Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.47.0-wmf.23 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Sự kiện Thảo luận Sự kiện Đề tài Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 0 2380 206267 206254 2026-10-06T15:28:45Z ~2026-53647-68 20714 /* */ 206267 wikitext text/x-wiki {{đầu đề |tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa |tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa |năm=1967 |dịch giả= |phần= |trước=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956]] |sau= |wikipedia= |ghi chú= Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967 và được ban hành vào ngày 1 tháng 4, khai sinh nền Đệ Nhị Cộng hoà. Bản hiến pháp được tu chính lần duy nhất vào năm 1974. Nó bị bãi bỏ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Việt Nam Cộng hoà tuyên bố đầu hàng và giải tán. }} <pages index="Constitution of ROV 1967 from Hien phap chu thich.pdf" from=3 to=37 /> ==Tu chính án Hiến pháp (1974)== '''''VIỆT-NAM CỘNG-HÒA''''' '''PHỦ TỔNG-THỐNG''' <center>'''''LUẬT SỐ 001/74 NGÀY 22 THÁNG 01 NĂM 1974'''''</center> <center>'''« TU-CHÍNH HIẾN-PHÁP NGÀY 1-4-1967 »'''</center> Chiếu Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 1 tháng 4 năm 1967; Sau khi Quốc Hội đã thảo luận và biểu quyết, <center>''TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA''</center> ban hành Luật số 001/74 ngày 22 tháng 01 năm 1974 « tu chính Hiến Pháp ngày 1-4-1967 » nguyên văn như sau: Điều 1. Nay sửa đổi các Điều 52, 80 và 114 của bản văn Hiến Pháp ngày 1-4-1967 như sau: <center>''ĐIỀU 52 (mới)''</center> 1. Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một (1) Liên Danh được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín. 2. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là năm (5) năm, Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử hai lần. 3. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi (60) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy. 4. Cuộc bầu cử Tân Tổng Thống và Tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày Chủ nhật, bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt. <center>''ĐIỀU 80 (mới)''</center> 1. Tối Cao Pháp Viện gồm chín (9) Thẩm Phán do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm trên một danh sách do Tối Cao Pháp Viện và Bộ Tư Pháp thiết lập, gồm những Thẩm Phán hội đủ các điều kiện sau: — Ở trong ngạch Thẩm Phán Xử Án hay Thẩm Phán Công Tố các Tòa Sơ Thẩm và Thượng Thẩm hoặc ngạch Thẩm Phán Hành Chánh ít nhất 15 năm. Từ cấp bậc Hội Thẩm và Thẩm Lý các Tòa Thượng Thẩm hoặc Cố Vấn Hạng Nhì Tham Chính Viện trở lên. 2. Nhiệm kỳ của Thẩm Phán, Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm, cứ hai (2) năm Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm lại một phần ba (1/3) trên một danh sách được thiết lập theo các điều kiện ấn định tại đoạn 1 điều này. 3. Một Đạo Luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện. <center>''ĐIỀU 114 (mới)''</center> Trong nhiệm kỳ đầu tiên và nhiệm kỳ thứ hai, Tổng Thống có thể bổ nhiệm Đô Trưởng, Tỉnh Trưởng và Thị Trưởng. Điều 2. Tổng Thống và Phó Tổng Thống đương nhiệm sẽ mãn nhiệm đúng mười hai (12) giờ trưa ngày ba mươi mốt tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám (31-10-1975) và có thể tái ứng cử một lần nữa, chiếu đoạn 2 Điều 52 (mới) Hiến Pháp. Các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện đương nhiệm sẽ mãn nhiệm ngày hai mươi hai tháng mười năm một ngàn chín trăm bảy mươi bốn (22-10-1974). Trong nhiệm kỳ đầu tiên áp dụng thể thức tuyển chọn qui định tại Điều 80 (mới) Hiến Pháp, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện được chia làm ba (3) nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm: nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ hai (2) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ bốn (4) năm và nhóm thứ ba có nhiệm kỳ sáu (6) năm. Luật này được ban hành theo thủ tục khẩn cấp và đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Hòa. :::::::::::''Saigon, ngày 22 tháng 01 năm 1974'' :::::::::::''Ký tên NGUYỄN VĂN THIỆU'' ==Nguồn== * Cuốn ''Hiến pháp chú thích'', Trương Tiến Đạt (1967). * Cuốn ''Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà ban hành ngày 1 thánh 4 năm 1967'', Bộ Dân vận và Chiêu hồi Việt Nam Cộng hoà (1974). {{PVCC-CPVN}} [[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng Hòa]] i05gmzvc2wjtox3jy1s9wjjss942pg3 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 0 3156 206265 206256 2026-10-06T15:26:30Z ~2026-53647-68 20714 /* */ 206265 wikitext text/x-wiki {{đầu đề |tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa |tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa |năm=1956 |dịch giả= |phần= |trước=[[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] |sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]] |wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 |ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua vào ngày 20 tháng 10 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng hoà và được Tổng thống Ngô Đình Diệm ký ban hành 6 ngày sau. Bản hiến pháp bị bãi bỏ vào ngày 4 tháng 11 năm 1963 bởi Hội đồng Quân nhân Cách mạng sau cuộc đảo chính lật đổ nền Đệ Nhất Cộng hoà. Bản hiến pháp mới của Việt Nam Cộng hòa sẽ được ban hành vào năm 1967.}} __NOTOC__ ===LỜI MỞ ĐẦU=== Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo; Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy; Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia; Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến: Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan; Nguyện vọng ấy là: Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị; Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc; Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị; Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng; Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện. Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây: ==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản== ===Điều 1=== :Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân. ===Điều 2=== :Chủ quyền thuộc về toàn dân. ===Điều 3=== :Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử. :Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa. :Tổng thống lãnh đạo Quốc dân. ===Điều 4=== :Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập. ===Điều 5=== :Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ. :Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể. :Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ. :Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật. ===Điều 6=== :Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người. ===Điều 7=== :Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp. ===Điều 8=== :Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc. :Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng. ==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân== ===Điều 9=== :Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn. ===Điều 10=== :Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép. :Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình. ===Điều 11=== :Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách. ===Điều 12=== :Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng. :Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung. :Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép. ===Điều 13=== :Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng. :Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng. ===Điều 14=== :Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau. :Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm. ===Điều 15=== :Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội. ===Điều 16=== :Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa. :Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực. ===Điều 17=== :Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục. ===Điều 18=== :Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình. ===Điều 19=== :Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng. ===Điều 20=== :Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội. :Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích. ===Điều 21=== :Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp. ===Điều 22=== :Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế. :Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ. :Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng. ===Điều 23=== :Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định. :Công chức không có quyền đình công. :Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể. :Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy. ===Điều 24=== :Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác. ===Điều 25=== :Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi. :Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình. ===Điều 26=== :Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí. :Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn. :Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn. :Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định. :Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận. ===Điều 27=== :Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật. :Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật. ===Điều 28=== :Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định. :Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng. :Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền. ===Điều 29=== :Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp. :Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ. :Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định. :Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình. == THIÊN THỨ BA: Tổng thống == === Điều 30 === :Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống. :Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách. ===Điều 31=== :Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây: :# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp. :# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm. :# Đủ 40 tuổi. :# Hưởng các quyền công dân. :Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không. ===Điều 32=== :Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa. ===Điều 33=== :Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy. :Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây: :# Mệnh chung. :# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa. :# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội. :# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81. ===Điều 34=== :Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt. :Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ. :Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội. ===Điều 35=== :Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế. :Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc. ===Điều 36=== :Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước. ===Điều 37=== :Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt. :Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự. :Tổng thống ban các loại huy chương. :Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án. ===Điều 38=== :Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ. :Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy. :Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt. ===Điều 39=== :Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp. :Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội. :Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ. ===Điều 40=== :Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng. ===Điều 41=== :Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy. :Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật. ===Điều 42=== :Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật. ===Điều 43=== :Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau. :Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách. :Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách. ===Điều 44=== :Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó. ===Điều 45=== :Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau: :Tôi long trọng tuyên thệ: :Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống; :Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp; :Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng. ===Điều 46=== :Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống. ===Điều 47=== :Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp. ==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội== ;Chương Một. - Dân biểu ===Điều 48=== :Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử. ===Điều 49=== :Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định. ===Điều 50=== :Có quyền ứng cử Dân biểu những người: :# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp; :# Hưởng các quyền công dân; :# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu; :# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử. :Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên. ===Điều 51=== :Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử. :Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt. ===Điều 52=== :Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng. :Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm. ===Điều 53=== :Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ. :Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng. :Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội. :Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng. :Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền. ===Điều 54=== :Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội. :Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về. ;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội. === Điều 55 === :Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế. ;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp ===Điều 56=== :Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật. ===Điều 57=== :Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn. :Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn. ===Điều 58=== :Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận. :Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội. ===Điều 59=== :Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật. ===Điều 60=== :Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp. ===Điều 61=== :Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương. ;Chương Tư - Điều hành Quốc hội. ===Điều 62=== :Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường. ===Điều 63=== :Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng. ===Điều 64=== :Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội. :Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định. :Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định. :Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày. ===Điều 65=== :Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu. :Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín. ===Điều 66=== :Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này. :Quốc hội có trọn quyền định đoạt. ===Điều 67=== :Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết. :Quốc hội chỉ định các Ủy ban. ===Điều 68=== :Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau: :Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng; :Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng; :Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật; :Thành phần và quyền hạn các Ủy ban. ===Điều 69=== :Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu. == THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán == === Điều 70=== :Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án. ===Điều 71=== :Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia. ===Điều 72=== :Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng. ===Điều 73=== :Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định. ==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện== ===Điều 74=== :Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội. ===Điều 75=== :Đặc biệt Pháp viện gồm có: :Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án''; :Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''. :Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án. ===Điều 76=== :Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ. ===Điều 77=== :Sự khởi tố theo các điều kiện sau: :a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận; :b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận. :c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này. ===Điều 78=== :Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3. ===Điều 79=== :Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa. ===Điều 80 === :Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên. ===Điều 81=== :Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay. ==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia== === Điều 82=== :Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế. :Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học. :Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội. ===Điều 83=== :Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia. ===Điều 84=== :Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia. ==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến== ===Điều 85=== :Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh. ===Điều 86=== :Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có: :Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội. :4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử; :4 Dân biểu do Quốc hội cử. ===Điều 87=== :Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình. :Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo. ===Điều 88=== :Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy. ==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp== ===Điều 89=== :Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp. ===Điều 90=== :Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp. :Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội. ===Điều 91=== :Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống. :Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt. ===Điều 92=== :Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu. ===Điều 93=== :Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59. :Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu. == THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung == ===Điều 94=== :Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu. ===Điều 95=== :Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. :Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín. ===Điều 96=== :Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. :Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt. ===Điều 97=== :Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận. :Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên. ===Điều 98=== :Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng. {{PVCC-CPVN}} ==Liên kết ngoài== * [https://fr.scribd.com/document/941924091/HIEN-PHAP-VIET-NAM-CONG-HOA-1956 Toàn văn bản Hiến pháp] [[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]] bdv2klwfsi87bubrl59rql12zx7uzxg 206266 206265 2026-10-06T15:28:05Z ~2026-53647-68 20714 /* */ 206266 wikitext text/x-wiki {{đầu đề |tựa đề=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa |tác giả=Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa |năm=1956 |dịch giả= |phần= |trước=[[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] |sau=[[Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967]] |wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 |ghi chú=Bản hiến pháp này được Quốc hội Lập hiến [[w:Việt Nam Cộng hoà|Việt Nam Cộng hoà]] thông qua vào ngày 20 tháng 10 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng hoà và được Tổng thống Ngô Đình Diệm ký ban hành 6 ngày sau. Bản hiến pháp bị bãi bỏ vào ngày 4 tháng 11 năm 1963 bởi Hội đồng Quân nhân Cách mạng sau cuộc đảo chính lật đổ nền Đệ Nhất Cộng hoà. Bản hiến pháp mới của Việt Nam Cộng hòa sẽ được ban hành vào năm 1967. }} __NOTOC__ ===LỜI MỞ ĐẦU=== Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo; Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy; Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia; Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến: Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan; Nguyện vọng ấy là: Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị; Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc; Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị; Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng; Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện. Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây: ==THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản== ===Điều 1=== :Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân. ===Điều 2=== :Chủ quyền thuộc về toàn dân. ===Điều 3=== :Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử. :Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa. :Tổng thống lãnh đạo Quốc dân. ===Điều 4=== :Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập. ===Điều 5=== :Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ. :Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể. :Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ. :Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật. ===Điều 6=== :Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người. ===Điều 7=== :Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp. ===Điều 8=== :Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc. :Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng. ==THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân== ===Điều 9=== :Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn. ===Điều 10=== :Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép. :Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình. ===Điều 11=== :Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách. ===Điều 12=== :Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng. :Tánh cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung. :Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép. ===Điều 13=== :Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng. :Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng. ===Điều 14=== :Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau. :Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm. ===Điều 15=== :Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội. ===Điều 16=== :Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa. :Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực. ===Điều 17=== :Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục. ===Điều 18=== :Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình. ===Điều 19=== :Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng. ===Điều 20=== :Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội. :Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích. ===Điều 21=== :Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp. ===Điều 22=== :Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế. :Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ. :Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng. ===Điều 23=== :Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định. :Công chức không có quyền đình công. :Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể. :Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy. ===Điều 24=== :Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác. ===Điều 25=== :Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi. :Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình. ===Điều 26=== :Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí. :Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn. :Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn. :Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định. :Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận. ===Điều 27=== :Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật. :Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật. ===Điều 28=== :Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định. :Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định đẻ tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng. :Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống {{SIC|nhứt|nhất}} Quốc gia sẽ bị truất quyền. ===Điều 29=== :Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp. :Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ. :Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định. :Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình. == THIÊN THỨ BA: Tổng thống == === Điều 30 === :Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống. :Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách. ===Điều 31=== :Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây: :# Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp. :# Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm. :# Đủ 40 tuổi. :# Hưởng các quyền công dân. :Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không. ===Điều 32=== :Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa. ===Điều 33=== :Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy. :Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây: :# Mệnh chung. :# Vì bịnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa. :# Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội. :# Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81. ===Điều 34=== :Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt. :Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ. :Trong trường họp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội. ===Điều 35=== :Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế. :Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc. ===Điều 36=== :Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước. ===Điều 37=== :Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt. :Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự. :Tổng thống ban các loại huy chương. :Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án. ===Điều 38=== :Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ. :Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy. :Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt. ===Điều 39=== :Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp. :Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội. :Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ. ===Điều 40=== :Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng. ===Điều 41=== :Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy. :Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật. ===Điều 42=== :Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật. ===Điều 43=== :Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau. :Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách. :Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách. ===Điều 44=== :Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó. ===Điều 45=== :Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau: :Tôi long trọng tuyên thệ: :Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống; :Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp; :Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng. ===Điều 46=== :Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống. ===Điều 47=== :Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp. ==THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội== ;Chương Một. - Dân biểu ===Điều 48=== :Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử. ===Điều 49=== :Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định. ===Điều 50=== :Có quyền ứng cử Dân biểu những người: :# Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp; :# Hưởng các quyền công dân; :# Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu; :# Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử. :Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên. ===Điều 51=== :Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử. :Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt. ===Điều 52=== :Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng. :Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm. ===Điều 53=== :Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ. :Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng. :Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội. :Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng. :Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền. ===Điều 54=== :Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội. :Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về. ;Chương Hai - Quyền hành của Quốc hội. === Điều 55 === :Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế. ;Chương Ba - Thủ tục Lập pháp ===Điều 56=== :Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật. ===Điều 57=== :Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn. :Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn. ===Điều 58=== :Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận. :Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội. ===Điều 59=== :Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật. ===Điều 60=== :Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp. ===Điều 61=== :Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương. ;Chương Tư - Điều hành Quốc hội. ===Điều 62=== :Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường. ===Điều 63=== :Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng. ===Điều 64=== :Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội. :Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định. :Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định. :Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày. ===Điều 65=== :Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu. :Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín. ===Điều 66=== :Để kiểm soát tánh cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này. :Quốc hội có trọn quyền định đoạt. ===Điều 67=== :Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thơ ký, 3 Phó Tổng Thơ ký, và một số nhân viên cần thiết. :Quốc hội chỉ định các Ủy ban. ===Điều 68=== :Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau: :Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng; :Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng; :Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật; :Thành phần và quyền hạn các Ủy ban. ===Điều 69=== :Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu. == THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán == === Điều 70=== :Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án. ===Điều 71=== :Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia. ===Điều 72=== :Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng. ===Điều 73=== :Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định. ==THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện== ===Điều 74=== :Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội. ===Điều 75=== :Đặc biệt Pháp viện gồm có: :Chánh án Tòa Phá án, ''Chánh án''; :Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, ''Hội thẩm''. :Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án. ===Điều 76=== :Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ. ===Điều 77=== :Sự khởi tố theo các điều kiện sau: :a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nạp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận; :b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận. :c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này. ===Điều 78=== :Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3. ===Điều 79=== :Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa. ===Điều 80 === :Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên. ===Điều 81=== :Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay. ==THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia== === Điều 82=== :Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế. :Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học. :Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội. ===Điều 83=== :Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia. ===Điều 84=== :Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia. ==THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến== ===Điều 85=== :Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh. ===Điều 86=== :Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có: :Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội. :4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử; :4 Dân biểu do Quốc hội cử. ===Điều 87=== :Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nạp trình. :Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo. ===Điều 88=== :Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy. ==THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp== ===Điều 89=== :Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp. ===Điều 90=== :Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp. :Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội. ===Điều 91=== :Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống. :Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt. ===Điều 92=== :Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu. ===Điều 93=== :Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59. :Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu. == THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung == ===Điều 94=== :Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu. ===Điều 95=== :Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăn năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. :Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín. ===Điều 96=== :Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. :Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt. ===Điều 97=== :Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận. :Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên. ===Điều 98=== :Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng. {{PVCC-CPVN}} ==Liên kết ngoài== * [https://fr.scribd.com/document/941924091/HIEN-PHAP-VIET-NAM-CONG-HOA-1956 Toàn văn bản Hiến pháp] [[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa|Việt Nam Cộng hòa 1956]] byvjs2zhkd9ey31cm5hagk41i4jtt0l Biên dịch:Hiệp định Élysée 1949 114 20858 206268 206225 2026-10-06T15:30:09Z ~2026-53647-68 20714 /* */ 206268 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Hiệp định Élysée | tác giả = Vincent Auriol | ngôn ngữ = en | bản gốc = | phần = '''Văn thư chính''' | trước = | sau = [[Bản tuyên cáo thành lập chế độ Cộng hòa]] | ấn bản = có | năm = 1949 | ghi chú = Hiệp định Élysée được ký ở Paris giữa Cựu hoàng Việt Nam Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm 1949, chi tiết hoá Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948. Hiệp định Élysée gồm một văn thư chính và hai văn thư phụ. Nội dung ở dưới là văn thư chính. Văn thư thứ hai là của Bảo Đại gửi Vincent Auriol, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung văn thư chính. Văn thư cuối cùng là của Vincent Auriol gửi Bảo Đại để bổ túc thêm, theo yêu cầu của Bảo Đại, các điểm về vấn đề thống nhất Việt Nam và vấn đề ngoại giao, nhất là việc trao đổi đại sứ. Hiệp định Élysée công nhận Việt Nam (Bắc và Trung Kỳ) độc lập khỏi Pháp trên danh nghĩa và hủy bỏ hiệp ước bảo hộ 1884 giữa hai nước, đồng thời nó mở đường cho Nam Kỳ quay về Việt Nam. Hiệp định có hiệu lực vào ngày 14 tháng 6 năm 1949, dẫn tới sự thành lập của [[w:Quốc gia Việt Nam|Quốc gia Việt Nam]] tự trị trong khối Liên hiệp Pháp. Hiệp định sau đó được Quốc hội Pháp phê chuẩn vào ngày 29 tháng 1 năm 1950 và được Tổng thống Pháp phê chuẩn ngày 2 tháng 2. Hiệp định Élysée mất hiệu lực ngày 4 tháng 6 năm 1954 khi Pháp công nhận nền độc lập thực sự của Quốc gia Việt Nam. }} {{g|<big>'''Hiệp định Pháp-Việt ngày 8 tháng 3 năm 1949'''</big>}} '''''Thư của Tổng Thống Cộng Hòa [''Pháp''], Chủ tịch Liên Hiệp Pháp đề ngày 8 tháng 3 năm 1949:''''' {{văn|canh lề=right|Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949 }} Thưa Hoàng Thượng, Ngài đã đưa ra ý là muốn thấy các nguyên tắc liên quan đến sự Toàn Vẹn và nền Độc Lập của Việt Nam phải được xác nhận và làm rõ, đã được đưa ra trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 ở vịnh Hạ Long bởi ông Emile Bollaert, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Trung Ương Việt Nam, trước sự hiện diện của Ngài. Ý muốn này đã phù hợp với ý muốn của Chính Phủ Pháp, sau khi đã được bàn cãi trong Hội Đồng Bộ Trưởng, đã yêu cầu tôi, với tư cách Tổng thống Liên Hiệp Pháp, tiến hành, bằng cách trao đổi qua văn thư với Ngài, để hoàn tất một hiệp định nhằm làm rõ, áp dụng các nguyên tắc trong Bản Tuyên Bố Chung ngày 5 tháng Sáu. Chính Phủ của Ngài, một mặt, có trách nhiệm ký kết với Cao Ủy Pháp ở Đông Dương các điều khoản đặc thù hay tạm thời mà chúng sẽ chi phối, phải tính đến các quy tắc đặt ra trong các văn kiện đang trao đổi hiện nay, tình trạng thực tế hiện nay, cho đến khi tình hình trật tự và hòa bình được tái lập, những quan hệ giữa Liên Hiệp Pháp và Việt Nam – mặt khác, chuẩn bị, với Đại Diện của Pháp, và với mối liên kết với các Chính Phủ Hoàng Gia Lào và Cao Mên, các quy tắc cần thiết đúng như các quy định được đưa ra trong các văn kiện này. Trên các cơ sở và các điều kiện này, tôi xác nhận nhân danh Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sự đồng ý của tôi về các điều quy định sau đây. ===I. SỰ TOÀN VẸN CỦA VIỆT NAM=== Bất kể các Hiệp Ước trước đây dù còn hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận lại quyết định của mình là sẽ không đưa ra cản trở nào dù bằng Luật Lệ hay trên thực tế việc gia nhập của Nam Kỳ vào nước Việt Nam, được định nghĩa là sự hợp thành bởi các Vùng Lãnh Thổ của Bắc Kỳ (Bắc Việt), Trung Kỳ (Trung Việt) và Nam Kỳ (Nam Việt). Nhưng việc hoàn nhập Nam Kỳ vào phần còn lại của Việt Nam chỉ có thể được xem như đã đạt được một cách hợp pháp sau một cuộc trưng cầu dân ý qua những người dân có liên quan hay những người đại biểu cho họ. Nhưng toàn bộ các điều khoản trong hiệp định này chỉ có giá trị trong trường hợp việc Nam Kỳ hoàn nhập với phần còn lại của Việt Nam là có hiệu lực và hợp pháp. Về việc này, Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ thực hiện mọi trình tự pháp lý đã được tiên liệu trong Hiến Pháp [''của Pháp'']. Ngay sau khi các trình tự pháp lý được tiên liệu như trên đây, Chính Phủ Pháp sẽ công nhận một cách vĩnh viễn sự Toàn Vẹn Lãnh Thổ của Việt Nam như đã được định nghĩa trên đây. Chính Phủ Pháp chối bỏ không đòi hưởng qui chế đặc biệt bởi các Dụ của Vua về ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng. Việc quản lý hành chính các cư dân không phải là người Việt mà nơi cư trú xưa nay là nằm trên lãnh thổ Việt Nam như đã vừa được định nghĩa trên đây và theo truyền thống đã luôn luôn thuộc thẩm quyền của Triều Đình An Nam, sẽ là đối tượng cho một chế độ đặc biệt, được Hoàng Thượng chuẩn nhận cho các đại diện của các cư dân này. Những quy chế này sẽ được xác định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp mà, trên điểm này, họ có những nghĩa vụ đặc biệt đối với các cư dân đó. Các quy chế đó sẽ phải đảm bảo, cùng lúc, những quyền lợi tối thượng của Việt Nam và sự phát triển tự do của các cư dân này trong sự tôn trọng những truyền thống và phong tục của họ. ===II. VẤN ĐỀ NGOẠI GIAO=== Chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Pháp mà trong đó Việt Nam thực thi các quyền của mình qua các đại biểu của họ trong Hội Đồng Tối Cao và quyền ngoại giao của Việt Nam như định nghĩa sau đây, sẽ được xem xét và phối hợp dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của Chính Phủ Pháp, trong Hội Đồng Tối Cao của Liên Hiệp mà Chính Phủ Việt Nam sẽ được đại diện bởi các đại biểu mà họ đã tự do chọn lựa. Để thực hiện các chỉ dẫn khái quát trên đây, trong vấn đề chính sách đối ngoại, Hoàng Đế Việt Nam sẽ liên kết hoạt động ngoại giao của mình với hoạt động ngoại giao của Liên Hiệp Pháp. Người đứng đầu các cơ quan ngoại giao nước ngoài sẽ được ủy nhiệm cạnh Tổng thống Liên Hiệp Pháp và Hoàng Đế Việt Nam. Các Trưởng đoàn Ngoại Giao Việt Nam mà Chính Phủ Việt Nam đã chỉ định với sự đồng ý của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để đại diện Việt Nam ở các Nước Ngoài, sẽ nhận được các ủy nhiệm thư do Tổng thống Liên Hiệp Pháp trao cho, và được ký tắt bởi Hoàng Đế Việt Nam. Các quốc gia mà Việt Nam được đại diện bởi một cơ quan ngoại giao sẽ được quyết định với sự đồng ý của Chính Phủ Pháp. Sự thống nhất về chính sách đối ngoại bên cạnh Liên Hiệp Pháp của các quốc gia sẽ được đảm bảo cùng lúc, bằng các chỉ thị tổng quát đã được quyết định, dĩ nhiên là bởi Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp, và được Chính Phủ Cộng Hòa Pháp truyền đạt đến Chính Phủ Việt Nam, cũng như bởi các liên lạc trực tiếp thực hiện giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt Nam. Ở các quốc gia khác, Việt Nam sẽ được đại diện bởi các cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và các cơ quan này có thể thu nhận các đại diện của Việt Nam. Việt Nam có đủ tư cách để thương lượng và ký kết các hiệp định liên quan đến các quyền lợi riêng biệt của mình, với điều kiện là phải được rõ ràng trước mọi đàm phán, Việt Nam gửi các dự án của mình cho Chính Phủ Cộng Hòa Pháp để được xem xét bởi Hội Đồng Tối Cao, và các đàm phán phải được thực hiện chung với các cơ quan ngoại giao của Cộng Hòa Pháp. Ý kiến thuận của Hội Đồng Tối Cao là điều cần thiết để các hiệp định được thỏa thuận trở nên quyết định. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp sẵn sàng, theo lời yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam, làm trung gian để mở các lãnh sự quán Việt Nam, trong các quốc gia mà Việt Nam dự tính là sẽ có các lợi ích đặc biệt. Các Lãnh sự Việt Nam thực hiện các hoạt động của mình: ở các Quốc Gia mà Việt Nam có một cơ quan ngoại giao, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan này, liên kết với người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp; ở các Quốc Gia khác, dưới sự chỉ đạo và trách nhiệm của người trưởng cơ quan ngoại giao của Chính Phủ Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp cam kết sẽ giới thiệu và hỗ trợ các ứng viên Việt Nam mỗi khi họ thỏa mãn đầy đủ các điều kiện tổng quát được dự định bởi Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để được thu nhận vào tổ chức này. ===III. VẤN ĐỀ QUÂN SỰ=== Nước Việt Nam có quân đội quốc gia đảm trách việc duy trì trật tự, an ninh trong nước và phòng thủ Đế Quốc [''Việt Nam'']. Trong trường hợp chót, việc phòng thủ nếu xảy ra sẽ được hỗ trợ bởi các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham gia trong việc bảo vệ biên giới của Liên Hiệp Pháp chống lại mọi kẻ thù ở ngoài. Quân số của quân đội quốc gia Việt Nam và quân số của quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú tại Việt Nam sẽ được quyết định bằng một hiệp định riêng biệt, sao cho toàn bộ các phương tiện sẵn có đủ để đảm bảo một cách có hiệu quả, trong thời chiến, việc bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và của Liên Hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam sẽ gồm người Việt dưới quyền chỉ huy bởi các Sĩ Quan người Việt; các huấn luyện viên và các cố vấn về kỹ thuật người Pháp sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của Việt Nam. Các cán bộ người Việt sẽ được đào tạo bởi các trường quân sự Việt Nam và, có thể, bởi các trường của Pháp là nơi mà họ sẽ được thâu nhận không có bất cứ phân biệt nào. Để làm dễ dàng, trong thời chiến, cấu trúc nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ gần giống càng nhiều càng tốt với cấu trúc của quân đội Liên Hiệp Pháp. Chi phí cho quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách của Chính Phủ Việt Nam đài thọ. Các yêu cầu về vật tư [''quân sự''] sẽ được Chính Phủ Việt Nam gửi đến Chính Phủ Pháp. Để có thể tham gia một cách có hiệu quả vào việc bảo vệ Liên Hiệp Pháp, quân đội của Liên Hiệp Pháp đóng quân trong lãnh thổ của Việt Nam, trong các căn cứ và trại quân, mà danh xưng, các giới hạn, và các qui chế sẽ là đối tượng của một thỏa thuận riêng biệt. Dù thế nào, qui chế này sẽ như thế nào để nó có thể cho phép các Quân Đội trong Liên Hiệp Pháp hoàn thành sứ mạng của mình mà vẫn tôn trọng nguyên tắc về chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Họ có thể di chuyển tự do giữa các căn cứ và trại quân được giao cho họ theo các thể thức sẽ được làm rõ trong thỏa thuận vừa nêu trên. Thể theo nguyên tắc hợp tác toàn diện trong Liên Hiệp Pháp, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ bao gồm các đơn vị Việt Nam mà việc tuyển quân cũng sẽ được xác định bởi thỏa thuận được nói đến trên đây. Để đảm bảo một hành động chung có hiệu quả ngay tức khắc trong thời chiến, một ủy ban quân sự thường trực, bao gồm các Sĩ Quan Tổng Tham Mưu của hai quân đội, sẽ được thành lập trong thời bình để chuẩn bị một kế hoạch quốc phòng chung và hợp tác quân sự giữa quân đội quốc gia và quân đội Liên Hiệp Pháp; ủy ban có thể được dùng, trong thời bình như một cơ quan để liên lạc thường trực giữa hai quân đội này. Các thể thức về cấu trúc và vận hành trong thời bình của ủy ban quân sự này sẽ được mô tả trong thỏa thuận đặc biệt được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Trong thời chiến, toàn bộ các phương tiện quốc phòng bao gồm chủ yếu bởi Quân Đội Việt Nam và quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ được nhập chung, và Ủy Ban quân sự là thành phần hạt nhân của một bộ Tổng Tham Mưu hỗn hợp mà việc chỉ đạo và chỉ huy sẽ do một Sĩ Quan cấp Tướng của Pháp chịu trách nhiệm về các chiến trường chủ yếu ở Việt Nam và một trong các Tổng Tham Mưu là người Việt Nam. ===IV. VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN TRONG NƯỚC=== Chính Phủ Việt Nam sẽ toàn quyền hành xử các quyền hạn và đặc quyền xuất phát từ chủ quyền trong nước của mình. Chính Phủ Việt Nam sẽ thông qua với Cao Ủy Pháp tại Đông Dương các thỏa thuận đặc biệt hay tạm thời, tùy theo hoàn cảnh, để xác định các thủ tục chuyển tiếp cho Việt Nam các chức năng trước đây được xử lý bởi chính quyền Pháp. Ưu tiên dành cho các kiều dân của Liên Hiệp Pháp chỉ sẽ chấm dứt trong trường hợp Chính Phủ Pháp không thể cung cấp được nhân sự yêu cầu. Thủ tục áp dụng điều khoản này sẽ được làm rõ sau này bằng một văn bản. Không một công dân Pháp, không một kiều dân nào thuộc Liên Hiệp Pháp được phép là thành viên của chính quyền Việt Nam mà không có trước sự cho phép hay sự đồng ý của Đại Diện của Liên Hiệp Pháp và ngược lại không một công dân Việt nào có thể làm việc trong chính quyền Pháp hay trong chính quyền của Liên Hiệp Pháp mà không sự cho phép hay đồng ý trước của chính quyền Việt Nam. ===V. VẤN ĐỀ TƯ PHÁP=== Việt Nam nhận lãnh đầy đủ và toàn diện thẩm quyền xét xử ở các cấp tòa án dân sự, thương mại, và hình sự trên toàn lãnh thổ của vương quốc. Tuy nhiên, ở cấp tòa dân sự và thương mại có kiện tụng giữa các công dân Việt Nam hoặc với các kiều dân của Liên Hiệp Pháp không phải là người Việt, hoặc với các kiều dân các nước khác mà nước Pháp đã ký kết các thỏa ước bao hàm một đặc quyền pháp lý và các truy tố hình sự được áp dụng vì các lý do phạm pháp mà trong đó các bị cáo hay bên bị thiệt hại cùng loại kiều dân hay những người đã phạm tội gây thiệt hại cho Nước Pháp – những người đó sẽ được xử bởi các cấp tòa án hỗn hợp mà thành phần và cách vận hành sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp tư pháp được đính kèm vào Hiệp Ước Pháp-Việt. Tuy nhiên thỏa hiệp sẽ tôn trọng các nguyên tắc sau đây: # Các bản án được tuyên sẽ có công thức chấp hành như sau: “''Nhân danh Liên Hiệp Pháp và Nước Việt Nam, Hoàng Đế của Việt Nam triệu tập và ra lệnh''”. # Luật được áp dụng là Luật của Pháp mỗi khi có một công dân Pháp bị buộc tội. # Luật được áp dụng là Luật của Việt Nam mỗi khi công dân Pháp không bị buộc tội, phải chỉ rõ là Luật này đã được áp dụng trong phần kết luận của vụ tranh chấp. Nếu thiếu, Luật của Pháp sẽ áp dụng. Sau cùng, được xác định rằng theo đúng các quy tắc tư pháp quốc tế, các vụ án dính đến tư cách [''pháp lý''] cá nhân sẽ được xử lý bởi Luật pháp quốc gia của các bên. Các vụ tranh chấp hành chánh sẽ được giải quyết theo cùng những nguyên tắc và trên cơ sở hoàn toàn hổ tương. Thỏa ước pháp lý đặc biệt sẽ giải quyết cùng lúc tất cả mọi vấn đề khác với trong chương này. ===VI. VẤN ĐỀ VĂN HÓA=== Ở bậc tiểu và trung học, Pháp có thể được tự do mở các cơ sở giáo dục công và tư dưới điều kiện duy nhất là phải tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ về vấn đề này. Các luật và qui định sẽ không được tạo ra bất cứ sự phân biệt đối xử, trực tiếp hay gián tiếp, giữa người Pháp và người Việt. Những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp và đạo đức để được dạy học trong các cơ sở giáo dục phải giống như những đòi hỏi như thế đang hiện hành ở Pháp. Tất cả những điều khoản này cũng được áp dụng trong Giáo Dục Kỹ Thuật và chuyên nghiệp. Các trường Pháp áp dụng các chương trình đang hiện hành ở Pháp; một lớp về lịch sử và văn minh Việt Nam trong khi đó buộc phải được dạy ở đây. Học sinh Việt Nam được tự do xin học ở các trường Pháp ở Việt Nam. Các trường này bắt buộc phải mở một lớp dạy tiếng Việt cho các em học sinh người Việt. Một chỗ ưu đãi, nằm trung gian giữa ngôn ngữ quốc gia và các ngôn ngữ quốc tế, sẽ được dành cho tiếng Pháp, ngôn ngữ ngoại giao của Việt Nam, trong các trường Việt. Việt Nam chuẩn nhận rằng tiếng Pháp trong các trường Trung Học Việt sẽ có một chỗ đứng đủ để có thể cho phép các học sinh, sau khi hoàn tất bậc Trung Học, theo học các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng này. Việt Nam sẽ cố gắng đảm bảo việc dạy tiếng Pháp ở bậc Tiểu Học với số trường càng nhiều càng tốt. Một hệ thống đánh giá tương đương giữa các bằng tốt nghiệp từ các trường Việt và các bằng chính thức của Pháp sẽ được thiết lập bằng một thỏa thuận được ký kết về việc này, ngay sau khi các chương trình của trường Việt và trường Pháp đã được đối chiếu so sánh. Việt Nam có quyền tự do xây dựng hệ thống các trường Đại Học của mình; cũng vậy, Việt Nam công nhận cho Pháp được quyền tiếp tục, tại Việt Nam, các trường Đại Học của mình dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, vì lý do các khó khăn trong thực tiễn hiện nay, và nhất là trong việc đào tạo một đội ngũ giáo chức người Việt xứng đáng, một Đại Học chung sẽ được thành lập trong sự tuân thủ các luật và qui định lãnh thổ. Qui chế Đại Học này sẽ là đối tượng của một thỏa hiệp đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia trong Liên Bang Đông Dương có thể, nếu họ muốn, tham gia vào tổ chức này và tham gia đàm phán về việc này với Pháp và Việt Nam. Qui chế của Đại Học này phải là một tổ chức thỏa mãn được càng nhiều càng tốt các nguyên tắc tự chủ ở bậc Đại Học áp dụng trong phần lớn các Quốc Gia hiện đại. Đại Học này sẽ được điều khiển bởi một Viện Trưởng, được bổ nhiệm bởi một quyết định chung giữa các nước có quan tâm và Pháp, sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi Hội Đồng Tham Vấn của Đại Học. Viện Trưởng sẽ được phụ giúp bởi các Khoa Trưởng, cho việc điều hành ở mỗi một ngành đại học, và, để cho việc điều hành của Đại Học, một Hội Đồng Cố Vấn Đại Học gồm có, dưới sự chỉ đạo của Viện Trưởng, các Khoa Trưởng, các đại diện của giáo sư, các đại diện của sinh viên và các nhân vật có quan tâm đến vấn đề giáo dục, cũng như các giám đốc các cơ sở khoa học lớn và một đại diện cho mỗi Chính Phủ có liên quan. Việc giảng dạy sẽ thực hiện với ngôn ngữ được chọn bởi các sáng lập viên của Đại Học và các Viện Chuyên Môn. Trong giảng dạy truyền thống: :a) Tất cả các ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Pháp :b) Việc giảng dạy bằng tiếng Việt sẽ được thực hiện theo các qui định do Hội Đồng Đại Học quyết định. Các văn bằng được cấp bởi Đại Học chung sẽ được xem như chính thức bởi hai Quốc Gia; tuy nhiên, các văn bằng từ một chương trình thuần Việt có thể được cấp sau này sẽ không đương nhiên được thu nhận vào các chức vụ giảng dạy bằng tiếng Pháp và vào các việc làm, tuyển dụng theo bằng cấp, trong Liên Hiệp Pháp. Để làm dễ dàng tối đa cho việc phát triển Giáo Dục cấp Đại Học, thuế đánh trên Đại Học sẽ được giữ ở mức càng thấp càng tốt và phải được sự đồng ý của các Chính Phủ có liên quan. Đại Học chung sẽ dành ra một số chỗ cho các sinh viên được học bổng của các Chính Phủ có liên quan. Số phận của các cơ sở khoa học đang hiện hữu ở Việt Nam sẽ được giải quyết bởi các thỏa ước riêng biệt được ký kết hoặc giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam, hoặc giữa Việt Nam và ban giám đốc các cơ sở có liên quan. Mặc dù thế, vài nguyên tắc kể sau đây bắt buộc phải được tôn trọng: Toàn bộ tài sản của các trường Pháp ở Viễn Đông sẽ là của chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp; tài sản này không thể được chuyển nhượng. Hội đồng điều hành sẽ gồm đại diện của ba nước Đông Dương và nước Pháp. Vị trí Giám Đốc sẽ được bổ nhiệm bằng một quyết định chung của bốn Chính Phủ sau khi có ba ứng viên được giới thiệu bởi các bộ phận có thẩm quyền của Viện Pháp [''Institut de France'']. Tình trạng các Viện Pasteur được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được giải quyết bằng các hợp đồng ký kết giữa các tổ chức này và Chính Phủ Việt Nam. Các hợp đồng ký kết tuy nhiên sẽ phải tôn trọng các điều sau đây: - Các viện hiện có là tài sản chung của ba nước Đông Dương và nước Pháp về bất động sản và đất ở Sài Gòn, Dalat và Nha Trang. - Việt Nam là sở hữu chủ về bất động sản và đất của Viện Pasteur Hà Nội; tuy nhiên Việt Nam cam kết sẽ ký kết một khế ước giống y như các khế ước được ký bởi các Viện Pasteur kia. - Viện Pasteur giữ quyền sở hữu các cơ sở kinh doanh và đất mà Viện đã nhận được qua việc tặng giữ hay thừa kế. - Viện Pasteur là sở hữu chủ các vật tư khoa học. - Việc áp dụng khế ước hiện hành sẽ tiếp tục cho đến khi hết khế ước vào cuối tháng Mười Hai 1949. '''Tài Liệu Lưu trữ''': Mỗi Chính Phủ giữ quyền sở hữu trên các tài liệu lưu trữ. Việc bảo quản và quản lý các tài liệu lưu trữ này sẽ theo những qui định sẽ được xác định sau. Vấn đề các Thư Viện, Viện Lúa Gạo, Sở Khí Tượng, Viện Hải Dương Học và các Bảo Tàng Viện sẽ là đối tượng cho các thỏa hiệp riêng biệt. ===VII. VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ TÀI CHÁNH=== Các kiều dân Việt ở Pháp và ở các nơi khác của Liên Hiệp Pháp, các kiều dân Pháp và các nước khác trong Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam được hưởng như nhau về tự do cư trú như người bản xứ trong khung Luật và qui định lãnh thổ. Họ được hưởng tự do về đi lại, về thương mại và nói chung là thêm tất cả các tự do dân chủ trong lãnh vực này. Tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được hưởng một chế độ giống như chế độ về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt, chủ yếu là thuế và luật lao động. Sự bình đẳng theo qui chế này sẽ được công nhận trên cơ sở hỗ tương về tài sản và xí nghiệp thuộc các kiều dân Việt sinh sống ở Pháp. Chế độ luật pháp trên xí nghiệp và tài sản thuộc các kiều dân của Liên Hiệp Pháp sinh sống ở Việt Nam chỉ có thể được sửa đổi với một thỏa ước chung giữa Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và Chính Phủ Việt Nam. Các kiều dân Liên Hiệp Pháp sẽ được trả lại, trong tình trạng như hiện nay, các quyền lợi và tài sản mà ho đã bị tước đoạt tiếp theo những sự kiện dính dáng tới Việt Nam từ tháng Ba năm 1945. Một ủy ban hỗn hợp sẽ được chỉ định để thiết lập các thủ tục cho việc trao trả này. Tư bản Pháp có thể được tự do đầu tư vào Việt Nam, với những điều kiều kiện sau đây: :a) Chính Phủ Việt Nam sẽ tham gia, nếu thấy ích, vào tiền vốn các xí nghiệp được xếp loại trong khu vực lợi ích quốc gia; :b) Việc mở các xí nghiệp được xếp loại là quốc phòng sẽ phải được Chính Phủ Việt Nam cho phép; :c) Chính Phủ Việt Nam có thể thiết lập một quyền ưu tiên trên tích sản của các xí nghiệp vừa chấm dứt hoạt động. Một ủy ban hỗn hợp Pháp-Việt sẽ định nghĩa trước phạm vi chính xác của các khu vực này cũng như tầm mức chính xác của các giới hạn trên nguyên tắc tự do cư trú áp dụng ở những nơi ấy. Các điều khoản dự liệu trên đây không áp dụng cho các tài sản hay xí nghiệp hiện nay ở Việt Nam, cũng không áp dụng cho việc phát triển của các tài sản hay xí nghiệp là kết quả từ những hoạt động bình thường của chúng. Chính Phủ Việt Nam sẽ quản lý một cách tự chủ nền tài chánh của họ. Chính Phủ Việt Nam thiết lập và quản lý ngân sách của mình. Chính Phủ Việt Nam được hưởng tất cả các phần thu ngân sách trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ các phần thu dính đến thỏa thuận giữa Chính Phủ Pháp và các Chính Phủ của các quốc gia hội viên, để tài trợ cho các định chế chung hay cho tất cả những sử dụng khác sẽ được định sau. Chính Phủ Việt Nam có thể tăng thuế và lệ phí, và có thể đưa ra các loại thuế và lệ phí mới. Khi những thuế và lệ phí này có tác động đặc biệt tới các kiều dân của Liên Hiệp Pháp, việc này trước nhất sẽ được tham khảo bởi các đại diện của các nước nhằm tạo ra một sự hài hòa về thuế giữa các nước Đông Dương cũng như việc vận hành bình thường các hoạt động kinh tế. Việt Nam sẽ có chung liên minh tiền tệ với các nước Đông Dương. Đồng tiền duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ của liên minh tiền tệ này sẽ là đồng bạc được phát hành bởi Viện Phát Hành Đông Dương. Viện Phát Hành có thể cho in ra các mẫu tiền khác nhau giữa Việt Nam, Cao Mên và Lào. Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng quan Pháp. Tuy nhiên tỉ giá giữa đồng bạc và đồng quan Pháp là sẽ không cố định và nó có thể thay đổi tùy theo các điều kiện kinh tế. Tuy nhiên tỉ giá này chỉ có thể thay đổi sau khi đã có tham khảo giữa các nước Đông Dương hội viên. Cơ chế vận hành về hối đoái sẽ được định bởi Viện Hối Đoái Đông Dương. Việt Nam sẽ thiết lập một liên minh quan thuế với các quốc gia Đông Dương khác. Không có một hàng rào quan thuế nào giữa các quốc gia này. Không một thứ thuế nào được thu ở biên giới chung của các nước này, các thuế biểu chung sẽ được áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu trên lãnh thổ của Liên Minh. Trong lãnh vực kinh tế và tài chánh, Hoàng đế của Việt Nam cho rằng một mặt Ngài có những lợi ích chung với hai Vương Triều Cao Mên và Lào, mặc khác với Liên Hiệp Pháp, và sẽ là điều có lợi cho Đất Nước Việt Nam khi các lợi ích này được hài hòa với mục đích phát triển chung, Ngài ý thức được cơ hội xây dựng các tổ chức hỗn hợp để đảm bảo việc nghiên cứu, sự hài hòa và việc đưa vào áp dụng các lợi ích vừa kể. Để cho việc này, một Hội Nghị được triệu tập ở Đông Dương theo yêu cầu của Cao Ủy, trong đó có đại diện của Cộng Hòa Pháp và của Hoàng Thượng, của các Quốc Vương Cao Mên và Lào. Hội Nghị này sẽ quyết định về thành phần và mức độ về quyền lực của các tổ chức hỗn hợp. Có lẽ tốt nhất là nên dành lại, cho mục đích này, cho thẩm quyền của Hội Nghị về các điểm sau đây: # Dịch vụ về phát thanh # Kiểm soát di trú #Thương mại quốc tế và quan thuế # Kho bạc # Kế hoạch trang thiết bị Phải xác định rõ, cho mục đích này, rằng Hội Nghị Đông Dương, được định nghĩa như trên đây, sẽ được triệu tập để cho ý kiến về Kế hoạch trang thiết bị đang được soạn thảo. Hội Nghị này sẽ tự mình thiết lập, vào lúc mở đầu một công việc, các qui tắc và qui trình làm việc. Hội Đồng Tư Vấn Tối Cao của Liên Hiệp Pháp có thể sẽ được yêu cầu can thiệp để cho ý kiến và hòa giải, nếu cần. Các văn bản sẽ được trao đổi tại Sài Gòn giữa Hoàng Thượng và Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Hiệp Ước sẽ đi vào áp dụng vào ngày trao đổi này. Bản Tuyên Bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các văn kiện ở đây, cũng như các công ước bổ sung mà chúng bao gồm, sẽ được trình Quốc Hội Pháp và các Cấp Việt Nam có thẩm quyền để chuẩn nhận thành một chứng từ ngoại giao như đã được tiên liệu trong điều 61 của Hiến Pháp của Cộng Hòa Pháp. Chính Phủ Cộng Hòa Pháp và chính tôi tin tưởng rằng việc nhanh chóng đưa ra thi hành bởi Hoàng Thượng và Đại Diện của Pháp, trên tinh thần tin tưởng lẫn nhau và thiện chí hỗ tương, các điều trên đây sẽ giúp một cách có hiệu quả việc tái lập Hòa Bình ở Việt Nam, được liên kết một cách tự do trong sự công bằng và thân hữu với nước Pháp. Xin Ngài vui lòng chấp thuận lời chào kính trọng cao nhất của tôi. {{văn|canh lề=right| Vincent Auriol }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-EdictGov}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Pháp]] [[Thể loại:Hiệp định liên quan đến Việt Nam]] oyjhm17po7sc5slvecxc6g16amfllit Trang:Sach so sang chep cac viec.pdf/251 104 64272 206263 189371 2026-10-06T13:36:03Z Minomday 10659 /* Đã hiệu đính */ 206263 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Minomday" />{{chạy đầu trang|giữa=chép các việc|phải=228}}</noinclude>nhg̃ Đớng Vít vồ, c{{apex|u|`}} Thầy cả, và các bổn đạo kêu xin Vua [[:w:vi:Fernando VII của Tây Ban Nha|Fernando thứ 7.]], thì ng̀ mới chịu lấy Dà{{apex|o}} D.C.J. như khi trć, cho bg̀ là{{apex|o}} dân, c{{apex|u|`}} đc̣ ích cho m̀h, như Phư{{apex|ợ}} Truyền ấy đã dịch ra đây. {{c|{{larger|Phượng Truyền Vua Hespanho.}}}} Từ khi D.C.B. đã thương Trẫm, c{{apex|u|`}} dân Trẫm, mà lại cho Trẫm đc̣ giở về ngự Tòa trị nước thăy vì Tổ to{{apex|u}}, là ơn tra{{apex|ọ}} riêng, mà xem thấy mặt dân. Từ ấy cho đến bây giờ, thì hàng thấy nhiều Lá khải đem đến cho liên, là Xứ nọ Xứ kia, thành nọ th̀ kia, Làng nọ Làng kia, c{{apex|u|`}} nhiều nơi tra{{apex|o}} nước, là nhg̃ Arcevítvồ, c{{apex|u|`}} nhg̃ Vít vồ, và nhg̃ Thầy cả, mà các bổn đạo thì c{{apex|u|~}} một ý ấy, vì có là{{apex|o}} trung mà mến nước nhà m̀h, c{{apex|u|`}} yêu chuộng sự thật thà, cho linh hồn và xác tra{{apex|o}} dân Trẫm đc̣ sự tốt lành, thì đã nói cho Trẫm đc̣ biết mọi chứng tỏ tường, c{{apex|u|`}} xin Trẫm blả Dà{{apex|o}} D.C.J. lại, thì nói nhiều mlẽ mặnh, c{{apex|u|`}} kể ra nhg̃ sự sẽ đc̣ ích cho cả và<noinclude>{{phải|dân}}</noinclude> 1yeyyn6t51n3oqtssxf2qqfr31g67gb Trang:Sach so sang chep cac viec.pdf/252 104 64273 206264 189372 2026-10-06T13:41:57Z Minomday 10659 /* Đã hiệu đính */ 206264 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Minomday" />{{chạy đầu trang|trái=229|giữa=Sách sổ sang}}</noinclude>dân Trẫm. Lại xin Trẫm hãy theo gư{{apex|ơ}} các Vua Chúa khác Phương Tây đã làm việc ấy tra{{apex|o}} địa phận m̀h rồi, nhất là D.th́.P. chg̉ có hồ nghi, thì ng̀ đã hủy Bulla D.th́.P. Clem.<sup>te</sup> thứ 14. phá Dà{{apex|o}} D.C.J. ngằy 22. thǵ 7. năm 1773., mà ra Bulla khác Lập Dà{{apex|o}} lại ngằy mò{{apex|u}} 7. tháng 8. năm ngoái rğ̀: {{u|Sollicitudine}} {{u|omnium}} {{u|Ecclesiarum}} {{u|&c}}. Bởi vì nhg̃ mlẽ rất mạnh làm vậy, thì Trẫm đã tìm đàng mà ra sức xét cho biết, thì thấy nhg̃ kẻ nghịch bằy đặt ra sự lỗi mà bỏ vạ cáo gian cho Dà{{apex|o}} D.C.J., vì nó chg̉ nhg̃ là nghịch c{{apex|u|`}} các Thầy Dà{{apex|o}} D.C.J., mà lại là chính kẻ nghịch c{{apex|u|`}} Đạo D.C.J. Christo, là Đạo trć hết đã lập ở tra{{apex|o}} nước Trẫm, mà các đời Tổ To{{apex|u}} Trẫm đã coi saóc c{{apex|u|`}} bênh vực thì rất mặnh c{{apex|u|`}} rất vững và{{apex|n}}g, cho nên Đ.th́.P. đã ban cho chức gọi là Catholico, mà các Vua Chúa điều biết mà nhìn chức ấy, sự<noinclude>{{phải|nhân}}</noinclude> hj7rx96duhmyuajedqh9xr5axhmnws7 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/42 104 72476 206269 2026-10-07T10:02:08Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206269 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|40|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>ngày. Khoa điện-khí-học từ {{sc|Franklin}} <ref>{{sc|Franklin}}, là nhà chính-trị và trước-thuật Mĩ, sinh ở Boston, mất ở Philadelphie (1706-1790). Ông chính là người nghĩ chế ra cái ống thu-lôi (''paratonnerre''). Ông có làm một bộ sách phổ-thông lắm, đề là « Cái học của lão ''Richard'' » (''la Science du bonhomme Richard''), lại một bộ « Ký-ức-lục » (''Mémoires'') cũng có giá-trị. Thường nghiên-cứu về triết-học và luân-lý-học. Lại là một người có công to trong việc khôi-phục độc-lập cho nước Mĩ. Chính ông năm 1777 sang Pháp để thay mặt Dân-quốc Mĩ mới thành-lập thương-thuyết đồng-minh với Pháp-hoàng {{sc|Louis}} thứ 16.</ref> đến {{sc|Edison}} <ref>{{sc|Edison}}, là nhà vật-lý-học nước Mĩ, sinh ở ''Milan'' (thuộc về bang ''Ohio'') năm 1847. Một tay ông chế-tạo ra được nhiều thứ máy điện lắm, nhất là thứ đèn điện sáng trắng (''lampe à incandescence'') hiện đặt tên ông, thứ máy hoạt ảnh (''Kinétoscope''). Lại năm 1878, ông chế ra cái máy lưu-thanh (''phonographe'') thứ nhất. Hiện ông còn sống.</ref>, khoa sinh-lý học từ {{sc|Bichat}} <ref>{{sc|Bichat}}, là nhà y-học trứ-danh nước Pháp, chuyên về hai khoa giải-phẫu-học và sinh-lý-học. Sinh ở ''Thoirette'' (hạt ''Jura'') năm 1771, mất ở ''Paris'' năm 1802. Có làm một bộ sách « Tổng giải-phẫu-học » (''Anatomie générale''), Ông đổi mới hẳn khoa giải-phẫu mà đặt ra một khoa-học mới chuyên-trị về các tấm thịt tấm xương (''tissus'', Tàu dịch là tấm ''võng'' 輞), tức là khoa « võng-học » 輞 學 hay là « tổ-chức-học » 組 織 學 (''histologie'')</ref> đến<noinclude></noinclude> ismdjoxpv5m3gvvlsh4eb8rjlwzch9d Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/43 104 72477 206270 2026-10-07T10:02:33Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206270 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|41}}</noinclude>{{sc|Pasteur}} <ref>{{sc|Pasteur}}, là nhà sinh-vật-học nước Pháp, sinh ở ''Dôle'' năm 1822, mất ở ''Villeneuve-l'Etang'' năm 1895. Ông nghiên cứu về phép kết-tinh (''cristallisation''), về phép mọc men mọc mốc (''fermentation''), về các bệnh giống tằm, về bệnh chó dại, và đại-để các bệnh truyền-nhiễm. Nhân sự nghiên-cứu của ông mà nghề chữa bệnh đổi mới hẳn, phát-minh ra cách truyền-nhiễm và phép phòng-bị, cách phòng-hủ (''asepsie'') và cách trị-trùng (''antisepsie''). Người Tây cho ông là người có công to với nhân-loại, vì đã giúp cho chữa được nhiều bệnh, cứu-khổ cứu-nạn cho loài người.</ref> tấn-tới nhiều hơn là từ các nhà bác-học cổ Hi-lạp cho mãi đến {{sc|Franklin}} và {{sc|Bichat}}, nghĩa là trong có không đầy một thế-kỷ khoa-học đời nay tiến-bộ hơn là trong hai-mươi-ba thế-kỷ từ trước đến bấy giờ. Khoa-học đã làm cho kỳ-hạn trung-bình của đời người được dài thêm ra, làm cho cái sức động-tác của người ta gấp thêm lên trăm nghìn phần. Những cái mà người đời xưa cho là kỳ-kỳ quái-quái, thuật quỉ phép tiên mới làm ra được, người đời nay coi là sự thường hằng ngày; những sự-vật thiên-nhiên, khoa-học cũng biến-hóa mà làm ra được lạ-lùng, không kém gì chuyện thần-tiên đời trước. Bấy nhiêu sự phát-minh của khoa-học đó, đã biến-đổi hẳn cách sinh-hoạt của người ta, đến gây thành ra một xã-hội mới. Xã-hội trước<noinclude></noinclude> 1xmblb2ues2l42difne9w7saxcgxyew Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/44 104 72478 206271 2026-10-07T10:02:49Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206271 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|42|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>đã sinh-sản ra những người như {{sc|Mirabeau}} <ref>{{sc|Mirabeau}} (1749-1791), là một tay hùng-biện nước Pháp về đời Đại-Cách-mệnh. Ông vốn giòng quí-tộc nhưng về bè với dân-đảng, được cử ra Tổng Hội-nghị (''Etats généraux'') làm đại-biểu cho đệ-tam-cấp (''tiers état''), tức là hạng thứ-dân. Ông có tài biện-thuyết giỏi lắm, đã giúp cho cuộc Cách-mệnh được thành-công. Một hôm Hội Lập-pháp đương họp, nhà vua sai hầu-tước {{sc|Dreux-Brézé}} đến bắt phải giải-tán, ông mắng hầu-tước rằng: « Anh về anh bảo chủ anh rằng chúng tôi ở đây là dân công-cư chúng tôi ra đây, {{sic|dem|đem}} lính lại đây mà đuổi rồi sẽ đi. » Ông là người có tài, nhưng phẩm-hạnh không được bằng tài năng.</ref>, {{sc|Robespiere}} <ref>{{sc|Robespiere}} (1758-1794), là một người chủ-trương cuộc Cách-mệnh nước Pháp năm 1789. Nguyên ông là đại-biểu đệ-tam-cấp ở Tổng Hội-nghị, khi phá được phái quân-chủ rồi, ông đoạt hết cả các đảng khác mà chuyên-quyền chính-trị, đứng đầu một hội-đồng gọi là Hội-đồng Cứu-quốc (''Comité du Salut public''). Ông dùng cách tàn-bạo, làm cho người ta khủng-khiếp phải theo, ai phản-đối thì giết hết. Ngày 27 tháng 7 năm 1794, có đảng khác nổi lên, làm tội ông phải lên đoạn-đầu-{{sic|đãi|đài}}.</ref>,khác với xã-hội cổ-thời đã sinh-sản ra những người như {{sc|Saint-Bernard}} <ref>{{sc|Saint Bernard}} (1091–1153), là một tay đại-biểu trứ-danh của đạo Thiên-chúa ở nước Pháp về đời Trung-cổ. Làm nhiều sách về thần-học, lại lập ra các giòng tu. Chính ông cổ-động trận Thập-tự thứ 2. Năm 1173, ông được « hiển thánh », nghĩa là được trong Giáo-hội thờ vào bậc thánh.</ref>,<noinclude></noinclude> 4e4dfucj02bionf8o5iari65mrw1emn Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/45 104 72479 206272 2026-10-07T10:06:36Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206272 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|43}}</noinclude>{{sc|Saint Louis}} <ref> {{sc|Saint Louis}} (1215–1270), vua nước Pháp, có tiếng là sùng-đạo lắm. Pháp-sử cho là một bậc anh-quân về đời Trung-cổ. Chính vua chủ-trương trận Thập-tự cuối cùng. Năm 1297, được « hiển thánh ».</ref> bao nhiêu, thì xã-hội mới này cũng khác với xã-hội trước bấy nhiêu. Nước Pháp ngày nay không những tình-trạng không giống với nước Pháp ngay trước hồi Đại-Cách-mệnh năm 1789, mà cũng không giống với nước Pháp ngay sau cuộc Đại-Cách-mệnh ấy nữa. Khoa-học biến-cải tình-trạng xã-hội cũng mạnh bằng chủ-nghĩa cách-mệnh năm 1789 biến-cải về chính-trị. Những sự phát-minh chế-tạo của các nhà bác-học ở trong phòng thí-nghiệm cũng điên-đảo cả thế-giới chẳng kém gì những chính-lệnh cùng luật-pháp phát-hành ra ở các hội-nghị cách-mệnh đời trước. Vả khoa-học với chính-trị vốn không phải là không có mật-thiết-quan-hệ với nhau: nhờ có cuộc Cách-mệnh phá đổ quyền chuyên-chế, khoa-học mới được tự-do phát-đạt; nhưng cũng nhờ khoa-học tấn-tới mà những sự cải-cách về chính-trị và về xã-hội từ năm 1789 mới củng-cố và hoàn-toàn được. Công-nghiệp của các nhà cách-mệnh mà giữ bền được, không đến bại-hoại, là vì đồng-thời với cuộc cách-mệnh về chính-trị<noinclude></noinclude> 4aqwxtoznobcq6k6qk67lzcepd6pby0 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/46 104 72480 206273 2026-10-07T10:09:37Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206273 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|44|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>và về xã-hội lại có một cuộc cách-mệnh về khoa-học và về kinh-tế nữa: chính-trị thay đổi đã đành, nhưng nếu cách sinh-hoạt của người ta không thay đổi, thì sự cải-cách về chính-trị cũng không bền vậy. {{g|{{lớn|'''Tiến-bộ về nghĩa dân-chủ'''}}}} Đời thượng-cổ là đời đảng quí-tộc và đảng tăng-lữ chuyên-quyền; đến đời cận-cổ thời quyền chuyên-chế vào tay các nhà vua; cuộc Đại-Cách-mệnh mới chuyển quyền chúa-tể trong nước vào tay cả bàn-dân. Sau khi cách-mệnh thành-công, được mấy năm (từ 1793 đến 1795) bọn {{sc|Danton}} <ref>{{sc|Danton}} (1759-1794), là nhà chính-trị trứ-danh nước Pháp về đời Cách-mệnh. Ông cũng có chân Hội-đồng Cứu-quốc cùng với {{sc|Robespiere}}, nhưng có ý ôn-hòa hơn, nên bị {{sc|Robespiere}} nghi-ky. Sau bị {{sc|Robespiere}} kết-án xử-tử, phải lên đoạn-đầu-đài. Có người khuyên nên trốn đi ngoại-quốc; ông nói rằng: « Tổ-quốc có thể buộc vào gót giầy mà mang đi được không? » Khi sắp ngửa cổ ra chém, ông bảo tên hành-tội rằng: « Anh giơ đầu tôi ra cho thiên-hạ xem nhé! Đầu tôi tưởng cũng đáng cho công-chúng biết! » — Pháp-sử cho ông là tay lỗi-lạc nhất trong những người chủ-trương cuộc Cách-mệnh đời bấy giờ.</ref> và {{sc|Robespiere}} cầm quyền thời quyền chính-trị thật là ở trong hạng bình-dân. Nhưng mà không thể bền được, vì dân chúng vô-học, lại hay sốc{{nct}}<noinclude></noinclude> 05dh867famx6fudcz06rpckd4j7yumq Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/47 104 72481 206274 2026-10-07T10:11:06Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206274 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|45}}</noinclude>nổi, việc chính-trị, việc kinh-tể không tường, không sao thi-hành cái quyền chúa-tể cho đích-đáng được. Như đặt ra tòa-án cách-mệnh để làm tội những người không theo với mình, đặt ra luật hiềm-nghi để bắt-bớ những người ngờ là phản-đối, dùng những cái chính-sách tàn bạo để làm cho mọi người khiếp-sợ mà phải theo, toàn là những cái kế-hoạch bạo-động, không phải là cách chính-trị trường-cửu vậy. Cho nên qua hồi đầu hỗn-độn đó, rồi các chính-phủ kế tiếp sau ở nước Pháp không căn-cứ ở hạng bình-dân nữa, mà căn-cứ ở các giai-cấp khác trong xã-hội: như Đệ-nhất-thứ Đế-chính (''le premier Empire''), là chính-phủ vua Nã-phá-luân đệ nhất ({{sc|Napoléon I}}), thời tựa vào bọn quân-phiệt; chính-phủ « Quân-chủ phục-quyền » ({{sc|Restauration}}), là chính-phủ vua {{sc|Louis}} thứ 18 và {{sc|Charles}} thứ 10, khôi-phục lại ngôi vua họ ''Bourbons'', từ năm 1814 đến 1830, thời tựa vào bọn điền-chủ lớn; chính-phủ « Quân-chủ tháng bảy » (''Monarchie de Juillet''), là chính-phủ vua {{sc|Louis-Philippe}} thuộc về giòng thứ họ ''Bourbons'', thời tựa vào bọn chủ công-nghệ và bọn buôn-bán lớn. Kịp đến cuộc Cách-mệnh năm 1848 thời chính-quyền lại về tay hạng bình-dân, nhưng mà hồi bấy giờ bọn thợ thời bạo-động quá, mà bọn dân<noinclude></noinclude> 92ic86m16290ddf1f6gf9aphsk63wog Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/48 104 72482 206275 2026-10-07T10:12:26Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206275 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|46|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>quê thời hãy còn ngu-dốt, quyền chúa-tể chẳng bao lâu lại sang tay một ông vua chuyên-chế nữa, tức là Nã-phá-luân thứ 3, tức là Đệ-nhị-thứ Đế-chính (''le second Empire''), dường như dân hãy còn non-nớt, chưa đủ thi-hành được chính dân-chủ cùng quyền đầu-phiếu vậy. Đệ-nhị-thứ Đế-chính đến trận năm 1870 thất-bại thời bị khuynh-đảo hẳn, tự bấy đến nay nước Pháp mới thật là theo về chính-thể dân-chủ. <ref>Nhân đây tưởng nên kể qua cả các Chính-phủ đã kế-tiếp nhau ở nước Pháp từ cuộc Đại-Cách-mệnh năm 1789, nghĩa là từ khi khởi ra cái phong-trào dân-chủ cho đến giờ: {{ra hàng|Chính-phủ « Lập-hiến » (''La Constituante''), 1789-1790; Chính-phủ « Lập pháp » (''La Legislative''), 1791-1792; Chính-phủ « Cứu-quốc » (''La Convention'', nhất-danh là ''Comité du Salut public''), 1792-1794; Chính-phủ « Đốc-chính » (''Le Directoire''), 1794-1799. Chính phủ « Nhiếp-chính» (''Le Consulat'', 1799-1804. Đệ nhất-thứ Đế-chính (''Le Premier Empire''), 1804-1814. Chính-phủ « Quân-chủ phục-quyền » (''La Restauration''), 1814-1830. Chính-phủ « Quân-chủ tháng bảy » (''La Monarchie de Juillet''), 1830-1847. Đệ-nhị-thứ Cộng-hòa (''La seconde République''), 1848-1851. (Đệ-nhất-thứ Cộng-hòa là gồm cả các chính-phủ kế-tiếp nhau tự 1789 đến 1804). Đệ-nhị-thứ Đế-chính (''Le Second Empire''), 1851-1871. Đệ-tam-thứ Cộng-hòa (''La Troisième République''), từ 1871 đến ngày nay.}}</ref>{{nop}}<noinclude></noinclude> rg8w4der0kdakeys8lrhzy00f9tcex4 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/49 104 72483 206276 2026-10-07T10:14:48Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206276 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|47}}</noinclude>Chủ nghĩa dân-chủ xướng lên tự cuối thế kỷ thứ 18, qua bao nhiêu nông-nỗi khó-khăn, đến cuối thế kỷ thứ 19 mới là thắng hẳn, nghĩa là trước sau phải một trăm năm bây giờ mới thực là vững-bền. Nước Pháp bây giờ là một nước dân-chủ cộng-hòa, nghĩa là dân tự cai-trị lấy mình, theo thể-thức như sau này: nhất-ban quốc-dân được quyền bầu-cử thượng hạ Nghị-viện; nghị-viên bầu quan Giám-quốc và các quốc-vụ tổng-trưởng, vì các quốc-vụ tổng-trưởng tuy là quan Giám-quốc cử ra, nhưng thực là các nghị-viên cử, quan Giám-quốc phải theo Nghị-viện. Như vậy thời phàm người dân có quyền bầu-cử là có quyền tham-dự việc quốc-chính, hoặc là trực-tiếp, hoặc là gián-tiếp, cho nên người nào khi bỏ vé bầu-cử không cẩn-thận, hay là có quyền bầu-cử mà tự phóng-khí đi, là người ấy có trách-nhiệm về việc nước, hễ việc nước hư-hỏng là lỗi ở mình một phần vậy. Phàm chính-thể dân-chủ thời dân thể nào chính-phủ thể ấy, chính-phủ hay hay dở là tự dân, không còn trách ai được nữa. Phàm nước nào chủ-quyền ở nhất-ban quốc-dân, hết thảy người dân trong nước đều có nghĩa-vụ trách-nhiệm như nhau cả, thì gọi là nước dân-chủ (''démocratie''), nghĩa là tự dân cai-trị lấy dân. {{nop}}<noinclude></noinclude> sxlaqcqpy8wpt8iejc8y5qniti8iscz Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/50 104 72484 206277 2026-10-07T10:16:05Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206277 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|48|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>Trong một nước dân-chủ, hạng đông người nhất là hạng có thế-lực nhất; vậy thời pháp-luật trong nước đặt ra tất là phải giúp cho quyền-lợi hạng đó hơn cả. Thí-dụ như muốn tổ-chức quân-đội thời luật-pháp sẽ đặt thế nào cho cái trách-nhiệm binh-dịch chia ra đều nhau cả, không có để cho người nhà quê, người làm thợ phải chịu nặng hơn là nhà quí-tộc hay nhà phú-hộ. Chỉ có chính-thể dân-chủ hoàn-toàn mới có thể làm thế được. Những chính-thể dân-chủ mà có hạn-chế, như Chính-phủ « Quân-chủ phục-quyền » (''Restauration'') hay Chính-phủ « Quân-chủ tháng bảy » (''Monarchie de Juillet'') ở nước Pháp, hay cũng có đặt Nghị-viện cho dân tham-dự việc nước nhưng không được toàn quyền nghị-định, thời luật binh-dịch đại-khái như luật năm 1818, năm 1832, cho phép nhà giàu có thể chuộc tiền khỏi phải đi lính. Đến Chính-phủ Cộng-hòa nước Pháp ngày nay, mới là hoàn-toàn dân-chủ, nên mới có những luật binh-dịch năm 1872, 1889, bắt hết thảy dân trong nước đều phải đi lính cả, trách-nhiệm binh-dịch đối với mọi người là quân-bình hết cả, không có kẻ nặng người nhẹ, cũng không thể lấy tiền mà chuộc được. Lại như việc học. Một Chính-phủ dân-chủ có hạn-chế, đặt luật-lệ về tiểu-học, chắc là<noinclude></noinclude> 9nnh032s1dci97heqo7dyhur0g8yj3k Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/51 104 72485 206278 2026-10-07T10:17:15Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206278 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|49}}</noinclude>không đặt lệ « cưỡng-bách giáo-dục », nghĩa là bắt hết thảy người dân ai cũng phải đi học, cùng lệ « miễn-phí giáo-dục », nghĩa là đi học không mất tiền. Một Chính-phủ dân-chủ hoàn-toàn, thời lại tất phải lấy hai cái lệ đó làm gốc cho sự phổ-thông–giáo-dục trong dân-gian, vì rằng phàm người dân ai cũng có quyền bầu-cử, vậy thì ai cũng phải đi học cho biết chữ để thi-hành cái quyền ấy cho chánh-đáng, nghĩa là phải có lệ cưỡng-bách; lại đã bắt ai cũng phải đi học thì tất phải ban-bố sự học thế nào cho kẻ giàu người nghèo đều có thể hưởng được cả, nghĩa là phải có lệ miễn-phí cho người ta. Lại về đường kinh-tế. Một chính-phủ dân-chủ có hạn-chế thời về đường kinh-tế tất là khuynh-hướng về cái chính-sách « bảo-hộ mậu-dịch », nghĩa là đặt luật-lệ để bênh giữ riêng lợi-quyền cho một hạng công-thương có thế-lực. Như chính-phủ « Quân-chủ phục-quyền » nước Pháp, đặt ra luật ngũ-cốc để bênh giữ lợi-quyền cho bọn điền-chủ lớn, luật này đối với phần đa số trong nước là phần không có quyền bầu-cử thời lại thiệt-hại, vì làm cho giá lúa và giá bánh-mì tăng lên. Chính-phủ « Quân-chủ tháng bảy » thời lại có ý bênh-vực cho các chủ công-nghệ lớn, bèn đặt luật đánh thuế nặng<noinclude></noinclude> 31ifxac8rhwt6phyab504b7wlsqjomz Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/52 104 72486 206279 2026-10-07T10:18:21Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206279 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|50|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>những đồ chế-tạo ở ngoại-quốc đem vào, luật này đối với phần đa-số trong nước cũng có thiệt-hại, vì dân-gian phải cần dùng đến những đồ dệt, đồ sắt, cùng nhiều thứ đồ khác của ngoại-quốc, mà các đồ ấy nhân thuế thương-chính nặng phải tăng giá cao lên. Đến các chính-phủ dân-chủ hoàn-toàn thời về đường kinh-tế tất phải chăm-chút đến sự lợi-ích kẻ tiêu-dùng là phần số nhiều trong nước, nên phải thi-hành cái chính-sách « tự-do mậu-dịch », chỉ lấy sự lợi-ích của dân nhà quê và kẻ thợ-thuyền làm giới-hạn mà thôi. Như vậy thời phàm pháp-luật của chính-phủ dân-chủ ban-bố ra, đều là suy diễn tự cái tôn-chỉ của chính-thể ấy mà ra: chính-phủ đã ở ý-nguyện chung của phần nhiều người đặt ra, thời trách-nhiệm của chính-phủ tất là phải bênh-vực cho lợi-quyền của phần nhiều người. Nhưng muốn bênh-vực lợi-quyền thời phải biết rõ lợi-quyền ở đâu. Bênh-vực lợi-quyền cho công-chúng không phải là a-dua theo những cái thị-dục cùng những điều thiên-kiến của công-chúng đâu. Có khi muốn suy-diễn cái chủ-nghĩa bình-đẳng đến cực-đoan mà thành ra tổn-hại đến lợi-quyền của công-chúng cũng có. Thế-lực của chủ-nghĩa dân-chủ ngày nay mạnh cho đến nỗi không những ảnh-hưởng đến<noinclude></noinclude> 503ria92zecluypq1ldwmeymjdre3s2 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/53 104 72487 206280 2026-10-07T10:19:31Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206280 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|51}}</noinclude>pháp-luật mà thôi, lại ảnh-hưởng đến cả mọi sự hoạt-động về thần-trí nữa. Văn-học mĩ-thuật cũng là không ra ngoài sự ảnh-hưởng đó. Từ khi kẻ bình-dân cũng biết đọc sách thời hàng nghìn quyển sách, hàng trăm tờ báo xuất-bản ra để cống-hiến cho công-chúng. Trong khi về chính-trị, về xã-hội phát-khởi ra chủ-nghĩa dân-chủ, thời về văn-học, về mĩ-thuật cũng phát-khởi ra chủ-nghĩa lãng-mạn: lối cổ-kịch chỉ tả những truyện anh-hùng hào-kiệt, dần dần suy đi mà kể đến lối tân-kịch tả về khắp các hạng người trong xã-hội; thể tiểu-thuyết cũng thành phổ-thông ra, và chuyên tả về tình-trạng phong-tục trong dân-gian, hoặc tuyên-truyền những chủ-nghĩa có ích-lợi chung cho xã-hội. Về mĩ-thuật thời như lối họa của {{sc|Delacroix}} <ref>{{sc|Delacroix}} (1799-1863), là một nhà danh-họa nước Pháp, cải-cách hẳn lối cổ-họa và chủ-trương cái chủ-nghĩa lãng-mạn về họa-học, vẽ lấy trước sắc cho rực-rỡ làm đẹp. Chính ông vẽ bức trần điện ''Apollon'' ở nhà bảo-tàng ''Le Louvre'', các bức tranh ở thư-viện Thượng-nghị-viện và Hạ-nghị-viện, ở điện Thái-hòa trong nhà Thị-sảnh thành ''Paris''. Ông cũng có tài văn-chương nữa, còn để lại một tập « Nhật ký » (''Journal'') có giá-trị.</ref>, có vẻ sinh-hoạt là dường nào, mầu{{nct}}<noinclude></noinclude> fbrg47qebx5ekijn0p0x1smz39udy3k Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/54 104 72488 206281 2026-10-07T10:20:30Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206281 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|52|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>sắc đậm-đà biết bao nhiêu; lại như lối vẽ của các tay danh-họa đời nay chọn lấy những chuyện thực mà tả và cách tả cũng cầu lấy cho giống sự-thực, sánh với cái họa-học cổ-điển thời chắc là có ý phổ-thông hơn nhiều. Nghề điêu-khắc như bức chạm bài Quốc-ca (''La Marseillaise'') của {{sc|Rude}} <ref>{{sc|Rude}} (1784-1855) là một nhà điêu-khắc có tiếng nước Pháp, nét chạm li-kỳ và lực-lưỡng. Chính ông chạm các bức tường của Khải-hoàn ''Paris'' (''Arc de Triomphe'').</ref> ở cửa Đại-Khải-hoàn thành ''Paris'', thời sánh với các bức chạm những tích thần-tiên về thế-kỷ trước, chắc là dễ cảm công-chúng hơn nhiều. Nghề kiến-trúc cũng chuyển theo ra đường lối mới; nhà kiến-trúc ngày nay không phải xây những lâu-đài cho vua chúa nữa, nhưng phải xây những nơi để hội-họp đông, thích-dụng cho sự cần dùng của ông vua mới là ông « dân chủ », ông « vua dân », như những nhà thị-sảnh to, những nơi hội-nghị lớn, những đấu-mã trường, diễn-kịch-trường, v, v.. Chủ-nghĩa bình-đẳng tự-do về chính-thể, tức là chủ-nghĩa dân-chủ, không phải chỉ phát-đạt ở một nước Pháp mà thôi. Cuộc Đại Cách-mệnh nước Pháp có ảnh-hưởng đến cả khắp các dân-tộc khác. Những nước còn theo<noinclude></noinclude> 17lcmu2s4wlhbyzkhqr7yya4sf52h8v Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/55 104 72489 206282 2026-10-07T10:21:41Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206282 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|53}}</noinclude>về chính-thể chuyên-chế cũng đã hết sức cưỡng chống lại, nhưng sau đều phải chịu hết. Nước Thụy sĩ (''Suisse'') trước là gồm vô-số những nước cộng-hòa nhỏ theo về chính-thể quí-tộc (''républiques aristocratiques''), sau cũng thành một cuộc liên-bang theo về chính-thể dân-chủ hết. Các thuộc-địa cũ của Tây-ban-nha (''Espagne''), Bồ-đào-nha (''Portugal'') ở Nam-Mĩ cũng lập thành nước dân-chủ cả. Những xứ bị Thổ-nhĩ-kỳ (''Turquie'') áp-chế, đã thành quận-huyện của Thổ-đế-quốc, như Grèce, Roumanie, Serbie, Bulgarie, đều thoát-li được hết và trở thành nước độc-lập cả. Nước Anh (''Angleterre'') tự khi đổi lại luật bầu-cử năm 1832, 1867, 1884, nước Ý (''Italie''), nước Bỉ (''Belgique''), nước Hà-lan (''Hollande''), nước Tây-ban-nha (''Espagne''), nước Thụy-điển (''Suède''), nước Na-uy (''Norvège''), tuy còn là nước quân-chủ, nhưng chỉ có tên quân-chủ mà thôi, chứ thực là theo chế-độ dân-chủ cả. Các nước ấy đều có Nghị-viện, đều có Nội-các có trách-nhiệm đối với Nghị-viện, nghĩa là dân tự-chủ cai-trị lấy cả. Tự cuộc đại chiến–tranh năm 1914-1918, nước Đức (''Allemagne'') cũng đã đổi ra chính-thể dân-chủ. Các nước mới thành-lập tự sau khi chiến-tranh đến giờ, như Ba-lan (''Pologne''), Triết{{nct}}<noinclude></noinclude> osbrcpbsfeqplurqrp0gvtucoqpdqd5 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/56 104 72490 206283 2026-10-07T10:22:51Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206283 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|54|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>khắc (''Tchęcoslovaquie''), v. v., đều theo về chính-thể dân-chủ hết. Ngày nay, trừ một số rất ít người giữ cái chủ-nghĩa quân-chủ, còn không ai nghĩ đến đặt ông vua đứng đầu một nước nữa. Đến hai cái lão đại-đế-quốc trong thế-giới là nước Tàu và nước Thổ cũng phá được nền quân-chủ mà đổi ra dân-quốc tự khoảng trước sau năm 1912. Cho chí nước Nga xưa nay vẫn coi là cái thành-quách rất kiên-cố của phái quân-chủ, thế mà có trong khoảng mười năm tự chính-thể quân-chủ tuyệt-đối đổi ra chính-thể dân-chủ cực-đoan, mê-tin nghĩa tự-do bình-đẳng cho đến phá-hoại hết thảy mà suy-tôn bọn bình-dân lao-động lên bậc thánh-thần! Ấy chủ-nghĩa dân-chủ ngày nay đã suy-diễn đến quá-độ như thế, khiến cho có người đã lấy làm lo, và có người cũng lấy làm chán vậy. Nói riêng về Âu-châu là nơi đã phát-khởi ra cái lối văn-minh mới đời nay, rồi cả thế-giới dần dần phải theo hết, không theo cũng không được, thời các nước Âu-châu tuy nước nọ nước kia có khác nhau, nhưng thật là đại-đồng tiểu-dị, về đường chính-trị cũng là theo chân nối gót nhau, sớm trưa đều xoay về một lối hết cả. Trong các nước ấy thì nước Pháp có ý khác các nước một chút, vì có cái đặc-tính như sau này: là vừa là một<noinclude></noinclude> d6pedj70phlwvlqjqu3dq91c1xpc972 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/57 104 72491 206284 2026-10-07T10:23:55Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206284 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|55}}</noinclude>nước hợp-nhất, một nước dân-chủ và một nước cộng-hòa <ref>Đại-khái chữ cộng-hòa với chữ dân-chủ cũng là đồng nghĩa nhau, nhưng có phân-biệt một chút. Cộng-hòa tiếng Pháp là ''République'' là nói chung về cách chính-trị trọng quyền-lợi của toàn thể quốc-dân, chứ không riêng một hạng người nào. Cách chính-trị này thường thường là theo về chế-độ dân-chủ (''démocratie''), nghĩa là chủ-quyền ở cả toàn dân bầu-cử người thay mặt để quản-trị việc nước; nhưng cũng có đôi khi theo chế-độ quí-tộc (''aristocratie'') (như ở Thụy sĩ ngày xưa), nghĩa là chủ-quyền vẫn ở toàn dân, song ủy cho một hạng quí-tộc thay dân mà cai-trị việc nước. – Hợp-nhất (''unitaire''), là quyền chính-trị qui-tập vào một chính-phủ trung-ương hết. – Chính-thể nước Pháp có cả ba tính-cách cộng-hòa, dân-chủ và hợp-nhất đó.</ref>. Tuy-nhiên chủ-nghĩa dân-chủ thì ở Âu-châu ngày nay đâu đâu cũng thịnh-hành cả. Nước Pháp có khởi-xướng ra trước, nhưng nay các nước đều đã theo kịp cả rồi. {{g|{{lớn|'''Tiến-bộ về đường kinh-tế'''}}}} Các nước đã khuynh-hướng cả về đường dân-chủ, thời cái vấn-đề lớn-lao phải giải-quyết là làm thế nào cho sinh-kế của công-chúng được sung-túc. Phàm chính-trị là phải mưu việc đó trước nhất. Về đời Phong-kiến,<noinclude></noinclude> iamgmzcyqxcitgxug1muxzpv2si2yu5 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/58 104 72492 206285 2026-10-07T10:24:55Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206285 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|56|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>các chư-hầu đương hống-hách, chỉ nay đánh chỗ này, mai đánh chỗ khác, để mở rộng bờ-cõi của mình, để bắt kẻ khác phải thần-phục, để cướp thêm lấy thành-quách, bắt thêm lấy binh-lính. Đến khi Giáo-hội cầm quyền chuyên-chế, thời lại khởi ra cuộc tôn-giáo-chiến-tranh, như trận Thập-tự để giải-phóng cho đất Thánh-mộ bị người ngoại-đạo chiếm mất. Sau kể đến quân-chủ chuyên-quyền, cũng lại chiến-tranh nữa, hoặc để chinh-phục đất ngoài, hoặc để tỏa-chiết cường-lân, hoặc đề giữ thế quân-bình. Kịp đến khi chủ-nghĩa quốc-gia, chủ-nghĩa dân-chủ dấy lên, thời lại chiến-tranh để truyền-bá những tư-tưởng cách-mệnh, tư-tưởng giải-phóng cho các dân-tộc bị áp-chế, như trận Bắc-Mĩ về đời {{sc|Louis}} thứ 16, các trận đánh về hồi Đại-Cách-mệnh, trận đánh khôi-phục độc-lập cho nước Hi-lạp, nước Tỉ-lợi-thì, nước Ý-đại-lợi. Đến ngày nay thời những sự chiến-tranh về chính-trị, về tư-tưởng đã êm hết cả, lại thấy xuất-hiện ra một lối cạnh-tranh mới, là lối kinh-tế-cạnh-tranh. Muốn tìm nơi tiêu-thụ cho hàng-hóa trong nước, bèn đem quân đi chiếm-đoạt lấy các phụ-đầu cùng các thuộc-địa ở ngoài, như về phần nước Pháp thì đánh những trận nước Tàu năm 1860, 1900, trận An-Nam, trận ''Tunisie'' (Bắc Phi{{nct}}<noinclude></noinclude> p4n30wahgautziuhtgkkkgq9pkvnxr0 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/59 104 72493 206286 2026-10-07T10:25:52Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206286 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|57}}</noinclude>châu), trận ''Madagascar'' (đảo lớn ở đông-nam Phi-châu), các trận để chiếm thuộc-địa ở Tây Phi-châu. Các nước đi lấy thuộc-địa ngày nay không phải là để cầu cái hư danh mở-mang bờ cõi cho nước mình đâu, chính là vì lẽ kinh-tế cả. Nay thế-giới có thái-bình thời kinh-tế mới thịnh-vượng được, cho nên các nước đã kinh qua nhiều phen chiến-tranh khốn-nạn, như trận Âu-chiến vừa rồi, bây giờ mới hiểu rằng phải nên lấy hòa-bình làm chủ sự giao-tế với nhau. Nếu cứ dùng võ-lực mà chiến-tranh hoài, thời dẫu chiến-thắng hay chiến-bại cũng hại như nhau cả, như vậy thì điều-đình châm-chước còn hơn là xung-đột vô ích. Cho nên gần đây không có tháng nào là các nước không hội-nghị ở chỗ nọ, hội-nghị ở chỗ kia đề bàn-bạc về việc quốc-tế, lấy thương-thuyết mà giải-quyết mọi việc, không đề đến nỗi phải xung-đột nhau. Những người có tư-tưởng về nhân-đạo đều ước-ao rằng từ nay trở đi nhân-loại sẽ tránh khỏi cái họa chiến-tranh. Mong rằng lời ước ấy sẽ thành sự-thực, nhưng cũng chưa dám chắc, vì cái tình-thể thiên-hạ ngày nay vẫn còn bối-rối lắm. Song xét cho kỹ thời công-việc nhà chính-trị ngày nay không có giống như ngày xưa, không phải âm-mưu kết-liên nước nọ, phản{{nct}}<noinclude></noinclude> e4g7xc5zozvabmtfvlnfk0ur9rnonji Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/60 104 72494 206287 2026-10-07T10:27:03Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206287 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|58|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>gián nước kia, bày ra thế công thế thủ, tính chuyện cướp nước cướp thành; nhưng cốt nhất là tìm lấy nơi tiêu-thụ cho hàng-hóa nước mình, bênh-vực cho công-nghệ nước nhà đối với thuế thương-chánh hay đối với quyền kinh-tế của nước ngoài, kiểm-điểm cho cẩn-thận hững số xuất-cảng nhập-cảng cho hai bên khỏi chênh nhau quá, nói tóm lại là hết sức giữ cho toàn cái sức « tín-dụng » của nước mình ở trên thị-trường thế-giới. Điều ước các nước ký với nhau ngày nay phần nhiều là những ước thông-thương cả. Các vua chúa ngày xưa không phải là tuyệt nhiên không chăm đến sự làm ăn của dân; nhưng thiết đến sinh-kế dân là chỉ cốt để rồi có cơ mà đánh thuế nặng hơn, để tăng-gia lục-quân hải-quân, khuếch-trương thế-lực đối với các nước khác. Ngày nay thời các nước dân-chủ lấy việc dân-sinh làm cái mục-đích của chính-phủ, chứ không coi là một cái phương-tiện để cầu cho đạt tới mục-đích khác như ngày xưa. Chính-trị, ngoại-giao, cho đến việc chiến-tranh bây giờ cũng là tùy thuộc về việc kinh-tế hết cả. Một nước ngày nay không phải đợi nước láng giềng đề-binh sang đánh mới là nguy-hiểm: có thể nguy-hiểm vì số dự-toán chi-thu không được cân, vì sức « tín{{nct}}<noinclude></noinclude> 5f8y5zp5l1mj47gubz8enopmatwwsbz Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/61 104 72495 206288 2026-10-07T10:28:44Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206288 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|59}}</noinclude>dụng » <ref>Phàm việc giao-dịch buôn-bán ngày nay, dù là cánhân với cánhân, hay các nước với nhau, đều lấy cái sức « tín-dụng » làm cốt yếu. Sức « tín-dụng » (chữ Pháp là ''credit'') là nói về cái tình-thế kinh-tế vững-vàng khiến cho người ngoài có thể tin mà giao-dịch với mình được. Tỉ như một nhà buôn có sức tín-dụng, nghĩa là công-việc trong nhà đủ thịnh-vượng khiến cho các ngân-hàng có bụng tin chịu cho vay tiền để kinh-doanh mọi việc. Một chính-phủ mộ công-thải cũng thế, có sức tín-dụng, dân mới chịu mua vé đông. Một nước phát-hành trái-phiếu ra ngoại-quốc cũng vậy, phải có sức tín-dụng, nước ngoài người ta mới tiêu-thụ cho mình.</ref> bị phá-hoại, vì số xuất-cảng bị giảm-sút, vì dân-tình khủng-hoảng không được yên-ổn làm ăn. Ký một cái thương ước không cẩn-thận cũng hại bằng thua một trận to; bị một phen phá-sản không trả được nợ nước ngoài cũng có thể mất quyền độc-lập được. Nước Thổ-nhĩ-kỳ trước kia, nước Tàu từ xưa đến giờ, cũng vì kinh-tế vụng cho nên một phần tài-sản vào tay người ngoại-quốc giám-đốc (thuế thương-chính, thuế muối, v. v.), mà đến quyền chính-trị trong nước cũng bị ngoại-quốc can-thiệp vào, có khi bị ngoại-quốc chủ-trương nữa. Ngày nay muốn biết một nước mạnh hay yếu chắc là vẫn phải xét hải-quân lục-quân nước ấy nhiều ít thế nào; nhưng mà cũng phải xét cả những nơi tiêu-thụ hàng-hóa của nước ấy nữa, có nhiều nơi vi nhất-đán<noinclude></noinclude> orcpzvb5p2d78cv0m8ufi0sl6s738ay Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/62 104 72496 206289 2026-10-07T10:31:12Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206289 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|60|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>bị bế-tắc lại, cũng đủ làm cho nước ấy đến suy-sút, đến đồ địa, chẳng kém gì như bị diệt mất hải-quân hay lục-quân vậy. {{g|{{lớn|'''Tiến-bộ về nghĩa quốc-tế'''}}}} Ngày nay mà nói đến nghĩa quốc-tế-liên-lạc (''solidarité internationale'') thời mới nghe tựa-hồ như không được thích-hợp với thời thế lắm. Về thế kỷ thứ 18, cái thế-giới-chủ-nghĩa (''cosmopolitisme''), nhân-loại-chủ-nghĩa (''humanitarisme'') đương thịnh-hành lắm, cả Âu-châu bấy giờ coi như một nhà một họ lớn; nhưng từ các trận đời Cách-mệnh và đời Đế-chính trở đi thời cái quốc-gia-chủ-nghĩa (''nationalisme'') lại dần dần nhóm lên càng ngày càng mạnh. Nhờ được chính-sách hòa-bình từ năm 1815 đến 1848, cái chủ-nghĩa quốc-gia mới này hồi đầu không gây ra cuộc chiến-tranh nào cả. Nhưng ở nước Đức tự năm 1841, ở phần nhiều các nước Âu-châu khác từ năm 1848, đâu đâu cũng thấy xuất-hiện ra những vấn đề về dân-tộc, về quốc-gia, cho là việc quan-trọng lắm. Nước nọ vận-động khôi-phục tự-do, dân kia yêu-cầu biên-chế hiếu-pháp, nhân đó chủ-nghĩa quốc-gia, chủ-nghĩa dân-tộc (''principe des nationalités'') lại càng phát lên kịch-liệt. Xưa kia sự tranh-dành, sự ghen-ghét là ở các<noinclude></noinclude> m8q82ui9f6c5il963wp3qigqf6qi3yl Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/63 104 72497 206290 2026-10-07T10:36:50Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206290 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|61}}</noinclude>vua chúa với nhau, đến bấy giờ thời tựa-hồ như các dân-tộc đã trưởng-thành bèn kế-thừa lấy những cái mối tranh-đoan của vua chúa. Tự đấy, phàm các nước Âu-châu chiến-tranh với nhau là nước nọ đối với nước kia, dân nọ đối với dân kia, chứ không phải triều-đình nọ đối với triều-đình kia, hay là nhà vua nọ đối với nhà vua kia như trước nữa. Như trận Pháp-Phổ năm 1870-1871, cho đến cuộc Âu-chiến năm 1914-1918, các nước đánh nhau là quân-đội kể hàng triệu, chứ không kể hàng nghìn nữa. Thật là cả từng dân-tộc xô vào mà đánh lộn nhau, nghĩ mà ghê thay! Trên kia xét về đường kinh-tế, đoán rằng các nước từ nay vì lẽ kinh-tế tất phải cầu lấy hòa-bình, không có sinh việc chiến-tranh như trước nữa. Nhưng nghiệm ra cái chủ-nghĩa quốc-gia, chủ-nghĩa dân-tộc lại càng ngày càng thịnh, dân nọ đối với dân kia, nước nọ đối với nước kia, khăng khăng không chịu nhau, thể nào khỏi xung-đột, cho nên e rằng không biết lời dự-đoán như trên có lẽ thành sự-thực được không. Những chủ-nghĩa ấy còn thịnh-hành thời sau này dù bao nhiêu chính-phủ quân-chủ đổi ra chính-phủ cộng-hòa hết cả, hay là nói cho quá đi bao nhiêu chính-phủ cộng-hòa thuộc về chế-độ tư-bản (tức phái cộng-sản gọi là ''républiques bour''<noinclude></noinclude> pvv6xmqs08116izbllzlm0hcc45av8r Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/64 104 72498 206291 2026-10-07T10:38:04Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206291 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|62|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>''geoises'') đổi ra chính-phủ bình-dân thuộc về chế-độ cộng-sản hết cả, vị-tất cái họa chiến-tranh đã tiệt hết, vị tất sự chiến-tranh đã bớt đi, và vị tất cái tai-hại đã kém hơn bây giờ. Những dân-tộc chiến-tranh ngày nay để phục quyền độc-lập hay để tuyên-truyền tự-do cũng dữ-dội chẳng kém gì các vua chúa ngày xưa chiến-tranh để mở-mang bờ-cõi hay để khuếch-trương thế-lực; lại các nước « tư-bản » đánh nhau để tranh quyền buôn-bán hay dễ cướp lấy mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ than, mỏ dầu, cũng kịch-liệt lắm nữa; chí-ư các nước « lao-động » đánh nhau sau này để cướp miếng ăn hay để tranh việc làm, thời có lẽ lại còn khốc-hại hơn nhiều nữa. Cứ xem những việc xung-đột nhau đến lưu-huyết xảy ra ở các xưởng thợ nước Pháp, nước Ý, nước Tỉ, thời chủ-nghĩa quốc-tế (''internationalisme'') tưởng chưa đến ngày phát-đạt to được. Từ trước đến nay, mọi sự cải-cách về chính-trị hay về xã-hội không thấy tất-nhiên có cái hiệu-lực bảo-hộ cho cuộc hòa-bình vậy. Cứ như trên vừa nói thì cái hiểm-tượng trong thế-giới ngày nay hãy còn nhiều lắm; tuy nhiên việc giao-tế các nước với nhau cũng có tấn-tới nhiều, điều đó không thể không thừa-nhận được. Về đời phong-kiến, người dân sinh-trưởng<noinclude></noinclude> p5r0a3e87dtrx31e0gpyebqn2zw7z7g Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/65 104 72499 206292 2026-10-07T10:39:05Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206292 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|63}}</noinclude>ở đâu thời suốt đời ở đấy, ở nhà quê không ra khỏi ấp, ở kẻ chợ không ra khỏi thành. Đến đời quân-chủ, con mắt đã nhìn rộng được ra đến bờ-cõi nước nhà, người dân đã bắt đầu có cái quan-niệm về tôn-bang tổ-quốc. Hồi tôn-giáo chuyên-chế thời thấy có cái quan-niệm phảng phất về « công-cộng giáo-hội » (chrétienté). Đến thế kỷ thứ 16, các nước đã có chính-sách ngoại-giao đối với nước ngoài, gồm lại gọi tổng-danh là « Âu-châu » (''Europe''). Từ đấy đến giờ, thế-giới rộng ra biết bao nhiêu! Từ thế-kỷ thứ 18 nước Pháp đi khai thuộc-địa khắp mọi nơi, tức là sáp-nhập vào trong vòng khuôn văn-minh Âu-châu những đất nước các phương xa, như ''Canada'', ''Louisiane'', ''Antilles'' ở Mĩ-châu, ''Algérie', ''Tunisie'', ''Congo'', ''Madagascar'' ở Phi-châu, ''Indochine'' ở Á-châu, mấy cái quần-đảo ở Nam-dương, v.v.. Nước Anh thời sáp-nhập Bắc-Mĩ, Ấn-độ, Úc-châu; nước Đức thời một phần Phi-châu; Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha, là hai nước bắt đầu đi khai thuộc-địa sớm nhất, đã từng sáp-nhập đất Trung-Mĩ, Nam-Mĩ, một phần các đảo về các bờ bể Phi-châu, đảo Phi-luật-tân, và nhiều các quần-đảo khác ở Nam-dương; Hà-lan thời sáp-nhập đất Nam-Phi và các quần-đảo<noinclude></noinclude> kufyfiawb61yd93v1h1v59bfs4o62ch Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/66 104 72500 206293 2026-10-07T10:40:26Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206293 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|64|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>Mã-lai; nước Nga thời sáp-nhập cả phía Bắc châu Á. Ngoại-giả, những xứ khác hoặc còn thuộc về trình-độ bán-khai, hoặc đã văn-minh rồi mà theo về một lối văn-minh khác với văn-minh của Âu-châu, như nước Tàu, nước Nhật, Ba-tư, Thổ-nhĩ-kỳ, Ai-cập, trước sau cũng phải vào giao-thiệp với các nước Âu-châu cả, tức là chịu ảnh-hưởng của văn-minh Âu-châu. Chính Âu-châu ngày nay cũng chỉ là một bộ-phận trong thế-giới văn-minh, mà thế giới văn-minh tức có thể gọi là « thế-giới Âu-châu », vì là thuộc văn-minh Âu-châu cả. Lại nhiều các dân-tộc mới, nguyên giống tự người Pháp, người Anh, người Tây-ban-nha, người Bồ-đào-nha, người Hà-lan, người Đức, người Nga, hoặc đã thành-lập, hoặc đương thành-lập, ở Nam-Bắc-Mĩ, ở Phi-châu, ở Á-châu, ở Úc-châu; những dân những nước ấy cố-nhiên là vẫn giữ cái văn-minh cố-hữu của mình, là văn-minh Âu châu. Văn-minh này lại mỗi ngày một truyền-bá rộng mãi ra, cả một cõi Á-đông vốn thuộc về lối văn-minh khác, ngày nay cũng tiêm-nhiễm hết cả. Người La-mã ngày xưa cho thế giới là gồm các dân các nước ở quanh miền Địa-trung-hải, cũng như người Tàu cho «thiên-hạ » là Trung-quốc với các nước phụ-dung<noinclude></noinclude> 7or8jzksdegdrdvsqxizpmma7bz7qpo Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/67 104 72501 206294 2026-10-07T10:42:10Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206294 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|65}}</noinclude>chung quanh mà thôi. Người đời nay thời cho « thiên-hạ » là cả địa-cầu, cả vũ-trụ; và đã có cái quan-niệm về lẽ liên-đái-quan-hệ trong các dân-tộc với nhau, bất-cứ là thuộc về giống vàng, giống trắng, giống đen thẫm hay giống đen nhạt vậy. Về đường pháp-luật, Âu-châu xưa kia đã có vạn-quốc công-pháp, nhưng chỉ để đối-đãi với các dân Âu-châu theo về Cơ-đốc-giáo mà thôi; này thời dần-dần khuếch-trương cả ra khắp các nước trên địa-cầu. Như Thổ-nhĩ-kỳ chính ở Âu-châu mà xưa vẫn phải đứng ngoài hội quốc-tế Âu-châu, nay thời nghiễm-nhiên là một nước Âu-châu rồi; còn người Tàu, người Nhật, người Ba-tư, người Xiêm-la, thời dần-dần cũng giao-thiệp với các nước Âu-châu càng ngày càng mật-thiết, trao-đổi sứ-thần với các nước ấy, ký điều-ước giao-hiếu, điều-ước thông-thương, tham-dự vào các hội-nghị chung. Từ sau việc Âu-chiến đến giờ, sự giao-tế các nước trong thế-giới lại càng sầm-uất lắm nữa. Hội Vạn-quốc lập ra ở ''Genève'' (nước Thụy-sĩ), gồm được gần khắp các nước trên hoàn-cầu, mỗi khi hội-nghị, đại-biểu các nơi đến họp, thật là thu cả thế-giới, cả nhân-loại vào trong một nhà vậy. Các nước năng đi lại với nhau, tất phải có pháp-luật chung để chủ-trương sự giao-tế ấy. {{nop}}<noinclude></noinclude> 3lxmn4ntue08h6otj2tfee0j01xyfd5 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/68 104 72502 206295 2026-10-07T10:43:56Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206295 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|66|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>Pháp-luật ấy tức là quốc-tế-công-pháp, quốc-tế-tư-pháp, các nước cùng nhau đặt ra, cùng nhau thuận nhận để điều-đình mọi việc quan-hệ đến quyền-lợi nước nọ đối với nước kia, hoặc là quyền-lợi chung của cả nước, hoặc là quyền-lợi riêng của cá-nhân. Khi chiến-tranh cũng có luật-pháp, phàm nước nào có liêm-sỉ cũng phải tuân theo. Đời Phong-kiến ở Âu-châu có cái quyền gọi là « quyền tịch-thu » (''droit d’aubaine''), nghĩa là người ngoại-quốc đến ngụ-cư một nước nào mà không nhập tịch nước ấy thời khi chết đi gia-sản bị tịch-thu vào làm của nhà vua; đời quân-chủ chuyên-chế, luật ấy cũng vẫn còn giữ. Đời Cách-mệnh ở nước Pháp mới bỏ hẳn, rồi các nước khác cũng bỏ dần hết. Xưa tầu ngoại-quốc mà ghé vào bờ bể nước Pháp thì nguy-hiểm lắm. Nay đâu đâu cũng đặt tháp hải-đăng, đặt hội cứu bão, gặp khi có cái thuyền hay cái tầu nào bị nguy-hiểm ngoài khơi thì bất luận là người nước nào, cũng phái những thủy-thủ rất can-đảm ra cứu cho khỏi nạn. Người ngoại-quốc giạt đến bờ bể nước mình, xưa coi như thù như giặc, nay sẵn lòng cứu giúp cho, bảo-hộ cho, dẫn đường chỉ lối cho khỏi nguy-nan. Xưa chốn biên-thùy, nơi quốc-giới là chỗ ngăn-trở cho sự giao-thông nhiều lắm. Phàm<noinclude></noinclude> o2d23yezdias0bes1hpm2eu5wcc5p9m Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/69 104 72503 206296 2026-10-07T10:45:16Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206296 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|67}}</noinclude>hóa-vật ở ngoại-quốc đem vào, hoặc là bị ngăn-cấm, hoặc là bị quan-thuế rất nặng, lính nhà « đoan » khám-xét phiền-nhiễu lắm. Nay thời trừ ra mấy khoản, còn lệ cấm cũng khoan hơn trước nhiều, và thuế thương-chính cũng nhẹ hơn. Vào khoảng năm 1820, ai đi du-lịch trong ba-mươi-bảy « bang » ở nước Đức, — nước Đức hồi bấy giờ chưa hợp-nhất, — thời đồ hành lý bị khám đến ba-mươi-bảy lần, mỗi nơi một chặng lính « đoan » mặc một thứ áo khác. Ai đi chơi Ý-đại-lợi cũng vậy: ở các xứ thuộc quyền nhà vua ''Sardaigne'', sang các xứ thuộc quyền nhà vua ''Lombardie'' hay ''Venitie'', ở quận ''Parme'' sang quận ''Toscane'', ở đất của Giáo-hoàng sang đất của nhà vua ''Naples'', cũng nghiêu-khê như thế. Từ ngày nước Đức đặt ra ước « quan-thuế liên-hợp » (tiếng Đức là ''Zollverein'', tiếng Pháp là ''Union des Douanes''), nước Áo-Hung chỉnh-đốn lại quan-thuế, nước Ý-đại-lợi thống-nhất, thời không có những sự bất-tiện như thế nữa. Ngày nay đi tự ''Paris'' sang kinh-đô nước Nga, chỉ phải qua có hai đường cửa quan mà thôi. Xưa khách lữ-hành đi ra khỏi bờ-cõi nước, lại còn sự phiền-nhiễu nữa, là phải có giấy thông-hành, xin thật khó và mất nhiều tiền, đến đâu cũng phải trình ra, lấy chữ ký quan sở-tại mới được đi, có khi về đến nhà giấy<noinclude></noinclude> mhbghwu4au9uv0n0asym9b1k13027py Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/70 104 72504 206297 2026-10-07T10:46:21Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206297 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|68|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>đặc kín những dấu cùng chữ. Người Anh là một dân-tộc hiếu tự-do và ưa giản-tiện xưa nay, bắt đầu bãi cái lệ giấy thông-hành ấy trước nhất, người ngoại-quốc vào nước Anh không cần phải giấy-má gì cả. Nước Pháp về đời Đế-chính tuy là đương thuộc chính-phủ chuyên-chế, hay có thói hiềm-nghi, nhưng cũng bắt-chước người Anh bỏ lệ ấy. Các nước khác lần-lượt theo hết cả. Ngày nay suốt Âu-châu đi nước nọ sang nước kia, không cần phải giấy thông-hành; ở các nơi khác cũng vậy, chỉ trừ những nơi nào thế-lực của chính-phủ chưa được vững-vàng, mới hay có thói nghi-kỵ những người đi lại mà thôi, Về bưu-chính thì suốt các nước trong thế-giới đã họp nhau thành một « Quốc-tế Bưu-chính liên-hiệp-hội » (''Union postale universelle''); về tiền lệ, về phép đo-lường, hiện cũng đã có nhiều nước theo thể-chế của nước Pháp. Nhờ đó nghĩa quốc-tế-quan-hệ ngày một rõ thêm ra. Nhất-diện thời những sự ngăn-trở cho các nước không thân-cận được nhau ngày một tiêu-trừ đi, nhất-diện thời những mối liên-lạc các nước với nhau lại ngày một thêm nhiều ra và thân-mật hơn. Mỗi ngày lại đặt thêm một đường điện-báo trên cạn dưới bể, đặt thêm một đường hỏa-xa, đường tầu bể,<noinclude></noinclude> qg56sm3j0lldjzkmktsjfn0iv9aeckl Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/71 104 72505 206298 2026-10-07T10:47:28Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206298 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|69}}</noinclude>khiến cho việc giao-thông trong thế-giới văn-minh càng dễ-dàng tiện-lợi. Trong các sự-nghiệp về hỏa-xa, về công-nghệ, trong các cuộc công-thải của nhà nước hay của các thị-tỉnh ở Tỉ-lợi-thì, Tây-ban-nha, Ý-đại-lợi, v.v., đều có tiền của người Pháp mua vé vào đấy cả, cũng như trong các công-ti cùng công-thải của nước Pháp cũng có vô-số tiền của Tỉ, của Anh, của Đức, của Mĩ. Như sản-nghiệp nước Anh với sản-nghiệp nước Pháp rất có mật-thiết-quan-hệ với nhau, chợ Hối-đoái (''la Bourse'') thành ''Paris'' thường hằng ngày theo giá lên xuống ở chợ ''Londres'', bên nước Anh mà xảy ra có công-ti hay có nhà ngân-hàng nào phá-sản thời lập-tức ảnh-hưởng ngay sang các chợ buôn tiền ở ''Paris'', ''Lyon'', ''Marseille'', ''Lille'', ''Bordeaux''; vì vạn nhất mà hai nước giao-chiến với nhau thời các ngân-phiếu cùng trái-phiếu của hai nước liền sụt giá xuống ngay, sức tín-dụng trong trường kinh-tế cũng bại-hoại ngay. Xét trong lịch-sử Anh với Pháp xưa nay đánh nhau biết bao nhiêu phen; đến bây giờ thời lợi-quyền kinh-tế đã ràng-buộc nhau bền-chặt quá, khó lòng mà quyết-liệt với nhau cho đến đánh nhau được nữa. Ấy kinh-tế có cái sức liên-lạc mạnh như thế. Thậm-chí Pháp với Đức là hai nước thù thiên-cổ với nhau, tưởng<noinclude></noinclude> bq2pm0ir6i9xhkhl6p9j2an3w670v50 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/72 104 72506 206299 2026-10-07T10:48:45Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206299 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|70|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>không bao giờ lại còn thân nhau được, thế mà gần đây những nhà chính-trị trong hai nước đã xướng lên cái chính-sách thân-thiện và đã thấy bắt đầu thực-hành. Tự thế-kỷ thứ 19 đến giờ, không có một cái đại-sự-nghiệp gì trong thế-giới mà do một nước chủ-trương cho thành được; như đào đường tụy-đạo núi ''Cenis'' phải nước Pháp với nước Ý hiệp-lực nhau; đào đường tụy-đạo núi ''Saint-Gothard'' phải nước Đức, nước Ý và nước Thụy-sĩ hiệp-lực nhau; đặt giây điện-báo ngầm qua Đại-Tây-dương phải nước Anh với nước Mĩ hiệp lực nhau; đào sông Vận-hà ''Suez'' tuy là người Pháp chủ-trương mà không phải toàn là vốn của người Pháp cả. Khoa-học ngày nay không phải khoa-học riêng của nước Pháp, nước Anh, nước Đức hay nước Mĩ; khoa-học ngày nay là khoa-học chung của thế-giới. Nhà khoa-học bây giờ không phải như nhà khoa-học đời xưa, ngồi nghiên-cứu một mình ở trong phòng thí-nghiệm: ngày nay có trăm nghìn thứ sách-vở tạp-chí thuật lại cho biết những sự nghiên-cứu của bạn đồng-nghiệp ở khắp các nước; lại có những hội-nghị quốc-tế về khắp các môn học, thường thường họp lại để cho nhà khoa-học bác-học các nước được gặp mặt nhau mà liên-lạc với nhau. Không có một sự phát-minh gì lớn mà không có<noinclude></noinclude> n57dw5dlott48b2kxj0dewvf4rj6b9q Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/73 104 72507 206300 2026-10-07T10:52:14Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206300 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|71}}</noinclude>công chung của người các nước giúp vào, như người Pháp thì có cái tài sáng-khởi, người Anh có cái tài ứng-dụng, người Đức có cái tài tổ-chức; người Mĩ có cái tài biến-báo. — Như tìm thấy cách dùng sức-mạnh hơi nước là người Pháp tên là {{sc|Papin}} (1647-1774); người Anh tên là {{sc|Watt}} (1736–1819) mới chế ra cái máy chạy bằng hơi nước; người Mĩ tên là {{sc|Evans}} (1755-1819) thời chế ra cái máy áp-lực mạnh (cao-áp khí-cơ, ''machine à haute pression''). — Lại người Pháp {{sc|Jouffroy d’Abbans}} (1754-1832) tìm được cách cầm máy tàu chạy hơi nước trước nhất, kế đến hai người Mĩ {{sc|Fitch}} và {{sc|Fulton}} (1765-1815) mới sửa-sang lại mà làm cho tiện-dụng. — Máy khí-xa để kéo cho hỏa-xa chạy là tự người Anh {{sc|Stephenson}} (1803-1859) chế ra, nhưng đến khi người Pháp {{sc|Seguin}} (1784-1875) đặt ra lối ống truyền hơi (''système tubulaire'') thời máy mới thật là có sức-mạnh. — Lại người Anh {{sc|Grey}} tìm ra cách truyền điện bằng tiếp-xúc (''transmission par le contact''): người Hà-lan {{sc|Musschenbrock}} (1692-1761) chế ra cái bình chứa điện gọi là ''bouleille de Leyde''; người Mĩ {{sc|Franklin}} (1704-1809) nghĩ đặt ra ống thu-lôi; người Ý {{sc|Volta}} (1745-1887) chế ra cái điện-trì (''pile''); người Đan-mạch {{sc|Œrsted}} (1777-1851) đặt ra khoa từ-điện-học (''électro-magnétisme'');<noinclude></noinclude> 5uh44uos0qtbx1gsb20s5psw0c0grzi Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/74 104 72508 206301 2026-10-07T10:53:18Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206301 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|72|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>người Pháp {{sc|Arago}} (1812-1896) và {{sc|Ampère}} (1775-1836) tìm được cái nguyên-lý về điện-báo. Nói tóm lại từ trước đến nay, sự chinh-chiến vẫn làm cho các dân các nước hiềm-thù cách-trở nhau; từ nay về sau có lẽ nhờ những sự-nghiệp công-cộng về kinh-tế, về khoa-học, về từ-thiện, các nước sẽ càng ngày càng hiệp-lực cộng-tác với nhau mà dần-dần trở nên thân-thiện cùng nhau vậy. {{vạch tùy chỉnh|lo|141}}<noinclude></noinclude> c2s84v37da02dooe9edsw44cp4bhic5 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/75 104 72509 206302 2026-10-07T10:54:11Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206302 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" /></noinclude>{{g|{{x-lớn|'''VĂN-MINH HỌC-THUẬT NƯỚC PHÁP'''}} {{vạch|6em}}}} Văn-minh học-thuật một nước là biểu-hiệu của cái tinh-thần nước ấy. Tinh-thần ấy phát hiện ra nhiều cách, những rút lại có mấy cái đặc-tính phân-biệt nước ấy với các nước khác, khiến cho nước ấy có một cái hình-dung riêng trong Vạn-quốc, một cái địa-vị riêng trong thế-giới vậy. Phàm các nước lớn đời xưa đời nay, đã có ảnh-hưởng đến cuộc tiến-hóa của nhân-loại, đều có một cái tinh-thần riêng như thế cả. Tinh-thần ấy cũng tức như nhân-cách của từng người vậy. Nhân-cách mỗi người một khác, phát-hiện ra cách tư-tưởng cảm-giác, sự cư-xử hành-vi của mỗi người. Tinh-thần một nước cũng vậy, phản-chiếu ra văn-minh học-thuật của nước ấy. Vậy muốn hiểu rõ văn-minh học-thuật một nước nào, tất phải hiểu cái tinh-thần riêng của nước ấy. Nay thử hỏi các nhà tây-học nước ta, sau khi đọc xong một quyển sách hay bằng chữ Pháp, sách văn-chương hay sách nghị-luận,<noinclude></noinclude> 1gferd6hvg1tbpbk1idynx56m7ro2v4 Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/76 104 72510 206303 2026-10-07T10:56:11Z Lcsnes 11706 /* Đã hiệu đính */ 206303 proofread-page text/x-wiki <noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|74|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>sách tiểu-thuyết hay sách nhàn-đàm, thì cái cảm-giác ra làm sao? Tất ai ai cũng từng nhận rằng cái cảm-giác ấy có một cái hứng-vị, một cái phong-thú riêng, không thể giải được, vui-vẻ, nhẹ-nhàng, mà đậm-đà, thiết-thực. Cái cảm-giác ấy tuy không nói rõ ra được, nhưng phàm người nào đã hầu biết thưởng-thức văn-chương nước Pháp, đều thấy phảng-phất như thế cả. Bởi đâu mà văn-chương nước Pháp có cái sức cảm-hóa sâu-xa mà đặc-biệt như thế? Bởi cái tinh-thần riêng của nước Pháp vậy. Giải rõ được cái tinh-thần ấy, phát-biểu được cái đặc-tính của nó, không phải là một việc dễ. Tất phải am-hiểu tính-tình tư-tưởng người Pháp, thông-thuộc văn-chương xã-hội nước Pháp, lý-hội lịch-sử hiện-tình dân Pháp, mới có thể bình-luận một cách đích-đáng được. Chúng tôi không dám tự-phụ có đủ tư-cách như thế. Nhân đọc một bài luận hay về « Văn-minh nước Pháp » (''La civilisation française'') của một nhà văn-sĩ Pháp, ông {{sc|Victor Giraud}} <ref>Ông là một nhà « phê-bình » có tiếng ở nước Pháp. Nguyên dạy văn-chương Pháp ở trường Đại-học ''Fribourg'', bên Thụy-sĩ. Ông làm bài luận về « Văn-minh nước Pháp» này, đã từng được hội Hàn-lâm ban « phần-thưởng hùng-biện » (''prix d’eloquence'') năm 1916. Hiện nay ông làm Tổng Thư-ký Tạp-chí ''Revue des Deu Mondes'', là một tập tùng-báo rất có tiếng ở nước Pháp.</ref>, thấy<noinclude></noinclude> o8twy68hla48gnsbhu51k26gp1gcuig Văn minh luận/2 0 72511 206304 2026-10-07T10:58:15Z Lcsnes 11706 [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{đầu đề | tựa đề = [[../]] | tác giả = Phạm Quỳnh | ghi đè tác giả = | dịch giả = | phần = 2 | trước = [[../1|Giải nghĩa văn minh]] | sau = [[../3|Văn minh học thuật nước Pháp]] | ghi chú = }} <pages index="Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf" from=35 to=74 />” 206304 wikitext text/x-wiki {{đầu đề | tựa đề = [[../]] | tác giả = Phạm Quỳnh | ghi đè tác giả = | dịch giả = | phần = 2 | trước = [[../1|Giải nghĩa văn minh]] | sau = [[../3|Văn minh học thuật nước Pháp]] | ghi chú = }} <pages index="Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf" from=35 to=74 /> 2nk3p28jkj84z1o0dgplzn0jm0rp8l8