Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.47.0-wmf.20 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Sự kiện Thảo luận Sự kiện Đề tài Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 0 3156 206208 205922 2026-09-23T00:37:32Z ~2026-51080-03 20650 /* Liên kết ngoài */ Liên kết hỏng nên tôi thay nó bằng một nguồn khác 206208 wikitext text/x-wiki {{đầu đề |tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa |tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa |năm=1956 |dịch giả= |phần= |trước=[[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] |sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]] |wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 |ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến thời Đệ nhất [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956 và được Tổng thống Ngô Đình Diệm ký ban hành 6 ngày sau. Bản hiến pháp bị bãi bỏ vào năm 1963 sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ nền Đệ nhất Cộng hoà và sẽ được thay thế bằng một bản mới 4 năm sau. }} __NOTOC__ ===LỜI MỞ ĐẦU=== Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo; Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy; Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia; Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến: Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan; Nguyện vọng ấy là: Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị; Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc; Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị; Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng; Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện. Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây: ==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản== ===Điều 1=== :Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân. ===Điều 2=== :Chủ quyền thuộc về toàn dân. ===Điều 3=== :Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử. :Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa. :Tổng thống lãnh đạo Quốc dân. ===Điều 4=== :Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập. ===Điều 5=== :Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ. :Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể. :Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ. :Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật. ===Điều 6=== :Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người. ===Điều 7=== :Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp. ===Điều 8=== :Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc. :Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng. ==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân== ===Điều 9=== :Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn. ===Điều 10=== :Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép. :Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình. ===Điều 11=== :Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách. ===Điều 12=== :Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng. :Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung. :Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép. ===Điều 13=== :Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng. :Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng. ===Điều 14=== :Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau. :Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm. ===Điều 15=== :Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội. ===Điều 16=== :Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa. :Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực. ===Điều 17=== :Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục. ===Điều 18=== :Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình. ===Điều 19=== :Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng. ===Điều 20=== :Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội. :Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích. ===Điều 21=== :Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp. ===Điều 22=== :Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế. :Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ. :Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng. ===Điều 23=== :Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định. :Công chức không có quyền đình công. :Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể. :Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy. ===Điều 24=== :Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác. ===Điều 25=== :Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi. :Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình. ===Điều 26=== :Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí. :Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn. :Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn. :Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định. :Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận. ===Điều 27=== :Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật. :Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật. ===Điều 28=== :Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định. :Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng. :Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền. ===Điều 29=== :Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp. :Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ. :Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định. :Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình. == THIÊN THỨ BA: Tổng thống == === Điều 30 === :Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống. :Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách. ===Điều 31=== :Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây: :# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp. :# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm. :# Đủ 40 tuổi. :# Hưởng các quyền công dân. :Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không. ===Điều 32=== :Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa. ===Điều 33=== :Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy. :Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây: :# Mệnh chung. :# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa. :# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội. :# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81. ===Điều 34=== :Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt. :Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ. :Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội. ===Điều 35=== :Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế. :Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc. ===Điều 36=== :Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước. ===Điều 37=== :Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt. :Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự. :Tổng thống ban các loại huy chương. :Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án. ===Điều 38=== :Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ. :Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy. :Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt. ===Điều 39=== :Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp. :Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội. :Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ. ===Điều 40=== :Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng. ===Điều 41=== :Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy. :Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật. ===Điều 42=== :Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật. ===Điều 43=== :Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau. :Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách. :Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách. ===Điều 44=== :Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó. ===Điều 45=== :Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau: :Tôi long trọng tuyên thệ: :Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống; :Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp; :Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng. ===Điều 46=== :Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống. ===Điều 47=== :Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp. ==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội== ;Chương Một. - Dân biểu ===Điều 48=== :Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử. ===Điều 49=== :Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định. ===Điều 50=== :Có quyền ứng cử Dân biểu những người: :# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp; :# Hưởng các quyền công dân; :# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu; :# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử. :Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên. ===Điều 51=== :Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử. :Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt. ===Điều 52=== :Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng. :Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm. ===Điều 53=== :Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ. :Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng. :Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội. :Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng. :Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền. ===Điều 54=== :Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội. :Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về. ;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội. === Điều 55 === :Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế. ;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp ===Điều 56=== :Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật. ===Điều 57=== :Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn. :Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn. ===Điều 58=== :Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận. :Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội. ===Điều 59=== :Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật. ===Điều 60=== :Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp. ===Điều 61=== :Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương. ;Chương Tư - Điều hành Quốc hội. ===Điều 62=== :Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường. ===Điều 63=== :Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng. ===Điều 64=== :Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội. :Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định. :Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định. :Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày. ===Điều 65=== :Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu. :Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín. ===Điều 66=== :Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này. :Quốc hội có trọn quyền định đoạt. ===Điều 67=== :Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết. :Quốc hội chỉ định các Ủy ban. ===Điều 68=== :Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau: :Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng; :Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng; :Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật; :Thành phần và quyền hạn các Ủy ban. ===Điều 69=== :Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu. == THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán == === Điều 70=== :Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án. ===Điều 71=== :Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia. ===Điều 72=== :Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng. ===Điều 73=== :Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định. ==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện== ===Điều 74=== :Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội. ===Điều 75=== :Đặc biệt Pháp viện gồm có: :Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án''; :Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''. :Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án. ===Điều 76=== :Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ. ===Điều 77=== :Sự khởi tố theo các điều kiện sau: :a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận; :b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận. :c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này. ===Điều 78=== :Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3. ===Điều 79=== :Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa. ===Điều 80 === :Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên. ===Điều 81=== :Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay. ==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia== === Điều 82=== :Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế. :Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học. :Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội. ===Điều 83=== :Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia. ===Điều 84=== :Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia. ==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến== ===Điều 85=== :Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh. ===Điều 86=== :Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có: :Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội. :4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử; :4 Dân biểu do Quốc hội cử. ===Điều 87=== :Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình. :Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo. ===Điều 88=== :Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy. ==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp== ===Điều 89=== :Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp. ===Điều 90=== :Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp. :Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội. ===Điều 91=== :Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống. :Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt. ===Điều 92=== :Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu. ===Điều 93=== :Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59. :Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu. == THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung == ===Điều 94=== :Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu. ===Điều 95=== :Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. :Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín. ===Điều 96=== :Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. :Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt. ===Điều 97=== :Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận. :Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên. ===Điều 98=== :Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng. {{PVCC-CPVN}} ==Liên kết ngoài== * [https://fr.scribd.com/document/941924091/HIEN-PHAP-VIET-NAM-CONG-HOA-1956 Toàn văn bản Hiến pháp] [[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]] hyguv2df54s3ymvditqrqo1leaie5gv Một bữa no 0 5542 206206 204244 2026-09-23T00:20:57Z ~2026-51078-53 20649 206206 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Một bữa no | tác giả = Nam Cao | dịch giả = | năm = 1943 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = }} {{văn| Bà lão ấy hờ con suốt một đêm. Bao giờ cũng vậy cứ hết đường đất làm ăn là bà lại hờ con. Làm như chính tự con bà nên bây giờ bà phải đói. Mà cũng đúng như thế thật. Chồng bà chết từ khi nó mới lọt lòng ra. Bà thắt lưng buộc bụng, nuôi nó từ tấm tấm, tí tí giở đi. Cũng mong để khi mình già, tuổi yếu mà nhờ. Thế mà chưa cho mẹ nhờ đưọc một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Công bà thành công toi. Con vợ nó không phải giống người. Nó có biết thương mẹ già đâu! Chồng chết vừa mới xong tang, nó đã vội vàng đi lấy chồng ngay, nó đem đứa con gái lên năm giả lại bà. Thành thử bà đã già ngót bảy mươi, lại còn phải làm còm cọm, làm mà nuôi đứa con gái ấy cho chúng nó. Hết xương, hết thịt vì con, vì cháu, mà nào được trông mong gì? Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bào: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi. {{ba sao}} Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu, còn đuợc ngày ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bởi thế bà lại đem con ra hờ. Bà hờ thê thảm lắm. Bà hờ suốt đêm. Bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng, bà không còn sức mà khóc nữa. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đói, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi. {{ba sao}} Cứ đi được một quãng ngắn, bà lại phải ngồi xuống nghỉ. Nghỉ một lúc lâu, trống ngực bà mới hết đánh, tai bà bớt lùng bùng, mắt bà bớt tối tăm, người tàm tạm thôi quay quắt. Bà nghỉ tất cả năm sáu quãng. Thành thử đến tận non trưa, bà mới tới nhà mình định tới: ấy là nhà bà phó Thụ, nuôi cái đĩ. Bà quen gọi như vậy, ngay từ khi nó còn nhỏ; cái đĩ tức là đứa con của anh con trai đã cướp công bà để về với đất, yên thân mà mặc tất cả những gì còn lại. Anh con trai chẳng còn phải khổ sở như bà ngày nay. Bà nghĩ đến con, để mà ghen với nó thêm lần nữa, trong khi ngồi nghỉ ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ. Ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ, có một cây sung lớn. Bà tựa lưng vào gốc. Từ đầu ngõ vào đến nhà, còn những hai lần cổng. Có gọi thật to, ở trong nhà mới nghe tiếng. Mà bà thì còn hơi sức đâu mà gọi? Tiếng bà bải hải. Hơi nói to một chút, nó đã ra đằng lỗ tai. Vả lại, chó nhà giàu dữ lắm. Nhà bà phó Thụ có những hai con chó đẫy đà, lực lưỡng. Lúc thiến, người ta rắc mảnh chai tán nhỏ vào. Vết thiến lành dúm mảnh chai ở bên trong gây cho con vật một nỗi đau ngứa ngáy, suốt đời không khỏi. Nỗi đau làm tội nó. Nó bứt rứt, khổ sở, cáu kỉnh, nên bạ thấy người nào lại nào cũng lăn xả vào chân, hoặp một miếng, ray thịt người ta cho hả giận. Trời ơi! Những con chó nhà bà phó Thụ, chúng dữ ghê gớm lắm. Bà lão nghĩ đến chúng còn chết khiếp. Cái lần bà đưa cái đĩ vào, một người nhà phải cầm một cái gậy to tướng ra đe. Ấy thế mà cả ba con cũng hồng hộc chạy ra. Chúng vây lấy bà già rách rưới. Con nào cũng uốn cong cái lưng xuống, hếch cái mõm đen thui lên, nhe ra những chiếc răng trắng hơn hớn và nhọn sắc. Bị cái gậy của người nhà cản lại, chúng càng tức tối. Chúng lồng lộn chung quanh. Chúng nhảy chồm lên. Chúng ngoạm những cái cột giậu, kêu sồn sột. Chúng lay thật mạnh, hục hặc như muốn bẻ gãy cái cột, để lao vào đầu nguời ta… Bà lão với đứa cháu cứ rúm cả tay chân lại. Cháu nép vào bà, bà nép vào người bà phó Thụ. Chị người nhà thì luôn tay vụt cái gậy bên này, bên nọ, đằng sau, đằng trước, và quát mắng. Ấy thế mà một con chó còn xông vào được, và chỉ một tí nữa nó xơi chân bà một miếng. Nhưng chị người nhà đánh kịp. Nó mới đấm được mõm vào cái bắp chân gầy đét của bà lão thôi. Hú hồn!… Bây giờ dám gọi sao? Chó thính tai mà lại rất mau chân. Chúng xộc cả ra thì khốn. Ấy thế là bà lão đành ngồi đợi dịp. Cái đĩ bế em ra ngõ chơi chẳng hạn… Hay là có người nào trong nhà đi đâu… Hay là có người đàn ông khoẻ mạnh nào đến nhà bà phó Thụ, để cho bà đi ghẹ… Bà ngồi rỗi, tưởng tượng ra đủ mọi cái may mắn tương tự thế. Chỉ còn mỗi một cái bà chưa nghĩ đến: ấy là lúc chính bà phó Thụ ra, hoặc đi đâu về. Thì chính bà phó Thụ đi chợ về. Mới thoạt trông thấy bà lão, bà tưởng là một con mẹ ăn mày. Bà hơi cau mặt: - Ai kia? Ai ngồi làm gì kia? Chó nó ra, nó lôi mỡ ra cho đấy. Sao mà bạo thế? Bà lão quay lại mỉm cười móm mém: - Bẩm bà đi chợ về!… Bà phó Thụ mở to đôi mắt đỏ ngầu, nhìn kĩ hơn một chút. Bà nhận ra bà cái đĩ ở. Tức thì mặt bà nguỷu xuống. Bà lão này còn muốn quấy quả gì nữa đây? Để vòi tiền thêm chăng? Bà lão rên một tiếng và chống tay lên đầu gối, bẩy rẩy đứng lên. Bà phó hỏi: - Bà đi đâu thế? Bà lão lại rên tiếng nữa để mở đầu câu nói (bà rên cũng như một vài người khác bạ lúc nào cũng thở dài. Cái ấy thành thói quen). - Bẩm bà, con lên chơi với cháu. Lâu lắm, cháu không được về, con nhớ cháu quá! - Úi dào ôi! Vẽ cái con chuột chết! Nó phải làm chứ có rỗi đâu mà bà chơi với nó? Nhà tôi không có cơm cho nó ăn để nó cứ nồng nỗng nó chơi. Bà muốn chơi với nó thì đem ngay nó về nhà, tìm cơm cho nó ăn, bà cháu chơi với nhau vài ba tháng cho thật chán đi, rồi hãy bảo nó lên. Tôi không giữ. Bà tưởng nó đã làm giàu làm có cho tôi rồi đấy, hẳn? Bà cần phải nói ráo riết ngay để chặn họng, không cho bà lão mở mồm vòi vĩnh. Bà lão bị những lời tàn nhẫn ấy hắt vào mặt quả nhiên không còn nói sao được nữa. Bà cúi đầu, như một con mẹ ăn cắp lúa, bị tuần sương tóm được. Bà phó chiếp chiếp mồm luôn mấy cái, rồi vác mặt lên trời mà bảo: - Chơi với bời! Cái lúc nó mới đến, trông như con giun chết, cạy gỉ mũi còn chưa sạch thì không thấy chơi với bời. Người ta nuôi mãi, bây giờ mới trơn lông đỏ da một tí, đã phải đến mà giở quẻ. Tưởng báu ngọc lắm đấy! Tưởng người ta đã phải giữ khư khư lấy đấy!… Úi chào! Có phải mả tổ nhà người ta đâu mà người ta giữ? Muốn bắt nó về, cho nhà nào nó nuôi làm bà cô tổ nhà nó nó thì cứ bắt. Ai người ta thiết? Cứ trả lại tiền người ta!… Bà lão rưng rưng nước mắt. Khốn nạn, bà có ý quắt quéo thế đâu? Bà lão mếu máo: - Bẩm bà, bà dạy thế thật oan cho con quá. Trời để con sống bằng này tuổi đầu, con còn dám lừa lọc hay sao? Thật có trời trên kia làm chứng, nếu con quả định đến đây để dỗ dành cháu về để đem cho người khác thì trời cứ vật chết con đi! Con chỉ xin bà cho được trông thấy cháu, bà cháu chơi với nhau một lúc. Cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con cũng tưởng đi chơi dối già một bận… - Nó không đuợc rỗi mà chơi với bà. Chẳng chơi bời gì cả! Bà đã trót lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm. Bận sau thì đừng vẽ con khỉ nữa. Nhà tôi không có thói phép cho chúng nó như thế được. Con tôi đi học tận Hà Nội, dễ tôi cũng phải nay ra chơi, mai ra chơi với nó đấy! Đã đi ở mà còn không biết phận… Chơi với bời!… Môi bà lại chiệp chiệp và xìa ra… Cái đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít. Nó cười rồi nó khóc chẳng biết vì sao cả. Nhưng đôi mắt khoằm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó. Nó tự nhiên ngượng nghịu. Nó không dám xoắn xuýt bà nó nữa. Nó cúi đầu, khẽ hỏi: - Bà đi đâu đấy? - Bà đến xin bà phó một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm. Câu nói rất thật thà ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa đùa nửa thật. Một cách lấp liếm cái ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái đĩ bế em, dắt bà ra đầu chái, để không bị ai nhìn nữa… - Da bà xấu quá! Sao bà gầy thế? - Chỉ đói đấy thôi, cháu ạ. Chẳng sao hết. - Lớp này bà ở cho nhà ai? - Chẳng ở với nhà ai. - Thế lại đi buôn à? - Vốn đâu mà đi buôn? Với lại có vốn cũng không đi được. Người nhọc lắm. - Thế thì lấy gì làm ăn? - Chỉ nhịn thôi chứ lấy gì mà ăn! Bà cháu mới kịp trao đổi với nhau từng ấy câu thì bà phó đã the thé hỏi: - Nó bế em đi đâu rồi? Ấy là dấu hiệu bà sắp gọi. Cái đĩ vội đặt em xuống đất, bảo: - Bà giữ nó hộ con một tí. Nó cởi dải yếm lấy ra một cái túi rút con con. Trong túi xóc xách mấy đồng trinh. Nó rút ra, đếm lấy hai xu, giúi cho bà… - Con biếu bà để bà ăn bánh đúc. Bà về đi! Tiếng bà phó giục: - Cái đĩ đi đâu rồi? Đem em về đây, rồi quét nhà, dọn cơm. - Vâng! Nó tất tưởi bế em chạy về. Bà lão hãi chó, lẽo đẽo đi theo cháu. Bà phó trông thấy mà lộn ruột. Bà xa xả: - Bà đừng theo đít nó thế. Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm, Khiếp thật thôi! - Vơơơng!… Bà lão “vâng” thành một tiếng rên. Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó ngay xuống đất. Bà phó cất lấy con. Cái đĩ lụt cụt chạy xuống nhà dưới. Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch… Bà phó bảo: - Bà xuống dưới này mà ăn cơm. Bà bế con ra. Bà lão theo sau. Tiếng khung cửi đã ngừng. Mấy cô dệt cửi đều là con gái hoặc con nuôi bà phó Thụ, đang tới tấp, cô xới cơm, cô bỏ rau, cô sẻ mắm, chung quanh cái mâm gỗ đặt ngay trên mặt đất. Cả nhà quây quần vào, chỉ ngồi có một mâm. Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. Trông bà so đũa mà ngứa mắt! Bà phó muốn giật xoét lấy làm thật nhanh cho đỡ bực. Nhưng bà nhịn đuợc. Bà chỉ chép miệng và lừ lừ đôi mắt, tỏ ý khó chịu. Cái đĩ hiểu nên chỉ nhìn xuống đất. Nó giận bà nó lắm. Nó đã bảo bà nó về đi mà bà nó không chịu về… Bà phó chẳng nói nửa lời, bê lấy bát cơm ăn. Mặt bà vẫn hầm hầm. Lũ con gái, con nuôi, con ở, biết hiệu, vội vàng cũng làm theo. Chậm một tí, bà chửi cho phải biết! Có khi bà hắt cả bát cơm vào mặt. Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên: - Mời bà phó… Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát: - Thôi, bà ăn đi! Đừng mời! Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cắm cúi, mải mốt. Đôi đũa này lên lại có đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lập cập quá, bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát. Bà phó lại cau mặt, gắt: - Sẻ riêng cho bà ấy một bát mắm, để ra cạnh mâm cho bà ấy! Một cô vội làm ngay. Từ đấy, bà lão dễ xoay xở hơn một chút. Nhưng bà mới ăn chưa hết hai lượt cơm thì bà phó đã quăng bát đũa xuống đất. Chỉ một thoáng sau, mọi nguời khác cũng thôi. Họ thôi gần đều một lượt. In như bà mẹ ra hiệu cho họ vậy. Thật ra thì lệ mỗi người chỉ được ăn có ba vực cơm thôi. Mà phải ăn nhanh để còn làm. Nhưng bà lão nhà nghèo, đã quen sống vô tổ chức, làm gì hiểu trong những nhà thừa thóc, thừa tiền, lại có sự hạn chế miệng ăn như vậy? Bà đoán rằng họ khảnh ăn. No dồn, đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng người no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật. Cái đĩ ngượng quá, duỗi cổ ra, trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà con nuốt nhái. Rồi nó buông bát đũa. Bà bảo cháu: - Ăn nữa đi, con ạ. Nồi còn cơm đấy. Đưa bát bà xới cho. Nó chưa kịp trả lời thì bà phó đã mắng át đi: - Mặc nó! Nó không ăn nữa! Bà ăn bằng nào cho đủ thì cứ ăn! À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì khí tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé cháu: - Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé? - Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nũa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì? Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoả thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!… Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi: - Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào!… }} [[Thể loại:Truyện ngắn]] Cỏ tí tvj523w8qf05ynqtw6f0yg1piq3ymru 206207 206206 2026-09-23T00:23:40Z ~2026-51078-53 20649 206207 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Một bữa no | tác giả = Nam Cao | dịch giả = | năm = 1943 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = }} {{văn| Bà lão ấy hờ con suốt một đêm. Bao giờ cũng vậy cứ hết đường đất làm ăn là bà lại hờ con. Làm như chính tự con bà nên bây giờ bà phải đói. Mà cũng đúng như thế thật. Chồng bà chết từ khi nó mới lọt lòng ra. Bà thắt lưng buộc bụng, nuôi nó từ tấm tấm, tí tí giở đi. Cũng mong để khi mình già, tuổi yếu mà nhờ. Thế mà chưa cho mẹ nhờ đưọc một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Công bà thành công toi. Con vợ nó không phải giống người. Nó có biết thương mẹ già đâu! Chồng chết vừa mới xong tang, nó đã vội vàng đi lấy chồng ngay, nó đem đứa con gái lên năm giả lại bà. Thành thử bà đã già ngót bảy mươi, lại còn phải làm còm cọm, làm mà nuôi đứa con gái ấy cho chúng nó. Hết xương, hết thịt vì con, vì cháu, mà nào được trông mong gì? Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bào: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi. {{ba sao}} Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu, còn đuợc ngày ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bởi thế bà lại đem con ra hờ. Bà hờ thê thảm lắm. Bà hờ suốt đêm. Bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng, bà không còn sức mà khóc nữa. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đói, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi. {{ba sao}} Cứ đi được một quãng ngắn, bà lại phải ngồi xuống nghỉ. Nghỉ một lúc lâu, trống ngực bà mới hết đánh, tai bà bớt lùng bùng, mắt bà bớt tối tăm, người tàm tạm thôi quay quắt. Bà nghỉ tất cả năm sáu quãng. Thành thử đến tận non trưa, bà mới tới nhà mình định tới: ấy là nhà bà phó Thụ, nuôi cái đĩ. Bà quen gọi như vậy, ngay từ khi nó còn nhỏ; cái đĩ tức là đứa con của anh con trai đã cướp công bà để về với đất, yên thân mà mặc tất cả những gì còn lại. Anh con trai chẳng còn phải khổ sở như bà ngày nay. Bà nghĩ đến con, để mà ghen với nó thêm lần nữa, trong khi ngồi nghỉ ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ. Ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ, có một cây sung lớn. Bà tựa lưng vào gốc. Từ đầu ngõ vào đến nhà, còn những hai lần cổng. Có gọi thật to, ở trong nhà mới nghe tiếng. Mà bà thì còn hơi sức đâu mà gọi? Tiếng bà bải hải. Hơi nói to một chút, nó đã ra đằng lỗ tai. Vả lại, chó nhà giàu dữ lắm. Nhà bà phó Thụ có những hai con chó đẫy đà, lực lưỡng. Lúc thiến, người ta rắc mảnh chai tán nhỏ vào. Vết thiến lành dúm mảnh chai ở bên trong gây cho con vật một nỗi đau ngứa ngáy, suốt đời không khỏi. Nỗi đau làm tội nó. Nó bứt rứt, khổ sở, cáu kỉnh, nên bạ thấy người nào lại nào cũng lăn xả vào chân, hoặp một miếng, ray thịt người ta cho hả giận. Trời ơi! Những con chó nhà bà phó Thụ, chúng dữ ghê gớm lắm. Bà lão nghĩ đến chúng còn chết khiếp. Cái lần bà đưa cái đĩ vào, một người nhà phải cầm một cái gậy to tướng ra đe. Ấy thế mà cả ba con cũng hồng hộc chạy ra. Chúng vây lấy bà già rách rưới. Con nào cũng uốn cong cái lưng xuống, hếch cái mõm đen thui lên, nhe ra những chiếc răng trắng hơn hớn và nhọn sắc. Bị cái gậy của người nhà cản lại, chúng càng tức tối. Chúng lồng lộn chung quanh. Chúng nhảy chồm lên. Chúng ngoạm những cái cột giậu, kêu sồn sột. Chúng lay thật mạnh, hục hặc như muốn bẻ gãy cái cột, để lao vào đầu nguời ta… Bà lão với đứa cháu cứ rúm cả tay chân lại. Cháu nép vào bà, bà nép vào người bà phó Thụ. Chị người nhà thì luôn tay vụt cái gậy bên này, bên nọ, đằng sau, đằng trước, và quát mắng. Ấy thế mà một con chó còn xông vào được, và chỉ một tí nữa nó xơi chân bà một miếng. Nhưng chị người nhà đánh kịp. Nó mới đấm được mõm vào cái bắp chân gầy đét của bà lão thôi. Hú hồn!… Bây giờ dám gọi sao? Chó thính tai mà lại rất mau chân. Chúng xộc cả ra thì khốn. Ấy thế là bà lão đành ngồi đợi dịp. Cái đĩ bế em ra ngõ chơi chẳng hạn… Hay là có người nào trong nhà đi đâu… Hay là có người đàn ông khoẻ mạnh nào đến nhà bà phó Thụ, để cho bà đi ghẹ… Bà ngồi rỗi, tưởng tượng ra đủ mọi cái may mắn tương tự thế. Chỉ còn mỗi một cái bà chưa nghĩ đến: ấy là lúc chính bà phó Thụ ra, hoặc đi đâu về. Thì chính bà phó Thụ đi chợ về. Mới thoạt trông thấy bà lão, bà tưởng là một con mẹ ăn mày. Bà hơi cau mặt: - Ai kia? Ai ngồi làm gì kia? Chó nó ra, nó lôi mỡ ra cho đấy. Sao mà bạo thế? Bà lão quay lại mỉm cười móm mém: - Bẩm bà đi chợ về!… Bà phó Thụ mở to đôi mắt đỏ ngầu, nhìn kĩ hơn một chút. Bà nhận ra bà cái đĩ ở. Tức thì mặt bà nguỷu xuống. Bà lão này còn muốn quấy quả gì nữa đây? Để vòi tiền thêm chăng? Bà lão rên một tiếng và chống tay lên đầu gối, bẩy rẩy đứng lên. Bà phó hỏi: - Bà đi đâu thế? Bà lão lại rên tiếng nữa để mở đầu câu nói (bà rên cũng như một vài người khác bạ lúc nào cũng thở dài. Cái ấy thành thói quen). - Bẩm bà, con lên chơi với cháu. Lâu lắm, cháu không được về, con nhớ cháu quá! - Úi dào ôi! Vẽ cái con chuột chết! Nó phải làm chứ có rỗi đâu mà bà chơi với nó? Nhà tôi không có cơm cho nó ăn để nó cứ nồng nỗng nó chơi. Bà muốn chơi với nó thì đem ngay nó về nhà, tìm cơm cho nó ăn, bà cháu chơi với nhau vài ba tháng cho thật chán đi, rồi hãy bảo nó lên. Tôi không giữ. Bà tưởng nó đã làm giàu làm có cho tôi rồi đấy, hẳn? Bà cần phải nói ráo riết ngay để chặn họng, không cho bà lão mở mồm vòi vĩnh. Bà lão bị những lời tàn nhẫn ấy hắt vào mặt quả nhiên không còn nói sao được nữa. Bà cúi đầu, như một con mẹ ăn cắp lúa, bị tuần sương tóm được. Bà phó chiếp chiếp mồm luôn mấy cái, rồi vác mặt lên trời mà bảo: - Chơi với bời! Cái lúc nó mới đến, trông như con giun chết, cạy gỉ mũi còn chưa sạch thì không thấy chơi với bời. Người ta nuôi mãi, bây giờ mới trơn lông đỏ da một tí, đã phải đến mà giở quẻ. Tưởng báu ngọc lắm đấy! Tưởng người ta đã phải giữ khư khư lấy đấy!… Úi chào! Có phải mả tổ nhà người ta đâu mà người ta giữ? Muốn bắt nó về, cho nhà nào nó nuôi làm bà cô tổ nhà nó nó thì cứ bắt. Ai người ta thiết? Cứ trả lại tiền người ta!… Bà lão rưng rưng nước mắt. Khốn nạn, bà có ý quắt quéo thế đâu? Bà lão mếu máo: - Bẩm bà, bà dạy thế thật oan cho con quá. Trời để con sống bằng này tuổi đầu, con còn dám lừa lọc hay sao? Thật có trời trên kia làm chứng, nếu con quả định đến đây để dỗ dành cháu về để đem cho người khác thì trời cứ vật chết con đi! Con chỉ xin bà cho được trông thấy cháu, bà cháu chơi với nhau một lúc. Cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con cũng tưởng đi chơi dối già một bận… - Nó không đuợc rỗi mà chơi với bà. Chẳng chơi bời gì cả! Bà đã trót lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm. Bận sau thì đừng vẽ con khỉ nữa. Nhà tôi không có thói phép cho chúng nó như thế được. Con tôi đi học tận Hà Nội, dễ tôi cũng phải nay ra chơi, mai ra chơi với nó đấy! Đã đi ở mà còn không biết phận… Chơi với bời!… Môi bà lại chiệp chiệp và xìa ra… Cái đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít. Nó cười rồi nó khóc chẳng biết vì sao cả. Nhưng đôi mắt khoằm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó. Nó tự nhiên ngượng nghịu. Nó không dám xoắn xuýt bà nó nữa. Nó cúi đầu, khẽ hỏi: - Bà đi đâu đấy? - Bà đến xin bà phó một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm. Câu nói rất thật thà ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa đùa nửa thật. Một cách lấp liếm cái ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái đĩ bế em, dắt bà ra đầu chái, để không bị ai nhìn nữa… - Da bà xấu quá! Sao bà gầy thế? - Chỉ đói đấy thôi, cháu ạ. Chẳng sao hết. - Lớp này bà ở cho nhà ai? - Chẳng ở với nhà ai. - Thế lại đi buôn à? - Vốn đâu mà đi buôn? Với lại có vốn cũng không đi được. Người nhọc lắm. - Thế thì lấy gì làm ăn? - Chỉ nhịn thôi chứ lấy gì mà ăn! Bà cháu mới kịp trao đổi với nhau từng ấy câu thì bà phó đã the thé hỏi: - Nó bế em đi đâu rồi? Ấy là dấu hiệu bà sắp gọi. Cái đĩ vội đặt em xuống đất, bảo: - Bà giữ nó hộ con một tí. Nó cởi dải yếm lấy ra một cái túi rút con con. Trong túi xóc xách mấy đồng trinh. Nó rút ra, đếm lấy hai xu, giúi cho bà… - Con biếu bà để bà ăn bánh đúc. Bà về đi! Tiếng bà phó giục: - Cái đĩ đi đâu rồi? Đem em về đây, rồi quét nhà, dọn cơm. - Vâng! Nó tất tưởi bế em chạy về. Bà lão hãi chó, lẽo đẽo đi theo cháu. Bà phó trông thấy mà lộn ruột. Bà xa xả: - Bà đừng theo đít nó thế. Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm, Khiếp thật thôi! - Vơơơng!… Bà lão “vâng” thành một tiếng rên. Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó ngay xuống đất. Bà phó cất lấy con. Cái đĩ lụt cụt chạy xuống nhà dưới. Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch… Bà phó bảo: - Bà xuống dưới này mà ăn cơm. Bà bế con ra. Bà lão theo sau. Tiếng khung cửi đã ngừng. Mấy cô dệt cửi đều là con gái hoặc con nuôi bà phó Thụ, đang tới tấp, cô xới cơm, cô bỏ rau, cô sẻ mắm, chung quanh cái mâm gỗ đặt ngay trên mặt đất. Cả nhà quây quần vào, chỉ ngồi có một mâm. Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. Trông bà so đũa mà ngứa mắt! Bà phó muốn giật xoét lấy làm thật nhanh cho đỡ bực. Nhưng bà nhịn đuợc. Bà chỉ chép miệng và lừ lừ đôi mắt, tỏ ý khó chịu. Cái đĩ hiểu nên chỉ nhìn xuống đất. Nó giận bà nó lắm. Nó đã bảo bà nó về đi mà bà nó không chịu về… Bà phó chẳng nói nửa lời, bê lấy bát cơm ăn. Mặt bà vẫn hầm hầm. Lũ con gái, con nuôi, con ở, biết hiệu, vội vàng cũng làm theo. Chậm một tí, bà chửi cho phải biết! Có khi bà hắt cả bát cơm vào mặt. Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên: - Mời bà phó… Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát: - Thôi, bà ăn đi! Đừng mời! Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cắm cúi, mải mốt. Đôi đũa này lên lại có đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lập cập quá, bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát. Bà phó lại cau mặt, gắt: - Sẻ riêng cho bà ấy một bát mắm, để ra cạnh mâm cho bà ấy! Một cô vội làm ngay. Từ đấy, bà lão dễ xoay xở hơn một chút. Nhưng bà mới ăn chưa hết hai lượt cơm thì bà phó đã quăng bát đũa xuống đất. Chỉ một thoáng sau, mọi nguời khác cũng thôi. Họ thôi gần đều một lượt. In như bà mẹ ra hiệu cho họ vậy. Thật ra thì lệ mỗi người chỉ được ăn có ba vực cơm thôi. Mà phải ăn nhanh để còn làm. Nhưng bà lão nhà nghèo, đã quen sống vô tổ chức, làm gì hiểu trong những nhà thừa thóc, thừa tiền, lại có sự hạn chế miệng ăn như vậy? Bà đoán rằng họ khảnh ăn. No dồn, đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng người no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật. Cái đĩ ngượng quá, duỗi cổ ra, trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà con nuốt nhái. Rồi nó buông bát đũa. Bà bảo cháu: - Ăn nữa đi, con ạ. Nồi còn cơm đấy. Đưa bát bà xới cho. Nó chưa kịp trả lời thì bà phó đã mắng át đi: - Mặc nó! Nó không ăn nữa! Bà ăn bằng nào cho đủ thì cứ ăn! À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì khí tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé cháu: - Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé? - Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nũa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì? Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoả thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!… Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi: - Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào!… }} [[Thể loại:Truyện ngắn]] r5tppke6asnwsmoztlz9r7vnwi6lqa4 206209 206207 2026-09-23T00:52:35Z ~2026-51078-53 20649 206209 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Một bữa no | tác giả = Nam Cao | dịch giả = | năm = 1943 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = }} {{văn| Bà lão ấy hờ con suốt một đêm. Bao giờ cũng vậy cứ hết đường đất làm ăn là bà lại hờ con. Làm như chính tự con bà nên bây giờ bà phải đói. Mà cũng đúng như thế thật. Chồng bà chết từ khi nó mới lọt lòng ra. Bà thắt lưng buộc bụng, nuôi nó từ tấm tấm, tí tí giở đi. Cũng mong để khi mình già, tuổi yếu mà nhờ. Thế mà chưa cho mẹ nhờ đưọc một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Công bà thành công toi. Con vợ nó không phải giống người. Nó có biết thương mẹ già đâu! Chồng chết vừa mới xong tang, nó đã vội vàng đi lấy chồng ngay, nó đem đứa con gái lên năm giả lại bà. Thành thử bà đã già ngót bảy mươi, lại còn phải làm còm cọm, làm mà nuôi đứa con gái ấy cho chúng nó. Hết xương, hết thịt vì con, vì cháu, mà nào được trông mong gì? Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bào: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi. {{ba sao}} Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu, còn đuợc ngày ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bởi thế bà lại đem con ra hờ. Bà hờ thê thảm lắm. Bà hờ suốt đêm. Bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng, bà không còn sức mà khóc nữa. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đói, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi. {{ba sao}} Cứ đi được một quãng ngắn, bà lại phải ngồi xuống nghỉ. Nghỉ một lúc lâu, trống ngực bà mới hết đánh, tai bà bớt lùng bùng, mắt bà bớt tối tăm, người tàm tạm thôi quay quắt. Bà nghỉ tất cả năm sáu quãng. Thành thử đến tận non trưa, bà mới tới nhà mình định tới: ấy là nhà bà phó Thụ, nuôi cái đĩ. Bà quen gọi như vậy, ngay từ khi nó còn nhỏ; cái đĩ tức là đứa con của anh con trai đã cướp công bà để về với đất, yên thân mà mặc tất cả những gì còn lại. Anh con trai chẳng còn phải khổ sở như bà ngày nay. Bà nghĩ đến con, để mà ghen với nó thêm lần nữa, trong khi ngồi nghỉ ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ. Ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ, có một cây sung lớn. Bà tựa lưng vào gốc. Từ đầu ngõ vào đến nhà, còn những hai lần cổng. Có gọi thật to, ở trong nhà mới nghe tiếng. Mà bà thì còn hơi sức đâu mà gọi? Tiếng bà bải hải. Hơi nói to một chút, nó đã ra đằng lỗ tai. Vả lại, chó nhà giàu dữ lắm. Nhà bà phó Thụ có những hai con chó đẫy đà, lực lưỡng. Lúc thiến, người ta rắc mảnh chai tán nhỏ vào. Vết thiến lành dúm mảnh chai ở bên trong gây cho con vật một nỗi đau ngứa ngáy, suốt đời không khỏi. Nỗi đau làm tội nó. Nó bứt rứt, khổ sở, cáu kỉnh, nên bạ thấy người nào lại nào cũng lăn xả vào chân, hoặp một miếng, ray thịt người ta cho hả giận. Trời ơi! Những con chó nhà bà phó Thụ, chúng dữ ghê gớm lắm. Bà lão nghĩ đến chúng còn chết khiếp. Cái lần bà đưa cái đĩ vào, một người nhà phải cầm một cái gậy to tướng ra đe. Ấy thế mà cả ba con cũng hồng hộc chạy ra. Chúng vây lấy bà già rách rưới. Con nào cũng uốn cong cái lưng xuống, hếch cái mõm đen thui lên, nhe ra những chiếc răng trắng hơn hớn và nhọn sắc. Bị cái gậy của người nhà cản lại, chúng càng tức tối. Chúng lồng lộn chung quanh. Chúng nhảy chồm lên. Chúng ngoạm những cái cột giậu, kêu sồn sột. Chúng lay thật mạnh, hục hặc như muốn bẻ gãy cái cột, để lao vào đầu nguời ta… Bà lão với đứa cháu cứ rúm cả tay chân lại. Cháu nép vào bà, bà nép vào người bà phó Thụ. Chị người nhà thì luôn tay vụt cái gậy bên này, bên nọ, đằng sau, đằng trước, và quát mắng. Ấy thế mà một con chó còn xông vào được, và chỉ một tí nữa nó xơi chân bà một miếng. Nhưng chị người nhà đánh kịp. Nó mới đấm được mõm vào cái bắp chân gầy đét của bà lão thôi. Hú hồn!… Bây giờ dám gọi sao? Chó thính tai mà lại rất mau chân. Chúng xộc cả ra thì khốn. Ấy thế là bà lão đành ngồi đợi dịp. Cái đĩ bế em ra ngõ chơi chẳng hạn… Hay là có người nào trong nhà đi đâu… Hay là có người đàn ông khoẻ mạnh nào đến nhà bà phó Thụ, để cho bà đi ghẹ… Bà ngồi rỗi, tưởng tượng ra đủ mọi cái may mắn tương tự thế. Chỉ còn mỗi một cái bà chưa nghĩ đến: ấy là lúc chính bà phó Thụ ra, hoặc đi đâu về. Thì chính bà phó Thụ đi chợ về. Mới thoạt trông thấy bà lão, bà tưởng là một con mẹ ăn mày. Bà hơi cau mặt: - Ai kia? Ai ngồi làm gì kia? Chó nó ra, nó lôi mỡ ra cho đấy. Sao mà bạo thế? Bà lão quay lại mỉm cười móm mém: - Bẩm bà đi chợ về!… Bà phó Thụ mở to đôi mắt đỏ ngầu, nhìn kĩ hơn một chút. Bà nhận ra bà cái đĩ ở. Tức thì mặt bà nguỷu xuống. Bà lão này còn muốn quấy quả gì nữa đây? Để vòi tiền thêm chăng? Bà lão rên một tiếng và chống tay lên đầu gối, bẩy rẩy đứng lên. Bà phó hỏi: - Bà đi đâu thế? Bà lão lại rên tiếng nữa để mở đầu câu nói (bà rên cũng như một vài người khác bạ lúc nào cũng thở dài. Cái ấy thành thói quen). - Bẩm bà, con lên chơi với cháu. Lâu lắm, cháu không được về, con nhớ cháu quá! - Úi dào ôi! Vẽ cái con chuột chết! Nó phải làm chứ có rỗi đâu mà bà chơi với nó? Nhà tôi không có cơm cho nó ăn để nó cứ nồng nỗng nó chơi. Bà muốn chơi với nó thì đem ngay nó về nhà, tìm cơm cho nó ăn, bà cháu chơi với nhau vài ba tháng cho thật chán đi, rồi hãy bảo nó lên. Tôi không giữ. Bà tưởng nó đã làm giàu làm có cho tôi rồi đấy, hẳn? Bà cần phải nói ráo riết ngay để chặn họng, không cho bà lão mở mồm vòi vĩnh. Bà lão bị những lời tàn nhẫn ấy hắt vào mặt quả nhiên không còn nói sao được nữa. Bà cúi đầu, như một con mẹ ăn cắp lúa, bị tuần sương tóm được. Bà phó chiếp chiếp mồm luôn mấy cái, rồi vác mặt lên trời mà bảo: - Chơi với bời! Cái lúc nó mới đến, trông như con giun chết, cạy gỉ mũi còn chưa sạch thì không thấy chơi với bời. Người ta nuôi mãi, bây giờ mới trơn lông đỏ da một tí, đã phải đến mà giở quẻ. Tưởng báu ngọc lắm đấy! Tưởng người ta đã phải giữ khư khư lấy đấy!… Úi chào! Có phải mả tổ nhà người ta đâu mà người ta giữ? Muốn bắt nó về, cho nhà nào nó nuôi làm bà cô tổ nhà nó nó thì cứ bắt. Ai người ta thiết? Cứ trả lại tiền người ta!… Bà lão rưng rưng nước mắt. Khốn nạn, bà có ý quắt quéo thế đâu? Bà lão mếu máo: - Bẩm bà, bà dạy thế thật oan cho con quá. Trời để con sống bằng này tuổi đầu, con còn dám lừa lọc hay sao? Thật có trời trên kia làm chứng, nếu con quả định đến đây để dỗ dành cháu về để đem cho người khác thì trời cứ vật chết con đi! Con chỉ xin bà cho được trông thấy cháu, bà cháu chơi với nhau một lúc. Cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con cũng tưởng đi chơi dối già một bận… - Nó không đuợc rỗi mà chơi với bà. Chẳng chơi bời gì cả! Bà đã trót lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm. Bận sau thì đừng vẽ con khỉ nữa. Nhà tôi không có thói phép cho chúng nó như thế được. Con tôi đi học tận Hà Nội, dễ tôi cũng phải nay ra chơi, mai ra chơi với nó đấy! Đã đi ở mà còn không biết phận… Chơi với bời!… Môi bà lại chiệp chiệp và xìa ra… Cái đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít. Nó cười rồi nó khóc chẳng biết vì sao cả. Nhưng đôi mắt khoằm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó. Nó tự nhiên ngượng nghịu. Nó không dám xoắn xuýt bà nó nữa. Nó cúi đầu, khẽ hỏi: - Bà đi đâu đấy? - Bà đến xin bà phó một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm. Câu nói rất thật thà ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa đùa nửa thật. Một cách lấp liếm cái ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái đĩ bế em, dắt bà ra đầu chái, để không bị ai nhìn nữa… - Da bà xấu quá! Sao bà gầy thế? - Chỉ đói đấy thôi, cháu ạ. Chẳng sao hết. - Lớp này bà ở cho nhà ai? - Chẳng ở với nhà ai. - Thế lại đi buôn à? - Vốn đâu mà đi buôn? Với lại có vốn cũng không đi được. Người nhọc lắm. - Thế thì lấy gì làm ăn? - Chỉ nhịn thôi chứ lấy gì mà ăn! Bà cháu mới kịp trao đổi với nhau từng ấy câu thì bà phó đã the thé hỏi: - Nó bế em đi đâu rồi? Ấy là dấu hiệu bà sắp gọi. Cái đĩ vội đặt em xuống đất, bảo: - Bà giữ nó hộ con một tí. Nó cởi dải yếm lấy ra một cái túi rút con con. Trong túi xóc xách mấy đồng trinh. Nó rút ra, đếm lấy hai xu, giúi cho bà… - Con biếu bà để bà ăn bánh đúc. Bà về đi! Tiếng bà phó giục: - Cái đĩ đi đâu rồi? Đem em về đây, rồi quét nhà, dọn cơm. - Vâng! Nó tất tưởi bế em chạy về. Bà lão hãi chó, lẽo đẽo đi theo cháu. Bà phó trông thấy mà lộn ruột. Bà xa xả: - Bà đừng theo đít nó thế. Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm, Khiếp thật thôi! - Vơơơng!… Bà lão “vâng” thành một tiếng rên. Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó ngay xuống đất. Bà phó cất lấy con. Cái đĩ lụt cụt chạy xuống nhà dưới. Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch… Bà phó bảo: - Bà xuống dưới này mà ăn cơm. Bà bế con ra. Bà lão theo sau. Tiếng khung cửi đã ngừng. Mấy cô dệt cửi đều là con gái hoặc con nuôi bà phó Thụ, đang tới tấp, cô xới cơm, cô bỏ rau, cô sẻ mắm, chung quanh cái mâm gỗ đặt ngay trên mặt đất. Cả nhà quây quần vào, chỉ ngồi có một mâm. Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. Trông bà so đũa mà ngứa mắt! Bà phó muốn giật xoét lấy làm thật nhanh cho đỡ bực. Nhưng bà nhịn đuợc. Bà chỉ chép miệng và lừ lừ đôi mắt, tỏ ý khó chịu. Cái đĩ hiểu nên chỉ nhìn xuống đất. Nó giận bà nó lắm. Nó đã bảo bà nó về đi mà bà nó không chịu về… Bà phó chẳng nói nửa lời, bê lấy bát cơm ăn. Mặt bà vẫn hầm hầm. Lũ con gái, con nuôi, con ở, biết hiệu, vội vàng cũng làm theo. Chậm một tí, bà chửi cho phải biết! Có khi bà hắt cả bát cơm vào mặt. Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên: - Mời bà phó… Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát: - Thôi, bà ăn đi! Đừng mời! Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cắm cúi, mải mốt. Đôi đũa này lên lại có đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lập cập quá, bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát. Bà phó lại cau mặt, gắt: - Sẻ riêng cho bà ấy một bát mắm, để ra cạnh mâm cho bà ấy! Một cô vội làm ngay. Từ đấy, bà lão dễ xoay xở hơn một chút. Nhưng bà mới ăn chưa hết hai lượt cơm thì bà phó đã quăng bát đũa xuống đất. Chỉ một thoáng sau, mọi nguời khác cũng thôi. Họ thôi gần đều một lượt. In như bà mẹ ra hiệu cho họ vậy. Thật ra thì lệ mỗi người chỉ được ăn có ba vực cơm thôi. Mà phải ăn nhanh để còn làm. Nhưng bà lão nhà nghèo, đã quen sống vô tổ chức, làm gì hiểu trong những nhà thừa thóc, thừa tiền, lại có sự hạn chế miệng ăn như vậy? Bà đoán rằng họ khảnh ăn. No dồn, đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng người no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật. Cái đĩ ngượng quá, duỗi cổ ra, trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà con nuốt nhái. Rồi nó buông bát đũa. Bà bảo cháu: - Ăn nữa đi, con ạ. Nồi còn cơm đấy. Đưa bát bà xới cho. Nó chưa kịp trả lời thì bà phó đã mắng át đi: - Mặc nó! Nó không ăn nữa! Bà ăn bằng nào cho đủ thì cứ ăn! À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì khí tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé cháu: - Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé? - Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nũa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì? Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoả thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!… Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi: - Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào!… }} [[Thể loại:Truyện ngắn]] Phạm Tấn Phát k3nbqk2w2hbdam9lhqwukafjvqy32in 206210 206209 2026-09-23T00:58:58Z ~2026-51078-53 20649 206210 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = Một bữa no | tác giả = Nam Cao | dịch giả = | năm = 1943 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = }} {{văn| Bà lão ấy hờ con suốt một đêm. Bao giờ cũng vậy cứ hết đường đất làm ăn là bà lại hờ con. Làm như chính tự con bà nên bây giờ bà phải đói. Mà cũng đúng như thế thật. Chồng bà chết từ khi nó mới lọt lòng ra. Bà thắt lưng buộc bụng, nuôi nó từ tấm tấm, tí tí giở đi. Cũng mong để khi mình già, tuổi yếu mà nhờ. Thế mà chưa cho mẹ nhờ đưọc một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Công bà thành công toi. Con vợ nó không phải giống người. Nó có biết thương mẹ già đâu! Chồng chết vừa mới xong tang, nó đã vội vàng đi lấy chồng ngay, nó đem đứa con gái lên năm giả lại bà. Thành thử bà đã già ngót bảy mươi, lại còn phải làm còm cọm, làm mà nuôi đứa con gái ấy cho chúng nó. Hết xương, hết thịt vì con, vì cháu, mà nào được trông mong gì? Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ. Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bào: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi. {{ba sao}} Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu, còn đuợc ngày ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bởi thế bà lại đem con ra hờ. Bà hờ thê thảm lắm. Bà hờ suốt đêm. Bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng, bà không còn sức mà khóc nữa. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đói, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi. {{ba sao}} Cứ đi được một quãng ngắn, bà lại phải ngồi xuống nghỉ. Nghỉ một lúc lâu, trống ngực bà mới hết đánh, tai bà bớt lùng bùng, mắt bà bớt tối tăm, người tàm tạm thôi quay quắt. Bà nghỉ tất cả năm sáu quãng. Thành thử đến tận non trưa, bà mới tới nhà mình định tới: ấy là nhà bà phó Thụ, nuôi cái đĩ. Bà quen gọi như vậy, ngay từ khi nó còn nhỏ; cái đĩ tức là đứa con của anh con trai đã cướp công bà để về với đất, yên thân mà mặc tất cả những gì còn lại. Anh con trai chẳng còn phải khổ sở như bà ngày nay. Bà nghĩ đến con, để mà ghen với nó thêm lần nữa, trong khi ngồi nghỉ ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ. Ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ, có một cây sung lớn. Bà tựa lưng vào gốc. Từ đầu ngõ vào đến nhà, còn những hai lần cổng. Có gọi thật to, ở trong nhà mới nghe tiếng. Mà bà thì còn hơi sức đâu mà gọi? Tiếng bà bải hải. Hơi nói to một chút, nó đã ra đằng lỗ tai. Vả lại, chó nhà giàu dữ lắm. Nhà bà phó Thụ có những hai con chó đẫy đà, lực lưỡng. Lúc thiến, người ta rắc mảnh chai tán nhỏ vào. Vết thiến lành dúm mảnh chai ở bên trong gây cho con vật một nỗi đau ngứa ngáy, suốt đời không khỏi. Nỗi đau làm tội nó. Nó bứt rứt, khổ sở, cáu kỉnh, nên bạ thấy người nào lại nào cũng lăn xả vào chân, hoặp một miếng, ray thịt người ta cho hả giận. Trời ơi! Những con chó nhà bà phó Thụ, chúng dữ ghê gớm lắm. Bà lão nghĩ đến chúng còn chết khiếp. Cái lần bà đưa cái đĩ vào, một người nhà phải cầm một cái gậy to tướng ra đe. Ấy thế mà cả ba con cũng hồng hộc chạy ra. Chúng vây lấy bà già rách rưới. Con nào cũng uốn cong cái lưng xuống, hếch cái mõm đen thui lên, nhe ra những chiếc răng trắng hơn hớn và nhọn sắc. Bị cái gậy của người nhà cản lại, chúng càng tức tối. Chúng lồng lộn chung quanh. Chúng nhảy chồm lên. Chúng ngoạm những cái cột giậu, kêu sồn sột. Chúng lay thật mạnh, hục hặc như muốn bẻ gãy cái cột, để lao vào đầu nguời ta… Bà lão với đứa cháu cứ rúm cả tay chân lại. Cháu nép vào bà, bà nép vào người bà phó Thụ. Chị người nhà thì luôn tay vụt cái gậy bên này, bên nọ, đằng sau, đằng trước, và quát mắng. Ấy thế mà một con chó còn xông vào được, và chỉ một tí nữa nó xơi chân bà một miếng. Nhưng chị người nhà đánh kịp. Nó mới đấm được mõm vào cái bắp chân gầy đét của bà lão thôi. Hú hồn!… Bây giờ dám gọi sao? Chó thính tai mà lại rất mau chân. Chúng xộc cả ra thì khốn. Ấy thế là bà lão đành ngồi đợi dịp. Cái đĩ bế em ra ngõ chơi chẳng hạn… Hay là có người nào trong nhà đi đâu… Hay là có người đàn ông khoẻ mạnh nào đến nhà bà phó Thụ, để cho bà đi ghẹ… Bà ngồi rỗi, tưởng tượng ra đủ mọi cái may mắn tương tự thế. Chỉ còn mỗi một cái bà chưa nghĩ đến: ấy là lúc chính bà phó Thụ ra, hoặc đi đâu về. Thì chính bà phó Thụ đi chợ về. Mới thoạt trông thấy bà lão, bà tưởng là một con mẹ ăn mày. Bà hơi cau mặt: - Ai kia? Ai ngồi làm gì kia? Chó nó ra, nó lôi mỡ ra cho đấy. Sao mà bạo thế? Bà lão quay lại mỉm cười móm mém: - Bẩm bà đi chợ về!… Bà phó Thụ mở to đôi mắt đỏ ngầu, nhìn kĩ hơn một chút. Bà nhận ra bà cái đĩ ở. Tức thì mặt bà nguỷu xuống. Bà lão này còn muốn quấy quả gì nữa đây? Để vòi tiền thêm chăng? Bà lão rên một tiếng và chống tay lên đầu gối, bẩy rẩy đứng lên. Bà phó hỏi: - Bà đi đâu thế? Bà lão lại rên tiếng nữa để mở đầu câu nói (bà rên cũng như một vài người khác bạ lúc nào cũng thở dài. Cái ấy thành thói quen). - Bẩm bà, con lên chơi với cháu. Lâu lắm, cháu không được về, con nhớ cháu quá! - Úi dào ôi! Vẽ cái con chuột chết! Nó phải làm chứ có rỗi đâu mà bà chơi với nó? Nhà tôi không có cơm cho nó ăn để nó cứ nồng nỗng nó chơi. Bà muốn chơi với nó thì đem ngay nó về nhà, tìm cơm cho nó ăn, bà cháu chơi với nhau vài ba tháng cho thật chán đi, rồi hãy bảo nó lên. Tôi không giữ. Bà tưởng nó đã làm giàu làm có cho tôi rồi đấy, hẳn? Bà cần phải nói ráo riết ngay để chặn họng, không cho bà lão mở mồm vòi vĩnh. Bà lão bị những lời tàn nhẫn ấy hắt vào mặt quả nhiên không còn nói sao được nữa. Bà cúi đầu, như một con mẹ ăn cắp lúa, bị tuần sương tóm được. Bà phó chiếp chiếp mồm luôn mấy cái, rồi vác mặt lên trời mà bảo: - Chơi với bời! Cái lúc nó mới đến, trông như con giun chết, cạy gỉ mũi còn chưa sạch thì không thấy chơi với bời. Người ta nuôi mãi, bây giờ mới trơn lông đỏ da một tí, đã phải đến mà giở quẻ. Tưởng báu ngọc lắm đấy! Tưởng người ta đã phải giữ khư khư lấy đấy!… Úi chào! Có phải mả tổ nhà người ta đâu mà người ta giữ? Muốn bắt nó về, cho nhà nào nó nuôi làm bà cô tổ nhà nó nó thì cứ bắt. Ai người ta thiết? Cứ trả lại tiền người ta!… Bà lão rưng rưng nước mắt. Khốn nạn, bà có ý quắt quéo thế đâu? Bà lão mếu máo: - Bẩm bà, bà dạy thế thật oan cho con quá. Trời để con sống bằng này tuổi đầu, con còn dám lừa lọc hay sao? Thật có trời trên kia làm chứng, nếu con quả định đến đây để dỗ dành cháu về để đem cho người khác thì trời cứ vật chết con đi! Con chỉ xin bà cho được trông thấy cháu, bà cháu chơi với nhau một lúc. Cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con cũng tưởng đi chơi dối già một bận… - Nó không đuợc rỗi mà chơi với bà. Chẳng chơi bời gì cả! Bà đã trót lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm. Bận sau thì đừng vẽ con khỉ nữa. Nhà tôi không có thói phép cho chúng nó như thế được. Con tôi đi học tận Hà Nội, dễ tôi cũng phải nay ra chơi, mai ra chơi với nó đấy! Đã đi ở mà còn không biết phận… Chơi với bời!… Môi bà lại chiệp chiệp và xìa ra… Cái đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít. Nó cười rồi nó khóc chẳng biết vì sao cả. Nhưng đôi mắt khoằm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó. Nó tự nhiên ngượng nghịu. Nó không dám xoắn xuýt bà nó nữa. Nó cúi đầu, khẽ hỏi: - Bà đi đâu đấy? - Bà đến xin bà phó một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm. Câu nói rất thật thà ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa đùa nửa thật. Một cách lấp liếm cái ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái đĩ bế em, dắt bà ra đầu chái, để không bị ai nhìn nữa… - Da bà xấu quá! Sao bà gầy thế? - Chỉ đói đấy thôi, cháu ạ. Chẳng sao hết. - Lớp này bà ở cho nhà ai? - Chẳng ở với nhà ai. - Thế lại đi buôn à? - Vốn đâu mà đi buôn? Với lại có vốn cũng không đi được. Người nhọc lắm. - Thế thì lấy gì làm ăn? - Chỉ nhịn thôi chứ lấy gì mà ăn! Bà cháu mới kịp trao đổi với nhau từng ấy câu thì bà phó đã the thé hỏi: - Nó bế em đi đâu rồi? Ấy là dấu hiệu bà sắp gọi. Cái đĩ vội đặt em xuống đất, bảo: - Bà giữ nó hộ con một tí. Nó cởi dải yếm lấy ra một cái túi rút con con. Trong túi xóc xách mấy đồng trinh. Nó rút ra, đếm lấy hai xu, giúi cho bà… - Con biếu bà để bà ăn bánh đúc. Bà về đi! Tiếng bà phó giục: - Cái đĩ đi đâu rồi? Đem em về đây, rồi quét nhà, dọn cơm. - Vâng! Nó tất tưởi bế em chạy về. Bà lão hãi chó, lẽo đẽo đi theo cháu. Bà phó trông thấy mà lộn ruột. Bà xa xả: - Bà đừng theo đít nó thế. Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm, Khiếp thật thôi! - Vơơơng!… Bà lão “vâng” thành một tiếng rên. Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó ngay xuống đất. Bà phó cất lấy con. Cái đĩ lụt cụt chạy xuống nhà dưới. Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch… Bà phó bảo: - Bà xuống dưới này mà ăn cơm. Bà bế con ra. Bà lão theo sau. Tiếng khung cửi đã ngừng. Mấy cô dệt cửi đều là con gái hoặc con nuôi bà phó Thụ, đang tới tấp, cô xới cơm, cô bỏ rau, cô sẻ mắm, chung quanh cái mâm gỗ đặt ngay trên mặt đất. Cả nhà quây quần vào, chỉ ngồi có một mâm. Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. Trông bà so đũa mà ngứa mắt! Bà phó muốn giật xoét lấy làm thật nhanh cho đỡ bực. Nhưng bà nhịn đuợc. Bà chỉ chép miệng và lừ lừ đôi mắt, tỏ ý khó chịu. Cái đĩ hiểu nên chỉ nhìn xuống đất. Nó giận bà nó lắm. Nó đã bảo bà nó về đi mà bà nó không chịu về… Bà phó chẳng nói nửa lời, bê lấy bát cơm ăn. Mặt bà vẫn hầm hầm. Lũ con gái, con nuôi, con ở, biết hiệu, vội vàng cũng làm theo. Chậm một tí, bà chửi cho phải biết! Có khi bà hắt cả bát cơm vào mặt. Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên: - Mời bà phó… Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát: - Thôi, bà ăn đi! Đừng mời! Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cắm cúi, mải mốt. Đôi đũa này lên lại có đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lập cập quá, bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát. Bà phó lại cau mặt, gắt: - Sẻ riêng cho bà ấy một bát mắm, để ra cạnh mâm cho bà ấy! Một cô vội làm ngay. Từ đấy, bà lão dễ xoay xở hơn một chút. Nhưng bà mới ăn chưa hết hai lượt cơm thì bà phó đã quăng bát đũa xuống đất. Chỉ một thoáng sau, mọi nguời khác cũng thôi. Họ thôi gần đều một lượt. In như bà mẹ ra hiệu cho họ vậy. Thật ra thì lệ mỗi người chỉ được ăn có ba vực cơm thôi. Mà phải ăn nhanh để còn làm. Nhưng bà lão nhà nghèo, đã quen sống vô tổ chức, làm gì hiểu trong những nhà thừa thóc, thừa tiền, lại có sự hạn chế miệng ăn như vậy? Bà đoán rằng họ khảnh ăn. No dồn, đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng người no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật. Cái đĩ ngượng quá, duỗi cổ ra, trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà con nuốt nhái. Rồi nó buông bát đũa. Bà bảo cháu: - Ăn nữa đi, con ạ. Nồi còn cơm đấy. Đưa bát bà xới cho. Nó chưa kịp trả lời thì bà phó đã mắng át đi: - Mặc nó! Nó không ăn nữa! Bà ăn bằng nào cho đủ thì cứ ăn! À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì khí tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé cháu: - Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé? - Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nũa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì? Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoả thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!… Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi: - Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào!… }} [[Thể loại:Truyện ngắn]] r5tppke6asnwsmoztlz9r7vnwi6lqa4 Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949 114 20858 206211 206203 2026-09-23T10:09:40Z ~2026-51284-52 20653 /* */ 206211 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hiệp định Élysée | tác giả = Vincent Auriol | ngôn ngữ = en | bản gốc = | phần = '''Văn thư chính''' | trước = | sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] | ấn bản = có | năm = 1949 | ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chi tiết hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ. Nội dung ở dưới là văn thư chính. Văn thư thứ hai là của Bảo Đại gửi Vincent Auriol, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Vincent Auriol gửi Bảo Đại để bổ túc thêm các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée trên danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập khỏi Pháp và hủy bỏ hiệp ước 1884 giữa hai nước. Nó kết thúc nền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] tự trị trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định Élysée có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949, sau đó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn bốn ngày sau. Quốc gia Việt Nam giành được độc lập hoàn toàn vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Với Hiệp định Genève vào tháng sau, Quốc gia Việt Nam chỉ còn kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}} {{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}} '''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:''''' {{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949 }} Thưa Hoàng Thượng, Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài. Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu. Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này. Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây. ===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM=== Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt). Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ. Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp. Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây. Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng. Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ. ===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO=== Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa. Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp. Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam. Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam. Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp. Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam. Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này. ===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ=== Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài. Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam. Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp. Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp. Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây. Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam. ===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC=== Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp. Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản. Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam. ===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP=== Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc. Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây: # Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”. # Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội. # Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp. Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng. Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên. Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương. Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này. ===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA=== Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này. Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp. Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt. Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt. Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan. Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn. Trong giảng dạy truyền thống: :a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp :b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định. Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp. Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan. Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng: Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam. Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây: - Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang. - Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia. - Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế. - Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học. - Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949. '''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau. Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt. ===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH=== Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này. Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp. Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam. Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây: :a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia; :b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép; :c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động. Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy. Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng. Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế. Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương. Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào. Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên. Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương. Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh. Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể. Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây: # Dịch vụ về phát thanh # Kiểm soát di trú #Thương mại quốc tế và quan thuế # Kho bạc # Kế hoạch trang thiết bị Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo. Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc. Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần. Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp. Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi. {{văn|canh lề=right| Vincent Auriol }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] e3z6wz9mfdu079nts8i0tywd086giif 206212 206211 2026-09-23T10:10:31Z ~2026-51284-52 20653 /* */ 206212 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hiệp định Élysée | tác giả = Vincent Auriol | ngôn ngữ = en | bản gốc = | phần = '''Văn thư chính''' | trước = | sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] | ấn bản = có | năm = 1949 | ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chi tiết hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ. Nội dung ở dưới là văn thư chính. Văn thư thứ hai là của Bảo Đại gửi Vincent Auriol, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Vincent Auriol gửi Bảo Đại để bổ túc thêm các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée trên danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập khỏi Pháp và hủy bỏ hiệp ước 1884 giữa hai nước. Nó kết thúc nền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] tự trị trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định Élysée có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949, sau đó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn bốn ngày sau. Quốc gia Việt Nam giành được độc lập vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Với Hiệp định Genève vào tháng sau, Quốc gia Việt Nam chỉ còn kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}} {{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}} '''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:''''' {{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949 }} Thưa Hoàng Thượng, Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài. Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu. Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này. Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây. ===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM=== Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt). Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ. Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp. Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây. Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng. Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ. ===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO=== Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa. Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp. Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam. Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam. Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp. Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam. Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này. ===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ=== Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài. Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam. Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp. Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp. Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây. Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam. ===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC=== Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp. Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản. Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam. ===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP=== Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc. Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây: # Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”. # Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội. # Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp. Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng. Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên. Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương. Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này. ===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA=== Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này. Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp. Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt. Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt. Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan. Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn. Trong giảng dạy truyền thống: :a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp :b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định. Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp. Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan. Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng: Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam. Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây: - Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang. - Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia. - Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế. - Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học. - Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949. '''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau. Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt. ===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH=== Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này. Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp. Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam. Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây: :a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia; :b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép; :c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động. Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy. Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng. Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế. Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương. Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào. Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên. Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương. Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh. Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể. Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây: # Dịch vụ về phát thanh # Kiểm soát di trú #Thương mại quốc tế và quan thuế # Kho bạc # Kế hoạch trang thiết bị Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo. Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc. Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần. Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp. Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi. {{văn|canh lề=right| Vincent Auriol }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] kmi62nnhokqfwjrmot3q446m381n96q 206213 206212 2026-09-23T10:12:12Z ~2026-51284-52 20653 /* */ 206213 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hiệp định Élysée | tác giả = Vincent Auriol | ngôn ngữ = en | bản gốc = | phần = '''Văn thư chính''' | trước = | sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] | ấn bản = có | năm = 1949 | ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chi tiết hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ. Nội dung ở dưới là văn thư chính. Văn thư thứ hai là của Bảo Đại gửi Vincent Auriol, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Vincent Auriol gửi Bảo Đại để bổ túc thêm các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée trên danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập khỏi Pháp và hủy bỏ hiệp ước 1884 giữa hai nước. Nó kết thúc nền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam (Bắc và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] tự trị trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định Élysée có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949, sau đó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn bốn ngày sau. Quốc gia Việt Nam giành được độc lập vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi ký Hiệp ước Matignon, gồm hiệp ước độc lập và hiệp ước liên kết. Với Hiệp định Genève vào tháng sau, Quốc gia Việt Nam chỉ còn kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}} {{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}} '''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:''''' {{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949 }} Thưa Hoàng Thượng, Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài. Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu. Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này. Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây. ===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM=== Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt). Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ. Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp. Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây. Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng. Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ. ===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO=== Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa. Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp. Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam. Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam. Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp. Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam. Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này. ===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ=== Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài. Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam. Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp. Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp. Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây. Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam. ===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC=== Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp. Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản. Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam. ===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP=== Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc. Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây: # Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”. # Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội. # Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp. Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng. Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên. Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương. Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này. ===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA=== Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này. Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp. Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt. Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt. Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan. Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn. Trong giảng dạy truyền thống: :a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp :b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định. Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp. Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan. Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng: Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam. Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây: - Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang. - Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia. - Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế. - Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học. - Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949. '''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau. Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt. ===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH=== Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này. Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp. Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam. Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây: :a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia; :b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép; :c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động. Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy. Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng. Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế. Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương. Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào. Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên. Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương. Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh. Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể. Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây: # Dịch vụ về phát thanh # Kiểm soát di trú #Thương mại quốc tế và quan thuế # Kho bạc # Kế hoạch trang thiết bị Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo. Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc. Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần. Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp. Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi. {{văn|canh lề=right| Vincent Auriol }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] 8i4y3a87tamudunkwpn371aoukvjdru 206214 206213 2026-09-23T10:20:33Z ~2026-51284-52 20653 /* */ 206214 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hiệp định Élysée | tác giả = Vincent Auriol | ngôn ngữ = en | bản gốc = | phần = '''Văn thư chính''' | trước = | sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] | ấn bản = có | năm = 1949 | ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chi tiết hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ. Nội dung ở dưới là văn thư chính. Văn thư thứ hai là của Bảo Đại gửi Vincent Auriol, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Vincent Auriol gửi Bảo Đại để bổ túc thêm các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée trên danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập khỏi Pháp và hủy bỏ hiệp ước 1884 giữa hai nước, từ đó kết thúc nền bảo hộ ở Việt Nam (Bắc và Trung Kỳ) và mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam. Hiệp định Élysée có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] tự trị trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định Élysée được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn bốn ngày sau. Hiệp định Élysée hết hiệu lực vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi Pháp công nhận nền độc lập thực sự của Quốc gia Việt Nam. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}} {{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}} '''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:''''' {{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949 }} Thưa Hoàng Thượng, Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài. Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu. Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này. Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây. ===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM=== Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt). Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ. Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp. Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây. Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng. Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ. ===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO=== Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa. Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp. Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam. Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam. Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp. Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam. Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này. ===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ=== Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài. Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam. Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp. Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp. Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây. Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam. ===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC=== Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp. Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản. Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam. ===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP=== Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc. Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây: # Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”. # Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội. # Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp. Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng. Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên. Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương. Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này. ===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA=== Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này. Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp. Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt. Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt. Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan. Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn. Trong giảng dạy truyền thống: :a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp :b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định. Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp. Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan. Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng: Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam. Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây: - Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang. - Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia. - Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế. - Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học. - Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949. '''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau. Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt. ===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH=== Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này. Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp. Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam. Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây: :a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia; :b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép; :c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động. Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy. Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng. Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế. Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương. Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào. Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên. Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương. Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh. Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể. Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây: # Dịch vụ về phát thanh # Kiểm soát di trú #Thương mại quốc tế và quan thuế # Kho bạc # Kế hoạch trang thiết bị Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo. Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc. Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần. Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp. Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi. {{văn|canh lề=right| Vincent Auriol }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] t3p3dputhb766r3vtz84nkj4aerq3jp 206215 206214 2026-09-23T10:31:21Z ~2026-51284-52 20653 /* */ 206215 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hiệp định Élysée | tác giả = Vincent Auriol | ngôn ngữ = en | bản gốc = | phần = '''Văn thư chính''' | trước = | sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] | ấn bản = có | năm = 1949 | ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại (dưới danh nghĩa "Hoàng đế") và Tổng thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chi tiết hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ. Nội dung ở dưới là văn thư chính. Văn thư thứ hai là của Bảo Đại gửi Vincent Auriol, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Vincent Auriol gửi Bảo Đại để bổ túc thêm các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất Việt Nam và vấn đề ngoại giao. Hiệp định Élysée trên danh nghĩa công nhận Việt Nam độc lập khỏi Pháp và hủy bỏ hiệp ước 1884 giữa hai nước để kết thúc nền bảo hộ ở Việt Nam (Bắc và Trung Kỳ), đồng thời nó mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam. Hiệp định có hiệu lực ngày 14 tháng 6 năm 1949, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] tự trị trong Liên hiệp Pháp. Hiệp định sau đó được Quốc hội Pháp phê chuẩn ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn vào ngày 2 tháng 2. Hiệp định Élysée hết hiệu lực vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi Pháp công nhận nền độc lập thực sự của Quốc gia Việt Nam. Quốc gia Việt Nam trở thành [[w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]] vào tháng 10 năm 1955 và Việt Nam Cộng hoà rút khỏi Liên hiệp Pháp vào tháng 12 năm 1955.}} {{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}} '''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:''''' {{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949 }} Thưa Hoàng Thượng, Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài. Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu. Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này. Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây. ===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM=== Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt). Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ. Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp. Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây. Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng. Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ. ===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO=== Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa. Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp. Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam. Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam. Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp. Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam. Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này. ===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ=== Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài. Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam. Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp. Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp. Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây. Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam. ===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC=== Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp. Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản. Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam. ===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP=== Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc. Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây: # Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”. # Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội. # Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp. Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng. Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên. Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương. Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này. ===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA=== Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này. Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp. Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt. Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt. Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan. Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn. Trong giảng dạy truyền thống: :a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp :b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định. Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp. Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan. Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng: Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam. Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây: - Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang. - Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia. - Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế. - Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học. - Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949. '''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau. Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt. ===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH=== Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này. Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp. Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam. Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây: :a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia; :b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép; :c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động. Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy. Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng. Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế. Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương. Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào. Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên. Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương. Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh. Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể. Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây: # Dịch vụ về phát thanh # Kiểm soát di trú #Thương mại quốc tế và quan thuế # Kho bạc # Kế hoạch trang thiết bị Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo. Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc. Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần. Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp. Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi. {{văn|canh lề=right| Vincent Auriol }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] 7ozrx0046aas8oy4eyj7fnrg8pzkijf 206216 206215 2026-09-23T10:46:10Z ~2026-51284-52 20653 /* */ 206216 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hiệp định Élysée | tác giả = Vincent Auriol | ngôn ngữ = en | bản gốc = | phần = '''Văn thư chính''' | trước = | sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] | ấn bản = có | năm = 1949 | ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chi tiết hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ. Nội dung ở dưới là văn thư chính. Văn thư thứ hai là của Bảo Đại gửi Vincent Auriol, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Vincent Auriol gửi Bảo Đại để bổ túc thêm, theo yêu cầu của Bảo Đại, các điểm về vấn đề thống nhất Việt Nam và vấn đề ngoại giao, nhất là việc trao đổi đại sứ. Hiệp định Élysée công nhận Việt Nam (Bắc và Trung Kỳ) độc lập khỏi Pháp trên danh nghĩa và hủy bỏ hiệp ước bảo hộ 1884 giữa hai nước, đồng thời nó mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] tự trị trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định sau đó được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn ngày 2 tháng 2. Hiệp định mất hiệu lực vào ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi Pháp công nhận nền độc lập hoàn toàn của Quốc gia Việt Nam.}} {{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}} '''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:''''' {{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949 }} Thưa Hoàng Thượng, Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài. Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu. Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này. Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây. ===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM=== Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt). Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ. Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp. Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây. Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng. Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ. ===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO=== Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa. Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp. Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam. Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam. Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp. Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam. Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này. ===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ=== Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài. Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam. Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp. Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp. Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây. Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam. ===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC=== Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp. Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản. Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam. ===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP=== Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc. Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây: # Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”. # Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội. # Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp. Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng. Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên. Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương. Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này. ===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA=== Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này. Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp. Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt. Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt. Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan. Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn. Trong giảng dạy truyền thống: :a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp :b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định. Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp. Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan. Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng: Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam. Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây: - Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang. - Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia. - Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế. - Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học. - Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949. '''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau. Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt. ===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH=== Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này. Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp. Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam. Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây: :a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia; :b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép; :c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động. Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy. Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng. Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế. Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương. Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào. Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên. Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương. Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh. Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể. Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây: # Dịch vụ về phát thanh # Kiểm soát di trú #Thương mại quốc tế và quan thuế # Kho bạc # Kế hoạch trang thiết bị Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo. Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc. Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần. Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp. Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi. {{văn|canh lề=right| Vincent Auriol }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] gtq5jxttgcaqogad208kofe5r6s0hy2