Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.47.0-wmf.19 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Sự kiện Thảo luận Sự kiện Đề tài Lão Hạc 0 5419 206140 206139 2026-09-10T14:16:29Z ~2026-49223-35 20600 Đã lùi lại sửa đổi [[Special:Diff/206139|206139]] của [[Special:Contributions/~2026-49010-15|~2026-49010-15]] ([[User talk:~2026-49010-15|thảo luận]]) 206140 wikitext text/x-wiki {{Chất lượng vk|50%}}{{đầu đề | tựa đề = Lão Hạc | tác giả = Nam Cao | dịch giả = | năm = 1943 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = '''''Lão Hạc''''' là một truyện ngắn của nhà văn [[Tác gia:Nam Cao|Nam Cao]] được viết năm [[:Thể loại:Tác phẩm 1943|1943]]. Tác phẩm được đánh giá là một trong những truyện ngắn khá tiêu biểu của dòng [[:w:văn học hiện thực|văn học hiện thực]], nội dung truyện đã phần nào phản ánh được hiện trạng xã hội Việt Nam trong giai đoạn trước [[:w:Cách mạng tháng Tám|Cách mạng tháng Tám]]. :{{Wikipediaref}} }} {{văn| Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm. Tôi đã thông điếu và bỏ thuốc rồi. Tôi mời lão hút trước. Nhưng lão không nghe... - Ông giáo hút trước đi. Lão đưa đóm cho tôi... - Tôi xin cụ... Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điếu. Tôi rít một hơi xong, thông điếu rồi mới đặt vào lòng lão. Lão bỏ thuốc, nhưng chưa hút vội. Lão cầm lấy đóm, gạt tàn, và bảo: - Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ! Lão đặt xe điếu, hút. Tôi vừa thở khói, vừa gà gà đôi mắt của người say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão đó thôi. Thật ra thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi. Tôi lại biết rằng: lão nói là nói để có đấy thôi; chẳng bao giờ lão bán đâu. Vả lại, có bán thật nữa thì đã sao? Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế... Lão hút xong, đặt xe điếu xuống, quay ra ngoài, thở khói. Sau một điếu thuốc lào, óc người ta tê dại đi trong một nỗi đê mê nhẹ nhõm. Lão Hạc ngồi lặng lẽ, hưởng chút khoái lạc con con ấy. Tôi cũng ngồi lặng lẽ. Tôi nghĩ đến mấy quyển sách quý của tôi. Hồi bị ốm nặng ở Sài Gòn tôi bán gần hết cả áo quần, nhưng vẫn không chịu bán cho ai một quyển. Ốm dậy, tôi về quê, hành lý chỉ vẻn vẹn có một cái va-ly đựng toàn những sách. Ôi những quyển sách rất nâng niu! Tôi đã nguyện giữ chúng suốt đời, để lưu lại cái kỷ niệm một thời chăm chỉ, hăng hái và tin tưởng đầy những say mê đẹp và cao vọng: mỗi lần mở một quyển ra, chưa kịp đọc dòng nào, tôi đã thấy bừng lên trong lòng tôi như một rạng đông, cái hình ảnh tuổi hai mươi trong trẻo, biết yêu và biết ghét... Nhưng đời người ta không chỉ khổ một lần. Mỗi lần cùng đường đất sinh nhai, và bán hết mọi thứ rồi, tôi lại phải bán đi một ít sách của tôi. Sau cùng chỉ còn có năm quyển, tôi nhất định, dù có phải chết cũng không chịu bán. Ấy thế mà tôi cũng bán! Mới cách đây có hơn một tháng thôi, đứa con nhỏ của tôi bị chứng lỵ gần kiệt sức... Không! Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu? Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi... Tôi nghĩ thầm trong bụng thế. Còn lão Hạc, lão nghĩ gì? Đột nhiên lão bảo tôi: - Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy, ông giáo ạ! À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão. Nó đi cao su năm sáu năm rồi. Hồi tôi mới về, nó đã hết một hạn công-ta. Lão Hạc, đem thư của nó sang, mượn tôi xem. Nhưng nó xin đăng thêm một hạn nữa... Lão vội cắt nghĩa cho tôi hiểu tại sao lão đang nói chuyện con chó, lại nhảy vọt sang chuyện thằng con như vậy: - Con chó là của cháu nó mua đấy chứ!... Nó mua về nuôi, định để đến lúc cưới vợ thì giết thịt... Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta đã định rồi chẳng bao giờ người ta làm được. Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả. Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu... cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc. Lão Hạc không lo được. Ý thằng con lão, thì nó muốn bán vườn, cố lo cho bằng được. Nhưng lão không cho bán. Ai lại bán vườn đi mà lấy vợ? Vả lại bán vườn đi, thì cưới vợ về, ở đâu? Với lại, nói cho cùng nữa, nếu đằng nhà gái họ cứ khăng khăng đòi như vậy, thì dẫu có bán vườn đi cũng không đủ cưới. Lão Hạc biết vậy đấy, nhưng cũng không dám xẵng. Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu. Lão khuyên nó hãy dằn lòng bỏ đám này, để rồi gắng lại ít lâu, xem có đám nào khác mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết hết con gái đâu mà sợ?... Lạy trời lạy đất! Nó cũng là thằng khá, nó thấy bố nói thế thì nó thôi ngay, nó không đả động đến việc cưới xin nữa. Nhưng nó có vẻ buồn. Và lão biết nó vẫn theo đuổi con kia mãi. Lão thương con lắm. Nhưng biết làm sao được?... Tháng mười năm ấy, con kia đi lấy chồng; nó lấy con trai một ông phó lý, nhà có của. Thằng con lão sinh phẫn chí. Ngay mấy hôm sau, nó ra tỉnh đến sở mộ phu, đưa thẻ, ký giấy xin đi làm đồn điền cao su... Lão rân rấn nước mắt, bảo tôi: - Trước khi đi, nó còn cho tôi ba đồng bạc, ông giáo ạ! Chả biết nó gửi thẻ xong, vay trước được mấy đồng, mà đưa về cho tôi ba đồng. Nó đưa cho tôi ba đồng mà bảo: “Con biếu thầy ba đồng để thỉnh thoảng thầy ăn quà; xưa nay con ở nhà mãi cũng không nuôi được bữa nào, thì con đi cũng chẳng phải lo; thầy bòn vườn đất với làm thuê làm mướn thêm cho người ta thế nào cũng đủ ăn; con đi chuyến này cố chí làm ăn, bao giờ có bạc trăm con mới về, không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này, nhục lắm!...”. Tôi chỉ còn biết khóc, chứ còn biết làm sao được nữa? Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi?... {{ba sao}} Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó vàng của lão. Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây. Vợ lão chết rồi. Con lão đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn? Những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ buồn một chút. Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra ao tắm. Lão cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giàu. Lão ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn. Những buổi tối, khi lão uống rượu, thì nó ngồi ở dưới chân. Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó. Lão bảo nó thế này: - Cậu có nhớ bố cậu không? Hả cậu Vàng? Bố cậu lâu lắm không có thư về. Bố cậu đi có lẽ được đến ba năm rồi đấy... Hơn ba năm... Có đến ngót bốn năm... Không biết cuối năm nay bố cậu có về không? Nó mà về, nó cưới vợ, thì nó giết cậu. Liệu hồn cậu đấy! Con chó vẫn hếch mõm lên nhìn, chẳng lộ một vẻ gì; lão lừ mắt nhìn trừng trừng vào mắt nó, to tiếng dọa: - Nó giết mày đấy! Mày có biết không? Ông cho thì bỏ bố! Con chó tưởng chủ mắng, vẫy đuôi mừng, để lấy lại lòng chủ. Lão Hạc nạt to hơn nữa: - Mừng à? Vẫy đuôi à? Vẫy đuôi thì cũng giết! Cho cậu chết! Thấy lão sừng sộ quá, con chó vừa vẫy đuôi, vừa chực lảng. Nhưng lão vội nắm lấy nó, ôm đầu nó, đập nhè nhẹ vào lưng nó và dấu dí: - À không! À không! Không giết cậu Vàng đâu nhỉ!... Cậu Vàng của ông ngoan lắm! Ông không cho giết... Ông để cậu Vàng ông nuôi... Lão buông nó ra để nhấc chén, ghé lên môi uống. Lão ngẩn mặt ra một chút, rồi bỗng nhiên thở dài. Rồi lão lẩm bẩm tính. Đấy là lão tính tiền bòn vườn của con... Sau khi thằng con đi, lão tự hỏi rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả... Của mẹ nó tậu, thì nó hưởng. Lớp trước nó đòi bán, ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó, chứ có phải giữ để ta ăn đâu? Nó không có tiền cưới vợ, phẫn chí bước ra đi, thì đến lúc có tiền để lấy vợ, mới chịu về. Ta bòn vườn của nó, cũng nên để ra cho nó; đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm vào với nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ, thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn...”. Lão tự bảo lão như thế, và lão làm đúng như thế. Lão làm thuê kiếm ăn. Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra. Lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về, lão cũng có được một trăm đồng bạc... Lão lắc đầu chán nản, bảo tôi: - Ấy thế mà bây giờ hết nhẵn, ông giáo ạ! Tôi chỉ ốm có một trận đấy thôi. Một trận đúng hai tháng, mười tám ngày, ông giáo ạ! Hai tháng mười tám ngày đã không làm ra được một xu, lại còn thuốc, lại còn ăn... Ông thử tính ra xem bao nhiêu tiền vào đấy?... Sau trận ốm, lão yếu người đi ghê lắm. Những công việc nặng không làm được nữa. Làng mất vè sợi, nghề vải đảnh phải bỏ. Đàn bà rỗi rãi nhiều. Còn tí việc nhẹ nào, họ tranh nhau làm mất cả. Lão Hạc không có việc. Rồi lại bão. Hoa mầu bị phá sạch sành sanh. Từ ngày bão đến nay, vườn lão chưa có một tí gì bán. Gạo thì cứ kém mãi đi. Một lão với một con chó mỗi ngày ba hào gạo, mà gia sự vẫn còn đói deo đói dắt... - Thì ra cậu Vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi ông giáo ạ. Mỗi ngày cậu ấy ăn thế, bỏ rẻ cũng mất hào rưỡi, hai hào đấy. Cứ mãi thế này thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được? Mà cho cậu ấy ăn ít thì cậu ấy gày đi, bán hụt tiền, có phải hoài không? Bây giờ cậu ấy béo trùng trục, mua đắt, người ta cũng thích... Lão ngắt lại một chút, rồi tắc lưỡi: - Thôi thì bán phắt đi! Đỡ được đồng nào, hay đồng ấy. Bây giờ tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ chết nó. Tôi bây giờ có làm gì được đâu? {{ba sao}} Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay: - Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ! - Cụ bán rồi? - Bán rồi! Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện: - Thế nó cho bắt à? Mặt lão đột nhiên co dúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc... - Khốn nạn... Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi về thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết! Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?”. Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó! Tôi an ủi lão: - Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt? Ta giết nó chính là hóa kiếp cho nó đấy, hóa kiếp để cho nó làm kiếp khác. Lão chua chát bảo: - Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút... kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!... Tôi bùi ngùi nhìn lão bảo: - Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng? - Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm gì cho thật sướng? Lão cười và ho sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo: - Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: Bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào... Thế là sướng. - Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng. Lão nói xong lại cười đưa đà. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lại. Tôi vui vẻ bảo: - Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi đi luộc khoai, nấu nước. - Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác?... - Việc gì còn phải chờ khi khác?... Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại. Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm... - Đã biết, nhưng tôi còn muốn nhờ ông một việc... Mặt lão nghiêm trang lại... - Việc gì thế, cụ? - Ông giáo để tôi nói... Nó hơi dài dòng một tí. - Vâng, cụ nói. - Nó thế này, ông giáo ạ! Và lão kể. Lão kể nhỏ nhẹ và dài dòng thật. Nhưng đại khái có thể rút vào hai việc. Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để làm ăn ở làng này. Tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lý luận, người ta kiêng nể, vậy lão muốn nhờ tôi cho lão gửi ba sào vườn của thằng con lão, lão viết văn tự nhượng cho tôi để không ai còn tơ tưởng dòm ngó đến; khi nào con lão về thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên tôi cũng được, để thế để tôi trông coi cho nó... Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào: con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được; để phiền cho hàng xóm thì chết không nhắm mắt: lão còn được hăm nhăm đồng bạc với năm đồng vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi tôi để lỡ có chết thì tôi đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả... Tôi bật cười bảo lão: - Sao cụ lo xa quá thế? Cụ còn khỏe lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại? - Không, ông giáo ạ! Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu? [sót lời] Đã đành rằng là thế, nhưng tôi bòn vườn của nó bao nhiêu, tiêu hết cả. Nó vợ con chưa có. Ngộ nó không lấy gì lo được, lại bán vườn thì sao?... Tôi cắn rơm, cắn cỏ tôi lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gửi. Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậy. Lúc lão ra về, tôi còn hỏi: - Có đồng nào, cụ nhặt nhạnh đưa cho tôi cả thì cụ lấy gì mà ăn? Lão cười nhạt bảo: - Được ạ! Tôi đã liệu đâu vào đấy... Thế nào rồi cũng xong. Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc. Tôi nói chuyện lão với vợ tôi. Thị gạt phắt đi: - Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con mình cũng đói... Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi... toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương: không bao giờ ta thương... Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận. Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạc. Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão. Lão từ chối tất cả những cái gì tôi cho lão. Lão từ chối một cách gần như là hách dịch. Và lão cứ xa tôi dần dần... Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dễ tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ... Một hôm, tôi phàn nàn về việc ấy với Binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi: Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bĩu môi và bảo: - Lão làm bộ đây! Thật ra thì lão chỉ tâm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu. Lão vừa xin tôi một ít bả chó... Tôi trố to đôi mắt, ngạc nhiên. Hắn thì thầm: - Lão bảo có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão... Lão định cho nó xơi một bữa. Nếu trúng, lão với tôi uống rượu. Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết. Một người như thế ấy!... Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!... Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng... Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ một ngày một thêm đáng buồn... {{ba sao}} Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác. Tôi ở nhà binh Tư về được một lúc lâu thì thấy những tiếng nhốn nháo ở bên nhà lão Hạc. Tôi mải mốt chạy sang. Mấy người hàng xóm đến trước tôi đang xôn xao ở trong nhà. Tôi xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nẩy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với binh Tư hiểu. Nhưng nói ra làm gì nữa! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: “Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn: cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào...”. }}{{PVCC-Việt Nam}} [[Thể loại:Truyện ngắn]] s6uked3523xbmx6dvszuhgiihh5nsbf Khóc Dương Khuê 0 6684 206143 203313 2026-09-11T04:48:00Z ~2026-49107-51 20602 206143 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Khóc Dương Khuê | tác giả = Nguyễn Khuyến | dịch giả = Lê Trọng Hoàng | năm = 20000000 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = Tác giả tự dịch bài [[Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư]]. }} <poem> Bác Dương thôi đã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. Nhớ từ thuở đăng khoa<ref>Đi thi đỗ</ref> ngày trước, Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau; Kính yêu từ trước đến sau, Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời? Cũng có lúc chơi nơi dặm khách, Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo; Có khi {{khác|từng|tầng}} gác cheo leo, Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang; Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp, Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân, Có khi bàn soạn câu văn, Biết bao đông bích, điển phần<ref>Đọc sách, tra cứu</ref> trước sau, Buổi dương cửu<ref>Ý nói thời gian nan</ref> cùng nhau hoạn nạn, Phận đấu thăng<ref>Cái đấu, cái thăng, đơn vị đo lường ngày xưa. Câu này ý nói: trước cảnh đời đổi thay phải từ quan về, nhà thơ không dám tham công danh bổng lộc nữa</ref> chẳng dám tham trời; Bác già, tôi cũng già rồi, Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là! Muốn đi lại tuổi già thêm nhác, Trước ba năm gặp bác một lần; Cầm tay hỏi hết xa gần, Mừng rằng bác {{khác|hãy|vẫn}} tinh thần chưa can, Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác, Tôi lại đau trước bác mấy ngày; Làm sao bác vội về ngay, {{khác|Nghe tin|Chợt nghe}}, tôi bỗng chân tay rụng rời. Ai chẳng biết chán đời là phải, {{khác|Sao vội vàng|Vội vàng sao}} đã mải lên tiên; Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua. Câu thơ nghĩ đắn đo không viết, Viết đưa ai, ai biết mà đưa; Giường kia treo những hững hờ<ref>[[w:Trần Phồn|Trần Phồn]] đời Hậu Hán, dành riêng cho bạn thân một cái giường khi bạn đến thì mời ngồi, lúc bạn về thì treo lên</ref>, Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn<ref>Câu này nhắc lại tích [[w:Bá Nha|Bá Nha]] và [[w:Chung Tử Kì|Chung Tử Kì]], hai bạn tri âm. Khi Chung Tử Kì mất thì Bá Nha đập nát cây đàn không gảy nữa</ref>. Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương; Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu {{khác|chuốc|ép}} lấy hai hàng chứa chan! </poem> {{chú thích cuối trang}} [[Thể loại:Thơ Việt Nam]] [[Thể loại:Song thất lục bát]] 38mhko70e1xs25ncuru6ahrgvo5ih0h 206144 206143 2026-09-11T04:50:28Z ~2026-49107-51 20602 206144 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Khóc Dương Khuê | tác giả = Nguyễn Khuyến | dịch giả = Lê Trọng Hoàng - Nguyễn Thế Hào | năm = 1872 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = Tác giả tự dịch bài [[Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư]]. }} <poem> Bác Dương thôi đã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. Nhớ từ thuở đăng khoa<ref>Đi thi đỗ</ref> ngày trước, Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau; Kính yêu từ trước đến sau, Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời? Cũng có lúc chơi nơi dặm khách, Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo; Có khi {{khác|từng|tầng}} gác cheo leo, Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang; Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp, Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân, Có khi bàn soạn câu văn, Biết bao đông bích, điển phần<ref>Đọc sách, tra cứu</ref> trước sau, Buổi dương cửu<ref>Ý nói thời gian nan</ref> cùng nhau hoạn nạn, Phận đấu thăng<ref>Cái đấu, cái thăng, đơn vị đo lường ngày xưa. Câu này ý nói: trước cảnh đời đổi thay phải từ quan về, nhà thơ không dám tham công danh bổng lộc nữa</ref> chẳng dám tham trời; Bác già, tôi cũng già rồi, Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là! Muốn đi lại tuổi già thêm nhác, Trước ba năm gặp bác một lần; Cầm tay hỏi hết xa gần, Mừng rằng bác {{khác|hãy|vẫn}} tinh thần chưa can, Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác, Tôi lại đau trước bác mấy ngày; Làm sao bác vội về ngay, {{khác|Nghe tin|Chợt nghe}}, tôi bỗng chân tay rụng rời. Ai chẳng biết chán đời là phải, {{khác|Sao vội vàng|Vội vàng sao}} đã mải lên tiên; Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua. Câu thơ nghĩ đắn đo không viết, Viết đưa ai, ai biết mà đưa; Giường kia treo những hững hờ<ref>[[w:Trần Phồn|Trần Phồn]] đời Hậu Hán, dành riêng cho bạn thân một cái giường khi bạn đến thì mời ngồi, lúc bạn về thì treo lên</ref>, Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn<ref>Câu này nhắc lại tích [[w:Bá Nha|Bá Nha]] và [[w:Chung Tử Kì|Chung Tử Kì]], hai bạn tri âm. Khi Chung Tử Kì mất thì Bá Nha đập nát cây đàn không gảy nữa</ref>. Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương; Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu {{khác|chuốc|ép}} lấy hai hàng chứa chan! </poem> {{chú thích cuối trang}} [[Thể loại:Thơ Việt Nam]] [[Thể loại:Song thất lục bát]] aby8vn42sklyd46x49s0erxeqyt62x9 206148 206144 2026-09-11T05:01:41Z ~2026-49107-51 20602 206148 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Khóc Dương Khuê | tác giả = Nguyễn Khuyến | dịch giả = | năm = | phần = | trước = | sau = | ghi chú = Tác giả tự dịch bài [[Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư]]. }} <poem> Bác Dương thôi đã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. Nhớ từ thuở đăng khoa<ref>Đi thi đỗ</ref> ngày trước, Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau; Kính yêu từ trước đến sau, Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời? Cũng có lúc chơi nơi dặm khách, Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo; Có khi {{khác|từng|tầng}} gác cheo leo, Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang; Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp, Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân, Có khi bàn soạn câu văn, Biết bao đông bích, điển phần<ref>Đọc sách, tra cứu</ref> trước sau, Buổi dương cửu<ref>Ý nói thời gian nan</ref> cùng nhau hoạn nạn, Phận đấu thăng<ref>Cái đấu, cái thăng, đơn vị đo lường ngày xưa. Câu này ý nói: trước cảnh đời đổi thay phải từ quan về, nhà thơ không dám tham công danh bổng lộc nữa</ref> chẳng dám tham trời; Bác già, tôi cũng già rồi, Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là! Muốn đi lại tuổi già thêm nhác, Trước ba năm gặp bác một lần; Cầm tay hỏi hết xa gần, Mừng rằng bác {{khác|hãy|vẫn}} tinh thần chưa can, Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác, Tôi lại đau trước bác mấy ngày; Làm sao bác vội về ngay, {{khác|Nghe tin|Chợt nghe}}, tôi bỗng chân tay rụng rời. Ai chẳng biết chán đời là phải, {{khác|Sao vội vàng|Vội vàng sao}} đã mải lên tiên; Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua. Câu thơ nghĩ đắn đo không viết, Viết đưa ai, ai biết mà đưa; Giường kia treo những hững hờ<ref>[[w:Trần Phồn|Trần Phồn]] đời Hậu Hán, dành riêng cho bạn thân một cái giường khi bạn đến thì mời ngồi, lúc bạn về thì treo lên</ref>, Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn<ref>Câu này nhắc lại tích [[w:Bá Nha|Bá Nha]] và [[w:Chung Tử Kì|Chung Tử Kì]], hai bạn tri âm. Khi Chung Tử Kì mất thì Bá Nha đập nát cây đàn không gảy nữa</ref>. Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương; Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu {{khác|chuốc|ép}} lấy hai hàng chứa chan! </poem> {{chú thích cuối trang}} [[Thể loại:Thơ Việt Nam]] [[Thể loại:Song thất lục bát]] n67zd6itgus9oakahdlrtpsuuud95dy Ai tư vãn 0 16270 206145 107477 2026-09-11T04:56:31Z ~2026-49107-51 20602 206145 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Ai tư vãn - 哀思挽 | tác giả = Lê Ngọc Hân | dịch giả = Phạm Hoàng Nguyên | phần = | trước = | sau = | ấn bản = có | năm = | wikipedia = Ai tư vãn | ghi chú = ''Ai tư vãn'' (哀思挽) là một tác phẩm trong văn chương Việt Nam, viết bằng chữ Nôm, tương truyền do [[Tác gia:Lê Ngọc Hân|Bắc Cung Hoàng hậu]] viết khóc chồng là vua Quang Trung. }} <poem> {{số|1}}Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo. Trước thềm lan hoa héo ron ron! Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non. Xe rồng thăm thẳm bóng loan rầu rầu! {{số|5}}Nỗi lai lịch dễ hầu than thở, Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao? Sầu sầu, thảm thảm xiết bao. Sầu đầy dạt bể, thảm cao ngất trời Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc. {{số|10}}Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương. Rút dây vâng mệnh phụ hoàng, Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui. Trăm ngàn dặm quản chi non nước, Chữ “nghi gia” mừng được phải duyên. {{số|15}}Sang yêu muôn đợi ơn trên. Rỡ ràng vẻ thuý, chối chen tiếng cầm. Lượng che chở, vụng lầm nào kể, Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời. Dẫu rằng non nước biến dời, {{số|20}}Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là! Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội, Khắp tôn thân cùng đội ơn sang. Miếu đường còn dấu chưng thường, Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh. {{số|25}}Nhờ hồng phúc đôi cành hòe quế. Đượm hơi dương, dây rễ đều tươi. Non Nam lần chúc tuổi trời, Dâng ca Thiên bảo, bày lời Hoa Phong. Những ao ước trập trùng tuổi bạc, {{số|30}}Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui. Nào hay sóng cạn bể vùi, Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly. Từ nắng hạ mưa thu trái tiết, Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên. {{số|35}}Xiết bao kinh sợ lo phiền! Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu. Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước, Phương pháp nào đổi được cùng chăng? Ngán thay máy tạo bất bằng, {{số|40}}Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan! Cuộc tụ tán, bi hoan kíp bấy? Kể xum vầy đã mấy năm nay? Lênh đênh chút phận bèo mây, Duyên kia đã vậy, thần này nương đâu? {{số|45}}Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối, Biết cậy ai giập nỗi bi thương. Trông mong luống những mơ màng, Mơ hồ bằng mộng bàng hoàng như say. Khi trận gió hoa bay thấp thoáng. {{số|50}}Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu. Vội vàng sửa áo lên chầu, Thương ôi quạnh quẽ trước lầu nhện giăng! Khi bóng trăng lá in lấp lánh. Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi. {{số|55}}Vội vàng dạo bước tới nơi. Than ôi vắng vẻ, giữa trời sương sa. Tưởng phong thái xót xa đòi đoạn. Mặt rồng sao cách gián lâu nay. Có ai chốn ấy về đây? {{số|60}}Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành! Nẻo u minh khéo chia đôi ngả. Nghĩ đòi phen nồng nã đòi phen. Kiếp này chưa trọn chữ duyên, Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa hương. {{số|65}}Nghe trước có đấng vương Thang, Võ Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao. Mà nay áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước biết bao công trình. Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn, {{số|70}}Công đức dầy, ngự vận càng lâu. Mà nay lượng cả, ơn sâu, Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần. Công dường ấy, mà nhân dường ấy, Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công? {{số|75}}Rộng cho chuộc được tuổi rồng, Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi. Buồn thay nhẽ sương rơi, gió lọt! Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa. Tưởng lời di ngữ thiết tha, {{số|80}}Khóc nào lên tiếng, thức mà cũng mê. Buồn thay nhẽ xuân về, hoa ở! Mối sầu riêng ai gỡ cho xong. Quyết liều mong vẹn chữ tòng. Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e. {{số|85}}Còn trứng nước thương vì đôi chút, Chữ {{khác|tình thâm chưa thoát được|thâm tình không nhẽ bỏ}} đi. Vậy nên nấn ná đòi khi, Hình tuy còn ở, phách thì đã theo. {{khác|Theo buổi trước ngự đèo Bồng đảo|Năm canh luống chiêm bao lẩn quất}}, {{số|90}}{{khác|Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân|Mơ tưởng còn phảng phất thiên nhan}}. {{khác|Theo xa thôi lại theo gần|Tiếng say trên gối trước màn}}. {{khác|Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa|Khi mê dường thấy, khi tàn lại không}}. {{khác|Đương theo bỗng|Nhà ngọc vũ}} tiếng {{khác|gà sực tỉnh|đồng văng vẳng}}. {{khác|Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao|Khúc quân thiều sao vắng âm hao}}! {{số|95}}Mơ màng thêm mỗi khát khao, Ngọc Kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ? Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ, Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai? Xưa sao sớm hỏi, khuya bày, {{số|100}}Nặng lòng vàng đá cạn lời tóc tơ. Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ? Tình cô đơn, ai kẻ xét đâu? Xưa sao gang tấc gần chầu. Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca. {{số|105}}Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi, Tin hàn huyên khôn hỏi thăm lênh! Nửa cung gẫy phím cầm lành. Nỗi con côi cút nỗi mình bơ vơ! Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đòi lúc, {{số|110}}Tiếng tử qui thêm giục lòng thương. Não người thay cảnh tiên hương! Dạ thường quanh quất mặt thường ngóng trông. Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược, Thấy mênh mông những nước cùng mây. {{số|115}}Đông rồi thì lại trông tây: Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà. Trông nam thấy nhạn sa lác đác, Trông bắc thời ngàn bạc màn sương! Nọ trông trời đất bốn phương, {{số|120}}Cõi tiên khơi thẳm, biết đường nào đi! Cậy ai có phép gì tới đó, Dâng vật thường xin ngỏ lòng trung; Này gương là của Hán Cung. Ơn trên xưa đã soi chung đòi ngày. {{số|125}}Duyên hảo hợp xót rày nên lẽ! Bụng ai hoài vội ghẽ vì đâu? Xin đưa gương ấy về chầu, Ngõ soi cho tỏ gót đầu trông ơn. Tưởng linh sảng nhơn nhơn còn dấu. {{số|130}}Nỗi sinh cơ có thấu cho không ? Cung xanh đang tuổi ấu sung, Di mưu sao nỡ quên lòng đoái thương ? Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm, Đầu mũ mao, mình tấm áo gai! {{số|135}}U ơ ra trước hương đài, Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào! Trong sáu viện ố đào, ủ liễu, Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê. Long đong xa cách hương quê, {{số|140}}Mong theo: lầm lối, mong về: tủi duyên! Dưới bệ ngọc hàng uyên vò võ. Cất chân tay thương khó xiết chi! Hang sâu nghe tiếng thương bi, Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân. {{số|145}}Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi! Càng trông càng một xa vời Tấc lòng thảm thiết, chín trời biết chăng? Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi. {{số|150}}Gương Hằng Nga đã bụi màu trong. Nhìn gương càng thẹn tấm lòng, Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà. Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn, Cánh hải đường đã quyện giọt sương. {{số|155}}Trông chim càng dễ đoạn trường, Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi. Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy, Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu! Phút giây bãi bể nương dâu, {{số|160}}Cuộc đời là thế biết hầu này sao ? Chữ tình nghĩa là trời cao, đất rộng, Nỗi đoạn trường còn sống, còn đau. Mấy lời tâm sự trước sau. Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho. </poem> {{PD-old}} [[Thể loại:Song thất lục bát]] mnr92vsknrhryad4ovbmc1gsz8xkk2n 206146 206145 2026-09-11T04:57:29Z ~2026-49107-51 20602 206146 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Ai tư vãn - 哀思挽 | tác giả = Lê Ngọc Hân | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ấn bản = có | năm = | wikipedia = Ai tư vãn | ghi chú = ''Ai tư vãn'' (哀思挽) là một tác phẩm trong văn chương Việt Nam, viết bằng chữ Nôm, tương truyền do [[Tác gia:Lê Ngọc Hân|Bắc Cung Hoàng hậu]] viết khóc chồng là vua Quang Trung. }} <poem> {{số|1}}Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo. Trước thềm lan hoa héo ron ron! Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non. Xe rồng thăm thẳm bóng loan rầu rầu! {{số|5}}Nỗi lai lịch dễ hầu than thở, Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao? Sầu sầu, thảm thảm xiết bao. Sầu đầy dạt bể, thảm cao ngất trời Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc. {{số|10}}Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương. Rút dây vâng mệnh phụ hoàng, Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui. Trăm ngàn dặm quản chi non nước, Chữ “nghi gia” mừng được phải duyên. {{số|15}}Sang yêu muôn đợi ơn trên. Rỡ ràng vẻ thuý, chối chen tiếng cầm. Lượng che chở, vụng lầm nào kể, Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời. Dẫu rằng non nước biến dời, {{số|20}}Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là! Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội, Khắp tôn thân cùng đội ơn sang. Miếu đường còn dấu chưng thường, Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh. {{số|25}}Nhờ hồng phúc đôi cành hòe quế. Đượm hơi dương, dây rễ đều tươi. Non Nam lần chúc tuổi trời, Dâng ca Thiên bảo, bày lời Hoa Phong. Những ao ước trập trùng tuổi bạc, {{số|30}}Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui. Nào hay sóng cạn bể vùi, Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly. Từ nắng hạ mưa thu trái tiết, Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên. {{số|35}}Xiết bao kinh sợ lo phiền! Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu. Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước, Phương pháp nào đổi được cùng chăng? Ngán thay máy tạo bất bằng, {{số|40}}Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan! Cuộc tụ tán, bi hoan kíp bấy? Kể xum vầy đã mấy năm nay? Lênh đênh chút phận bèo mây, Duyên kia đã vậy, thần này nương đâu? {{số|45}}Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối, Biết cậy ai giập nỗi bi thương. Trông mong luống những mơ màng, Mơ hồ bằng mộng bàng hoàng như say. Khi trận gió hoa bay thấp thoáng. {{số|50}}Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu. Vội vàng sửa áo lên chầu, Thương ôi quạnh quẽ trước lầu nhện giăng! Khi bóng trăng lá in lấp lánh. Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi. {{số|55}}Vội vàng dạo bước tới nơi. Than ôi vắng vẻ, giữa trời sương sa. Tưởng phong thái xót xa đòi đoạn. Mặt rồng sao cách gián lâu nay. Có ai chốn ấy về đây? {{số|60}}Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành! Nẻo u minh khéo chia đôi ngả. Nghĩ đòi phen nồng nã đòi phen. Kiếp này chưa trọn chữ duyên, Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa hương. {{số|65}}Nghe trước có đấng vương Thang, Võ Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao. Mà nay áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước biết bao công trình. Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn, {{số|70}}Công đức dầy, ngự vận càng lâu. Mà nay lượng cả, ơn sâu, Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần. Công dường ấy, mà nhân dường ấy, Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công? {{số|75}}Rộng cho chuộc được tuổi rồng, Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi. Buồn thay nhẽ sương rơi, gió lọt! Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa. Tưởng lời di ngữ thiết tha, {{số|80}}Khóc nào lên tiếng, thức mà cũng mê. Buồn thay nhẽ xuân về, hoa ở! Mối sầu riêng ai gỡ cho xong. Quyết liều mong vẹn chữ tòng. Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e. {{số|85}}Còn trứng nước thương vì đôi chút, Chữ {{khác|tình thâm chưa thoát được|thâm tình không nhẽ bỏ}} đi. Vậy nên nấn ná đòi khi, Hình tuy còn ở, phách thì đã theo. {{khác|Theo buổi trước ngự đèo Bồng đảo|Năm canh luống chiêm bao lẩn quất}}, {{số|90}}{{khác|Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân|Mơ tưởng còn phảng phất thiên nhan}}. {{khác|Theo xa thôi lại theo gần|Tiếng say trên gối trước màn}}. {{khác|Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa|Khi mê dường thấy, khi tàn lại không}}. {{khác|Đương theo bỗng|Nhà ngọc vũ}} tiếng {{khác|gà sực tỉnh|đồng văng vẳng}}. {{khác|Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao|Khúc quân thiều sao vắng âm hao}}! {{số|95}}Mơ màng thêm mỗi khát khao, Ngọc Kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ? Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ, Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai? Xưa sao sớm hỏi, khuya bày, {{số|100}}Nặng lòng vàng đá cạn lời tóc tơ. Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ? Tình cô đơn, ai kẻ xét đâu? Xưa sao gang tấc gần chầu. Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca. {{số|105}}Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi, Tin hàn huyên khôn hỏi thăm lênh! Nửa cung gẫy phím cầm lành. Nỗi con côi cút nỗi mình bơ vơ! Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đòi lúc, {{số|110}}Tiếng tử qui thêm giục lòng thương. Não người thay cảnh tiên hương! Dạ thường quanh quất mặt thường ngóng trông. Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược, Thấy mênh mông những nước cùng mây. {{số|115}}Đông rồi thì lại trông tây: Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà. Trông nam thấy nhạn sa lác đác, Trông bắc thời ngàn bạc màn sương! Nọ trông trời đất bốn phương, {{số|120}}Cõi tiên khơi thẳm, biết đường nào đi! Cậy ai có phép gì tới đó, Dâng vật thường xin ngỏ lòng trung; Này gương là của Hán Cung. Ơn trên xưa đã soi chung đòi ngày. {{số|125}}Duyên hảo hợp xót rày nên lẽ! Bụng ai hoài vội ghẽ vì đâu? Xin đưa gương ấy về chầu, Ngõ soi cho tỏ gót đầu trông ơn. Tưởng linh sảng nhơn nhơn còn dấu. {{số|130}}Nỗi sinh cơ có thấu cho không ? Cung xanh đang tuổi ấu sung, Di mưu sao nỡ quên lòng đoái thương ? Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm, Đầu mũ mao, mình tấm áo gai! {{số|135}}U ơ ra trước hương đài, Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào! Trong sáu viện ố đào, ủ liễu, Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê. Long đong xa cách hương quê, {{số|140}}Mong theo: lầm lối, mong về: tủi duyên! Dưới bệ ngọc hàng uyên vò võ. Cất chân tay thương khó xiết chi! Hang sâu nghe tiếng thương bi, Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân. {{số|145}}Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi! Càng trông càng một xa vời Tấc lòng thảm thiết, chín trời biết chăng? Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi. {{số|150}}Gương Hằng Nga đã bụi màu trong. Nhìn gương càng thẹn tấm lòng, Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà. Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn, Cánh hải đường đã quyện giọt sương. {{số|155}}Trông chim càng dễ đoạn trường, Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi. Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy, Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu! Phút giây bãi bể nương dâu, {{số|160}}Cuộc đời là thế biết hầu này sao ? Chữ tình nghĩa là trời cao, đất rộng, Nỗi đoạn trường còn sống, còn đau. Mấy lời tâm sự trước sau. Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho. </poem> {{PD-old}} [[Thể loại:Song thất lục bát]] odk1iz2eewjny7gc48sxnmzzoc94ow5 206159 206146 2026-09-11T10:46:53Z ~2026-49107-51 20602 206159 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Ai tư vãn - 哀思挽 | tác giả = Lê Ngọc Hân | dịch giả = Lê Trọng Hoàng - Nguyễn Thế Hào | phần = | trước = | sau = | ấn bản = có | năm = | wikipedia = Ai tư vãn | ghi chú = ''Ai tư vãn'' (哀思挽) là một tác phẩm trong văn chương Việt Nam, viết bằng chữ Nôm, tương truyền do [[Tác gia:Lê Ngọc Hân|Bắc Cung Hoàng hậu]] viết khóc chồng là vua Quang Trung. }} <poem> {{số|1}}Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo. Trước thềm lan hoa héo ron ron! Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non. Xe rồng thăm thẳm bóng loan rầu rầu! {{số|5}}Nỗi lai lịch dễ hầu than thở, Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao? Sầu sầu, thảm thảm xiết bao. Sầu đầy dạt bể, thảm cao ngất trời Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc. {{số|10}}Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương. Rút dây vâng mệnh phụ hoàng, Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui. Trăm ngàn dặm quản chi non nước, Chữ “nghi gia” mừng được phải duyên. {{số|15}}Sang yêu muôn đợi ơn trên. Rỡ ràng vẻ thuý, chối chen tiếng cầm. Lượng che chở, vụng lầm nào kể, Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời. Dẫu rằng non nước biến dời, {{số|20}}Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là! Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội, Khắp tôn thân cùng đội ơn sang. Miếu đường còn dấu chưng thường, Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh. {{số|25}}Nhờ hồng phúc đôi cành hòe quế. Đượm hơi dương, dây rễ đều tươi. Non Nam lần chúc tuổi trời, Dâng ca Thiên bảo, bày lời Hoa Phong. Những ao ước trập trùng tuổi bạc, {{số|30}}Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui. Nào hay sóng cạn bể vùi, Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly. Từ nắng hạ mưa thu trái tiết, Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên. {{số|35}}Xiết bao kinh sợ lo phiền! Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu. Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước, Phương pháp nào đổi được cùng chăng? Ngán thay máy tạo bất bằng, {{số|40}}Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan! Cuộc tụ tán, bi hoan kíp bấy? Kể xum vầy đã mấy năm nay? Lênh đênh chút phận bèo mây, Duyên kia đã vậy, thần này nương đâu? {{số|45}}Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối, Biết cậy ai giập nỗi bi thương. Trông mong luống những mơ màng, Mơ hồ bằng mộng bàng hoàng như say. Khi trận gió hoa bay thấp thoáng. {{số|50}}Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu. Vội vàng sửa áo lên chầu, Thương ôi quạnh quẽ trước lầu nhện giăng! Khi bóng trăng lá in lấp lánh. Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi. {{số|55}}Vội vàng dạo bước tới nơi. Than ôi vắng vẻ, giữa trời sương sa. Tưởng phong thái xót xa đòi đoạn. Mặt rồng sao cách gián lâu nay. Có ai chốn ấy về đây? {{số|60}}Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành! Nẻo u minh khéo chia đôi ngả. Nghĩ đòi phen nồng nã đòi phen. Kiếp này chưa trọn chữ duyên, Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa hương. {{số|65}}Nghe trước có đấng vương Thang, Võ Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao. Mà nay áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước biết bao công trình. Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn, {{số|70}}Công đức dầy, ngự vận càng lâu. Mà nay lượng cả, ơn sâu, Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần. Công dường ấy, mà nhân dường ấy, Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công? {{số|75}}Rộng cho chuộc được tuổi rồng, Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi. Buồn thay nhẽ sương rơi, gió lọt! Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa. Tưởng lời di ngữ thiết tha, {{số|80}}Khóc nào lên tiếng, thức mà cũng mê. Buồn thay nhẽ xuân về, hoa ở! Mối sầu riêng ai gỡ cho xong. Quyết liều mong vẹn chữ tòng. Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e. {{số|85}}Còn trứng nước thương vì đôi chút, Chữ {{khác|tình thâm chưa thoát được|thâm tình không nhẽ bỏ}} đi. Vậy nên nấn ná đòi khi, Hình tuy còn ở, phách thì đã theo. {{khác|Theo buổi trước ngự đèo Bồng đảo|Năm canh luống chiêm bao lẩn quất}}, {{số|90}}{{khác|Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân|Mơ tưởng còn phảng phất thiên nhan}}. {{khác|Theo xa thôi lại theo gần|Tiếng say trên gối trước màn}}. {{khác|Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa|Khi mê dường thấy, khi tàn lại không}}. {{khác|Đương theo bỗng|Nhà ngọc vũ}} tiếng {{khác|gà sực tỉnh|đồng văng vẳng}}. {{khác|Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao|Khúc quân thiều sao vắng âm hao}}! {{số|95}}Mơ màng thêm mỗi khát khao, Ngọc Kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ? Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ, Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai? Xưa sao sớm hỏi, khuya bày, {{số|100}}Nặng lòng vàng đá cạn lời tóc tơ. Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ? Tình cô đơn, ai kẻ xét đâu? Xưa sao gang tấc gần chầu. Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca. {{số|105}}Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi, Tin hàn huyên khôn hỏi thăm lênh! Nửa cung gẫy phím cầm lành. Nỗi con côi cút nỗi mình bơ vơ! Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đòi lúc, {{số|110}}Tiếng tử qui thêm giục lòng thương. Não người thay cảnh tiên hương! Dạ thường quanh quất mặt thường ngóng trông. Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược, Thấy mênh mông những nước cùng mây. {{số|115}}Đông rồi thì lại trông tây: Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà. Trông nam thấy nhạn sa lác đác, Trông bắc thời ngàn bạc màn sương! Nọ trông trời đất bốn phương, {{số|120}}Cõi tiên khơi thẳm, biết đường nào đi! Cậy ai có phép gì tới đó, Dâng vật thường xin ngỏ lòng trung; Này gương là của Hán Cung. Ơn trên xưa đã soi chung đòi ngày. {{số|125}}Duyên hảo hợp xót rày nên lẽ! Bụng ai hoài vội ghẽ vì đâu? Xin đưa gương ấy về chầu, Ngõ soi cho tỏ gót đầu trông ơn. Tưởng linh sảng nhơn nhơn còn dấu. {{số|130}}Nỗi sinh cơ có thấu cho không ? Cung xanh đang tuổi ấu sung, Di mưu sao nỡ quên lòng đoái thương ? Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm, Đầu mũ mao, mình tấm áo gai! {{số|135}}U ơ ra trước hương đài, Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào! Trong sáu viện ố đào, ủ liễu, Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê. Long đong xa cách hương quê, {{số|140}}Mong theo: lầm lối, mong về: tủi duyên! Dưới bệ ngọc hàng uyên vò võ. Cất chân tay thương khó xiết chi! Hang sâu nghe tiếng thương bi, Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân. {{số|145}}Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi! Càng trông càng một xa vời Tấc lòng thảm thiết, chín trời biết chăng? Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi. {{số|150}}Gương Hằng Nga đã bụi màu trong. Nhìn gương càng thẹn tấm lòng, Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà. Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn, Cánh hải đường đã quyện giọt sương. {{số|155}}Trông chim càng dễ đoạn trường, Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi. Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy, Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu! Phút giây bãi bể nương dâu, {{số|160}}Cuộc đời là thế biết hầu này sao ? Chữ tình nghĩa là trời cao, đất rộng, Nỗi đoạn trường còn sống, còn đau. Mấy lời tâm sự trước sau. Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho. </poem> {{PD-old}} [[Thể loại:Song thất lục bát]] ldj5hgwrapo817xwc6uzuu4mw683f0f 206160 206159 2026-09-11T10:49:47Z ~2026-49107-51 20602 206160 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Ai tư vãn - 哀思挽 | tác giả = Lê Ngọc Hân | dịch giả = | phần = | trước = | sau = | ấn bản = có | năm = | wikipedia = Ai tư vãn | ghi chú = ''Ai tư vãn'' (哀思挽) là một tác phẩm trong văn chương Việt Nam, viết bằng chữ Nôm, tương truyền do [[Tác gia:Lê Ngọc Hân|Bắc Cung Hoàng hậu]] viết khóc chồng là vua Quang Trung. }} <poem> {{số|1}}Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo. Trước thềm lan hoa héo ron ron! Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non. Xe rồng thăm thẳm bóng loan rầu rầu! {{số|5}}Nỗi lai lịch dễ hầu than thở, Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao? Sầu sầu, thảm thảm xiết bao. Sầu đầy dạt bể, thảm cao ngất trời Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc. {{số|10}}Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương. Rút dây vâng mệnh phụ hoàng, Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui. Trăm ngàn dặm quản chi non nước, Chữ “nghi gia” mừng được phải duyên. {{số|15}}Sang yêu muôn đợi ơn trên. Rỡ ràng vẻ thuý, chối chen tiếng cầm. Lượng che chở, vụng lầm nào kể, Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời. Dẫu rằng non nước biến dời, {{số|20}}Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là! Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội, Khắp tôn thân cùng đội ơn sang. Miếu đường còn dấu chưng thường, Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh. {{số|25}}Nhờ hồng phúc đôi cành hòe quế. Đượm hơi dương, dây rễ đều tươi. Non Nam lần chúc tuổi trời, Dâng ca Thiên bảo, bày lời Hoa Phong. Những ao ước trập trùng tuổi bạc, {{số|30}}Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui. Nào hay sóng cạn bể vùi, Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly. Từ nắng hạ mưa thu trái tiết, Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên. {{số|35}}Xiết bao kinh sợ lo phiền! Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu. Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước, Phương pháp nào đổi được cùng chăng? Ngán thay máy tạo bất bằng, {{số|40}}Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan! Cuộc tụ tán, bi hoan kíp bấy? Kể xum vầy đã mấy năm nay? Lênh đênh chút phận bèo mây, Duyên kia đã vậy, thần này nương đâu? {{số|45}}Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối, Biết cậy ai giập nỗi bi thương. Trông mong luống những mơ màng, Mơ hồ bằng mộng bàng hoàng như say. Khi trận gió hoa bay thấp thoáng. {{số|50}}Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu. Vội vàng sửa áo lên chầu, Thương ôi quạnh quẽ trước lầu nhện giăng! Khi bóng trăng lá in lấp lánh. Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi. {{số|55}}Vội vàng dạo bước tới nơi. Than ôi vắng vẻ, giữa trời sương sa. Tưởng phong thái xót xa đòi đoạn. Mặt rồng sao cách gián lâu nay. Có ai chốn ấy về đây? {{số|60}}Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành! Nẻo u minh khéo chia đôi ngả. Nghĩ đòi phen nồng nã đòi phen. Kiếp này chưa trọn chữ duyên, Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa hương. {{số|65}}Nghe trước có đấng vương Thang, Võ Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao. Mà nay áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước biết bao công trình. Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn, {{số|70}}Công đức dầy, ngự vận càng lâu. Mà nay lượng cả, ơn sâu, Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần. Công dường ấy, mà nhân dường ấy, Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công? {{số|75}}Rộng cho chuộc được tuổi rồng, Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi. Buồn thay nhẽ sương rơi, gió lọt! Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa. Tưởng lời di ngữ thiết tha, {{số|80}}Khóc nào lên tiếng, thức mà cũng mê. Buồn thay nhẽ xuân về, hoa ở! Mối sầu riêng ai gỡ cho xong. Quyết liều mong vẹn chữ tòng. Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e. {{số|85}}Còn trứng nước thương vì đôi chút, Chữ {{khác|tình thâm chưa thoát được|thâm tình không nhẽ bỏ}} đi. Vậy nên nấn ná đòi khi, Hình tuy còn ở, phách thì đã theo. {{khác|Theo buổi trước ngự đèo Bồng đảo|Năm canh luống chiêm bao lẩn quất}}, {{số|90}}{{khác|Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân|Mơ tưởng còn phảng phất thiên nhan}}. {{khác|Theo xa thôi lại theo gần|Tiếng say trên gối trước màn}}. {{khác|Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa|Khi mê dường thấy, khi tàn lại không}}. {{khác|Đương theo bỗng|Nhà ngọc vũ}} tiếng {{khác|gà sực tỉnh|đồng văng vẳng}}. {{khác|Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao|Khúc quân thiều sao vắng âm hao}}! {{số|95}}Mơ màng thêm mỗi khát khao, Ngọc Kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ? Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ, Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai? Xưa sao sớm hỏi, khuya bày, {{số|100}}Nặng lòng vàng đá cạn lời tóc tơ. Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ? Tình cô đơn, ai kẻ xét đâu? Xưa sao gang tấc gần chầu. Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca. {{số|105}}Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi, Tin hàn huyên khôn hỏi thăm lênh! Nửa cung gẫy phím cầm lành. Nỗi con côi cút nỗi mình bơ vơ! Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đòi lúc, {{số|110}}Tiếng tử qui thêm giục lòng thương. Não người thay cảnh tiên hương! Dạ thường quanh quất mặt thường ngóng trông. Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược, Thấy mênh mông những nước cùng mây. {{số|115}}Đông rồi thì lại trông tây: Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà. Trông nam thấy nhạn sa lác đác, Trông bắc thời ngàn bạc màn sương! Nọ trông trời đất bốn phương, {{số|120}}Cõi tiên khơi thẳm, biết đường nào đi! Cậy ai có phép gì tới đó, Dâng vật thường xin ngỏ lòng trung; Này gương là của Hán Cung. Ơn trên xưa đã soi chung đòi ngày. {{số|125}}Duyên hảo hợp xót rày nên lẽ! Bụng ai hoài vội ghẽ vì đâu? Xin đưa gương ấy về chầu, Ngõ soi cho tỏ gót đầu trông ơn. Tưởng linh sảng nhơn nhơn còn dấu. {{số|130}}Nỗi sinh cơ có thấu cho không ? Cung xanh đang tuổi ấu sung, Di mưu sao nỡ quên lòng đoái thương ? Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm, Đầu mũ mao, mình tấm áo gai! {{số|135}}U ơ ra trước hương đài, Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào! Trong sáu viện ố đào, ủ liễu, Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê. Long đong xa cách hương quê, {{số|140}}Mong theo: lầm lối, mong về: tủi duyên! Dưới bệ ngọc hàng uyên vò võ. Cất chân tay thương khó xiết chi! Hang sâu nghe tiếng thương bi, Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân. {{số|145}}Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi! Càng trông càng một xa vời Tấc lòng thảm thiết, chín trời biết chăng? Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi. {{số|150}}Gương Hằng Nga đã bụi màu trong. Nhìn gương càng thẹn tấm lòng, Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà. Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn, Cánh hải đường đã quyện giọt sương. {{số|155}}Trông chim càng dễ đoạn trường, Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi. Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy, Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu! Phút giây bãi bể nương dâu, {{số|160}}Cuộc đời là thế biết hầu này sao ? Chữ tình nghĩa là trời cao, đất rộng, Nỗi đoạn trường còn sống, còn đau. Mấy lời tâm sự trước sau. Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho. </poem> {{PD-old}} [[Thể loại:Song thất lục bát]] odk1iz2eewjny7gc48sxnmzzoc94ow5 Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949 114 20858 206155 206056 2026-09-11T09:33:40Z Hiyuune 17482 Restored revision 203640 by [[Special:Contributions/Leeaan|Leeaan]] ([[en:w:User:BrandonXLF/Restorer|Restorer]]) 206155 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hiệp định Élysée | tác giả = Vincent Auriol | ngôn ngữ = en | bản gốc = | phần = '''Thư chính''' | trước = [https://mjp.univ-perp.fr/constit/vn1946.htm#1948 Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948] | sau = [https://mjp.univ-perp.fr/constit/vn1954.htm Hiệp ước Matignon 1954] | ấn bản = có | năm = 1949 | ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ngày 8 tháng 3 năm 1949, chính thức hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm trước, gồm một thư chính và hai thư phụ được ký giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol. Hiệp định công nhận Việt Nam độc lập trên danh nghĩa khi thay thế hiệp định 1884 giữa hai nước, nó bãi bỏ các xứ bảo hộ Bắc Kỳ và Trung Kỳ và mở đường cho xứ thuộc địa Nam Kỳ quay trở về Việt Nam, Quốc gia Việt Nam được thành lập và gia nhập Liên hiệp Pháp với hiệp định này. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949, nó được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp ký thông qua ngày 2 tháng 2 cùng năm. Quân đội Pháp vẫn còn ở lại Việt Nam nhưng không còn là quân đội thực dân của Pháp nữa mà là quân đội Liên hiệp Pháp để bảo vệ Quốc gia Việt Nam, một thành viên độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Đầu năm 1950, Quốc gia Việt Nam được 35 quốc gia công nhận. Nó tham gia nhiều tổ chức quốc tế và trở thành quan sát viên Liên Hợp Quốc vào năm 1952. Dù Quốc gia Việt Nam còn lệ thuộc Pháp, hiệp định là hành lang pháp lý để trao dần quyền tự chủ theo lộ trình, lộ trình được hoàn thành khi hai bên ký Hiệp ước Matignon ngày 4 tháng 6 năm 1954. Với Hiệp định Genève hơn một tháng sau, Quốc gia Việt Nam chỉ còn kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17. Quốc gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng hoà vào tháng 10 năm 1955 và rời khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12.}} {{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}} '''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:''''' {{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949 }} Thưa Hoàng Thượng, Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài. Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu. Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này. Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây. ===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM=== Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt). Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ. Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp. Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây. Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng. Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ. ===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO=== Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa. Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp. Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam. Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam. Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp. Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam. Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này. ===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ=== Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài. Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam. Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp. Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp. Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây. Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam. ===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC=== Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp. Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản. Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam. ===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP=== Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc. Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây: # Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”. # Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội. # Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp. Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng. Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên. Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương. Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này. ===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA=== Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này. Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp. Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt. Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt. Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan. Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn. Trong giảng dạy truyền thống: :a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp :b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định. Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp. Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan. Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng: Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam. Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây: - Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang. - Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia. - Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế. - Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học. - Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949. '''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau. Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt. ===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH=== Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này. Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp. Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam. Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây: :a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia; :b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép; :c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động. Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy. Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng. Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế. Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương. Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào. Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên. Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương. Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh. Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể. Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây: # Dịch vụ về phát thanh # Kiểm soát di trú #Thương mại quốc tế và quan thuế # Kho bạc # Kế hoạch trang thiết bị Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo. Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc. Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần. Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp. Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi. {{văn|canh lề=right| Vincent Auriol }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] ld9gv9q1xx1qc8kj2dkbfqzykklpbpg Tác gia:Lê Trọng Hoàng - Nguyễn Thế Hào 102 72458 206147 2026-09-11T05:00:35Z ~2026-49107-51 20602 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “Tên: Lê Trọng Hoàng Năm sinh: 1990 Năm mất: 2012 Đã dịch 1 bài thơ.” 206147 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng Năm sinh: 1990 Năm mất: 2012 Đã dịch 1 bài thơ. ipa2orlefuupltxw43j2fe8hvk8ktxi 206149 206147 2026-09-11T05:05:07Z ~2026-49107-51 20602 206149 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2012<br> Đã dịch 1 bài thơ.<br> Tiểu sử: Không rõ 94pxqt12gswyu435q8yge5pgbtpbffs 206150 206149 2026-09-11T05:09:26Z ~2026-49107-51 20602 206150 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2012<br> Đã dịch 1 bài thơ.<br> Tiểu sử: Không rõ<br> Tên: Nguyễn Thế Hào<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: Còn sống chưa chết như dịch giả trên<br> Đã dịch 1 bài thơ cùng Lê Trọng Hoàng<br> Tiểu sử: Nghịch tử họ Nguyễn còn lại không rõ. savmwvw34swllburdbf18ew63y91esl 206151 206150 2026-09-11T05:12:48Z ~2026-49107-51 20602 206151 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2012(Tử vong do ung thư phổi)<br> Đã dịch 1 bài thơ.<br> Tiểu sử: Không rõ<br> Tên: Nguyễn Thế Hào<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: Còn sống chưa chết như dịch giả trên<br> Đã dịch 1 bài thơ cùng Lê Trọng Hoàng<br> Tiểu sử: Nghịch tử họ Nguyễn còn lại không rõ. rq3eq8753823ny7r4a686whstmixrp4 206152 206151 2026-09-11T05:13:49Z ~2026-49118-14 20603 206152 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2012(Tử vong do ung thư phổi)<br> Đã dịch 1 bài thơ.<br> Tiểu sử: Nghịch tử họ Lê, thái tử giàu có vùng đất unknown, còn lại không rõ.<br> Tên: Nguyễn Thế Hào<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: Còn sống chưa chết như dịch giả trên<br> Đã dịch 1 bài thơ cùng Lê Trọng Hoàng<br> Tiểu sử: Nhà thông thái họ Nguyễn, TRUE CHAD mạnh nhất lịch sử với IQ trên 100.000.<br> s8m5c0gxdgc8awgdt1v4474szduuyjj 206153 206152 2026-09-11T05:16:33Z ~2026-49118-14 20603 206153 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2012(Tử vong do ung thư phổi, di căn đến tinh hoàn sau 3 tháng lọ không kiểm soát)<br> Đã dịch 1 bài thơ.<br> Tiểu sử: Nghịch tử họ Lê, thái tử giàu có vùng đất unknown, còn lại không rõ.<br> Tên: Nguyễn Thế Hào<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: Còn sống chưa chết như dịch giả trên<br> Đã dịch 1 bài thơ cùng Lê Trọng Hoàng<br> Tiểu sử: Nhà thông thái họ Nguyễn, TRUE CHAD mạnh nhất lịch sử với IQ trên 100.000.<br> 6bxewcyl3cmm06hv1oedylqbxbf99kz 206154 206153 2026-09-11T08:25:23Z ~2026-49107-51 20602 206154 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2012(Tử vong do ung thư phổi, di căn đến tinh hoàn sau 3 tháng lọ không kiểm soát)<br> Đã dịch 1 bài thơ.<br> Tiểu sử: Nghịch tử họ Lê, thái tử giàu có vùng đất unknown, còn lại không rõ.<br> Biệt danh: Lê Mush, Lê Trọng Lọ, Lê Gay Lọ Tên: Nguyễn Thế Hào<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: Còn sống chưa chết như dịch giả trên<br> Đã dịch 1 bài thơ cùng Lê Trọng Hoàng<br> Tiểu sử: Nhà thông thái họ Nguyễn, TRUE CHAD mạnh nhất lịch sử với IQ trên 100.000.<br> Biệt danh: Hào Lắc Tên: Bùi Nam Khánh Năm sinh: 1990 Năm mất: 2026 (chết não do não cứt) Cộng sự của 2 dịch giả trên cùng thành lập Hội Dịch Giả Lọ Tiểu sử: kid Biệt Danh: Khó Chánh k2e81jc228yzgqxnkpdx8m8l2vq0zz5 206156 206154 2026-09-11T10:39:49Z ~2026-49107-51 20602 206156 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2012(Tử vong do ung thư phổi, di căn đến tinh hoàn sau 3 tháng lọ không kiểm soát)<br> Đã dịch 1 bài thơ.<br> Tiểu sử: Nghịch tử họ Lê, thái tử giàu có vùng đất unknown, còn lại không rõ.<br> Biệt danh: Lê Mush, Lê Trọng Lọ, Lê Gay Lọ Tên: Nguyễn Thế Hào<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: Còn sống chưa chết như dịch giả trên<br> Đã dịch 1 bài thơ cùng Lê Trọng Hoàng<br> Tiểu sử: Nhà thông thái họ Nguyễn, TRUE CHAD mạnh nhất lịch sử với IQ trên 100.000.<br> Biệt danh: Hào Lắc Tên: Bùi Nam Khánh<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2026 (chết não do não cứt)<br> Cộng sự của 2 dịch giả trên cùng thành lập Hội Dịch Giả Lọ<br> Tiểu sử: kid<br> Biệt Danh: Khó Chánh<br> hvmogkfhm3ce87314ngr9fg1rfsb3p6 206157 206156 2026-09-11T10:40:26Z ~2026-49107-51 20602 206157 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2012(Tử vong do ung thư phổi, di căn đến tinh hoàn sau 3 tháng lọ không kiểm soát)<br> Đã dịch 1 bài thơ.<br> Tiểu sử: Nghịch tử họ Lê, thái tử giàu có vùng đất unknown, còn lại không rõ.<br> Biệt danh: Lê Mush, Lê Trọng Lọ, Lê Gay Lọ Tên: Nguyễn Thế Hào<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: Còn sống chưa chết như dịch giả trên<br> Đã dịch 1 bài thơ cùng Lê Trọng Hoàng<br> Tiểu sử: Nhà thông thái họ Nguyễn, TRUE CHAD mạnh nhất lịch sử với IQ trên 100.000.<br> Biệt danh: Hào Lắc Tên: Bùi Nam Khánh<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 1989 (chết não do não cứt)<br> Cộng sự của 2 dịch giả trên cùng thành lập Hội Dịch Giả Lọ<br> Tiểu sử: kid<br> Biệt Danh: Khó Chánh<br> i8ykzxolc7e5t88bep78dh1nfk1tcoe 206158 206157 2026-09-11T10:40:41Z ~2026-49107-51 20602 206158 wikitext text/x-wiki Tên: Lê Trọng Hoàng<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 2012(Tử vong do ung thư phổi, di căn đến tinh hoàn sau 3 tháng lọ không kiểm soát)<br> Đã dịch 1 bài thơ.<br> Tiểu sử: Nghịch tử họ Lê, thái tử giàu có vùng đất unknown, còn lại không rõ.<br> Biệt danh: Lê Mush, Lê Trọng Lọ, Lê Gay Lọ<br> Tên: Nguyễn Thế Hào<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: Còn sống chưa chết như dịch giả trên<br> Đã dịch 1 bài thơ cùng Lê Trọng Hoàng<br> Tiểu sử: Nhà thông thái họ Nguyễn, TRUE CHAD mạnh nhất lịch sử với IQ trên 100.000.<br> Biệt danh: Hào Lắc Tên: Bùi Nam Khánh<br> Năm sinh: 1990<br> Năm mất: 1989 (chết não do não cứt)<br> Cộng sự của 2 dịch giả trên cùng thành lập Hội Dịch Giả Lọ<br> Tiểu sử: kid<br> Biệt Danh: Khó Chánh<br> ekrbj8c16xrjqpc9h1y4irejlxbpguk