có cảm nhận cứng mềm hơn không? Bỏ ý thức đi thì có nghĩ được nhiều hơn không?" Vua đáp: "Không." Na Tiên nói: "Vậy những thứ ấy không phải là con người thật." Na Tiên lại nói: "Việc của Phật rất khó nghĩ bàn, rất vi diệu." Vua hỏi: "Khó nghĩ bàn và vi diệu thế nào?" Na Tiên đáp: "Phật biết mọi điều trong tâm con người. Biết việc mắt thấy. Biết việc tai nghe. Biết việc mũi ngửi. Biết việc lưỡi nếm. Biết việc thân cảm nhận. Biết mọi điều hư hoại. Biết mọi nghi ngờ. Biết mọi ý nghĩ. Biết cả thần thức." Na Tiên lại nói: "Ví như lấy nước biển ngậm trong miệng. Đại vương có thể phân biệt trong ấy phần nào là nước suối, phần nào là nước sông này, phần nào là nước sông khác không?" Vua đáp: "Không thể. Tất cả đã hòa làm một." Na Tiên nói: "Những điều Phật biết còn khó hơn thế. Ngay cả nước biển đang ở trước mắt, đại vương cũng không thể phân biệt từng nguồn nước. Huống chi trong thân người có sáu thức, vốn không thể nhìn thấy." "Phật có thể hiểu rõ từ tâm niệm đến điều mắt thấy. Từ tâm niệm đến điều tai nghe. Từ tâm niệm đến mùi hương mũi ngửi. Từ tâm niệm đến vị giác nơi miệng. Từ tâm niệm đến cảm giác nóng lạnh, cứng mềm nơi thân. Từ tâm niệm đến mọi ý hướng. Phật đều biết rõ và phân biệt được." Vua nói: "Lành thay." Bấy giờ đêm đã khuya. Na Tiên nói: "Đã nửa đêm rồi, tôi xin trở về." Vua liền sai cận thần mang bốn bó đuốc tẩm dầu đưa đường cho Na Tiên về chùa, căn dặn: "Hãy kính trọng Na Tiên như kính trọng chính ta." Các cận thần đều vâng lệnh. Vua nói: "Nếu được bậc thầy như Na Tiên và có người học trò như ta thì sẽ mau đắc đạo." Mọi điều vua hỏi, Na Tiên đều trả lời đầy đủ. Vua vô cùng hoan hỷ. Vua đem y phục quý giá trị hơn mười vạn để cúng dường Na Tiên. Rồi nói: "Từ nay về sau, xin ngài cùng tám trăm sa-môn mỗi ngày vào cung dùng cơm. Mọi vật cần dùng đều lấy từ ta." Na Tiên đáp: "Tôi là người xuất gia, vốn không có nhiều nhu cầu." Vua nói: "Xin ngài nhận để bảo hộ cho chính ngài và cũng là bảo hộ cho ta." Na Tiên hỏi: "Làm sao là bảo hộ cho cả hai?" Vua đáp: "Ta sợ người đời chê ta keo kiệt, nói rằng Na Tiên đã giải mọi nghi hoặc cho vua mà vua không biết cúng dường. Ta cũng sợ người đời nói rằng Na Tiên không đủ khả năng giải đáp nên vua không ban thưởng. Nếu ngài nhận, ta được phước. Danh tiếng của ngài cũng được giữ gìn." Vua lại nói: "Ví như sư tử bị nhốt trong lồng vàng vẫn luôn muốn thoát ra. Ta tuy là quốc vương sống trong cung điện nhưng lòng không vui. Ta cũng muốn bỏ nước xuất gia học đạo." Nói xong, Na Tiên trở về chùa. Trên đường về, vua tự nghĩ: "Ta đã hỏi những gì? Na Tiên đã giải đáp những gì? Không có điều gì ta hỏi mà Na Tiên không giải được." Na Tiên về đến chùa cũng tự nghĩ: "Vua đã hỏi những gì? Ta đã trả lời những gì? Mọi điều vua hỏi ta đều giải đáp được." Hai người nghĩ như vậy cho đến sáng. Sáng hôm sau, Na Tiên khoác cà-sa, mang bát vào cung, lên điện ngồi. Vua đảnh lễ rồi mới ngồi xuống. Vua thưa: "Hôm qua sau khi ngài đi, ta tự nghĩ về những điều đã hỏi và những điều ngài đã đáp. Ta nhận ra rằng không điều gì ngài không giải rõ. Nghĩ đến đó lòng ta vui mừng, ngủ ngon đến sáng." Na Tiên đáp: "Trên đường về chùa, tôi cũng nghĩ đến những câu hỏi của đại vương và những lời mình đáp lại. Tôi nhận thấy mọi điều đại vương hỏi đều đã được giải thích đầy đủ. Vì thế lòng tôi cũng hoan hỷ cho đến sáng." Nói xong, Na Tiên muốn lui ra. Vua liền đứng dậy đảnh lễ Na Tiên. '''Kinh Tỳ-kheo Na Tiên Quyển Hạ hết.''' {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] lkjefznnbrbau17d0wpe4aefd28rco8 Lời Tạ Lỗi Gửi Đến Đồng Bào Thổ Dân Úc 0 72410 206036 2026-08-21T03:22:40Z NationalApology 20528 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “Tôi xin trình trước Quốc Hội rằng: Hôm nay, chúng ta cùng tôn vinh Đồng Bào Thổ Dân trên mảnh đất này, những người mang trong mình nền văn hóa cổ xưa nhất trong lịch sử nhân loại. Chúng ta cùng nhìn lại những ngược đãi mà họ đã phải chịu đựng trong quá khứ. Chúng ta đặc biệt nhìn lại việc đối xử sai trái với Những Thế Hệ Bị Đánh Cắp - một chương…” 206036 wikitext text/x-wiki Tôi xin trình trước Quốc Hội rằng: Hôm nay, chúng ta cùng tôn vinh Đồng Bào Thổ Dân trên mảnh đất này, những người mang trong mình nền văn hóa cổ xưa nhất trong lịch sử nhân loại. Chúng ta cùng nhìn lại những ngược đãi mà họ đã phải chịu đựng trong quá khứ. Chúng ta đặc biệt nhìn lại việc đối xử sai trái với Những Thế Hệ Bị Đánh Cắp - một chương u ám trong lịch sử quốc gia chúng ta. Giờ đây, đã đến lúc lịch sử Úc phải lật sang một trang mới, bằng cách sửa chữa những sai lầm đã qua, để tự tin tiến bước đến tương lai. Chúng tôi xin tạ lỗi về những luật lệ và chính sách của các chính quyền tiền nhiệm đã gây nên bao đau khổ, mất mát và thương tổn sâu đậm cho những đồng bào Thổ Dân của chúng ta. Chúng tôi đặc biệt tạ lỗi về việc đã tách rời các trẻ em Thổ Dân và Đảo Torres Strait khỏi gia đình, cộng đồng và quê hương của các em. Vì những nỗi đau, sự chịu đựng và mất mát của Những Thế Hệ Bị Đánh Cắp, của con cháu họ, và của những gia đình bị chia lìa, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Gửi đến các bậc cha mẹ, anh chị em, những người đã chịu cảnh gia đình tan vỡ, cộng đồng ly tán, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Và vì sự xúc phạm và tổn thương phẩm giá đã gây ra cho một dân tộc và một nền văn hóa đầy tự hào, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Chúng tôi, Quốc Hội Úc, xin được bày tỏ lòng tạ lỗi này với tất cả sự chân thành, và mong rằng lời tạ lỗi này được đón nhận như một phần trong tiến trình hàn gắn và chữa lành vết thương của dân tộc. Hướng về tương lai, chúng tôi tin tưởng rằng một trang sử mới cho lục địa này đang được mở ra. Hôm nay, chúng ta bước đi bước đầu tiên bằng việc thừa nhận quá khứ và hướng đến một tương lai dành cho tất cả người Úc. Một tương lai, nơi Quốc Hội này cam kết rằng những bất công của quá khứ sẽ không bao giờ, không bao giờ được phép tái diễn. Một tương lai, nơi tất cả người Úc, Thổ Dân cũng như không Thổ Dân, cùng chung quyết tâm thu hẹp khoảng cách về tuổi thọ, trình độ học vấn và cơ hội kinh tế. Một tương lai, nơi chúng ta sẵn sàng đón nhận những giải pháp mới để vượt qua những vấn đề đã kéo dài, nơi các phương cách cũ từng thất bại. Một tương lai dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, quyết tâm cùng nhau giải quyết vấn đề và cùng chia sẻ trách nhiệm. Một tương lai nơi mọi người dân Úc, dù xuất thân thế nào, đều bình đẳng và cùng góp phần vào chương mới của đất nước này - nước Úc. Ngài Dân Biểu Kevin Rudd Thủ Tướng Úc Hạ Nghị Viện Tòa Nhà Quốc Hội, Canberra Ngày 13 Tháng Hai Năm 2008 iwfe0wvn053c2shufgwiorohphpynob 206038 206036 2026-08-21T04:04:49Z NationalApology 20528 206038 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Lời Tạ Lỗi Gửi Đến Đồng Bào Thổ Dân Úc | tác giả = Kevin Rudd | dịch giả = Thanh-Kham Tran-Dang OAM, Huy Luu and Xuan Dung Huynh (Hội Phụ Nữ Việt Úc) | phần = | trước = | sau = | năm = 2008 | ghi chú = | thể loại = }}Tôi xin trình trước Quốc Hội rằng: Hôm nay, chúng ta cùng tôn vinh Đồng Bào Thổ Dân trên mảnh đất này, những người mang trong mình nền văn hóa cổ xưa nhất trong lịch sử nhân loại. Chúng ta cùng nhìn lại những ngược đãi mà họ đã phải chịu đựng trong quá khứ. Chúng ta đặc biệt nhìn lại việc đối xử sai trái với Những Thế Hệ Bị Đánh Cắp - một chương u ám trong lịch sử quốc gia chúng ta. Giờ đây, đã đến lúc lịch sử Úc phải lật sang một trang mới, bằng cách sửa chữa những sai lầm đã qua, để tự tin tiến bước đến tương lai. Chúng tôi xin tạ lỗi về những luật lệ và chính sách của các chính quyền tiền nhiệm đã gây nên bao đau khổ, mất mát và thương tổn sâu đậm cho những đồng bào Thổ Dân của chúng ta. Chúng tôi đặc biệt tạ lỗi về việc đã tách rời các trẻ em Thổ Dân và Đảo Torres Strait khỏi gia đình, cộng đồng và quê hương của các em. Vì những nỗi đau, sự chịu đựng và mất mát của Những Thế Hệ Bị Đánh Cắp, của con cháu họ, và của những gia đình bị chia lìa, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Gửi đến các bậc cha mẹ, anh chị em, những người đã chịu cảnh gia đình tan vỡ, cộng đồng ly tán, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Và vì sự xúc phạm và tổn thương phẩm giá đã gây ra cho một dân tộc và một nền văn hóa đầy tự hào, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Chúng tôi, Quốc Hội Úc, xin được bày tỏ lòng tạ lỗi này với tất cả sự chân thành, và mong rằng lời tạ lỗi này được đón nhận như một phần trong tiến trình hàn gắn và chữa lành vết thương của dân tộc. Hướng về tương lai, chúng tôi tin tưởng rằng một trang sử mới cho lục địa này đang được mở ra. Hôm nay, chúng ta bước đi bước đầu tiên bằng việc thừa nhận quá khứ và hướng đến một tương lai dành cho tất cả người Úc. Một tương lai, nơi Quốc Hội này cam kết rằng những bất công của quá khứ sẽ không bao giờ, không bao giờ được phép tái diễn. Một tương lai, nơi tất cả người Úc, Thổ Dân cũng như không Thổ Dân, cùng chung quyết tâm thu hẹp khoảng cách về tuổi thọ, trình độ học vấn và cơ hội kinh tế. Một tương lai, nơi chúng ta sẵn sàng đón nhận những giải pháp mới để vượt qua những vấn đề đã kéo dài, nơi các phương cách cũ từng thất bại. Một tương lai dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, quyết tâm cùng nhau giải quyết vấn đề và cùng chia sẻ trách nhiệm. Một tương lai nơi mọi người dân Úc, dù xuất thân thế nào, đều bình đẳng và cùng góp phần vào chương mới của đất nước này - nước Úc. Ngài Dân Biểu Kevin Rudd Thủ Tướng Úc Hạ Nghị Viện Tòa Nhà Quốc Hội, Canberra Ngày 13 Tháng Hai Năm 2008 r7k5s9pkua4yo7xw1xxn8ze5bhmadv9 206039 206038 2026-08-21T04:05:13Z NationalApology 20528 206039 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Lời Tạ Lỗi Gửi Đến Đồng Bào Thổ Dân Úc | tác giả = Kevin Rudd | dịch giả = Thanh-Kham Tran-Dang OAM, Huy Luu and Xuan Dung Huynh (Hội Phụ Nữ Việt Úc) | phần = | trước = | sau = | năm = 2008 | ghi chú = | thể loại = }}Tôi xin trình trước Quốc Hội rằng: Hôm nay, chúng ta cùng tôn vinh Đồng Bào Thổ Dân trên mảnh đất này, những người mang trong mình nền văn hóa cổ xưa nhất trong lịch sử nhân loại. Chúng ta cùng nhìn lại những ngược đãi mà họ đã phải chịu đựng trong quá khứ. Chúng ta đặc biệt nhìn lại việc đối xử sai trái với Những Thế Hệ Bị Đánh Cắp - một chương u ám trong lịch sử quốc gia chúng ta. Giờ đây, đã đến lúc lịch sử Úc phải lật sang một trang mới, bằng cách sửa chữa những sai lầm đã qua, để tự tin tiến bước đến tương lai. Chúng tôi xin tạ lỗi về những luật lệ và chính sách của các chính quyền tiền nhiệm đã gây nên bao đau khổ, mất mát và thương tổn sâu đậm cho những đồng bào Thổ Dân của chúng ta. Chúng tôi đặc biệt tạ lỗi về việc đã tách rời các trẻ em Thổ Dân và Đảo Torres Strait khỏi gia đình, cộng đồng và quê hương của các em. Vì những nỗi đau, sự chịu đựng và mất mát của Những Thế Hệ Bị Đánh Cắp, của con cháu họ, và của những gia đình bị chia lìa, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Gửi đến các bậc cha mẹ, anh chị em, những người đã chịu cảnh gia đình tan vỡ, cộng đồng ly tán, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Và vì sự xúc phạm và tổn thương phẩm giá đã gây ra cho một dân tộc và một nền văn hóa đầy tự hào, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Chúng tôi, Quốc Hội Úc, xin được bày tỏ lòng tạ lỗi này với tất cả sự chân thành, và mong rằng lời tạ lỗi này được đón nhận như một phần trong tiến trình hàn gắn và chữa lành vết thương của dân tộc. Hướng về tương lai, chúng tôi tin tưởng rằng một trang sử mới cho lục địa này đang được mở ra. Hôm nay, chúng ta bước đi bước đầu tiên bằng việc thừa nhận quá khứ và hướng đến một tương lai dành cho tất cả người Úc. Một tương lai, nơi Quốc Hội này cam kết rằng những bất công của quá khứ sẽ không bao giờ, không bao giờ được phép tái diễn. Một tương lai, nơi tất cả người Úc, Thổ Dân cũng như không Thổ Dân, cùng chung quyết tâm thu hẹp khoảng cách về tuổi thọ, trình độ học vấn và cơ hội kinh tế. Một tương lai, nơi chúng ta sẵn sàng đón nhận những giải pháp mới để vượt qua những vấn đề đã kéo dài, nơi các phương cách cũ từng thất bại. Một tương lai dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, quyết tâm cùng nhau giải quyết vấn đề và cùng chia sẻ trách nhiệm. Một tương lai nơi mọi người dân Úc, dù xuất thân thế nào, đều bình đẳng và cùng góp phần vào chương mới của đất nước này - nước Úc. Ngài Dân Biểu Kevin Rudd Thủ Tướng Úc Hạ Nghị Viện Tòa Nhà Quốc Hội, Canberra Ngày 13 Tháng Hai Năm 2008 htz1e1m73rnvocznmhnxunrbuvk9r60 206040 206039 2026-08-21T04:37:18Z NationalApology 20528 206040 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Lời Tạ Lỗi Gửi Đến Đồng Bào Thổ Dân Úc | tác giả = Kevin Rudd | dịch giả = Hội Phụ Nữ Việt Úc / National Apology Foundation | phần = | trước = | sau = | năm = 2008 | ghi chú = | thể loại = }}Tôi xin trình trước Quốc Hội rằng: Hôm nay, chúng ta cùng tôn vinh Đồng Bào Thổ Dân trên mảnh đất này, những người mang trong mình nền văn hóa cổ xưa nhất trong lịch sử nhân loại. Chúng ta cùng nhìn lại những ngược đãi mà họ đã phải chịu đựng trong quá khứ. Chúng ta đặc biệt nhìn lại việc đối xử sai trái với Những Thế Hệ Bị Đánh Cắp - một chương u ám trong lịch sử quốc gia chúng ta. Giờ đây, đã đến lúc lịch sử Úc phải lật sang một trang mới, bằng cách sửa chữa những sai lầm đã qua, để tự tin tiến bước đến tương lai. Chúng tôi xin tạ lỗi về những luật lệ và chính sách của các chính quyền tiền nhiệm đã gây nên bao đau khổ, mất mát và thương tổn sâu đậm cho những đồng bào Thổ Dân của chúng ta. Chúng tôi đặc biệt tạ lỗi về việc đã tách rời các trẻ em Thổ Dân và Đảo Torres Strait khỏi gia đình, cộng đồng và quê hương của các em. Vì những nỗi đau, sự chịu đựng và mất mát của Những Thế Hệ Bị Đánh Cắp, của con cháu họ, và của những gia đình bị chia lìa, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Gửi đến các bậc cha mẹ, anh chị em, những người đã chịu cảnh gia đình tan vỡ, cộng đồng ly tán, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Và vì sự xúc phạm và tổn thương phẩm giá đã gây ra cho một dân tộc và một nền văn hóa đầy tự hào, chúng tôi xin gửi lời xin lỗi. Chúng tôi, Quốc Hội Úc, xin được bày tỏ lòng tạ lỗi này với tất cả sự chân thành, và mong rằng lời tạ lỗi này được đón nhận như một phần trong tiến trình hàn gắn và chữa lành vết thương của dân tộc. Hướng về tương lai, chúng tôi tin tưởng rằng một trang sử mới cho lục địa này đang được mở ra. Hôm nay, chúng ta bước đi bước đầu tiên bằng việc thừa nhận quá khứ và hướng đến một tương lai dành cho tất cả người Úc. Một tương lai, nơi Quốc Hội này cam kết rằng những bất công của quá khứ sẽ không bao giờ, không bao giờ được phép tái diễn. Một tương lai, nơi tất cả người Úc, Thổ Dân cũng như không Thổ Dân, cùng chung quyết tâm thu hẹp khoảng cách về tuổi thọ, trình độ học vấn và cơ hội kinh tế. Một tương lai, nơi chúng ta sẵn sàng đón nhận những giải pháp mới để vượt qua những vấn đề đã kéo dài, nơi các phương cách cũ từng thất bại. Một tương lai dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, quyết tâm cùng nhau giải quyết vấn đề và cùng chia sẻ trách nhiệm. Một tương lai nơi mọi người dân Úc, dù xuất thân thế nào, đều bình đẳng và cùng góp phần vào chương mới của đất nước này - nước Úc. Ngài Dân Biểu Kevin Rudd,Thủ Tướng Úc Hạ Nghị Viện,Tòa Nhà Quốc Hội, Canberra Ngày 13 Tháng Hai Năm 2008 Người dịch: Thanh-Kham Tran-Dang OAM, Huy Luu, Xuan Dung Huynh (Hội Phụ Nữ Việt Úc) 6y65ry8ejgr6m2wmifj3ot38ae2wmdy Làm đĩ/Chương 3 0 72411 206037 2026-08-21T03:49:04Z ~2026-45790-77 20529 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = | tác giả = | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | năm = | ghi chú = }}” 206037 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = | tác giả = | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | năm = | ghi chú = }} ij26u1aao9ungsmkyx6w54zv2h0scwx Biên dịch:Neelakesi/Giấc mơ Parthiban/Phần III/Neelakesi 114 72412 206041 2026-08-21T08:37:19Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = Parthiban Kanavu (Giấc mơ của Parthiban) | tác giả= Kalki | ngôn ngữ = ta | bản gốc= பார்த்திபன் கனவு/மூன்றாம் பாகம்/நீலகேசி | năm= | phần = Parthiban Kanavu (Giấc mơ của Parthiban) là tiểu thuyết tiếng Tamil do cố nhà văn Kalki (1899-1954) sáng tác. | trước= | sau= | ghi chú= '''Neelakesi''' ( tiếng…” 206041 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Parthiban Kanavu (Giấc mơ của Parthiban) | tác giả= Kalki | ngôn ngữ = ta | bản gốc= பார்த்திபன் கனவு/மூன்றாம் பாகம்/நீலகேசி | năm= | phần = Parthiban Kanavu (Giấc mơ của Parthiban) là tiểu thuyết tiếng Tamil do cố nhà văn Kalki (1899-1954) sáng tác. | trước= | sau= | ghi chú= '''Neelakesi''' ( tiếng Tamil: நீலகேசி, đã Latinh hoá: Nīlakēci, n.đ. 'Woman with blue hair', nghĩa đen: 'Người phụ nữ có mái tóc xanh') là một tác phẩm thơ sử thi Jain bằng tiếng Tamil. Truyền thống văn học Tamil xếp nó vào nhóm năm bài thơ sử thi nhỏ, cùng với Naga kumara kaviyam, Udhyana kumara Kaviyam, Yasodhara Kaviyam và Soolamani. Đây là một tác phẩm tranh luận được viết như một phản biện của đạo Jain đối với những chỉ trích của Phật giáo trong sử thi lớn Tamil Kundalakesi. {{Wikipediaref}} }} ==Neelakesi நீலகேசி== Chỉ vài giây sau khi Siruthondar bước ra từ đằng sau tảng đá, thêm vài điều kỳ diệu nữa đã xảy ra ở đó. Từ đằng sau các tảng đá, từ sự che khuất của các vòm cây, và chẳng thể nói nổi họ đến từ đâu, như thể được tạo ra bởi phép thuật, những người chiến binh tay cầm vũ khí liên tục xuất hiện bất ngờ. Một ảo thuật Mahendra còn lớn hơn thế nữa đã xảy ra ở đó. Vị tu sĩ Saiva bị trói trên bàn tế lễ bằng cách nào đó đã đột nhiên thoát khỏi những dây trói, đứng dậy và nhảy xuống khỏi bàn tế lễ. Trong lúc đó, Siruthondar đang đi thẳng về phía nơi Maha Kapala Bhairavar đang đứng. Khi nhìn thấy ông, sự kinh hoàng xuất hiện trên khuôn mặt của Kapala Bhairavar thật khó tin. Khi Siruthondar tiến lại gần, sự kinh hoàng của hắn càng tăng lên. Toàn thân hắn run rẩy. Khi Siruthondar tiến lại gần hắn hơn nữa, ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt hắn và hỏi: "O kẻ ngụy trang Kapalika! Trước mặt Maha Kali, hãy nói sự thật ngươi là ai!", Kapala Bhairavar lùi lại hai bước, sau đó loạng choạng không còn sức để đi hay đứng rồi ngã gục xuống đất. Lúc đó, một tiếng "Ha-ha" vang lên giữa những người thờ phụng Kali đang vây quanh ở đó. Ngay cả Vikraman cũng cảm thấy hơi giật mình vì không biết điều bất thường gì có thể xảy ra do những kẻ Kapalika đang chìm trong cuồng loạn đó. Còn Ponnan thì đứng ngây người, bất lực khi những cảm xúc khác nhau như kinh ngạc và kính sợ trào dâng. Vào lúc Kapala Bhairavar ngã xuống và những kẻ Kapalika bắt đầu chạy đến từ bốn phía, Siruthondar nhanh chóng trèo lên bàn tế lễ. "Hỡi đại chúng! Hỡi những người sùng kính Mẫu đại Kali! Hãy tiến lại gần. Tôi sẽ nói cho các người biết sự thật về người đàn ông một tay đã lừa dối và gian trá tất cả các người trong suốt thời gian qua dưới cái tên giả 'Maha Kapala Bhairavar'", ông nói. Ngay khi nhìn thấy Siruthondar, Kapala Bhairavar đã hoảng sợ ngã xuống khiến tâm trí của những kẻ Kapalika đó vốn đã rơi vào sự hỗn loạn. Vì vậy, khi Siruthondar nói những lời trên, họ đã bao quanh bàn tế lễ và đứng nhìn ông không chớp mắt. Siruthondar nói bằng một giọng uy nghiêm, vang vọng khắp rừng núi. "Hãy nghe đây! Đất nước Tamil nơi chúng ta sinh ra là một vùng đất đã tích nhiều đại phúc đức. Biết bao nhiêu đại vĩ nhân đã xuất hiện ở đất nước này để dạy chúng ta về bản chất của Thiên Chúa thật và con đường để đến với Ngài. Đại đạo sĩ Thirumoolar, đã ban lời như vậy. Vị đại sư Vaishnava, đã phán truyền như vậy. Tại đất nước chúng ta, nơi là tổ ấm của những giáo lý cao cả như thế này, một số người trong một thời gian ngắn qua đã lan truyền những tư tưởng bất hảo như Kapalikam, Bhairavam, cùng các tập tục đáng sợ như tế người, ăn thịt người. Thật là sự ngu muội lớn biết bao khi tin rằng Đức Shiva - hiện thân của tình yêu, và Parashakti - hình mẫu của lòng thương hại, lại muốn tế lễ con người? Việc các câu chuyện Puranas nói rằng Đức Shiva cầm đầu lâu trên tay, và Parashakti đeo vòng cổ đầu lâu, tất cả đều mang ý nghĩa triết lý sâu xa mà các bậc tiền bối của chúng ta đã giải thích cho chúng ta. Như vậy thì lý do gì khiến tập tục tàn bạo tế người lại lan rộng ở vùng đất linh thiêng này? Gốc rễ của sự tuyên truyền độc hại này ở đâu? - Để tìm ra điều này, tôi và đồng đội tu sĩ Saiva của tôi, người vừa bị trói trên bàn tế lễ này chút trước, đã nỗ lực rất nhiều. Cuối cùng, trong nỗ lực đó, đồng đội của tôi đã thành công; ông ấy đã tìm ra sự thật...." Lúc đó một giọng nói hỏi: "Ông ấy là ai?" "Ông ấy ở đâu?" nhiều giọng nói hô lên. Sự thật là, trong sự hỗn loạn xảy ra khi Siruthondar đột ngột xuất hiện, vị tu sĩ Saiva đã rời khỏi nơi đó mà không ai chú ý. Siruthondar nói tiếp: "Nếu các người đến lễ hội sắp diễn ra ở Uraiyur trong hai ngày nữa, các người sẽ biết vị vĩ nhân đó là ai. Hiện tại, hãy biết kẻ Kapala Bhairavan đang ngã xuống đây và run rẩy vì sợ hãi là ai. Vào thời Hoàng đế Mahendra nổi tiếng của chúng ta - hai mươi năm trước - các người có nhớ vua Pulikesi của Vatapi đã xâm lược đất nước Tamil của chúng ta không..." Khi Siruthondar dừng lại hỏi, nhiều giọng nói hô lên: "Chúng tôi nhớ!" "Các người không thể quên được những hành động tàn bạo mà tên Pulikesi độc ác đó và quân đội của hắn đã làm ở các thành phố và làng mạc của đất nước Tamil tươi đẹp này sau khi phản bội sự tin tưởng. Các người cũng biết rằng sau khi Hoàng đế Mahendra qua đời, Đức vua Dharmaraja Narasimha Pallavan và tôi đã dẫn một đại quân đi xâm lược Vatapi để trả thù Pulikesi. Trong trận chiến tàn khốc trước thành phố Vatapi, quân đội Tamil dũng cảm của chúng ta đã tiêu diệt toàn bộ quân đội của Pulikesi. Hoàng đế đã ra lệnh không được để bất kỳ ai trong quân đội của Pulikesi đến chiến trường quay trở về. Tuy nhiên, trái với lệnh của ngài, tôi đã cho phép duy nhất một người quay về. Tôi không đành lòng giết kẻ đã mất một tay trong chiến tranh và quỳ dưới chân xin 'tị nạn', nên đã cho phép hắn chạy trốn. Người đàn ông một tay đó chính là Neelakesi đang nằm gục ở đây. Hắn là em trai của Pulikesi, còn tàn bạo hơn cả Pulikesi!" Khi nghe điều này, trong đám đông vang lên nhiều lời bàn tán xôn xao: "A!", "Thật vậy sao?", "Thật là độc ác!", "Thật là xảo quyệt!". Sau khi tiếng bàn tán giảm bớt một chút, Siruthondar lại nói tiếp: "Khi tôi báo cáo rằng tôi đã tha thứ và gửi hắn sống sót trở về, Hoàng đế đã nói: 'Ngươi đã phạm sai lầm; điều này sẽ gây ra hậu quả xấu.' Điều đó đã trở thành sự thật. Tên Neelakesi này, trong trang phục Kapalika, đã đến sống ở vùng đất Tamil linh thiêng của chúng ta, và vào thời điểm trí óc của người dân bị bấn loạn vì nạn đói, hắn đã bắt đầu lan truyền Kapalikam và tục tế người. Để làm gì? Chính là vì muốn giành chiến thắng bằng mưu mô đối với điều không thể giành chiến thắng bằng sự dũng cảm. Chính là để xúi giục tất cả các người mưu phản chống lại Hoàng đế Mamalla của chúng ta, người có tiếng tăm lừng lẫy khắp các quốc gia qua các đại dương. Với ý định này, hắn đã tích trữ hàng ngàn con dao và rìu trong các hang động trên đỉnh núi Kolli...." "Ah!" tiếng tức giận của Kapala Bhairavan vang lên. "Đúng vậy; tất cả những vũ khí đó hôm nay đã được dọn sạch theo lệnh của Hoàng đế. Hắn còn định sử dụng hoàng tử Vikraman của xứ Chola này cho mục đích xấu xa của mình. Vì vậy hắn đã giam giữ Arulmozhi Devi, người vợ dũng cảm của Quốc vương Parthipa Chola..." Lúc đó Maha Kapala Bhairavar đột nhiên đứng bật dậy từ mặt đất và hỏi: "Tất cả đều là dối trá; chuyện bịa đặt; bằng chứng cho tất cả những điều này ở đâu?" Lúc này có vẻ như sự sợ hãi của hắn đã vơi đi phần nào. Khi Kapala Bhairavar hỏi "Bằng chứng ở đâu?", một giọng nói vang lên: "Tôi ở đây làm chứng!". Đột nhiên từ đằng sau sự che khuất của một cây Velvel, Marappa Bhoopathi xuất hiện. "Đúng vậy, tôi làm chứng. Tên Neelakesi gọi là Kapala Bhairavar này thực ra không phải là một Kapalika, mà là kẻ ngụy trang. Hắn đã mưu phản chống lại Đại Hoàng đế Narasimha Pallavan. Hắn đã bảo tôi tham gia vào âm mưu đó. Tôi đã từ chối. Sau đó, hắn muốn kéo vị hoàng tử bị trục xuất này về phía mình. Hắn đã dàn xếp để chặn đường và đưa vị hoàng tử mà tôi gửi đến Kanchi theo lệnh của Hoàng đế về đây." Lúc đó Siruthondar nói: "Đủ rồi, Marappa! Bằng chứng của ngươi thế là đủ rồi!" Không ai biết Marappa đã có ý định gì trong đầu. Có thể hắn đã tức giận khi nghe tin Maha Kapala Bhairavar lờ hắn đi và tuyên bố sẽ phong chức Yuvaraja cho Vikraman. Hoặc hắn có thể đã nghĩ đến việc tránh bị buộc tội mưu phản chống lại Hoàng đế. Dù ý định của hắn là gì, hắn đã làm một việc mà không ai ngờ tới vào lúc đó. Với con dao đã tuốt khỏi bao trên tay, hắn tiến lại gần nơi Maha Kapala Bhairavar đang đứng. "Kẻ phản bội đế quốc đã mưu phản chống lại Hoàng đế này hôm nay hãy làm vật tế lễ cho Mẫu đại Kali!" - vừa nói, trước khi ai kịp ngăn cản, hắn đã vung cao con dao. Chỉ có thế; đầu của Kapala Bhairavar và thân thể hắn ngã xuống hai nơi riêng biệt. Trong khi mọi người đang bàng hoàng và sửng sốt, Marappa Bhoopathi đi đến bên bàn tế lễ, sụp xuống đảnh lễ trước mặt Siruthondar và nói: "Thưa ngài! Tôi đã làm điều đó vì nóng giận. Nếu việc tôi làm là có tội, xin hãy tha thứ." Vào thời điểm đó, một điều khác không ai ngờ tới đã xảy ra. Với con dao trên tay, Chithraguptan từ đâu đó xuất hiện và nhảy xuống gần bàn tế lễ. Con dao hắn vung ra đã rơi trúng cổ của Marappa đang nằm! Một vài chiến binh Pallava ngay lập tức đã bắt giữ kẻ lùn đó. Còn kẻ lùn thì cười 'Hee-hee-hee'. Nhìn thấy những sự việc kinh hoàng xảy ra trong vài phút, Vikraman cảm thấy rất ghê tởm. Mặc dù việc đứng đối mặt chiến đấu và giết nhau trên chiến trường là chuyện bình thường đối với cậu, nhưng những vụ giết người bất ngờ như thế này khiến cậu đau đớn. Ngay lập tức, cậu nhìn Ponnan đang đứng bên cạnh và nói: "Ponna! Chúng ta có thể đi rồi, lại đây!" Lúc đó cậu mới chú ý đến những chiến binh Pallava đang vây quanh mình và Ponnan. Thủ lĩnh của những chiến binh đó đưa cho Vikraman xem tờ lá cọ mà anh ta cầm trên tay. Trên đó có lệnh mang con dấu của Hoàng đế Narasimha. Tờ lá cọ ghi rằng Hoàng tử Vikraman của xứ Chola, người đang trên đường từ Uraiyur đến Kanchi, phải quay trở lại Uraiyur và cuộc điều tra sẽ được tiến hành tại Uraiyur. Vikraman nhìn tờ lá cọ rồi nhìn xung quanh. Tay cậu tìm đến thanh kiếm ngắn. Lúc đó Ponnan nói: "Đại vương! Xin đừng vội vàng!" Quan sát tất cả những điều này, Siruthondar nhìn thủ lĩnh chiến binh Pallava và hỏi: "Tờ lá cọ gì vậy?" Thủ lĩnh chiến binh mang tờ lá cọ đến đưa cho ông. Siruthondar đọc xong liền nói: "Vikrama! Con hãy đi Uraiyur như ghi trong lệnh này! Ta cũng sẽ đưa mẹ con đến Uraiyur. Khi Hoàng đế biết được hành động dũng cảm mà con đã làm hôm nay, tâm trí ngài sẽ không khỏi thay đổi. Đừng làm gì vội vã!" Giây tiếp theo, Vikraman và Ponnan cùng với các chiến binh Pallava vây quanh đã rời khỏi nghĩa địa đó. Sau đó, Siruthondar đã giải thích chi tiết cho những người tập trung ở đó trong một thời gian ngắn về bản chất của Thiên Chúa thật và sự tàn bạo của việc tế người. Kết quả là, những người sắp bị tế lễ và những người đến để tế lễ ngày hôm đó đã thay đổi tâm trí, vừa ca ngợi vị vĩ nhân đã cứu giúp họ vừa trở về làng mạc của mình. Họ vừa đi vừa bàn tán xôn xao đoán xem vị tu sĩ Saiva bị trói trên bàn tế lễ có thể là ai. {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Kỳ Na giáo]] t5zr63hi0yifh7927087arc91m5f2r3 Biên dịch:Neelakesi/The Debate on Meaning of Life in the Tamil Minor Epic Neelakesi: Drawing Some Inspirations to Engage the Gen Z in Religious Matters 114 72413 206043 2026-08-21T08:49:19Z Mrfly911 2215 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề biên dịch | tựa đề = The Debate on Meaning of Life in the Tamil Minor Epic Neelakesi: Drawing Some Inspirations to Engage the Gen Z in Religious Matters | tác giả= Santhosh-Kumar Appu | ngôn ngữ = en | bản gốc= | năm= | phần = Neelakesi | trước= | sau= | ghi chú= '''Neelakesi''' ( tiếng Tamil: நீலகேசி, đã Latinh hoá: Nīlakēci, n.đ. 'Woman with blue hair', nghĩa đen: 'Người phụ nữ c…” 206043 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = The Debate on Meaning of Life in the Tamil Minor Epic Neelakesi: Drawing Some Inspirations to Engage the Gen Z in Religious Matters | tác giả= Santhosh-Kumar Appu | ngôn ngữ = en | bản gốc= | năm= | phần = Neelakesi | trước= | sau= | ghi chú= '''Neelakesi''' ( tiếng Tamil: நீலகேசி, đã Latinh hoá: Nīlakēci, n.đ. 'Woman with blue hair', nghĩa đen: 'Người phụ nữ có mái tóc xanh') là một tác phẩm thơ sử thi Jain bằng tiếng Tamil. Truyền thống văn học Tamil xếp nó vào nhóm năm bài thơ sử thi nhỏ, cùng với Naga kumara kaviyam, Udhyana kumara Kaviyam, Yasodhara Kaviyam và Soolamani. Đây là một tác phẩm tranh luận được viết như một phản biện của đạo Jain đối với những chỉ trích của Phật giáo trong sử thi lớn Tamil Kundalakesi. {{Wikipediaref}} }} ==3. Neelakesi== Neelakesi là một trong năm tiểu sử thi của văn học Tamil liên quan đến Kỳ-na giáo (Jain giáo), được gọi trong tiếng Tamil là Samanam. Bốn tác phẩm còn lại là Sulaimani, Yasothara-kaviyam, Nagakumara-kaviyam và Udhayanan-kathai (Puranalingam 1985, tr. 142). Tác giả của tác phẩm này không được biết đến. Tác phẩm được viết trên các bản thảo lá cọ và lần đầu tiên được chú giải bởi Samaya Divakara Vamana Munivar, người sống vào thế kỷ XIV. Sau đó, văn bản này không còn được biết đến cho đến năm 1935, khi Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Chính phủ ở Kumbakonam viết một bài giới thiệu dài. Ông đã sưu tập bốn bản thảo từ Đức Thánh Sri Lakshmisena Bhattaraka Bhattacharya Swamigal của tu viện Jain Mel-Chittamur, ông Samantabhadra Nainar ở Perumandur, Dakshinatya Kalanidhi Maha Mahopadhyaya Tiến sĩ V. Swaminatha Iyer ở Madras, và ông C. S. Mallinath, biên tập viên của Jain Gazette tại Madras. Trong số này, bản thứ ba và thứ tư là bản sao của hai bản đầu tiên. Do đó, chỉ có hai bản thảo độc lập còn tồn tại. Từ chương thứ chín, các bài kệ 22–29 của phần Veda Vada bị thất lạc (Chakravarthi 1936, tr. iii–iv). Niên đại của Neelakesi được xác định dựa trên các tác phẩm văn học Samanam khác và sự phổ biến của các xu hướng tôn giáo được đề cập trong tác phẩm. Tolkappiyam, Naladiyar và Kural đều được nhắc đến trong sử thi. Tolkappiyam là tác phẩm cổ nhất. Naladiyar được định niên đại vào khoảng thế kỷ III TCN và Kural vào nửa sau thế kỷ I TCN. Vì vậy, giới hạn trên của niên đại tác phẩm sẽ là thế kỷ I TCN. Giới hạn dưới được suy ra từ chương dành riêng cho trường phái Aaseevakam, một trào lưu còn tồn tại đến nửa sau thế kỷ VII CN trước khi dần mai một. Không tìm thấy bất kỳ đề cập nào về Aaseevakam trong văn học giai đoạn sau. Do đó, có thể xác định rằng Neelakesi có thể đã xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ I và thế kỷ VII CN (Chakravarthi 1936, tr. 5–8). Sử thi này có các nhân vật mang tính thần thoại và bao gồm 894 bài thơ tứ cú. Tác phẩm được chia thành mười chương. Chương đầu trình bày những khái niệm cơ bản của Samanam, và bốn chương tiếp theo dành cho các cuộc tranh luận (vaadam) với Phật giáo. Năm chương còn lại lần lượt tranh luận với Aaseevakam (chủ trương thuyết định mệnh, niyati), Sankhyam (gắn với tư duy phân tích), Vaisedikam (triết học về tính đặc thù hay sai biệt), Vedam (tri thức) và Bhoothavaadam (chủ nghĩa duy vật). Mục đích chính của tác giả là phản bác Kundalakesi, một tác phẩm Phật giáo. Chương thứ hai của Neelakesi mang tên Kundalakesi Vaadam và phê phán tác phẩm này. Tác giả vô danh của sử thi hướng đến việc giải thoát con người và dẫn dắt họ đạt đến moksha (sự giải thoát, nơi cư ngụ thiên giới, hay veedu peru). Con đường dẫn đến giải thoát là tri kiến chân chính (gnanam), tín tâm chân chính (narkaadchi) và hạnh kiểm chân chính (nallozhukkam). Ngoài ra còn có nhiều tác phẩm tương tự khác. Chúng cung cấp bằng chứng về đời sống đạo đức của cộng đồng Tamil cách đây hai nghìn năm. Tác giả của Neelakesi tin tưởng rằng Samanam là tôn giáo ưu việt nhất trong số mọi tôn giáo trên thế giới và tìm cách chứng minh tính ưu việt đó. Vì mục đích này, tác phẩm tiến hành các cuộc tranh luận (vaadam) với nhiều trường phái triết học đang thịnh hành ở Ấn Độ thời bấy giờ, bao gồm cả Phật giáo. Để làm cho các cuộc tranh luận trở nên hấp dẫn hơn, tác giả đã thêm vào tác phẩm những yếu tố mang sắc thái sử thi. Sau những lời tán dương thông thường dành cho Thượng đế và hội đồng học giả, sử thi bắt đầu bằng việc một nữ quỷ tên Neelakesi cải đạo sang Samanam. Neelakesi, một nữ quỷ hung dữ, là hình tượng quen thuộc trong thần thoại Tamil Nadu. Chakravarthi cho rằng nhân vật thần thoại này chính là Pazhayanur Neelakesi. Pazhayanur nằm gần Thiruvalangadu thuộc quận Thiruvallur, Tamil Nadu (Chakravarthi 1936, tr. 11–16). Sau khi cải sang Samanam, bà trở thành nhân vật trung tâm của sử thi. Các bài kệ từ 10 đến 73 mô tả quá trình cải đạo và những hoàn cảnh dẫn đến sự kiện này. Đây là phần đặc biệt quan trọng đối với bài nghiên cứu hiện tại. Trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ cung cấp một mô tả phân tích ngắn gọn về năm trường phái triết học mà Neelakesi tranh luận, ngoại trừ Veda Vaadam. Những cuộc thảo luận này làm nổi bật nhu cầu xem xét các tranh luận tôn giáo trong không gian công cộng. Cuối cùng, chúng tôi sẽ phân tích Veda Vaadam, phần đặt ra nhiều câu hỏi quan trọng liên quan đến công bằng xã hội. ====3.1. Sự cải đạo của Neelakesi==== Câu chuyện diễn ra tại một bãi hỏa táng có tên Palalayam (bài kệ 27), thuộc thành phố Pundavardhana trong vương quốc Panchalam (bài kệ 10), được xác định tương ứng với các vùng Rohilkhand ngày nay ở Uttar Pradesh và Uttarakhand, dưới sự cai trị của vua Samudra Saran (bài kệ 21). Bãi hỏa táng Palalayam là nơi cư ngụ của các loài quỷ dữ (bài kệ 28), chim ăn thịt và thú dữ, khiến nó trở thành một nơi nguy hiểm, có thể gieo rắc sự kinh hoàng và gây hại cho con người (bài kệ 28–29). Giữa bãi hỏa táng đáng sợ ấy có một ngôi đền thờ nữ quỷ mẫu Koolithai (bài kệ 32).³ Điều đáng ngạc nhiên là trong ngôi đền vốn không thích hợp cho con người sinh sống này lại có một tu sĩ Samanam (munivar) tên là Munichandran cư trú (bài kệ 34). Ông thực hành ahimsa (bất bạo động) theo nghĩa nghiêm ngặt nhất, tránh làm tổn hại đến bất kỳ sinh vật nào. Có lần, một nhóm người đến đền để dâng lễ hiến tế động vật cho nữ thần mẹ. Vị munivar đã ngăn cản họ. Theo yêu cầu của ông, họ giải thích rằng họ đến dâng lễ tạ ơn vì một người phụ nữ đã sinh được con. Munichandran sau đó trình bày lập luận triết học của Samanam: đứa trẻ được sinh ra với thân xác và sinh khí. Nếu Thượng đế tạo ra thân thể vật chất thì các yếu tố cấu thành thân thể ấy không thể đồng thời là một phần bản tính của Thượng đế; do đó, chúng không thể phát sinh từ Thượng đế. Nếu cho rằng Thượng đế ban cho sinh mạng (uyir, tức ātman), điều này cũng không đúng, bởi sự tái sinh của con người được quyết định bởi nghiệp (karma), dựa trên những hành động đã thực hiện trong các đời trước. Vì vậy, bài kệ 37 cung cấp một sự hiểu biết nền tảng về tư tưởng Samanam liên quan đến thân thể, sinh mệnh và oozhvinai (nghiệp). Lập trường này phủ nhận một vị thần sáng tạo và nhấn mạnh mối quan hệ giữa thân thể và uyir dựa trên luật nhân quả của nghiệp. Đồng thời, nó phản ánh học thuyết đa diện chân lý (anekāntavāda) (Chakravarthi 1936, tr. 215), được hiểu như một cách nhìn đa nguyên về thực tại (Long 2009). Nó cũng củng cố nguyên tắc đạo đức bất sát (ahimsa), theo đó giải thoát chỉ có thể đạt được thông qua bất bạo động. Các tín đồ Samanam tôn thờ Aruhan là Thượng đế, đấng đã vượt qua đại dương luân hồi; trong số đó bao gồm cả hai mươi bốn vị Tirthankara (bài kệ 1; Murali 2024, tr. 41). Sau khi trình bày lập luận triết học này, vị munivar giải thích rằng việc hiến tế động vật là vô ích. Tuy nhiên, ông khuyên họ thay vào đó hãy nặn các hình tượng động vật bằng đất sét và dâng lên thần linh, nhờ đó tránh được bạo lực (bài kệ 38). Chấp nhận lập luận của ông, họ làm theo lời khuyên rồi ra về (bài kệ 41). Các loài quỷ vô cùng tức giận vì hành động của vị munivar đã tước mất nguồn thức ăn của chúng, nên quyết định đuổi ông khỏi ngôi đền. Nhưng munivar, tỏa sáng như mặt trời trước bóng tối không thể tồn tại, vẫn hoàn toàn không dao động. Không thể trực tiếp đối đầu với ông, đám quỷ tìm đến một nữ thần quyền năng hơn để cầu cứu (bài kệ 43). Chúng tìm gặp Neelakesi và kể lại nỗi bất bình của mình. Phẫn nộ trước lời cầu cứu ấy, Neelakesi thề sẽ giết ông, đem xác ông làm mồi cho đại bàng, rồi cùng bọn quỷ tiến đến Palalayam. Trước tiên, bà dùng những lời đe dọa dữ dội, tuyên bố sẽ nuốt chửng ông và quăng ông xuống từ núi cao. Tuy nhiên, Munichandran, người sống đời khổ hạnh và kỷ luật nghiêm cẩn, sở hữu tri thức bất hoại vượt lên trên quá khứ, hiện tại và tương lai, vẫn không hề lay chuyển (bài kệ 47–48). Sau đó, Neelakesi hiện ra dưới nhiều hình dạng kinh hoàng khác nhau nhưng vẫn không thể làm vị munivar rời khỏi chỗ của mình (bài kệ 50–72). Cuối cùng, kiệt sức và thất bại, Neelakesi đầu hàng Munichandran và cầu xin ông giải thoát mình khỏi vòng sinh tử đầy đau khổ. Câu chuyện chuyển hóa này mang ý nghĩa mạnh mẽ đối với thế hệ Gen Z ngày nay, những người thường bị cuốn vào một thế giới đầy ồn ào và khó tìm thấy điều thực sự làm thỏa mãn tâm hồn. ====3.2. Biện chứng tôn giáo và triết học==== Các khía cạnh tôn giáo và triết học của Neelakesi vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Tác phẩm tham gia vào những cuộc tranh luận logic với sáu truyền thống tôn giáo khác liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống. Những nội dung này sẽ được trình bày ngắn gọn trong phạm vi bài viết này. =====3.2.1. Tranh luận với Kundalakesi===== Kundalakesi là một trong những đại sử thi của văn học Tamil liên quan đến Phật giáo. Tác phẩm được đặt theo tên nhân vật chính Kundalakesi, có nghĩa là “người phụ nữ tóc xoăn”. Neelakesi theo nghĩa đen có nghĩa là “người phụ nữ tóc xanh”, ám chỉ bản chất nữ quỷ của nhân vật này. Trong sử thi Neelakesi, bà gặp Kundalakesi tại Kampili thuộc vương quốc Panchala. Neelakesi tham gia tranh luận với Kundalakesi bằng phương pháp hộ giáo (apologetic). Các cuộc tranh luận bắt đầu khi Neelakesi yêu cầu giải thích những giáo lý căn bản của Phật giáo. Kundalakesi trả lời rằng vị lãnh đạo của họ là Đức Phật. Sau đó bà liệt kê những phẩm tính của Đức Phật: Ngài là khởi nguyên (aadi), là đấng vĩ đại (periyavan); vì biết hậu quả của đời sống phi đạo đức nên Ngài đã chỉ dạy con đường chân chính; Ngài không mong cầu điều gì cho riêng mình; Ngài chịu khổ vì người khác; và với tất cả những ai tìm đến, Ngài đều chỉ dẫn con đường giải thoát (bài kệ 176). Bà còn cho biết Đức Phật đã truyền dạy ba tạng giáo pháp, tức Tam Tạng (munnool), gồm Luật tạng (Vinaya Pitaka), Kinh tạng (Sutta Pitaka) và Vi Diệu Pháp tạng (Abhidhamma Pitaka) (Murali 2024, tr. 47–48). Những kinh điển này bàn về nguồn gốc, sự chấm dứt và tính vô thường. Sau khi lắng nghe Kundalakesi, Neelakesi đưa ra lời phản bác. Sự bác bỏ đầu tiên mang tính siêu hình học. Nếu Đức Phật là khởi đầu và cũng là kết thúc, vậy Ngài không thuộc vòng luân hồi tái sinh hay sao? Ngài đạt được sự vĩ đại hoặc Niết-bàn từ khi nào? Trước khi trở thành Đức Phật hoặc đạt Niết-bàn, Ngài là gì? (bài kệ 179). Nếu Ngài chỉ trở nên vĩ đại về sau thì làm sao có thể gọi là “khởi nguyên”? Chẳng phải gọi Ngài là aadi là sai lầm hay sao? Bà tiếp tục lập luận rằng nếu Đức Phật từ đầu đã hoàn hảo thì tại sao Ngài phải thọ sinh? Nếu ngay từ đầu đã đạt đến sự vĩ đại thì Ngài sinh ra bằng cách nào? Tái sinh chẳng phải là kết quả của một đời sống trước đó hay sao? Do đó, Ngài không thể được xem là periyavan (đấng vĩ đại) (bài kệ 180). Sau đó cuộc tranh luận chuyển sang phương diện thực tiễn và xã hội học. Các ông nói rằng Đức Phật đến để ban sự sống cho mọi người. Nếu điều này là đúng thì những người Pulaya (Pulayar), những người bị xem là ngoại cấp và không đủ tư cách đạt Niết-bàn, cũng phải có thể trở nên vĩ đại và trở thành những bậc lãnh đạo (bài kệ 180). Theo cách này, Neelakesi đứng về phía công bằng xã hội. Tiếp theo, bà đề cập đến vấn đề ăn thịt vốn được thực hành bởi một số Phật tử. Các ông nói Đức Phật đến để ban sự sống cho mọi sinh vật; vậy tại sao các ông lại giết chúng rồi ăn thịt? Bằng lập luận này, bà cổ xúy cho nguyên tắc bất hại (ahimsa) và lên án việc ăn thịt động vật (pulal unnamai), một chủ đề nổi bật cũng xuất hiện trong Tirukkural, một tác phẩm khác của truyền thống Samanam. Neelakesi hỏi Kundalakesi về bản chất của thế giới, và Kundalakesi trả lời rằng thế giới được cấu thành bởi năm uẩn hay kandhangal (skandha), vốn vô thường như ngọn lửa rồi sẽ tắt (bài kệ 177). Đây là học thuyết sát-na diệt (kṣaṇikavāda, kana kazhivuvaadam). Neelakesi hỏi: nếu mọi thứ đều thay đổi thì điều gì là thường hằng? Theo Kundalakesi, vũ trụ được cấu thành từ năm uẩn (kandhangal), gồm sắc (uruvakandham), thọ (uzhappukandham), tưởng (arivukandham), hành (seyarkandham) và thức (kurikandham) (bài kệ 177). Tuy nhiên, những yếu tố này không phải là những thực tại thường hằng mà chỉ tồn tại trong khoảnh khắc. Neelakesi lập luận rằng năm uẩn này đại diện cho những tiến trình riêng biệt, mỗi tiến trình biến mất trước khi tiến trình tiếp theo xuất hiện. Chúng không liên kết với nhau, nghĩa là không có tính liên tục nhân quả. Điều này cuối cùng dẫn đến chủ trương phi tồn tại (inmai vaadam). Nếu vậy thì làm sao có thể giải thích sự hiện hữu của thế giới? (bài kệ 194). Cuối cùng, Kundalakesi thừa nhận thất bại và rút lui. Sau đó bà đi tìm thầy của Kundalakesi là Arukachandran. Chúng ta có thể kết luận rằng các lập luận trên đề cập đến một số khía cạnh quan trọng của đời sống. Neelakesi cho rằng nếu Đức Phật được sinh ra thì Ngài không thể được gọi là Aathi (khởi nguyên), và nếu Ngài sinh ra thì cũng không thể được xem là đấng vĩ đại nhất, bởi sinh ra đồng nghĩa với sự tồn tại có điều kiện. Bà còn cho rằng nếu Phật giáo cuối cùng dẫn đến hư vô thì sự tồn tại của thế giới sẽ không thể được giải thích một cách nhất quán. Mặc dù đây là những lập luận còn có thể tranh luận, chúng mở ra một diễn ngôn công khai giúp đào sâu cuộc truy tìm ý nghĩa cuộc sống của con người. Một tôn giáo tự nhận là tối thượng cần phải chủ động tham gia vào các cuộc tranh luận trí thức. =====3.2.2. Tranh luận với Arukachandran===== Các bài kệ từ 232 đến 266 đề cập đến Arukachandra Vaadam. Arukachandran sống tại Ujjain. Những cuộc tranh luận này dựa trên phương diện thực hành (praxis) của Phật giáo. Khi Neelakesi đến nơi, Arukachandran đang giảng dạy cho các đệ tử từ Luật tạng (Vinaya Nool), một trong Tam Tạng, nội dung liên quan đến những quy tắc khất thực để mưu sinh và cách thức thọ dụng thực phẩm nhận được (bài kệ 237–240). Neelakesi thẳng thắn hỏi rằng liệu nhân danh bố thí, có phải một số người thậm chí đã đem cả vợ mình làm vật bố thí hay không. Việc bố thí như vậy lẽ nào không nên có giới hạn? (bài kệ 243). Bà còn nêu ra rằng có những trường hợp một số tỳ-kheo Phật giáo đã dụ dỗ các ni cô nhằm thỏa mãn dục vọng của mình. Các ni cô đáp lại rằng chùa chiền là nơi linh thiêng chứ không phải nhà ở, nhưng vị tỳ-kheo lại nói rằng đối với tăng ni Phật giáo, chùa và nhà cũng như nhau (bài kệ 244). Ngoài ra còn có câu chuyện về một vị tăng quan hệ tình dục với một thi thể. Khi bị chất vấn, vị ấy trả lời rằng trong trường hợp đó không có sự khác biệt giữa thi thể và người còn sống (bài kệ 245). Sau đó Neelakesi nói: “Các ông ăn cá, ăn thịt và ngủ trên những chiếc giường của vương giả” (bài kệ 151). Chuyển sang học thuyết hư vô (inmai vaadam), bà hỏi: nếu các ông tin vào nguyên lý này thì tại sao lại xây dựng những công trình đồ sộ và bền vững nhân danh Đức Phật? Bà còn lập luận rằng dù các ông giảng dạy phương pháp vượt qua khổ đau và cho rằng dục vọng là nguyên nhân của khổ đau, nhưng các ông vẫn tích lũy của cải vật chất. Điều đó chẳng phải làm gia tăng khổ đau hay sao? (bài kệ 258). Để đáp lại những lời chỉ trích gay gắt và thiên về thực hành này, Arukachandran nói rằng Đức Phật đã dạy tâm là nguồn gốc của mọi hành động; do đó con người thậm chí có thể xem những hành vi bất thiện là hành vi thiện (bài kệ 259). Neelakesi phản bác rằng các ông vẫn mong cầu sự thỏa mãn những dục lạc thân xác, nhưng đồng thời lại cho rằng chỉ cần giữ tâm thanh tịnh là đủ. Bà còn cho rằng những dục vọng ấy sẽ ám ảnh con người như một phù thủy, không để tâm được an tịnh. Vì lý do đó, những thực hành khổ hạnh nghiêm ngặt là cần thiết (bài kệ 602). Các lập luận ở đây phần lớn mang tính thực tiễn. Chúng đề cập đến vấn đề quan trọng là sự giả hình. Đặc biệt, quan điểm của Arukachandran cho rằng dục vọng của thân xác không ảnh hưởng đến tâm thức là một lập luận rất khó chấp nhận. Ngay cả ngày nay, sự phân chia tuyệt đối giữa thân và tâm cũng khó có thể duy trì. =====3.2.3. Tranh luận với Mokkalan===== Mặc dù các cuộc tranh luận với Mokkalan, người được xem là chỉ đứng sau Đức Phật, phần lớn vẫn liên quan đến các khía cạnh thực hành, nhưng phần này tập trung nhiều hơn vào những vấn đề triết học nền tảng liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống. Một vấn đề trung tâm là câu hỏi về uyir (linh hồn), điều mà Phật giáo bác bỏ. Samanam nói đến thân thể, nhiều linh hồn khác nhau và mối liên hệ của chúng với thế giới vật chất. Đồng thời, Phật giáo đặc biệt quan tâm đến nhận thức luận và quá trình nhận biết. Neelakesi lập luận rằng ý thức về chính hành vi nhận thức, tức tiến trình nhận thức luận, xuất hiện nhờ trực giác. Nếu việc hình thành tri thức là khả hữu nhờ trực giác, thì làm sao con người lại không nhận biết được uyir? Do đó, vấn đề này về bản chất là một vấn đề nhận thức luận. Phật giáo, thường được mô tả như một triết học vô thần và duy vật, giải thích tri thức như kết quả phát sinh từ sự kết hợp của năm uẩn (kandhangal). Phật giáo phủ nhận sự tồn tại của một uyir độc lập với thân xác. Tuy nhiên, Neelakesi chỉ ra rằng Phật giáo cũng kể về các vị thiên thần (deva), các chúng sinh tâm linh vô hình, và Đức Phật cũng chấp nhận thuyết tái sinh. Vì vậy, bà hỏi Mokkalan liệu điều đó chẳng phải hàm ý một sự thừa nhận ngầm về uyir hay sao. Phật giáo không xem uyir là một thực thể biệt lập hoạt động độc lập, bởi làm như thế sẽ vật hóa nó thành một đối tượng giống như các vật thể vật chất khác. Tuy nhiên, Neelakesi nêu ra một vấn đề: Phật giáo cũng xem tri thức là một tiến trình riêng biệt, phát sinh từ sự tương tác của các giác quan và lan tỏa khắp cơ thể. Bà lập luận rằng nếu tri thức có thể được chấp nhận như một thực thể riêng biệt thì tại sao uyir lại không được chấp nhận theo cùng cách đó? (bài kệ 299–301). Sau đó Mokkalan hỏi Neelakesi về các phương pháp khổ hạnh của Samanam. Samanam cho rằng khổ hạnh dẫn đến đời sống thiện lành. Mokkalan chất vấn rằng một đời sống khổ hạnh, vốn bao gồm nhiều đau khổ, liệu có phải chính là kết quả của những hành động xấu trong quá khứ hay không. Nếu đúng như vậy thì đau khổ do khổ hạnh có thể được hiểu là hậu quả từ nghiệp ác trước đây. Vậy tại sao khổ hạnh lại được xem là có ích cho sự giải thoát tương lai? Điều này đặt ra một câu hỏi căn bản về đau khổ. Thông thường, đau khổ được xem là kết quả của những hành động trong kiếp trước (bài kệ 316). Neelakesi trả lời rằng khổ hạnh là một thực hành tự nguyện, giống như thuốc chữa bệnh (bài kệ 317). Tiếp đó, Mokkalan hỏi về việc các hiền giả Samanam nhịn ăn cho đến chết. Neelakesi bảo vệ thực hành này bằng cách lập luận rằng mục đích không phải là cái chết; ngược lại, nó được thực hiện vào cuối cuộc đời nhằm đạt được veedu peru, tức giải thoát khỏi vòng tái sinh (bài kệ 321). Cuộc thảo luận sau đó chuyển sang vấn đề bất sát (kollamai). Neelakesi cho rằng ngay cả việc ăn thịt cũng nên được xem là một hình thức sát sinh, bởi tuy người ta không trực tiếp giết động vật nhưng vẫn tham dự vào cái chết của chúng bằng cách tiêu thụ thịt của chúng. Đáp lại, Mokkalan đưa ra một phản biện dựa trên việc các tu sĩ Samanam sử dụng lông công để quét sạch con đường họ đi. Ông hỏi điều đó được biện minh như thế nào. Neelakesi trả lời rằng không có con công nào bị giết chỉ để lấy lông của nó (bài kệ 333–339). Sau đó cuộc tranh luận chuyển sang lĩnh vực siêu hình học. Samanam xem sự tăng trưởng là dấu hiệu của sự sống hay linh hồn. Mokkalan lập luận rằng nếu như vậy thì phải giải thích thế nào về sự phát triển của một ụ mối. Neelakesi đáp rằng có nhiều loại tăng trưởng khác nhau: ụ mối phát triển bằng việc bồi đắp từng lớp ở bên ngoài chứ không phải bằng sự sinh trưởng nội tại (bài kệ 362). Cuộc thảo luận tiếp tục chuyển sang vấn đề tính thời gian (sự biến đổi) và tính thường hằng. Phật giáo, dựa trên học thuyết hư vô (inmai vaadam), phủ nhận sự thường hằng và tính liên tục nhân quả. Trái lại, Neelakesi bảo vệ quan điểm về sự liên hệ giữa thường hằng và biến đổi, cho rằng các quan hệ nhân quả tạo ra những kết quả mới (bài kệ 382). Ví dụ được đưa ra là sữa biến thành sữa chua. Theo quan điểm Phật giáo, sữa chua không hiện hữu sẵn trong sữa; nó là một sản phẩm hoàn toàn mới. Tuy nhiên, Neelakesi lập luận rằng các yếu tố cấu thành sữa chua vốn đã có trong sữa. Vì thế vừa có tính liên tục vừa có sự chuyển hóa, tức là tồn tại trong trạng thái vận động không ngừng (bài kệ 387). Điều này dẫn đến một câu hỏi sâu xa hơn liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống. Phật giáo được mô tả là chủ trương asatkāryavāda, quan điểm cho rằng kết quả không tồn tại sẵn trong nguyên nhân. Nếu như vậy, người ta có thể lập luận rằng những hành động thiện được thực hiện trong đời sống hiện tại không nhất thiết ảnh hưởng đến sự giải thoát hay tái sinh. Sau một loạt tranh luận, Mokkalan được cho là đã cải sang Samanam. Quan hệ nhân và quả trở thành vấn đề trung tâm của cuộc tranh luận này, đặc biệt trong mối liên hệ với đời sống sau khi chết và tái sinh. Theo cách trình bày của Neelakesi, Phật giáo không khẳng định mạnh mẽ tính liên tục nhân quả giữa hành động và hệ quả. Bà bác bỏ lập trường đó và lập luận rằng nếu phủ nhận tính liên tục nhân quả thì việc sống đạo đức hay thực hành khổ hạnh sẽ trở nên vô nghĩa, bởi những hành động đó sẽ không đóng góp gì cho việc giải thoát khỏi vòng tái sinh. =====3.2.4. Tranh luận với Đức Phật===== Sau đó, cô đến gặp Đức Phật (các khổ thơ 463–658). Đức Phật được cho là sống vào thế kỷ VII TCN, trong khi tác phẩm Neelakesi được định ngày khoảng thế kỷ VII CN. Do đó, Đức Phật được đề cập ở đây được hiểu là một nhân vật mang tính biểu tượng. Khi đến Kapilapuram, Đức Phật đang giảng dạy cho các đệ tử về bản chất của thực tại. Sử dụng khái niệm ngũ uẩn (kandhangal), Ngài giải thích sự không tồn tại của uyir (linh hồn/sự sống). Phật giáo—được hiểu theo nghĩa duy vật, dù không phải theo nghĩa duy vật hiện đại—cho rằng uyir chỉ là một tập hợp của các uẩn này. Các uẩn này là vô thường và bị hủy hoại. Chúng mang đặc tính vô thường, khổ, bất tịnh và không có sự tồn tại độc lập (vô ngã / anātman). Khi hiểu được điều này, người ta sẽ đạt được veedu peru hay mukti (giải thoát) (khổ thơ 478). Về bản chất, không có gì liên kết các uẩn này lại với nhau. Tuy nhiên, Neelakesi tranh luận rằng phải có một nguyên lý hợp nhất. Nếu chấp nhận nguyên lý đó, thì sự tồn tại của uyir cũng phải được chấp nhận. Đức Phật tuyên bố Ngài chỉ chấp nhận panpu (tính chất/phẩm hạnh) chứ không chấp nhận bản thân các đối tượng. Neelakesi phản bác điều này, cho rằng một đối tượng được hình thành từ các tính chất, và từ đối tượng đó, các tính chất khác lại có thể phát sinh. Hơn nữa, cô tranh luận: “Ngài nói chỉ có tính chất chứ không có đối tượng. Ngài cũng nói rằng các kandhangal không hoạt động độc lập mà hoạt động cùng nhau. Vậy làm sao lửa và nước—hai thực tại đối lập—có thể hoạt động cùng nhau? Ngài cũng tuyên bố có sự thâm nhập lẫn nhau của các kandhangal, hay các thực tại cơ bản. Nếu vậy, làm sao mỗi cái có thể giữ được tính độc lập? Chẳng lẽ các thực tại này không đơn thuần trở thành một hỗn hợp sao?” (các khổ thơ 495–496). Đáp lại, Đức Phật nói rằng chúng độc lập theo nghĩa mỗi cái đều có các yếu tố vượt trội (trội) và yếu tố phụ thuộc (lép vế). Neelakesi phủ nhận điều này, cho rằng một tính chất vượt trội sẽ đơn giản tiêu diệt tính chất phụ thuộc. Cuộc tranh luận tập trung vào uyir, nếu không có nó thì lợi ích của đời sống thế tục sẽ không mang lại kết quả. Sự kết hợp giữa thể xác và uyir, cùng với mối tương quan giữa tính thường hằng và vô thường, có vai trò rất quan trọng trong Samanam (Kỳ Na giáo), vì oozhvinai (nghiệp / karma) hoạt động dựa trên nguyên lý này. Sau đó, Neelakesi đề cập đến khái niệm sát-na (tính khoảnh khắc). Cô tranh luận rằng nếu chấp nhận khái niệm này, bản thể của Đức Phật sẽ biến thành một người khác trước khi người ta kịp gọi xong tên Ngài; giáo lý của Ngài cũng sẽ chịu chung số phận. Hơn nữa, cô hỏi: “Nếu âm thanh không phải là một đối tượng mà chỉ là một hiện tượng bề ngoài, thì chúng con nên tiếp nhận giáo lý của Ngài như thế nào? Phải chăng tất cả chỉ là ảo giác?” (các khổ thơ 518–519). Cuối cùng, Đức Phật nói rằng Ngài sẽ xem xét những cáo buộc hướng vào giáo lý của mình. =====3.2.5. Tranh luận với Aaseevakam===== Sau đó, cô gặp Puranar, một đạo sĩ của Aaseevakam (Đạo Ajivika). Neelakesi yêu cầu ông giải thích triết lý của mình. Ông dạy rằng có 5 nguyên tử (hoặc thực tại): đất, nước, lửa, không khí và Uyir. Năm nguyên tố này là bất diệt, và mỗi nguyên tố có một bản chất riêng biệt. Ví dụ, đất sở hữu các tính chất về âm thanh, hình dáng, vị, màu sắc và tiếp xúc (xúc giác). Nước có tính lạnh tự nhiên, lửa đốt cháy, không khí chuyển động, và Uyir sở hữu bản chất của tri thức. Mặc dù các thực tại này sở hữu panpu (tính chất), Aaseevakam không xem các tính chất này tách rời khỏi chính các nguyên tử. Các nguyên tử này có khả năng vừa hợp nhất vừa phân rã. Hơn nữa, mặc dù trường phái này thảo luận về khái niệm khoảnh khắc, họ không chấp nhận thời gian như một phạm trù riêng biệt (khổ thơ 677). Puranar sau đó mô tả Markali, người sáng lập, là người sở hữu tri thức hoàn hảo. Markali luôn bất động và giữ im lặng để không làm hại bất kỳ sinh linh nào. Ông bất tử, không bị suy thoái và sở hữu tri thức không tì vết—do đó mới có tên gọi Puranar (các khổ thơ 671–673). Sau khi lắng nghe, Neelakesi xác định bốn phạm trù cơ bản trong Aaseevakam: người lãnh đạo, giáo lý linh thiêng, bản chất thực sự và hành động. Cô bác bỏ chúng, cho rằng chúng không thể đứng vững khi đo lường bằng quan sát thực nghiệm và trực giác. Cô chỉ ra rằng nếu người lãnh đạo không bao giờ nói, tri thức không thể được truyền dạy; do đó, ông không thể là tác giả của kinh Navakathir (khổ thơ 680). Puranar phản bác rằng kinh Navakathir không phải do Markali đưa ra, mà do Okkali và Yogali (khổ thơ 681). Neelakesi đáp lại rằng nếu họ là thần thánh, họ cũng nên giữ im lặng để tránh sự bất toàn (khổ thơ 682). Nếu họ lên tiếng, họ là những đấng bất toàn, khiến cho bản thân văn bản đó cũng trở nên bất toàn. Cô tranh luận thêm: “Ngay cả chúng ta, những kẻ bất toàn, cũng được thúc đẩy bởi tình yêu thương để giúp đỡ những người đau khổ. Vậy làm sao một vị thần hoàn hảo lại có thể bất động? Nếu sự im lặng là bằng chứng của tri thức, thì những đứa trẻ câm, núi đá và cây cối sẽ là những kẻ khôn ngoan nhất” (các khổ thơ 683, 685). Tiếp tục cuộc tranh luận, cô nêu rõ rằng Aaseevakam cho rằng vị thần của họ xuất hiện như một cầu vồng, không có nguyên nhân hay lý do. Cô bác bỏ điều này bằng cách lưu ý rằng cầu vồng chỉ xuất hiện khi ánh sáng mặt trời chiếu vào mây. Cô hỏi: “Nếu vị thần bất động, phải chăng ông ta không có sự sống? Nếu ông ta im lặng, làm sao ông ta có thể giải thích bản chất của năm thực tại?” (các khổ thơ 684, 686). Cô tiếp tục tranh luận rằng nếu chỉ có đất mới sở hữu các đặc tính âm thanh, hình dáng, xúc giác, vị, màu sắc và mùi hương, thì nước, lửa và không khí sẽ thiếu những tính chất này. Tuy nhiên, nước và các nguyên tố khác lại mang những hình thái khác nhau. Cô đặt câu hỏi làm thế nào những đặc tính này có thể bị giới hạn duy nhất ở đất. Hơn nữa, cô hỏi tại sao bóng tối không được coi là một thực tại. Vì các nguyên tử là vô số, cô cho rằng việc Aaseevakam chỉ tập trung vào năm thực tại là không đáng tin cậy. Việc đề cập đến bóng tối này nhằm làm nổi bật quan điểm đa nguyên của Samanam (các khổ thơ 688–690). Tiếp theo, cô đề cập đến bản chất của sự vật. Aaseevakam duy trì tính thường hằng của thực tại và phủ nhận nguyên lý thay đổi. Phủ định điều này, Neelakesi sử dụng ví dụ về vàng được chế tác thành đồ trang sức để chứng minh rằng mọi thứ có thay đổi. Để củng cố lập trường của mình, cô chỉ ra sự phát triển thể chất của con người, hỏi rằng làm sao một bé gái có thể lớn lên thành một thiếu nữ rồi già đi nếu sự thay đổi không tồn tại (các khổ thơ 701, 705). Cuối cùng, cô thách thức nguyên lý của Aaseevakam rằng uyir có hình thái vật lý, cụ thể là nó giống như một quả lớn trải rộng khắp nơi. Cô đặt câu hỏi làm thế nào thế giới có thể chứa đựng hàng xóm (crores) sinh linh nếu mỗi sinh linh đều sở hữu một hình thái như vậy (các khổ thơ 712–714). Đối với Samanam, sự sống không có hình dáng và có thể vừa vặn với bất kỳ sinh vật nào. Với những luận điểm này, cô đã thu phục được Puranar. =====3.2.6. Tranh luận với Số Luận (Sankhyam)===== Sau đó, cô đến Asthinapuram gặp đạo sĩ Parasaran của giáo phái Số Luận (Sankhyam) và tham gia tranh luận với ông (các khổ thơ 730–782). Parasaran đang giảng dạy cho các học trò về các học thuyết sáng tạo, duy trì và hủy diệt thế giới (khổ thơ 731). Neelakesi yêu cầu Parasaran giải thích triết lý tôn giáo của mình. Phái Số Luận công nhận 25 thattuvankal (triết lý/chân lý cơ bản). Chúng bao gồm: Uyir trường tồn (Atman/Linh hồn), Iyarkai chưa biểu hiện (Prakriti/Tự nhiên nguyên sơ), Maan (Mahat/Lại trí), Cherukku (Ahankara/Bản ngã), 5 giác quan nhận thức, 5 cơ quan hành động, Manam (Manas/Tâm trí), 5 thanmathiraigal (vi trần/cảm giác tinh tế: âm thanh, xúc giác, thị giác, vị giác và khứu giác), và Aimbottangal (Pancha Bhutas/Ngũ đại nguyên tố) (khổ thơ 735). Ông mô tả Thượng đế của họ, vị Chúa tể của vũ trụ, là đấng không có hoạt động, tính chất hay lực; Ngài là người thưởng thức trường tồn, bao trùm khắp nơi, không chịu sự biến đổi và tồn tại vượt ngoài mọi giới hạn (khổ thơ 736). Tương tự, Iyarkai là một thực tại không thay đổi—không thể nhận biết, vô hoạt, đồng nhất và chưa biểu hiện. Từ Iyarkai, Maan được sinh ra; từ Maan, Cherukku ra đời; và từ Cherukku nảy sinh tâm trí, các giác quan và 5 thanmathiraigal, cuối cùng tạo ra Aimbotthangal (khổ thơ 737). Neelakesi bác bỏ những điều này, coi đó là sự ảo tưởng. Tức giận, Parasaran thách thức cô đưa ra những lời chỉ trích cụ thể (các khổ thơ 738–739). Lời chỉ trích đầu tiên của cô liên quan đến Uyir, điều mà phái Số Luận định nghĩa là không có hành động. Neelakesi sử dụng chính Parasaran làm ví dụ phản bác: vì ông sở hữu Uyir, ông hoạt động trong việc giảng dạy của mình, giống như các học trò của ông hoạt động trong việc lắng nghe. Nếu Uyir thực sự vô hoạt, ông sẽ không đủ điều kiện để giảng dạy. Cô cho rằng nhận thức và tri thức là sự kết hợp hoạt động của ý thức (các khổ thơ 740–741). Parasaran đáp lại rằng ông đang nói cụ thể về Thượng đế—Peruyir (Paramatman/Thái linh)—và đưa ra ba loại Uyir: Peruyir, Idai uyir và Vinai uyir. Ông cho rằng chỉ có Peruyir là không có hành động. Không hài lòng, Neelakesi làm nổi bật sự mâu thuẫn: “Trước tiên ngài nói Uyir là không có hành động, nhưng bây giờ ngài lại nói về các loại có hành động. Nếu có những linh hồn có thể hành động, thì cần gì một Peruyir không hành động? Hơn nữa, nếu Peruyir vượt ngoài mọi nhận thức và không bị ảnh hưởng bởi những điều thế tục, làm sao Ngài có thể biết thế giới hay thưởng thức bất cứ điều gì?” (các khổ thơ 743–745). Parasaran sau đó tranh luận rằng không có sự khác biệt giữa các hành động của Uyir và Peruyir; đúng hơn, mọi hành động đều thuộc về Iyarkai (tự nhiên) và chỉ phản chiếu trong Uyir. Sự phản chiếu này bị bản ngã nhận vơ một cách sai lầm, dẫn đến Cherukku (bản ngã/tự cao). Ông tuyên bố Maan (tri thức) được sinh ra từ Iyarkai. Neelakesi phản bác điều này, hỏi làm thế nào Iyarkai vô sống lại có thể tạo ra Maan có tri thức. Nếu nó làm vậy, Maan cũng sẽ vô sống. Cô đặt câu hỏi làm sao một vật sống có thể xuất thân từ một vật vô sống, và tại sao một nguyên nhân không có hình thái (Iyarkai) lại tạo ra một kết quả có hình thái (các khổ thơ 748–749). Khi Parasaran sử dụng phép ẩn dụ về một người mù và một người tàn tật hợp tác với nhau để giải thích mối liên hệ giữa Uyir và Iyarkai, Neelakesi chỉ ra rằng vì cả hai đều được ông định nghĩa là vô hoạt, nên họ không thể cùng nhau tạo ra bất cứ điều gì (khổ thơ 762). Parasaran cuối cùng tuyên bố rằng Uyir là duy nhất và là lực lượng sáng tạo, hủy diệt và đạt được Veedu peru (giải thoát) (khổ thơ 766). Neelakesi đáp lại rằng chỉ thông qua sự kết hợp của Uyir và Iyarkai mới có thể có sự sáng tạo. Cô hỏi: “Nếu Uyir là một, thì khi một người thầy nói, ông ấy đang dạy cho chính Uyir vốn đã có bên trong mình. Làm sao điều này có thể xảy ra?” (khổ thơ 769). Cô tiếp tục đặt câu hỏi về nguồn gốc của Uyir, hỏi ai đã tạo ra đấng sáng tạo “đầu tiên” (khổ thơ 771). Cuối cùng, cô tranh luận rằng nếu mọi thứ là một Uyir, thì cả đạo đức và hành vi sát sinh đều thuộc về nó. Cô chế giễu ý tưởng rằng Peruyir có thể mang hình dạng của một con chó cắn người hoặc sinh ra làm một con cáo (các khổ thơ 772–774). Bị thuyết phục bởi logic của cô, Parasaran chấp nhận rằng tri thức và tính chất là thuộc tính của Uyir sống và không thể phát sinh từ Iyarkai vô sống (khổ thơ 779). =====3.2.7. Tranh luận với Thắng Luận (Vaisedikam)===== Tiếp theo, cô đến thăm Lokajitar, một giáo thọ của hệ thống triết học Thắng Luận (Vaisedikam / Vaisheshika). Lokajitar giải thích sáu phạm trù cơ bản (lục cú nghĩa) trong triết lý của mình: parupporul (dravya—thể/chất), panpu (guṇa—tính/đặc tính), seyal (karma—nghiệp/hành động), thogai (sāmānya—đồng/tổng quát), vagai (viśeṣa—dị/đặc thù), và koppu (samavāya—hòa hợp/nội tại). Trong parupporul, có chín thực thể: ngũ đại nguyên tố (pañca bhūtas), kālam (thời gian), disai (phương hướng), uyir (ātman/linh hồn), và manam (tâm trí). Tính chất và hành động phụ thuộc vào thực thể. Thogai được chia thành hai loại: perunthogai (maha samanya), đại diện cho sự tồn tại của một vật, và ullurai thogai (avantara samanya), đại diện cho các tính chất phụ thuộc của nó. Trong khi thogai là trường tồn, vagai đại diện cho các đặc tính cụ thể. Cuối cùng, koppu chịu trách nhiệm cho sự kết hợp của các vật với tính chất hoặc hành động của chúng. Trong số chín thực thể, ba thực thể đầu tiên được coi là riêng biệt, trong khi các thực thể khác là phụ thuộc (các khổ thơ 785–788). Sau khi nghe Lokajitar, Neelakesi nhận xét rằng đi theo Thắng Luận sẽ khiến cô “mất mạng”, khiến Lokajitar phải yêu cầu cô đưa ra những chỉ trích cụ thể (các khổ thơ 789–790). Neelakesi dựa trên hoạt động của chín thực thể để tranh luận. Cô cho rằng nếu bốn nguyên tố đầu tiên—đất, nước, không khí và lửa—thuộc cùng một phạm trù, chúng không thể được coi là hoàn toàn tách biệt. Cô lưu ý rằng các nguyên tố liên tục tương tác: nước kết hợp với đất để tạo thành muối; nó trộn lẫn với bơ nung chảy thông qua sự biến đổi của lửa; và bản thân lửa có thể biến thành không khí. Vì aimboothangal (ngũ đại) tương tác và trộn lẫn, chúng không thể là các thực thể độc lập (các khổ thơ 791–792). Liên quan đến disai (phương hướng), cô lưu ý nó chỉ là một quy ước dựa trên sự mọc và lặn của mặt trời. Vì không gian có thể được chia thành bốn, tám hoặc nhiều hướng tùy thuộc vào góc nhìn, đây chỉ là các phần của một không gian thống nhất chứ không phải là các thực tại độc lập (các khổ thơ 793–794). Cô cho rằng manam (tâm trí) không phải là một thực thể mà là sản phẩm của sự kết hợp giữa thể xác và tinh thần. Tương tự, thời gian được hình thành bởi sự chuyển động của những vật có ý thức và không có ý thức; vì chuyển động là nguyên nhân, thời gian không thể được coi là một phạm trù độc lập. Neelakesi sau đó tấn công vào sự tách biệt giữa uyir (sự sống) và các tính chất của nó. Nếu uyir là một thực thể tách biệt khỏi các đặc tính sống của nó, thì ngay cả một tử thi cũng sẽ phải được phân loại tương tự. Cô hỏi: “Liệu một tử thi có thể được coi là uyir không?” (khổ thơ 798). Cô tranh luận rằng nếu một tính chất bị tách khỏi đối tượng, cả hai sẽ trở nên vô hoạt và không tồn tại (khổ thơ 800). Neelakesi khẳng định rằng một đối tượng không thể tồn tại hoặc được nhận biết nếu không có panpu (tính chất) của nó. Trong khi các đối tượng có thể giữ nguyên, tính chất của chúng thay đổi—chẳng hạn như vàng tiến hóa từ đất (khổ thơ 805). Cô rút ra một bài học quan trọng cho Veedu peru (sự giải thoát): nếu tính chất và hành động độc lập với con người, thì hành động (seyal) của con người không thể cải thiện phẩm tính (panpu) của họ. Để sự giải thoát có thể xảy ra, các hành động phải làm thanh lọc tâm hồn từ bên trong. Cuối cùng, cô đặt câu hỏi về khái niệm koppu (sự hòa hợp): “Nếu tính chất và hành động tham gia vào một đối tượng thông qua sự hòa hợp, thì trạng thái của chúng trước khi có sự kết hợp này là gì? Liệu một tính chất có thể tồn tại mà không có đối tượng không?” (các khổ thơ 811–812). Cô kết luận rằng thực tại chỉ tồn tại thông qua sự thống nhất của các đối tượng và các thuộc tính của chúng. Những luận điểm của cô đã dẫn đến việc Lokajitar quy y theo cô (khổ thơ 822). =====3.2.8. Tranh luận với Duy Vật Luận (Bhoothavaadi)===== Cuộc tranh luận cuối cùng là với Pisasagan, một đạo sĩ của phái Duy Vật Luận (Bhoothavaadi). Pisasagan giải thích rằng năm nguyên tố trường tồn và tối cao của vũ trụ là lửa, đất, nước, không khí và không gian. Từ những nguyên tố này tiến hóa thành mắt, mũi, lưỡi, thân thể và tai; từ năm cơ quan cảm giác này, đến lượt chúng tạo ra màu sắc, mùi, vị, xúc giác và âm thanh (khổ thơ 857). Khi được yêu cầu giải thích về trí thông minh và cảm xúc, ông so sánh chúng với một loại đồ uống say được làm từ sự kết hợp của bột, đường thốt nốt và các thành phần khác. Ông cho rằng trí thông minh và cảm xúc xuất hiện khi ngũ đại nguyên tố tăng lên và biến mất khi chúng phân rã (khổ thơ 858). Theo ông, không có cái gọi là uyir; ông tuyên bố rằng những người quảng bá cho sự tồn tại của nó là những kẻ âm mưu tìm cách lừa gạt mọi người. Sự sinh ra, tồn tại và cái chết là những hệ quả không thể tránh khỏi của sự hợp nhất aimboothangal (các khổ thơ 859–860). Neelakesi đáp lại bằng cách đặt câu hỏi về nguồn gốc triết lý của Pisasagan. Cô chỉ ra rằng Duy Vật Luận thiếu cả một người sáng lập rõ ràng lẫn một cuốn sách nền tảng chi tiết về các giáo lý cốt lõi. Cô tranh luận rằng bất kỳ giáo lý hợp lệ nào cũng phải được thiết lập bởi một người sáng lập giác ngộ, điều mà trường phái này thiếu. Hơn nữa, cô hỏi: “Lý do cho sự hợp nhất của năm nguyên tố (bhoothas) này là gì? Ai xác định nguyên tố nào nên kết hợp với nhau và nguyên tố nào không nên?” (khổ thơ 862). Cô bác bỏ lập trường của ông bằng cách tuyên bố rằng việc đơn thuần phủ nhận giáo lý của các trường phái khác là không công bằng. Cuối cùng, cô đặt câu hỏi về tính hữu dụng của một hệ thống tư tưởng phủ nhận Thượng đế và không cung cấp hướng dẫn nào về đời sống đạo đức (các khổ thơ 863–864). Mặc dù những lời chỉ trích như vậy vẫn tồn tại ngày nay, chúng vẫn còn tranh cãi rất nhiều (Kher 2023; Bhagat Singh 2007). Neelakesi sau đó đưa ra một loạt các lập luận cụ thể. Đầu tiên, cô hỏi làm thế nào tri thức và uyir có thể bắt nguồn từ một sự kết hợp đơn thuần của aimboothangal (khổ thơ 867). Cô thách thức điều này bằng cách hỏi: “Một búp bê có thể tự động tiến hóa nếu rơm, bùn, tóc và phân được giữ cùng nhau trong một cái giỏ không?” Đối với cô, luận điểm duy vật đơn giản là không thể đứng vững (khổ thơ 868). Thứ hai, cô đặt câu hỏi về nguồn gốc của đạo đức: nếu mọi thứ đều được làm từ ngũ đại nguyên tố, thì có các “nguyên tố” cụ thể cho trộm cắp và dục vọng không? Vì những tệ nạn này tồn tại ở con người, cô hỏi làm thế nào một hệ thống thuần túy duy vật lại giải thích cho sự xuất hiện của chúng (khổ thơ 869). Thứ ba, cô tranh luận rằng nếu năm giác quan được hình thành bởi ngũ đại nguyên tố, thì trường phái này không giải thích được sự hình thành của manam (tâm trí) (khổ thơ 872). Thứ tư, cô chỉ ra thứ bậc của sự sống, hỏi tại sao các sinh vật lại sở hữu số lượng giác quan khác nhau—từ một đến sáu—và quá trình vật chất nào quyết định những sự khác biệt này (khổ thơ 873). Cuộc tranh luận sau đó chuyển sang các khái niệm về sự đầu thai và việc bị quỷ thần nhập. Neelakesi lưu ý rằng đây là những sự thật được chấp nhận phổ biến và mọi người tin tưởng rộng rãi vào ma quỷ và sự đầu thai (các khổ thơ 886–887). Cô thách thức đạo sĩ Duy Vật Luận giải thích những hiện tượng này. Để thuyết phục Pisasagan về siêu nhiên, cô vượt ra ngoài logic và tự mình biến thành hình dạng một nữ quỷ (khổ thơ 889). Mặc dù sự thể hiện sức mạnh này nằm ngoài phạm vi tranh luận truyền thống, nó đã đạt được mục tiêu. Thông qua những lập luận này và sự thể hiện siêu nhiên của mình, cô đã buộc Pisasagan phải quy y theo Samanam (Kỳ Na giáo). ===3.3. Neelakesi và đạo sĩ Bà-la-môn Boothigan: Cuộc tranh luận dựa trên Công lý Xã hội=== Cuộc tranh luận chống lại Boothigan, một đạo sĩ thuộc truyền thống Vệ-đà (Vedic), diễn ra tại Kaganthi. Ông quản lý một trường học Vệ-đà dành cho các môn sinh giai cấp Bà-la-môn, và khuôn viên trường được gia cố cẩn thận để ngăn người ngoài xâm nhập. Neelakesi đã xâm nhập vào bên trong bằng cách vượt qua ranh giới này. Cô gặp Boothigan, và khác với các chương khác, tác giả ở đây đã đưa các vấn đề về phân biệt giai cấp, công lý xã hội và sự bất bình đẳng lên hàng đầu. Đoạn này (các khổ thơ 824–853) mang ý nghĩa xã hội đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh của một hệ thống đẳng cấp được lưu truyền theo chế độ phụ quyền. Phần này đã thu hút sự chú ý của các nhà văn có ý thức xã hội, đặc biệt là Kuruvikarambai Velu, người gắn liền với Phong trào Tự trọng (Self-Respect Movement) do Thanthai Periyar (E. V. Ramasamy)—một nhà cải cách xã hội có vai trò quan trọng trong việc trao quyền cho phụ nữ và các đẳng cấp bị áp bức—khởi xướng. Chịu ảnh hưởng bởi sự phê phán trí tuệ của Neelakesi đối với hệ thống đẳng cấp và sự khắc họa một nữ chính thuộc tầng lớp hạ tiện (outcaste), Kuruvikarambai Velu đã viết cuốn sách Nathigam Pesum Soothirachiye, có nghĩa là "Người phụ nữ hạ tiện xướng xuất Thuyết vô thần" (Kuruvikarambai 1982). Cuộc tranh luận với Boothigan bắt đầu bằng sự thảo luận về nguồn gốc của kinh Vệ-đà. Boothigan tuyên bố rằng kinh Vệ-đà là vĩnh hằng và tự tồn tại. Ông tiếp tục cho rằng tất cả các kinh văn tôn giáo khác đều có nguồn gốc từ kinh Vệ-đà. Đáp lại, Neelakesi hỏi rằng nếu tất cả kinh văn đều xuất phát từ kinh Vệ-đà, thì tại sao lại tồn tại những mâu thuẫn giữa các hệ thống triết học khác nhau, bao gồm cả các trường phái vô thần. Phẫn nộ trước câu hỏi này, Boothigan đã phản bác bằng một đòn tấn công công kích cá nhân ngụy biện về bản dạng đẳng cấp của Neelakesi, gọi cô là một Śūdra (người Thủ-đà-la / đẳng cấp thấp nhất) (Appathurai 1955; khổ thơ 826), từ đó bộc lộ tư tưởng phân biệt đẳng cấp của thời kỳ đó. Ông tiếp tục tranh luận rằng cô không thể hiểu được kinh Vệ-đà vì cô là một phụ nữ thuộc đẳng cấp thấp, và do đó bị cấm nghiên cứu chúng. Thông qua cuộc trao đổi này, Neelakesi trình bày một bức tranh rõ ràng về hệ thống đẳng cấp phân cấp, vốn hạn chế quyền tiếp cận tri thức chỉ dành riêng cho người Bà-la-môn. Do đó, tác phẩm đã phơi bày tư duy thượng tôn đẳng cấp cao, nơi thẩm quyền đối với tri thức không dựa trên sự vấn đề mang tính lý tính mà dựa trên sự vĩnh hằng giả định của kinh thánh. Neelakesi sau đó phát triển sự phê phán logic của mình, tuyên bố rằng cô sẽ phơi bày những lỗ hổng trong kinh Vệ-đà. Lập luận của cô bắt đầu bằng câu hỏi về nguồn gốc của kinh Vệ-đà (khổ thơ 827), điều mà Boothigan tuyên bố là vĩnh hằng. Cô cho rằng tuyên bố này duy trì và hợp thức hóa sự phân cấp xã hội, khiến những người ở bậc thấp hơn trong trật tự đẳng cấp trở thành những người không thể đụng tới (bắt tịnh / untouchable). Cô chỉ trích thêm lối sống của những người theo kinh Vệ-đà, mô tả họ là những kẻ tham lam tài sản và tham gia vào các hành vi bất đạo đức (khổ thơ 828). Sau đó, cô đưa ra ví dụ về việc bài tiết bên trong một ngôi nhà diễn ra mà không ai khác chú ý đến. Cô tranh luận rằng sự ẩn danh (không ai biết nguồn gốc) không thể được lấy làm bằng chứng cho việc một thứ gì đó là tự sinh (svayambhu) hay không được tạo ra (khổ thơ 829). Phép ẩn dụ này gián tiếp chỉ trích ý niệm về sự thanh khiết và ô uế làm nền tảng cho tư tưởng đẳng cấp, vốn dẫn đến sự đối xử tàn nhẫn đối với một số nhóm người. Thông qua lập luận dựa trên công lý xã hội này, cô thách thức các tuyên bố nền tảng của kinh Vệ-đà. Cuộc tranh luận sau đó chuyển sang nghiệp (karma), một trong những giáo lý trung tâm của kinh Vệ-đà. Neelakesi cho rằng kinh Vệ-đà phủ nhận quả ngọt của những hành động tốt đối với những người thuộc đẳng cấp thấp, vì việc làm của họ không được coi là mang lại sự tái sinh thuận lợi hay sự nâng cao vị thế xã hội. Tuy nhiên, chính truyền thống đó cũng tuyên bố rằng tác động của các hành động trong đời này sẽ kéo sang đời sau. Cô làm nổi bật sự mâu thuẫn này. Cô tranh luận thêm rằng nếu con người—bao gồm cả người Śūdra—được sinh ra từ cùng một đấng sáng tạo (Brahma / Phạm Thiên), thì làm sao một số người lại bị coi là không đủ điều kiện để thực hiện lễ tế lễ cho Ngài? Cô cho rằng những nhà tư tưởng lý tính không thể chấp nhận những mâu thuẫn như vậy (khổ thơ 834). Neelakesi cũng chỉ trích việc hiến tế động vật được thực hiện dưới danh nghĩa các vị thần, điều mà cô coi là đi ngược lại nguyên lý bất hại (ahiṃsā), một giáo lý trung tâm của Samanam (Kỳ Na giáo) (các khổ thơ 836–837, 841–842). Tuy nhiên, trọng tâm cốt lõi trong sự phê phán của cô vẫn là công lý xã hội và sự bất bình đẳng đẳng cấp. ---- '''Nguồn''': * Appu, S.-K. (2026). [https://www.mdpi.com/2077-1444/17/8/962 The Debate on Meaning of Life in the Tamil Minor Epic Neelakesi: Drawing Some Inspirations to Engage the Gen Z in Religious Matters]. Religions, 17(8), 962. https://doi.org/10.3390/rel17080962 * Chakravarthi, Appaswami. 1936. Neelakesi: The Original Text and the Commentary of Samaya-Divakara-Vamana-Muni. Kumbakonam: Government College. Available online: https://archive.org/details/in.ernet.dli.2015.382568/page/n3/mode/2up (accessed on 28 February 2026). oofc0y31vftss0ka5brbfa4chqvbu20