Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.47.0-wmf.21 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Sự kiện Thảo luận Sự kiện Đề tài Biên dịch:Hịch tướng sĩ lời truyền thống thiết 114 147 206220 206217 2026-09-24T13:15:38Z ~2026-51489-97 20658 Đã lùi lại sửa đổi [[Special:Diff/206217|206217]] của [[Special:Contributions/Bodacha88|Bodacha88]] ([[User talk:Bodacha88|thảo luận]]) 206220 wikitext text/x-wiki {{bản dịch khác|Hịch tướng sĩ}} {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hịch tướng sĩ lời truyền thống thiết | tác giả = Trần Hưng Đạo | ngôn ngữ = zh | bản gốc = 諭諸裨將檄文 | phần = | trước = | sau = | ghi chú = '''Dụ chư tỳ tướng hịch văn''' (諭諸裨將檄文), thường được gọi là '''Hịch Tướng Sĩ''', là bài hịch của [[w:Trần Hưng Đạo|Trần Hưng Đạo]]. {{Bài chính Wikipedia|Hịch tướng sĩ|Hịch tướng sĩ}} }} <poem> Kỷ Tín xưa liều chết thay vua Hoàng bào Hán đế xông pha Chết thay Cao tổ sơn hà lưu danh Do Vu lấy thân mình đỡ giáo {{số|5}}Tránh Chiêu Vương một thuở bạo binh Nuốt than Dự Nhượng đổi hình Trả thù quốc chủ thân mình sá chi Thân Khoái chặt tay đi nào sá Theo Tề Vương một dạ trung thành {{số|10}}Uất Trì Cung chữ không rành Trung quân ái quốc lưu danh muôn đời Theo Thế Dân tạo thời lập nghiệp Trong nguy nan liều chết hộ quân Thế Sung vây bắt bao lần {{số|15}}Cứu quân bảo quốc ngàn năm mãi còn Nhan Cảo Khanh tận cùng biên viễn Mắng Lộc Sơn lưu tiếng muôn đời Thà rắng đầu đứt lìa đời Không theo nghịch tặc một loài quân gian {{số|20}}Sử lưu dấu trăm ngàn lương đống Lòng trung thành còn lộng sử xanh Xưa nay hào kiệt hùng anh Phò vua dựng nước rành rành tiếng thơm Thói nhút nhát trẻ con phụ nữ {{số|25}}Thì tàn đời chết rũ xó nhà Lấy đâu tiết tháo vinh hoa Công danh lưu dấu để cho muôn đời Dẫn tích xưa các ngươi chiến tướng Chuyện xa xôi biết lượng đúng sai {{số|30}}Người xưa ai biết ai hay Mơ hồ chữ nghĩa ai rày làm tin Ta dẫn chuyện Tống Nguyên Mông Thát Chuyện mới đây sử sách rành rành Các ngươi thấu lý đạt tình {{số|35}}Cạn lời thấu nhẽ biết mình biết ta Thành Điếu Ngư bôn ba trăm vạn Vương Công Kiên quyết chận Nguyên Mông Nguyễn văn Lập tướng hộ công Đồng lòng giữ nước nản lòng quân Nguyên {{số|40}}Dân đất Tống bình yên một thuở Lòng quyết tâm danh sử còn ghi Ngột Lương là tướng lãnh gì Xông pha lam chướng quyết ghi công đầu Xích Tu Tư tướng theo phò trợ {{số|45}}Nửa tuần trăng rạng rỡ hùng binh Nam Chiếu thành lũy tan tành Tướng Nguyên để tiếng lưu danh rạng ngời Ta, các người sinh thời khốn khó Nước rối ren ai nỡ ai đành {{số|50}}Sứ Nguyên ngang ngược bạo hành Làm nhục cha chú triều đình mãi sao Thân chó dê nói điều quốc sỉ Phận cáo chồn miệng lưỡi ngông nghênh Mượn Hốt Tất Liệt ép trên {{số|55}}Lấy Vân Nam Vương để chèn để thâu Của đất nước mồ hôi khốn khó Đút bao nhiêu cho thỏa túi tham Ngọc luạ vàng bạc trăm ngàn Của kho trống hoác lòng gian chưa đầy {{số|60}}Đem thịt tươi dâng ngay hổ đói Đem bạc vàng dâng loại cuồng tham Là thân tự diệt lấy thân Nạn tai khốn khó muôn phần biết sao Giận quân giặc nỗi đau cắt ruột {{số|65}}Ngày quên ăn nhói buốt căm hờn Đêm nằm đập gối thét luôn Nước mắt gận buốt chảy tuôn đầm đìa Trái tim thể ai chia ai cắt Nung căm hờn uống mật nhai gan {{số|70}}Quyết diệt lũ giặc tham tàn Lột da xẻ thịt trăm lần chưa nguôi Vào trong lửa tàn đời cũng quyết Ngàn đao thương sống chết cũng đành Hờn căm nung nấu hờn căm {{số|75}}Chí trai da ngựa bọc thân sá gì Cùng với ta nghĩ suy đại sự Chung một lòng gìn giữ quốc gia Đói lòng cơm xẻ chia ra Lạnh lùng áo xống với ta cũng bằng {{số|80}}Quan chức nhỏ ta thăng ta cấp Bổng lộc sơ ta lập ta thêm Đường thủy ta cấp chiến thuyền Đường bộ ta cấp ngựa quen đường dài Cuộc sống chết gian nguy chung gánh {{số|85}}Lúc thảnh thơi ấm lạnh chung cùng Công Kiên đãi tướng ai hơn Ngột Lương xử sự vẫn còn thua xa Nhục mất nước lòng ta không thể Phận các ngươi yên thế được ư {{số|90}}Chúa nhục quốc hận chi thù Quốc sĩ khắc cốt thiên thu hận lòng Hầu tướng giặc lòng mong rửa hận Nhạc thái thường nổi giận căm gan Sá gì sứ ngụy quân gian {{số|95}}Bức đòi o ép giận tràn cành hông Nước nguy kịch vui trong gà chọi Thú bạc bài biết lối nào ra Ruộng vườn chăm chú an nhà Vợ con ôm ấp can qua ai tường {{số|100}}Mong tích lũy gian thương lạm phú Giương cung tên săn thú làm vui Quân binh luyện tập quên rồi Rượu ngon gái đẹp say lời cầm ca Giặc Mông Thát can qua dấy động {{số|105}}Cựa gà nòi đâm chúng được chăng Mưu gian bài bạc có ngăn Ruộng vườn cướp đoạt xác thân lưu đày Vợ hầu đẹp về tay quân giặc Ruộng vườn nhiều mất tất ai hay {{số|110}}Vàng mua đầu giặc dám ai Giặc tràn thân liệt nạn tai gông cùm Chó săn khỏe hỏi mong diệt giặc Rượu ngon say Mông Thát có mê Hát hay giặc có trốn về {{số|115}}Hay thân bại tướng búa đe xích xiềng Nỗi đau đáu không riêng ta lụy Thái ấp ta tiêu hủy mất rồi Bổng lộc quan tước các người Giặc sang cướp đoạt tiêu đời còn đâu {{số|120}}Thân quyến ta mang sầu khốc lụy Vợ con ngươi cũng hủy diệt theo Tông miếu ta bị lao đao Cửa nhà ngươi cũng xạc xào khác chi Vua bị bắt nước thì không chủ {{số|125}}Ô nhục này hỏi thử ai cam Danh ta thân liệt ngàn năm Các ngươi bại tướng cam đành được sao Không lo lắng nỗi đau trước mắt Giặc tràn vào nắm chắc bại vong {{số|130}}Cuộc vui đừng có mà mong Rành rành trước mắt phải trông phải lường Nay ta bảo tai ương nên nhớ Lửa cháy rơm phải sợ phải lo Canh nóng chớ húp ngay cho {{số|135}}Biết thời biết thế so đo cho tường Quân sĩ rèn thao trường huấn luyện Sức Bàng Mông trận chiến tham gia Cung tên Hậu Nghệ vượt qua Bêu đầu Tất Liệt lột da thỏa lòng {{số|140}}Vân Nam Vương những mong đốt xác Diệt quân Nguyên tan tác trốn về Nước non trọn một lời thề Đuổi sạch bóng giặc làng quê an lành Giặc Nguyên sạch mộng thành tráng chí {{số|145}}Thái ấp ta được giữ lâu bền Bổng lộc ngươi hưởng theo quyền Gia quyến ta được bình yên một đời Thân thuộc ngươi một thời rạng rỡ Tiên nhân ta yên ở thái thường {{số|150}}Tổ tông ngươi cũng miếu đường Quanh năm nghi ngút khói hương khác gì Ta giữ được quân uy đại chí Mộng hùng anh ngươi phỉ tấc lòng Ngàn năm sứ khắc ghi công {{số|155}}Dẹp xong Mông Thát còn mong hơn gì Viết binh pháp nghĩ suy tường tận Chắc lọc từ chiến trận khắp nơi Điều hay tinh túy các đời “Binh thư yếu lược” các ngươi phải tường {{số|160}}Phải chăm chú chuyên thường luyện tập Mọi việc binh nhất nhất tinh tường Làm người trọn đạo quân vương Nghịch bằng kháng lệnh đối phương cừu thù Vì Nguyên-Trần đối đầu sống chết {{số|165}}Phận tôi con phải biết an nguy Diệt thù không tận nghĩ suy Không rèn quân kỷ lấy gi chống Nguyên Có khác nào quay thuyền theo giặc Đem tay không diệt Thát được chăng {{số|170}}Nước non bị họa xâm lăng Trung quân ái quốc cầm bằng như không Lời hịch viết trong lòng ghi nhớ Cho các ngươi hãy rõ hết lòng Việc làm lời nói song song {{số|175}}Diệt quân Mông Thát non sông thái bình </poem> {{giấy phép dịch|bản gốc={{PVCC-cũ}}|bản dịch={{CC-BY-SA-3.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hịch]] dekj0cfi3t3y38psqtj69t0vgadbsn7 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 0 2380 206222 206030 2026-09-25T08:54:34Z ~2026-51659-12 20661 /* */ 206222 wikitext text/x-wiki {{đầu đề |tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa |tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa |năm=1967 |dịch giả= |phần= |trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]] |sau= |wikipedia= |ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ Nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính lần duy nhất vào năm 1974. Nó bị bãi bỏ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Việt Nam Cộng hoà tuyên bố đầu hàng và giải tán. Ở dưới sẽ trình bày nguyên văn Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1967 và việc tu chính nó năm 1974. }} <pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 /> ==Tu chính án Hiến pháp (1974)== '''''VIỆT-NAM CỘNG-HÒA''''' '''PHỦ TỔNG-THỐNG''' <center>'''''LUẬT SỐ 001/74 NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 1974'''''</center> <center>'''« TU-CHÍNH HIẾN-PHÁP NGÀY 1-4-1967 »'''</center> Chiếu Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 1 tháng 4 năm 1967; Sau khi Quốc Hội đã thảo luận và biểu quyết, <center>''TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA''</center> ban hành Luật số 001/74 ngày 22 tháng 01 năm 1974 « tu chính Hiến Pháp ngày 1-4-1967 » nguyên văn như sau: Điều 1. Nay sửa đổi các Điều 52, 80 và 114 của bản văn Hiến Pháp ngày 1-4-1967 như sau: <center>''ĐIỀU 52 (mới)''</center> 1. Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một (1) Liên Danh được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín. 2. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là năm (5) năm, Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử hai lần. 3. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi (60) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy. 4. Cuộc bầu cử Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày Chủ nhật, bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt. <center>''ĐIỀU 80 (mới)''</center> 1. Tối Cao Pháp Viện gồm chín (9) Thẩm Phán do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm trên một danh sách do Tối Cao Pháp Viện và Bộ Tư Pháp thiết lập, gồm những Thẩm Phán hội đủ các điều kiện sau: — Ở trong ngạch Thẩm Phán Xử Án hay Thẩm Phán Công Tố các Tòa Sơ Thẩm và Thượng Thẩm hoặc ngạch Thẩm Phán Hành Chánh ít nhất 15 năm. Từ cấp bậc Hội Thẩm và Thẩm Lý các Tòa Thượng Thẩm hoặc Cố Vấn Hạng Nhì Tham Chính Viện trở lên. 2. Nhiệm kỳ của Thẩm Phán, Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm, cứ hai (2) năm Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm lại một phần ba (1/3) trên một danh sách được thiết lập theo các điều kiện ấn định tại đoạn 1 điều này. 3. Một Đạo Luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện. <center>''ĐIỀU 114 (mới)''</center> Trong nhiệm kỳ đầu tiên và nhiệm kỳ thứ hai, Tổng Thống có thể bổ nhiệm Đô Trưởng, Tỉnh Trưởng và Thị Trưởng. Điều 2. Tổng Thống và Phó Tổng Thống đương nhiệm sẽ mãn nhiệm đúng mười hai (12) giờ trưa ngày ba mươi mốt tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám (31-10-1975) và có thể tái ứng cử một lần nữa, chiếu đoạn 2 Điều 52 (mới) Hiến Pháp. Các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện đương nhiệm sẽ mãn nhiệm ngày hai mươi hai tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi bốn (22-10-1974). Trong nhiệm kỳ đầu tiên áp dụng thể thức tuyển chọn qui định tại Điều 80 (mới) Hiến Pháp, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện được chia làm ba (3) nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm: nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ hai (2) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ bốn (4) năm và nhóm thứ ba có nhiệm kỳ sáu (6) năm. Luật này được ban hành theo thủ tục khẩn cấp và đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Hòa. :::::::::::''Saigon, ngày 22 tháng 01 năm 1974'' :::::::::::''Ký tên NGUYỄN VĂN THIỆU'' ==Nguồn== * Cuốn ''Hiến pháp chú thích'', Trương Tiến Đạt (1967). * Cuốn ''Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà ban hành ngày 1 thánh 4 năm 1967'', Bộ Dân vận và Chiêu hồi Việt Nam Cộng hoà (1974). {{PVCC-CPVN}} [[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]] 87vqjiqobmorggl4watu5we6npp0er1 206223 206222 2026-09-25T08:55:07Z ~2026-51659-12 20661 /* */ 206223 wikitext text/x-wiki {{đầu đề |tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa |tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa |năm=1967 |dịch giả= |phần= |trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]] |sau= |wikipedia= |ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ Nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính lần duy nhất vào năm 1974. Nó bị bãi bỏ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Việt Nam Cộng hoà tuyên bố đầu hàng và giải tán. Ở dưới sẽ trình bày nguyên văn Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1967 và việc tu chính nó năm 1974: }} <pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 /> ==Tu chính án Hiến pháp (1974)== '''''VIỆT-NAM CỘNG-HÒA''''' '''PHỦ TỔNG-THỐNG''' <center>'''''LUẬT SỐ 001/74 NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 1974'''''</center> <center>'''« TU-CHÍNH HIẾN-PHÁP NGÀY 1-4-1967 »'''</center> Chiếu Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 1 tháng 4 năm 1967; Sau khi Quốc Hội đã thảo luận và biểu quyết, <center>''TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA''</center> ban hành Luật số 001/74 ngày 22 tháng 01 năm 1974 « tu chính Hiến Pháp ngày 1-4-1967 » nguyên văn như sau: Điều 1. Nay sửa đổi các Điều 52, 80 và 114 của bản văn Hiến Pháp ngày 1-4-1967 như sau: <center>''ĐIỀU 52 (mới)''</center> 1. Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một (1) Liên Danh được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín. 2. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là năm (5) năm, Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử hai lần. 3. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi (60) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy. 4. Cuộc bầu cử Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày Chủ nhật, bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt. <center>''ĐIỀU 80 (mới)''</center> 1. Tối Cao Pháp Viện gồm chín (9) Thẩm Phán do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm trên một danh sách do Tối Cao Pháp Viện và Bộ Tư Pháp thiết lập, gồm những Thẩm Phán hội đủ các điều kiện sau: — Ở trong ngạch Thẩm Phán Xử Án hay Thẩm Phán Công Tố các Tòa Sơ Thẩm và Thượng Thẩm hoặc ngạch Thẩm Phán Hành Chánh ít nhất 15 năm. Từ cấp bậc Hội Thẩm và Thẩm Lý các Tòa Thượng Thẩm hoặc Cố Vấn Hạng Nhì Tham Chính Viện trở lên. 2. Nhiệm kỳ của Thẩm Phán, Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm, cứ hai (2) năm Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm lại một phần ba (1/3) trên một danh sách được thiết lập theo các điều kiện ấn định tại đoạn 1 điều này. 3. Một Đạo Luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện. <center>''ĐIỀU 114 (mới)''</center> Trong nhiệm kỳ đầu tiên và nhiệm kỳ thứ hai, Tổng Thống có thể bổ nhiệm Đô Trưởng, Tỉnh Trưởng và Thị Trưởng. Điều 2. Tổng Thống và Phó Tổng Thống đương nhiệm sẽ mãn nhiệm đúng mười hai (12) giờ trưa ngày ba mươi mốt tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám (31-10-1975) và có thể tái ứng cử một lần nữa, chiếu đoạn 2 Điều 52 (mới) Hiến Pháp. Các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện đương nhiệm sẽ mãn nhiệm ngày hai mươi hai tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi bốn (22-10-1974). Trong nhiệm kỳ đầu tiên áp dụng thể thức tuyển chọn qui định tại Điều 80 (mới) Hiến Pháp, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện được chia làm ba (3) nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm: nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ hai (2) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ bốn (4) năm và nhóm thứ ba có nhiệm kỳ sáu (6) năm. Luật này được ban hành theo thủ tục khẩn cấp và đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Hòa. :::::::::::''Saigon, ngày 22 tháng 01 năm 1974'' :::::::::::''Ký tên NGUYỄN VĂN THIỆU'' ==Nguồn== * Cuốn ''Hiến pháp chú thích'', Trương Tiến Đạt (1967). * Cuốn ''Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà ban hành ngày 1 thánh 4 năm 1967'', Bộ Dân vận và Chiêu hồi Việt Nam Cộng hoà (1974). {{PVCC-CPVN}} [[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]] b3pb2fjph3t22pov1t7sv2bhk7va80q 206224 206223 2026-09-25T08:55:54Z ~2026-51659-12 20661 /* */ 206224 wikitext text/x-wiki {{đầu đề |tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa |tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa |năm=1967 |dịch giả= |phần= |trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]] |sau= |wikipedia= |ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ Nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính lần duy nhất vào năm 1974. Nó bị bãi bỏ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Việt Nam Cộng hoà tuyên bố đầu hàng và giải tán. Ở dưới sẽ trình bày nguyên văn Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà 1967 và điều luật tu chính năm 1974: }} <pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 /> ==Tu chính án Hiến pháp (1974)== '''''VIỆT-NAM CỘNG-HÒA''''' '''PHỦ TỔNG-THỐNG''' <center>'''''LUẬT SỐ 001/74 NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 1974'''''</center> <center>'''« TU-CHÍNH HIẾN-PHÁP NGÀY 1-4-1967 »'''</center> Chiếu Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 1 tháng 4 năm 1967; Sau khi Quốc Hội đã thảo luận và biểu quyết, <center>''TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA''</center> ban hành Luật số 001/74 ngày 22 tháng 01 năm 1974 « tu chính Hiến Pháp ngày 1-4-1967 » nguyên văn như sau: Điều 1. Nay sửa đổi các Điều 52, 80 và 114 của bản văn Hiến Pháp ngày 1-4-1967 như sau: <center>''ĐIỀU 52 (mới)''</center> 1. Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một (1) Liên Danh được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín. 2. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là năm (5) năm, Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử hai lần. 3. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi (60) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy. 4. Cuộc bầu cử Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày Chủ nhật, bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt. <center>''ĐIỀU 80 (mới)''</center> 1. Tối Cao Pháp Viện gồm chín (9) Thẩm Phán do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm trên một danh sách do Tối Cao Pháp Viện và Bộ Tư Pháp thiết lập, gồm những Thẩm Phán hội đủ các điều kiện sau: — Ở trong ngạch Thẩm Phán Xử Án hay Thẩm Phán Công Tố các Tòa Sơ Thẩm và Thượng Thẩm hoặc ngạch Thẩm Phán Hành Chánh ít nhất 15 năm. Từ cấp bậc Hội Thẩm và Thẩm Lý các Tòa Thượng Thẩm hoặc Cố Vấn Hạng Nhì Tham Chính Viện trở lên. 2. Nhiệm kỳ của Thẩm Phán, Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm, cứ hai (2) năm Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm lại một phần ba (1/3) trên một danh sách được thiết lập theo các điều kiện ấn định tại đoạn 1 điều này. 3. Một Đạo Luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện. <center>''ĐIỀU 114 (mới)''</center> Trong nhiệm kỳ đầu tiên và nhiệm kỳ thứ hai, Tổng Thống có thể bổ nhiệm Đô Trưởng, Tỉnh Trưởng và Thị Trưởng. Điều 2. Tổng Thống và Phó Tổng Thống đương nhiệm sẽ mãn nhiệm đúng mười hai (12) giờ trưa ngày ba mươi mốt tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám (31-10-1975) và có thể tái ứng cử một lần nữa, chiếu đoạn 2 Điều 52 (mới) Hiến Pháp. Các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện đương nhiệm sẽ mãn nhiệm ngày hai mươi hai tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi bốn (22-10-1974). Trong nhiệm kỳ đầu tiên áp dụng thể thức tuyển chọn qui định tại Điều 80 (mới) Hiến Pháp, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện được chia làm ba (3) nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm: nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ hai (2) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ bốn (4) năm và nhóm thứ ba có nhiệm kỳ sáu (6) năm. Luật này được ban hành theo thủ tục khẩn cấp và đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Hòa. :::::::::::''Saigon, ngày 22 tháng 01 năm 1974'' :::::::::::''Ký tên NGUYỄN VĂN THIỆU'' ==Nguồn== * Cuốn ''Hiến pháp chú thích'', Trương Tiến Đạt (1967). * Cuốn ''Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà ban hành ngày 1 thánh 4 năm 1967'', Bộ Dân vận và Chiêu hồi Việt Nam Cộng hoà (1974). {{PVCC-CPVN}} [[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]] h8txw6r069sk8zz5sa6gw4197uhahyd Chủ đề:Hiệp định Paris 1973 và các văn bản có liên quan 100 3273 206226 206194 2026-09-25T09:45:42Z ~2026-51675-72 20662 /* */ 206226 wikitext text/x-wiki {{đầu đề chủ đề | tựa đề = Hiệp định Paris 1973 và các văn bản có liên quan | lớp = K | phân lớp 1 = Z | phân lớp 2 = | cần duyệt = | viết tắt = | ghi chú = '''Hiệp định Paris''' là một hiệp định để chấm dứt [[w:Chiến Tranh Việt Nam|chiến tranh]] và lập lại hòa bình ở [[:w:Việt Nam|Việt Nam]]. Bên cạnh thoả thuận chính, hiệp định còn có 4 nghị định thư kèm theo. Hiệp định được 4 trong số các bên tham chiến là [[:w:Hoa Kỳ|Hoa Kỳ]], [[:w:Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa]], [[:w:Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa|Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa]], và [[:w:Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] ký tại [[:w:Paris|Paris]] vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. }} __TOC__ ;Ngày 18 tháng 10 năm 1972 *[[Công hàm ngày 18 tháng 10 năm 1972 của Chính phủ Hoa Kỳ|Công hàm của Chính phủ Hoa Kỳ]] ;Ngày 19 tháng 10 năm 1972 * [[Công hàm ngày 19 tháng 10 năm 1972 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|Công hàm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] ;Ngày 20 tháng 10 năm 1972 * [[Công hàm ngày 20 tháng 10 năm 1972 của Chính phủ Hoa Kỳ|Công hàm của Chính phủ Hoa Kỳ]] *[[Bản thỏa thuận giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ tháng 10 năm 1972]] ;Ngày 12, 13, 20 và 22 tháng 1 năm 1973 * [[Bản ghi nhớ các hiểu biết kèm theo Hiệp định Paris 1973]] ;Ngày 27 tháng 1 năm 1973 * '''[[Hiệp định Paris 1973]]''' ** [[Hiệp định Paris 1973 (bản hai bên)]] * [[Nghị định thư về trao trả người bị bắt (bản bốn bên)|Nghị định thư về trao trả người bị bắt]] ** [[Nghị định thư về trao trả người bị bắt (bản hai bên)|Nghị định thư về trao trả người bị bắt (bản hai bên)]] * [[Nghị định thư về ngừng bắn (bản bốn bên)|Nghị định thư về ngừng bắn]] ** [[Nghị định thư về ngừng bắn (bản hai bên)|Nghị định thư về ngừng bắn (bản hai bên)]] * [[Nghị định thư về Ủy ban quốc tế (bản bốn bên)|Nghị định thư về Ủy ban quốc tế]] ** [[Nghị định thư về Ủy ban quốc tế (bản hai bên)|Nghị định thư về Ủy ban quốc tế (bản hai bên)]] * [[Nghị định thư về quét mìn|Nghị định thư về quét mìn]] ;Ngày 1 tháng 2 năm 1973 * [[Công hàm ngày 1 tháng 2 năm 1973 của Tổng thống Hoa Kỳ|Công hàm của Tổng thống Hoa Kỳ]] ;Ngày 21 tháng 2 năm 1973 * [[Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc ký kết hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam]] ;Ngày 2 tháng 3 năm 1973 * [[Định ước của Hội nghị Paris 1973|Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam]] ;Ngày 13 tháng 6 năm 1973 * [[Thông cáo chung bốn bên|Thông cáo chung của bốn bên ký kết]] * [[Thông cáo chung hai bên|Thông cáo chung của Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa]] == Xem thêm == * [[So sánh Bản thỏa thuận và Hiệp định Paris 1973 chính thức]] == Tài liệu nguồn == * [http://www.scribd.com/doc/12202812/Hiep-Dinh-Paris-27-Jan-1973 Bản chụp các tài liệu đánh máy toàn văn các Hiệp định Paris 1973 do hai bên và bốn bên ký và Hiệp định Genève 1954] *[http://www.saigonbao.com/hiepdinhparis/vietnam/trang8.htm Bản chụp tài liệu đánh máy toàn văn bản Hiệp định Paris 1973 do bốn bên ký] *[http://tranxuanan.writer.2.googlepages.com/hdparis-1973_saigonbao.htm Bản đánh máy Hiệp định toàn văn bản Hiệp định Paris 1973 (bản được ký bởi bốn bên) trên trang web của Trần Xuân An do Saigonbao tập hợp] * Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. (bản tiếng Việt). Sách trắng của Bộ ngoại giao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hà Nội. Tháng 10 năm 1972. * Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. (bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh) Vụ thông tin báo chí-Bộ ngoại giao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Phát hành rộng rãi trong và ngoài nước. Hà Nội. tháng 1 năm 1973. * Báo Nhân dân ngày 26 tháng 10 năm 1972. (lưu trữ tại Thư viện Quốc gia. Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hà Nội). * Báo Nhân dân ngày 28 tháng 1 năm 1973. Các phụ trang A, B, C, D. (lưu trữ tại Thư viện Quốc gia. Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hà Nội) * Lưu Văn Lợi-Nguyễn Anh Vũ. Các cuộc đàm phán Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris (các phụ lục đánh số thứ tự từ I đến XV ). NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2002. [[Thể loại:Luật quốc tế]] [[Thể loại:Hiệp định]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Hoa Kỳ]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] sou2zflhhl72kicy99jy2oo8472q01z Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949 114 20858 206225 206216 2026-09-25T08:58:16Z ~2026-51659-12 20661 /* */ 206225 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hiệp định Élysée | tác giả = Vincent Auriol | ngôn ngữ = en | bản gốc = | phần = '''Văn thư chính''' | trước = | sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] | ấn bản = có | năm = 1949 | ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chi tiết hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ. Nội dung ở dưới là văn thư chính. Văn thư thứ hai là của Bảo Đại gửi Vincent Auriol, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Vincent Auriol gửi Bảo Đại để bổ túc thêm, theo yêu cầu của Bảo Đại, các điểm về vấn đề thống nhất Việt Nam và vấn đề ngoại giao, nhất là việc trao đổi đại sứ. Hiệp định Élysée công nhận Việt Nam (Bắc và Trung Kỳ) độc lập khỏi Pháp trên danh nghĩa và hủy bỏ hiệp ước bảo hộ 1884 giữa hai nước, đồng thời nó mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] tự trị trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định sau đó được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn ngày 2 tháng 2. Hiệp định Élysée bị bãi bỏ ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi Pháp công nhận nền độc lập hoàn toàn của Quốc gia Việt Nam.}} {{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}} '''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:''''' {{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949 }} Thưa Hoàng Thượng, Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài. Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu. Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này. Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây. ===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM=== Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt). Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ. Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp. Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây. Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng. Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ. ===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO=== Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa. Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp. Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam. Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam. Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp. Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam. Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này. ===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ=== Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài. Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam. Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp. Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp. Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây. Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam. ===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC=== Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp. Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản. Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam. ===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP=== Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc. Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây: # Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”. # Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội. # Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp. Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng. Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên. Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương. Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này. ===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA=== Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này. Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp. Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt. Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt. Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan. Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn. Trong giảng dạy truyền thống: :a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp :b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định. Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp. Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan. Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng: Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam. Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây: - Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang. - Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia. - Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế. - Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học. - Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949. '''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau. Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt. ===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH=== Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này. Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp. Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam. Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây: :a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia; :b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép; :c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động. Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy. Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng. Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế. Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương. Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào. Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên. Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương. Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh. Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể. Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây: # Dịch vụ về phát thanh # Kiểm soát di trú #Thương mại quốc tế và quan thuế # Kho bạc # Kế hoạch trang thiết bị Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo. Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc. Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần. Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp. Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi. {{văn|canh lề=right| Vincent Auriol }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] hgupfv8x2po3r6zc5x8c88gkde0pl52 Wikisource:GUS2Wiki 4 46964 206221 206180 2026-09-24T13:37:59Z Alexis Jazz 15437 Updating gadget usage statistics from [[Special:GadgetUsage]] ([[phab:T121049]]) 206221 wikitext text/x-wiki {{#ifexist:Project:GUS2Wiki/top|{{/top}}|This page provides a historical record of [[Special:GadgetUsage]] through its page history. To get the data in CSV format, see wikitext. To customize this message or add categories, create [[/top]].}} Dữ liệu dưới đây được đưa vào vùng nhớ đệm và được cập nhật lần cuối lúc 2026-09-22T10:06:19Z. Tối đa có sẵn {{PLURAL:5000|một kết quả|5000 kết quả}} trong vùng nhớ đệm. {| class="sortable wikitable" ! Tiện ích !! data-sort-type="number" | Số người dùng !! data-sort-type="number" | Số thành viên tích cực |- |AutoOldStyleVi || 7 || 0 |- |HotCat || 44 || 2 |- |NopInserter || 9 || 0 |- |Preload Page Images || 5 || 1 |- |QualityButton || 12 || 0 |- |Subpages || 7 || 0 |- |TemplatePreloader || 37 || 2 |- |UTCLiveClock || 21 || 0 |- |addsection-plus || 20 || 0 |- |edittop || 22 || 1 |- |mark-proofread || 11 || 0 |- |navpop || 35 || 1 |- |purgetab || 26 || 1 |- |removeAccessKeys || 4 || 0 |- |wiked || 11 || 0 |} * [[Đặc biệt:GadgetUsage]] * [[m:Meta:GUS2Wiki/Script|GUS2Wiki]] <!-- data in CSV format: AutoOldStyleVi,7,0 HotCat,44,2 NopInserter,9,0 Preload Page Images,5,1 QualityButton,12,0 Subpages,7,0 TemplatePreloader,37,2 UTCLiveClock,21,0 addsection-plus,20,0 edittop,22,1 mark-proofread,11,0 navpop,35,1 purgetab,26,1 removeAccessKeys,4,0 wiked,11,0 --> 0m59hiciqnubr0pv61fmf73ebi3tx26