Wikisource
viwikisource
https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh
MediaWiki 1.47.0-wmf.23
first-letter
Phương tiện
Đặc biệt
Thảo luận
Thành viên
Thảo luận Thành viên
Wikisource
Thảo luận Wikisource
Tập tin
Thảo luận Tập tin
MediaWiki
Thảo luận MediaWiki
Bản mẫu
Thảo luận Bản mẫu
Trợ giúp
Thảo luận Trợ giúp
Thể loại
Thảo luận Thể loại
Chủ đề
Thảo luận Chủ đề
Tác gia
Thảo luận Tác gia
Trang
Thảo luận Trang
Mục lục
Thảo luận Mục lục
Biên dịch
Thảo luận Biên dịch
TimedText
TimedText talk
Mô đun
Thảo luận Mô đun
Sự kiện
Thảo luận Sự kiện
Đề tài
Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946
0
34
206380
148924
2026-10-10T18:33:51Z
~2026-54503-34
20728
/* Chương IV: Chính phủ */
206380
wikitext
text/x-wiki
{{đầu đề
|tựa đề=Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946
| tác giả = | ghi đè tác giả = của [[Chủ đề:Quốc hội Việt Nam|Quốc hội Việt Nam]]
|năm=1946
|dịch giả=
|phần=
|trước=[[Chủ đề:Văn kiện lập hiến]]
|sau=[[Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1959]]
|wikipedia=Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946
|ghi chú=([[w:Quốc hội Việt Nam|Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà]] thông qua ngày 9-11-1946)
}}
==Lời nói đầu==
Cuộc Cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền Dân chủ Cộng hoà.
Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới.
Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ.
Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của Cách mạng và phải xây dựng trên những nguyên tắc dưới đây:
*Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.
*Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
*Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Với tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hoà bình của nhân loại.
==Chương I: Chính thể==
;Điều thứ 1
Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa.
Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.
;Điều thứ 2
Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia.
;Điều thứ 3
Cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nền đỏ, giữa có sao vàng năm cánh.
Quốc ca là bài Tiến quân ca.
Thủ đô đặt ở Hà Nội.
==Chương II: Nghĩa vụ và Quyền lợi Công dân==
===Mục A: Nghĩa vụ===
;Điều thứ 4
Mỗi công dân Việt Nam phải:
*Bảo vệ Tổ quốc
*Tôn trọng Hiến pháp
*Tuân theo pháp luật.
;Điều thứ 5
Công dân Việt Nam có nghĩa vụ phải đi lính.
===Mục B: Quyền lợi===
;Điều thứ 6
Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá.
;Điều thứ 7
Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình.
;Điều thứ 8
Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung.
;Điều thứ 9
Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.
;Điều thứ 10
Công dân Việt Nam có quyền:
* Tự do ngôn luận
* Tự do xuất bản
* Tự do tổ chức và hội họp
* Tự do tín ngưỡng
* Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
;Điều thứ 11
Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam.
Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật.
;Điều thứ 12
Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm.
;Điều thứ 13
Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm.
;Điều thứ 14
Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng.
;Điều thứ 15
Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình.
Học trò nghèo được Chính phủ giúp.
Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước.
;Điều thứ 16
Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam.
===Mục C: Bầu cử, bãi miễn và phúc quyết ===
;Điều thứ 17
Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp và kín.
;Điều thứ 18
Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền.
Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.
Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử.
;Điều thứ 19
Cách thức tuyển cử sẽ do luật định.
;Điều thứ 20
Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, theo điều thứ 41 và 61.
;Điều thứ 21
Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo điều thứ 32 và 70.
==Chương III: Nghị viện nhân dân==
;Điều thứ 22
Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
;Điều thứ 23
Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài.
;Điều thứ 24
Nghị viện nhân dân do công dân Việt Nam bầu ra. Ba năm bầu một lần.
Cứ 5 vạn dân thì có một nghị viên.
Số nghị viên của những đô thị lớn và những địa phương có quốc dân thiểu số sẽ do luật định.
;Điều thứ 25
Nghị viên không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân.
;Điều thứ 26
Nghị viện nhân dân tự thẩm tra xem các nghị viên có được bầu hợp lệ hay không.
;Điều thứ 27
Nghị viện nhân dân bầu một Nghị trưởng, hai Phó nghị trưởng, 12 uỷ viên chính thức, 3 uỷ viên dự khuyết để lập thành Ban thường vụ.
Nghị trưởng và Phó nghị trưởng kiêm chức Trưởng và Phó trưởng Ban thường vụ.
;Điều thứ 28
Nghị viện nhân dân mỗi năm họp hai lần do Ban thường vụ triệu tập vào tháng 5 và tháng 11 dương lịch.
Ban thường vụ có thể triệu tập hội nghị bất thường nếu xét cần.
Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện nếu một phần ba tổng số nghị viên hoặc Chính phủ yêu cầu.
;Điều thứ 29
Phải có quá nửa tổng số nghị viên tới họp, hội nghị mới được biểu quyết.
Nghị viện quyết nghị theo quá nửa số nghị viên có mặt.
Nhưng muốn tuyên chiến thì phải có hai phần ba số nghị viên có mặt bỏ phiếu thuận.
;Điều thứ 30
Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe.
Các báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết nghị của Nghị viện.
Trong những trường hợp đặc biệt, Nghị viện có thể quyết nghị họp kín.
;Điều thứ 31
Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải ban bố.
;Điều thứ 32
Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý.
Cách thức phúc quyết sẽ do luật định.
;Điều thứ 33
Khi nào hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý, Nghị viện có thể tự giải tán. Ban thường vụ thay mặt Nghị viện tuyên bố sự tự giải tán ấy.
;Điều thứ 34
Khi Nghị viện nhân dân đã hết hạn hoặc chưa hết hạn mà tự giải tán thì Ban thường vụ giữ chức quyền cho đến khi bầu lại Nghị viện nhân dân mới.
;Điều thứ 35
Hai tháng trước khi Nghị viện nhân dân hết hạn, Ban thường vụ tuyên bố cuộc bầu cử lại. Cuộc bầu cử mới phải làm xong trong hai tháng trước ngày Nghị viện hết hạn.
Khi Nghị viện nhân dân tự giải tán, Ban thường vụ tuyên bố ngay cuộc bầu cử lại. Cuộc bầu cử mới làm xong trong hai tháng sau ngày Nghị viện tự giải tán.
Chậm nhất là một tháng sau cuộc bầu cử, Ban thường vụ phải họp Nghị viện nhân dân mới.
Trong khi có chiến tranh mà nghị viện hết hạn thì Nghị viện hoặc Ban thường vụ có quyền gia hạn thêm một thời gian không nhất định. Nhưng chậm nhất là sáu tháng sau khi chiến tranh kết liễu thì phải bầu lại Nghị viện.
;Điều thứ 36
Khi Nghị viện không họp, Ban thường vụ có quyền:
:a) Biểu quyết những dự án sắc luật của Chính phủ. Những sắc luật đó phải đem trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất để Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ.
:b) Triệu tập Nghị viện nhân dân.
:c) Kiểm soát và phê bình Chính phủ.
;Điều thứ 37
Phải có quá nửa tổng số nhân viên bỏ phiếu thuận, những nghị quyết của Ban thường vụ mới có giá trị.
;Điều thứ 38
Khi Nghị viện không họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến.
;Điều thứ 39
Đầu mỗi khoá họp, sau khi Ban thường vụ báo cáo công việc, vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm Ban thường vụ có thể nêu ra, nếu có một phần tư tổng số nghị viên yêu cầu. Toàn Ban thường vụ phải từ chức nếu không được tín nhiệm. Nhân viên Ban thường vụ cũ có thể được bầu lại.
;Điều thứ 40
Nếu chưa được Nghị viện nhân dân đồng ý hay trong lúc Nghị viện không họp mà chưa được Ban thường vụ đồng ý thì Chính phủ không được bắt giam và xét xử những nghị viên.
Nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện.
Trong trường hợp phạm pháp quả tang, Chính phủ có thể bắt giam nghị viên ngay nhưng chậm nhất là 24 giờ phải thông tri cho Ban thường vụ. Ban thường vụ hoặc Nghị viện sẽ định đoạt.
Khi một nghị viên mất quyền ứng cử thì đồng thời mất cả tư cách nghị viên.
;Điều thứ 41
Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó. Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức.
;Điều thứ 42
Phụ cấp của các nghị viên sẽ do luật định.
==Chương IV: Chính phủ==
;Điều thứ 43
Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
;Điều thứ 44
Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phó Chủ tịch nước và Nội các.
Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng.
;Điều thứ 45
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận.
Nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa số tương đối.
Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại.
Trong vòng một tháng trước khi hết nhiệm kỳ của Chủ tịch, Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện để bầu Chủ tịch mới.
;Điều thứ 46
Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chọn trong Nghị viện Nhân dân và bầu theo lệ thường.
Nhiệm kỳ của Phó Chủ tịch theo nhiệm kỳ của Nghị viện.
Phó Chủ tịch giúp đỡ Chủ tịch.
Khi Chủ tịch từ trần hay từ chức thì Phó Chủ tịch tạm quyền Chủ tịch. Chậm nhất là hai tháng phải bầu Chủ tịch mới.
;Điều thứ 47
Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết. Nếu được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tướng chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách. Thứ trưởng có thể chọn ngoài Nghị viện và do Thủ tướng đề cử ra Hội đồng Chính phủ duyệt y.
Nhân viên Ban thường vụ Nghị viện không được tham dự vào Chính phủ.
;Điều thứ 48
Nếu khuyết Bộ trưởng nào thì Thủ tướng thoả thuận với Ban thường vụ để chỉ định ngay người tạm thay cho đến khi Nghị viện họp và chuẩn y.
;Điều thứ 49
Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà:
:a) Thay mặt cho nước.
:b) Giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân.
:c) Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ.
:d) Chủ toạ Hội đồng Chính phủ.
:đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị.
:e) Thưởng huy chương và các bằng cấp danh dự.
:g) Đặc xá.
:h) Ký hiệp ước với các nước.
:i) Phái đại biểu Việt Nam đến nước ngoài và tiếp nhận đại biểu ngoại giao của các nước.
:k) Tuyên chiến hay đình chiến theo như điều 38 đã định.
;Điều thứ 50
Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc.
;Điều thứ 51
Mỗi khi truy tố Chủ tịch, Phó Chủ tịch hay một nhân viên Nội các về tội phản quốc, Nghị viện sẽ lập một Toà án đặc biệt để xét xử.
Việc bắt bớ và truy tố trước Toà án một nhân viên Nội các về thường tội phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng Chính phủ.
;Điều thứ 52
Quyền hạn của Chính phủ:
:a) Thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện.
:b) Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện.
:c) Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban thường vụ, trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt.
:d) Bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới, nếu cần.
:đ) Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính hoặc chuyên môn.
:e) Thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất nước.
:g) Lập dự án ngân sách hàng năm.
;Điều thứ 53
Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chữ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và tuỳ theo quyền hạn các Bộ, phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký. Các vị Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện.
;Điều thứ 54
Bộ trưởng nào không được Nghị viên tín nhiệm thì phải từ chức.
Toàn thể Nội các không phải chịu liên đới trách nhiệm về hành vi một Bộ trưởng.
Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các. Nhưng Nghị viện chỉ có thể biểu quyết về vấn đề tín nhiệm khi Thủ tướng, Ban thường vụ hoặc một phần tư tổng số Nghị viện nêu vấn đề ấy ra.
Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại. Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách cuộc thảo luận lần thứ nhất là 48 giờ. Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín nhiệm phải từ chức.
;Điều thứ 55
Các Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất vấn của Nghị viện hoặc của Ban thường vụ. Kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10 ngày sau khi nhận được thư chất vấn.
;Điều thứ 56
Khi Nghị viện hết hạn hoặc tự giải tán, Nội các giữ chức quyền cho đến khi họp Nghị viện mới.
==Chương V: Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính==
;Điều thứ 57
Nước Việt Nam về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã.
;Điều thứ 58
Ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có Hội đồng Nhân dân do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra.
Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã hay xã cử ra Uỷ ban Hành chính.
Ở bộ và huyện, chỉ có Uỷ ban Hành chính. Uỷ ban Hành chính bộ do Hội đồng các tỉnh và thành phố bầu ra. Uỷ ban Hành chính huyện do Hội đồng các xã bầu ra.
;Điều thứ 59
Hội đồng Nhân dân quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình. Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên.
Uỷ ban Hành chính có trách nhiệm:
:a) Thi hành các mệnh lệnh của cấp trên.
:b) Thi hành các nghị quyết của Hội đồng Nhân dân địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn y.
:c) Chỉ huy công việc hành chính trong địa phương.
;Điều thứ 60
Uỷ ban Hành chính chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối với Hội đồng Nhân dân địa phương mình.
;Điều thứ 61
Nhân viên Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính có thể bị bãi miễn.
Cách thức bãi miễn sẽ do luật định.
;Điều thứ 62
Một đạo luật sẽ định rõ những chi tiết tổ chức các Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính.
==Chương VI: Cơ quan Tư pháp==
;Điều thứ 63
Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm có:
:a) Toà án tối cao.
:b) Các toà án phúc thẩm.
:c) Các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp.
;Điều thứ 64
Các viên thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm.
;Điều thứ 65
Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết
định với thẩm phán nếu là việc đại hình.
;Điều thứ 66
Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước Toà án.
;Điều thứ 67
Các phiên toà án đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt.
Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư.
;Điều thứ 68
Cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và tội nhân.
;Điều thứ 69
Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp.
==Chương VII: Sửa đổi Hiến pháp==
;Điều thứ 70
Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
:a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu.
:b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi.
:c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.
{{PVCC-CPVN}}
[[Thể loại:Hiến pháp Việt Nam]]
ke5qbz3enhhhtiyh5zp2h0ndzfl9xyt
Wikisource:GUS2Wiki
4
46964
206381
206250
2026-10-10T22:07:38Z
Alexis Jazz
15437
Updating gadget usage statistics from [[Special:GadgetUsage]] ([[phab:T121049]])
206381
wikitext
text/x-wiki
{{#ifexist:Project:GUS2Wiki/top|{{/top}}|This page provides a historical record of [[Special:GadgetUsage]] through its page history. To get the data in CSV format, see wikitext. To customize this message or add categories, create [[/top]].}}
Dữ liệu dưới đây được đưa vào vùng nhớ đệm và được cập nhật lần cuối lúc 2026-10-10T10:03:24Z. Tối đa có sẵn {{PLURAL:5000|một kết quả|5000 kết quả}} trong vùng nhớ đệm.
{| class="sortable wikitable"
! Tiện ích !! data-sort-type="number" | Số người dùng !! data-sort-type="number" | Số thành viên tích cực
|-
|AutoOldStyleVi || 7 || 0
|-
|HotCat || 45 || 4
|-
|NopInserter || 9 || 2
|-
|Preload Page Images || 5 || 1
|-
|QualityButton || 12 || 1
|-
|Subpages || 7 || 0
|-
|TemplatePreloader || 37 || 3
|-
|UTCLiveClock || 21 || 0
|-
|addsection-plus || 20 || 0
|-
|edittop || 22 || 1
|-
|mark-proofread || 11 || 2
|-
|navpop || 35 || 3
|-
|purgetab || 27 || 2
|-
|removeAccessKeys || 4 || 0
|-
|wiked || 11 || 0
|}
* [[Đặc biệt:GadgetUsage]]
* [[m:Meta:GUS2Wiki/Script|GUS2Wiki]]
<!-- data in CSV format:
AutoOldStyleVi,7,0
HotCat,45,4
NopInserter,9,2
Preload Page Images,5,1
QualityButton,12,1
Subpages,7,0
TemplatePreloader,37,3
UTCLiveClock,21,0
addsection-plus,20,0
edittop,22,1
mark-proofread,11,2
navpop,35,3
purgetab,27,2
removeAccessKeys,4,0
wiked,11,0
-->
nc8b3lu9z273trhqxbo7vp7skr482rf
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/11
104
72425
206372
206347
2026-10-10T15:10:38Z
~2026-54534-28
20727
206372
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||GIẢI NGHĨA VĂN-MINH|9}}</noinclude>thế-kỷ thứ 18; thế-kỷ ấy có những danh-nho như ông {{sc|Montesquieu, Voltaire, Gibbon, Herder}} <ref>{{sc|Montesquieu}} (Tàu dịch là Mạnh-đức-tư-cưu), người Pháp (1689-1755), là một nhà pháp-chính-học có tiếng, làm bộ sách « Vạn-pháp tinh-lý » (''L’Esprit des Lois''), đã có dịch ra hán-văn. — {{sc|Voltaire}} (Tàu dịch là Phúc-Lộc-đặc-nhĩ), người Pháp (1694-1778), là một tay đại-văn-hào về thế-kỷ thứ 18. — {{sc|Gibbon}}, người Anh (1737-1796), là một nhà sử-học, làm sách « La-mã-đế-quốc suy-vong-sử » (''Histoire de la décadence et de la chute de l’Empire Romain''). — {{sc|Herder}}, người Đức (1744-1803), là một nhà triết-học làm sách « Nhân-loại lịch-sử triết-lý luận » (''Philosophie de l’histoire de l’humanité'').</ref> đề xướng lên, rồi đến thế-kỷ thứ 19 thời có bọn ông {{sc|Klemm, Buckle}} <ref>{{sc|Buckle}}, người Anh (1821-1862), là một nhà sử-học, làm sách « Anh-quốc văn-minh-sử » (''Histoire de la civilisation en Angleterre'').</ref> và các nhà bác-học thuộc về phái ông {{sc|Darwin}} <ref>{{sc|Darwin}} (Tàu dịch là Đạt-nhĩ-văn), người Anh (1809-1882), là một nhà bác học trứ-danh, làm sách « Nói về duyên-lai các giống vật, bởi cách đào-thải tự-nhiên » (''De l’origine des espèces par voie de sélection naturelle''), người Tàu đã dịch ra hán-văn, đề là « Chủng-nguyên » (種 源). Theo sách ấy thì các giống sinh-vật trong thế-gian là giống nọ nhân giống kia biến-hóa mà thành ra, giống nào mạnh thì còn, giống nào yếu thì mất; đó tức là cái thuyết « sinh-tồn cạnh-tranh », nhất-danh là « biến-hóa thuyết » vậy. Người Tây nhân tên ông gọi học-thuyết của ông là ''Darwinisme'' (Đại-nhĩ-văn thuyết).</ref>, cũng chủ-trương một thuyết ấy.
{{nop}}<noinclude></noinclude>
rkrbowtn4bqjn27l4nwzssnt0cx2jzf
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/12
104
72426
206373
206348
2026-10-10T15:11:07Z
~2026-54534-28
20727
206373
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|10|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>Đại khái các học-giả ấy công nhận rằng người ta do dã-man (''sauvagerie'') mà dần dần đến bán-khai (''barbarie''), do bán-khai mà dần dần lên văn-minh (''civilisation''), đó gọi là « tiến-hóa-thuyết » hay là « tiến-bộ-thuyết » (''doctrine du progrès''); nhà sử-học nước Anh {{sc|Gibbon}} là một người chủ-trì thuyết này trước nhất, trái lại thuyết này có người xướng ra thuyết « thoái-hóa » (''théorie de la dégénérescence''); như ông {{sc|Joseph De Maistre}} <ref>{{sc|Joseph De Maistre}} (1753-1821), người Pháp, là một nhà triết-học và tôn-giáo, phản-{{sic|đố|đối}} cuộc Đại-Cách-mệnh nước Pháp, và cố duy-trì những chế-độ quân-chủ cũ. Làm sách « Giáo-hoàng-luận » (''Le Pape'') và sách « Cuộc dạ-đàm ở thành Bỉ-đắc » (''Les Soirées de Saint-Pétersbourg'').</ref> nói rằng các dân-tộc tới bậc bán-khai thời phân nhau ra mà theo hai đường khác, dân này thì cứ tiến mãi lên cho tới cõi văn-hóa càng ngày càng cao, dân kia thì cứ lùi mãi đi mà trở về chốn dã-man đời trước. Cứ thực, thuyết sau ấy không có căn-cứ gì; chưa từng thấy một dân-tộc nào đã khai-hóa rồi mà lại quay về dã-man bao giờ. Gọi là « thoái-hóa » ấy, chẳng qua là đến khi đã văn-minh rồi, còn sót ít nhiều những tục xấu đời trước chưa biến hết mà thôi; thế gọi là « di-tồn thói cũ » (''survivance''), chứ không phải là « thoái hóa dã man ». Lại một dân trình-độ<noinclude></noinclude>
dnd89vpyg83e6pgp8jgwtcrbpdsco1a
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/15
104
72429
206374
206087
2026-10-10T15:11:55Z
~2026-54534-28
20727
206374
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||GIẢI NGHĨA VĂN-MINH|13}}</noinclude>và hai bên tiếp-xúc lẫn nhau vậy. Người ta biến-cải thế-giới, thế-giới cũng biến-cải người ta; bởi sự hành-động ảnh-hưởng lẫn nhau đó mà sinh ra mọi việc ở đời. Nay muốn xét văn-minh tiến-hóa thế nào, trước phải tìm những phép-tắc của sự hành-động ấy thế nào.
Theo nhà sử-học nước Anh là ông {{sc|Buckle}}, thời những động-lực ở ngoại-giới mà có ảnh-hưởng đến sự tổ-chức chung các xã-hội, là: thứ nhất khí-hậu, thứ nhì sự ăn-uống, thứ ba thổ-địa, thứ tư cảnh-tượng chung trong thế-gian. Khí-hậu, thổ-địa, đồ ăn-uống trong một xứ, ba mối ấy vốn có mật-thiết-quan-hệ với nhau, ta nên xét gồm làm một. Một việc quan-trọng nhất trong sự tiến-hóa của một xã-hội, là sự trử-tích của-cải. Nếu mỗi người chỉ làm để đủ ăn và làm được bao nhiêu ăn vừa hết bấy nhiêu, thời trong xã-hội không thể nào có kẻ học-hành, có người tổ-chức được việc gì cả. Nhưng nếu làm ra mà ăn dùng còn thừa, thời tức-khắc thấy ngoài bọn lao-động nhóm lên một bọn tri-thức, chuyên công luyện-{{sic|tâp|tập}} các khoa-học, khoa-học tấn-tới tức là văn-minh tiến-bộ, như sau này sẽ giải tường vậy. Nay sự trử-tích của-cải là bởi cái sức mạnh lao-động của người ta cùng cái thành-công của sự lao-động ấy, và cũng bởi tạo-vật hậu-đãi hay bạc-đãi nguời ta nữa. Hai nguyên-nhân ấy<noinclude></noinclude>
5zmwah79k25hv60hc9y91o35i02knlz
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/19
104
72433
206375
206091
2026-10-10T15:12:54Z
~2026-54534-28
20727
206375
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||GIẢI NGHĨA VĂN-MINH|17}}</noinclude>văn-minh phát-đạt sớm ở các xứ nóng, xét ra giá tiền công người làm rất hạ, tình-cảnh kẻ lao-động thật là khổ-sở; ở Âu-châu thời văn-minh mới nhóm lên là ở xứ lạnh, xem ra giá tiền công người làm thường-thường là cao, sự phân-phát của-cải trong xã-hội không đến nỗi chênh nhau lắm. Bởi thế nên ở Ấn-độ, Ai-cập, Mặc-tây-kha (''Mexique''), của-cải phân-phát đã không đều, chính-quyền phân-nhiệm cũng không cân. Như ở Ấn-độ kẻ làm công chỉ được đủ gạo ăn, mà gạo trong ngũ-cốc là thứ nhiều hơn nhất, rẻ hơn nhất, nghề cấy lúa một vốn bốn mươi lãi, thành ra đồ ăn nhiều quá và rẻ quá, khiến cho về thời-đại nào trong xã-hội cũng thấy chia ra hai hạng, hạng thượng-lưu thì cực-kỳ giàu-có quyền-thế, hạng hạ-lưu thì cực-kỳ khốn-khổ yếu-hèn. Ai-cập cũng vậy, thổ-địa thật tốt và khí-hậu thật nóng: người Ấn-độ dùng gạo làm gốc đồ ăn thời người Ai-cập dùng một thứ quả có nhiều chất bổ gọi là quả chà-là (''dattes''), phía bắc Phi-châu sản nhiều lắm. Thành ra thổ-địa càng tốt thời của-cải càng nhiều, đồ ăn càng lắm, dân-số càng đông, mà các hạng người trong xã-hội lại càng cách xa nhau lắm. Những đền-đài lăng-tẩm, to-lớn lạ thường, ngày nay còn trông thấy di-tích ở đất Ai-cập, đủ làm minh-chứng cho lẽ đó. Ví là tay những người có tư-cách tự-do,<noinclude></noinclude>
s40s8gjj962s9mjp3od1fjtz5shv6oh
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/21
104
72435
206376
206354
2026-10-10T15:13:30Z
~2026-54534-28
20727
206376
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||GIẢI NGHĨA VĂN-MINH|19}}</noinclude>các hình-tượng trong thế-gian không lấy gì làm to dữ cho lắm, người ta biết tin cậy ở tài-lực, ở trí khôn mình, ra công nghiên-cứu các hiện-tượng trước mắt, dần dần tìm phương thắng-đoạt được những sức mạnh thiên-nhiên của tạo-vật và lợi-dụng để làm nên công việc cho mình. Những hình-tượng dữ-dội trong thế-gian thời kích-động trí tưởng-tượng, sinh ra lòng mê-tín, và làm thoái trí học-vấn: cứ xét lịch-sử các văn-minh ở về xứ nóng, thật cũng đủ chứng-nghiệm. Trong các văn-minh ở ngoài Âu-châu thời những hình-tượng trong thế-gian càng tăng trí tưởng-tượng của người ta lên bao nhiêu, lại càng giảm trí khôn-ngoan đi bấy nhiêu. Ở Âu-châu thì thật là khác hẳn: xét các hiện-tượng thiên-nhiên, hình như lại có ý muốn hạn-chế sự tưởng-tượng mà phát-đạt sự suy-nghĩ. Muốn chứng-minh điều đó, không gì bằng so-sánh các truyện thần-tiên của Ấn-độ với truyện thần-tiên của Hi-lạp (''Grèce''), một bên thì những thần quái-quái kỳ-kỳ, kinh-kinh hãi-hãi, thần với người cách xa nhau như trời với đất, một bên thời những thần tính-tình diện-mạo chẳng khác gì người, người với thần thân-cận nhau như cùng loài cùng giống. Trong các văn-minh xứ nóng, sự nguy-hiểm dễ sinh ra cái « quan-niệm về vô-cùng » (''idée de l'infini''); trong<noinclude></noinclude>
jsrewq8e2t8byml8vbeqvhsn28cywvq
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/26
104
72440
206377
206098
2026-10-10T15:15:45Z
~2026-54534-28
20727
206377
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|24|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>tự tay những bậc rất đạo-đức chủ-trương (như hai vua {{sc|Marc Aurèle, Julien}} <ref>{{sc|Marc Aurèle}} (124-181 sau Gia-tô), là một vị hiền-quân La-mã, trị dân có đức, lại ưa chuộng văn-học triết-học. Vậy mà theo thói đời bấy giờ cũng ra tay trị những người theo đạo Gia-tô, cho là đạo dị-đoan. — {{sc|Julien}}, vua La-mã, trị-vì từ năm 361 đến năm 363, cũng là một người hiền, nhưng trước theo đạo Gia-tô, sau phản-đối đạo, muốn khôi-phục lại thần-đạo Hi-lạp cổ, và bách-hại những người theo đạo Gia-tô, cho là đạo giả.</ref> nước La-mã, bách-hại những người theo đạo Gia-tô); cái tai-nạn ấy nhờ trí-thức mở-mang mới thấy dần dần bớt đi.
Nói tóm lại, kẻ ác làm hại chỉ được một lúc; người thiện làm lành cũng chẳng bao lâu; cái gì mà lưu-tồn được mãi mãi, di-truyền đến vô-cùng, ấy là những sự phát-minh của các trang đại-trí; nước dù đổ, đạo dù tàn, những sự phát-minh ấy vẫn còn mãi, cái sau kế-tiếp cái trước, không hề gián-đoạn bao giờ: mọi sự đều khi chìm khi nổi, khi đổi khi thay, duy có trí-tuệ người ta là đời đời sáng tỏ, làm đuốc sáng để đưa nhân-loại trên con đường tiến-hóa văn-{{sic|mình|minh}}.
Hoặc có người nói rằng sự học-vấn không phải là cái động-cơ thứ nhất của văn-minh, và văn-minh tiến-hóa phần nhiều là nhờ ở tôn-giáo, ở văn-chương, ở chính-trị. Ý-kiến đó thiết-tưởng không đúng, xin phân-giải như sau này.
{{nop}}<noinclude></noinclude>
eo1exj7g6y4xdo6r4uji1hbd59ylimu
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/28
104
72442
206378
206100
2026-10-10T15:17:03Z
~2026-54534-28
20727
206378
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|26|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>như vậy thời tôn-giáo là kết-quả, không phải là nguyên-nhân sự tiến-hóa vậy. Xét trong lịch-sử, xa xa mới thấy một đôi người siêu-quần bạt-chúng, thường là những nhà đại tư-tưởng xuất-{{sic|hiên|hiện}} ra làm tiên-phong cho nhân-loại mà xướng lên một nền tôn-giáo hay nền triết-học mới; nếu tư-tưởng của các nhà ấy siêu-việt quá, người đương thời chưa đủ hiểu, thời phải đợi cho bao giờ dân-trí đến trình-độ khai-thông bấy giờ đem truyền-bá ra mới có người tiếp-thụ được. Như lý-thuyết thờ một ông thần gọi là Thiên-chúa phát-minh ra ở đất Do thái (''Judée'') đã lâu mà phải chờ đến mấy thế-kỷ mới dựng thành tôn-giáo. Hồi đầu tuy đặt luật rất nghiêm, hình rất nặng, mà trong dân-gian vẫn mê-tin quỉ-thần; đến sau dân-trí dần dần mở-mang mới biết bỏ sự lễ-bái quỉ thần mà theo tôn-giáo độc-thần. Lại khi đạo Thiên-chúa mới truyền sang dân La-mã và các rợ Bắc-Man, thời sự mê-tín trong dân-gian cũng không giảm đi chút nào, chỉ thay hình đổi dạng mà làm biến-tính mất tôn-giáo mới đi, như trước thờ quỉ-thần, nay thờ các thánh vậy. Đại-để, khi một dân-tộc nào theo một tôn-giáo cao hơn trình-độ mình, thì tôn-giáo ấy không được hoàn-toàn phát-đạt mà dân-tộc ấy cũng không được tận-hưởng lợi-ích.
Thuộc về văn-chương, lẽ cũng như vậy. Văn{{nct}}<noinclude></noinclude>
m6hyrxgbu6hrkzq3wuvtzlphgkeet73
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/35
104
72449
206379
206107
2026-10-10T15:20:19Z
~2026-54534-28
20727
206379
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" /></noinclude>{{g|{{x-lớn|'''TÍNH CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY'''}}
{{vạch|6em}}}}
Văn-minh đời nay khác các thời-đại trước bởi mấy cái tính-cách đặc-biệt như sau: thứ nhất là có tiến bộ về đường khoa-học; thứ nhì là có tiến-bộ về nghĩa dân-chủ; thứ ba là có tiến-bộ về đường kinh-tế; thứ tư là có tiến-bộ về nghĩa quốc-tế.
{{g|{{lớn|'''Tiến-bộ về đường khoa-học'''}}}}
Về đời Trung-cổ, cái chuyên-chế-tinh-thần mạnh quá, có ngăn-trở cho các khoa-học không tấn-tới được. Quyền giáo-dục bấy giờ là thuộc về Giáo-hội cả, không những là những kẻ muốn cải-cách tôn-giáo bị Giáo-hội không dung, mà những kẻ muốn sáng-kiến về triết-học, về khoa học cũng bị Giáo-hội nghi-kỵ.
Quyền chuyên-chế Giáo-hội đã mạnh như thế, lại còn quyền chuyên-chế của phái cựu{{nct}}<noinclude></noinclude>
3y2eiz0pmkdyutvhqr22txyo3tzugen
206383
206379
2026-10-11T10:53:33Z
~2026-54488-55
20730
206383
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" /></noinclude>{{g|{{x-lớn|'''TÍNH CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY'''}}
{{vạch|6em}}}}
Văn-minh đời nay khác các thời-đại trước bởi mấy cái tính-cách đặc-biệt như sau: thứ nhất là có tiến bộ về đường khoa-học; thứ nhì là có tiến-bộ về nghĩa dân-chủ; thứ ba là có tiến-bộ về đường kinh-tế; thứ tư là có tiến-bộ về nghĩa quốc-tế.
{{g|{{lớn|'''Tiến-bộ về đường khoa-học'''}}}}
Về đời Trung-cổ, cái chuyên-chế-tinh-thần mạnh quá, có ngăn-trở cho các khoa-học không tấn-tới được. Quyền giáo-dục bấy giờ là thuộc về Giáo-hội cả, không những là những kẻ muốn cải-cách tôn-giáo bị Giáo-hội không dung, mà những kẻ muốn sáng-kiến về triết-học, về khoa-học cũng bị Giáo-hội nghi-kỵ.
Quyền chuyên-chế Giáo-hội đã mạnh như thế, lại còn quyền chuyên-chế của phái cựu{{nct}}<noinclude></noinclude>
g4boa2d2d5glnh9ei0kacxmxijz8t7p
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/46
104
72480
206362
206273
2026-10-10T14:41:36Z
~2026-54534-28
20727
206362
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|44|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>và về xã-hội lại có một cuộc cách-mệnh về khoa-học và về kinh-tế nữa: chính-trị thay đổi đã đành, nhưng nếu cách sinh-hoạt của người ta không thay đổi, thì sự cải-cách về chính-trị cũng không bền vậy.
{{g|{{lớn|'''Tiến-bộ về nghĩa dân-chủ'''}}}}
Đời thượng-cổ là đời đảng quí-tộc và đảng tăng-lữ chuyên-quyền; đến đời cận-cổ thời quyền chuyên-chế vào tay các nhà vua; cuộc Đại-Cách-mệnh mới chuyển quyền chúa-tể trong nước vào tay cả bàn-dân. Sau khi cách-mệnh thành-công, được mấy năm (từ 1793 đến 1795) bọn {{sc|Danton}} <ref>{{sc|Danton}} (1759-1794), là nhà chính-trị trứ-danh nước Pháp về đời Cách-mệnh. Ông cũng có chân Hội-đồng Cứu-quốc cùng với {{sc|Robespiere}}, nhưng có ý ôn-hòa hơn, nên bị {{sc|Robespiere}} nghi-ky. Sau bị {{sc|Robespiere}} kết-án xử-tử, phải lên đoạn-đầu-đài. Có người khuyên nên trốn đi ngoại-quốc; ông nói rằng: « Tổ-quốc có thể buộc vào gót giầy mà mang đi được không? » Khi sắp ngửa cổ ra chém, ông bảo tên hành-tội rằng: « Anh giơ đầu tôi ra cho thiên-hạ xem nhé! Đầu tôi tưởng cũng đáng cho công-chúng biết! » — Pháp-sử cho ông là tay lỗi-lạc nhất trong những người chủ-trương cuộc Cách-mệnh đời bấy giờ.</ref> và {{sc|Robespiere}} cầm quyền thời quyền chính-trị thật là ở trong hạng bình-dân. Nhưng mà không thể bền được, vì dân chúng vô-học, lại hay sốc{{nct}}<noinclude></noinclude>
3nirbgkbqcyxh72ntzchtwcerm44ip9
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/49
104
72483
206363
206322
2026-10-10T14:45:02Z
~2026-54534-28
20727
206363
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|47}}</noinclude>Chủ nghĩa dân-chủ xướng lên tự cuối thế-kỷ thứ 18, qua bao nhiêu nông-nỗi khó-khăn, đến cuối thế-kỷ thứ 19 mới là thắng hẳn, nghĩa là trước sau phải một trăm năm bây giờ mới thực là vững-bền. Nước Pháp bây giờ là một nước dân-chủ cộng-hòa, nghĩa là dân tự cai-trị lấy mình, theo thể-thức như sau này: nhất-ban quốc-dân được quyền bầu-cử thượng hạ Nghị-viện; nghị-viên bầu quan Giám-quốc và các quốc-vụ tổng-trưởng, vì các quốc-vụ tổng-trưởng tuy là quan Giám-quốc cử ra, nhưng thực là các nghị-viên cử, quan Giám-quốc phải theo Nghị-viện.
Như vậy thời phàm người dân có quyền bầu-cử là có quyền tham-dự việc quốc-chính, hoặc là trực-tiếp, hoặc là gián-tiếp, cho nên người nào khi bỏ vé bầu-cử không cẩn-thận, hay là có quyền bầu-cử mà tự phóng-khí đi, là người ấy có trách-nhiệm về việc nước, hễ việc nước hư-hỏng là lỗi ở mình một phần vậy. Phàm chính-thể dân-chủ thời dân thể nào chính-phủ thể ấy, chính-phủ hay hay dở là tự dân, không còn trách ai được nữa.
Phàm nước nào chủ-quyền ở nhất-ban quốc-dân, hết thảy người dân trong nước đều có nghĩa-vụ trách-nhiệm như nhau cả, thì gọi là nước dân-chủ (''démocratie''), nghĩa là tự dân cai-trị lấy dân.
{{nop}}<noinclude></noinclude>
09lq4r874pgphtx7eamoin2z4744ng5
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/51
104
72485
206364
206323
2026-10-10T14:46:30Z
~2026-54534-28
20727
206364
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|49}}</noinclude>không đặt lệ « cưỡng-bách giáo-dục », nghĩa là bắt hết thảy người dân ai cũng phải đi học, cùng lệ « miễn-phí giáo-dục », nghĩa là đi học không mất tiền. Một Chính-phủ dân-chủ hoàn-toàn, thời lại tất phải lấy hai cái lệ đó làm gốc cho sự phổ-thông-giáo-dục trong dân-gian, vì rằng phàm người dân ai cũng có quyền bầu-cử, vậy thì ai cũng phải đi học cho biết chữ để thi-hành cái quyền ấy cho chánh-đáng, nghĩa là phải có lệ cưỡng-bách; lại đã bắt ai cũng phải đi học thì tất phải ban-bố sự học thế nào cho kẻ giàu người nghèo đều có thể hưởng được cả, nghĩa là phải có lệ miễn-phí cho người ta.
Lại về đường kinh-tế. Một chính-phủ dân-chủ có hạn-chế thời về đường kinh-tế tất là khuynh-hướng về cái chính-sách « bảo-hộ mậu-dịch », nghĩa là đặt luật-lệ để bênh giữ riêng lợi-quyền cho một hạng công-thương có thế-lực. Như chính-phủ « Quân-chủ phục-quyền » nước Pháp, đặt ra luật ngũ-cốc để bênh giữ lợi-quyền cho bọn điền-chủ lớn, luật này đối với phần đa-số trong nước là phần không có quyền bầu-cử thời lại thiệt-hại, vì làm cho giá lúa và giá bánh-mì tăng lên. Chính-phủ « Quân-chủ tháng bảy » thời lại có ý bênh-vực cho các chủ công-nghệ lớn, bèn đặt luật đánh thuế nặng<noinclude></noinclude>
c45pg139edbe84zk3obpn3x0ur5v8rx
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/54
104
72488
206365
206326
2026-10-10T14:49:13Z
~2026-54534-28
20727
206365
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|52|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>sắc đậm-đà biết bao nhiêu; lại như lối vẽ của các tay danh-họa đời nay chọn lấy những chuyện thực mà tả và cách tả cũng cầu lấy cho giống sự-thực, sánh với cái họa-học cổ-điển thời chắc là có ý phổ-thông hơn nhiều. Nghề điêu-khắc như bức chạm bài Quốc-ca (''La Marseillaise'') của {{sc|Rude}} <ref>{{sc|Rude}} (1784-1855) là một nhà điêu-khắc có tiếng nước Pháp, nét chạm li-kỳ và lực-lưỡng. Chính ông chạm các bức tường cửa Khải-hoàn ''Paris'' (''Arc de Triomphe'').</ref> ở cửa Đại-Khải-hoàn thành ''Paris'', thời sánh với các bức chạm những tích thần-tiên về thế-kỷ trước, chắc là dễ cảm công-chúng hơn nhiều. Nghề kiến-trúc cũng chuyển theo ra đường lối mới; nhà kiến-trúc ngày nay không phải xây những lâu-đài cho vua chúa nữa, nhưng phải xây những nơi để hội-họp đông, thích-dụng cho sự cần dùng của ông vua mới là ông « dân-chủ », ông « vua dân », như những nhà thị-sảnh to, những nơi hội-nghị lớn, những đấu-mã-trường, diễn-kịch-trường, v, v..
Chủ-nghĩa bình-đẳng tự-do về chính-thể, tức là chủ-nghĩa dân-chủ, không phải chỉ phát-đạt ở một nước Pháp mà thôi. Cuộc Đại-Cách-mệnh nước Pháp có ảnh-hưởng đến cả khắp các dân-tộc khác. Những nước còn theo<noinclude></noinclude>
078frlvtirryunhys7t02yx5m22812q
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/55
104
72489
206366
206327
2026-10-10T14:50:29Z
~2026-54534-28
20727
206366
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|53}}</noinclude>về chính-thể chuyên-chế cũng đã hết sức cưỡng chống lại, nhưng sau đều phải chịu hết. Nước Thụy-sĩ (''Suisse'') trước là gồm vô-số những nước cộng-hòa nhỏ theo về chính-thể quí-tộc (''républiques aristocratiques''), sau cũng thành một cuộc liên-bang theo về chính-thể dân-chủ hết. Các thuộc-địa cũ của Tây-ban-nha (''Espagne''), Bồ-đào-nha (''Portugal'') ở Nam-Mĩ cũng lập thành nước dân-chủ cả. Những xứ bị Thổ-nhĩ-kỳ (''Turquie'') áp-chế, đã thành quận-huyện của Thổ-đế-quốc, như ''Grèce'', ''Roumanie'', ''Serbie'', ''Bulgarie'', đều thoát-li được hết và trở thành nước độc-lập cả.
Nước Anh (''Angleterre'') tự khi đổi lại luật bầu-cử năm 1832, 1867, 1884, nước Ý (''Italie''), nước Bỉ (''Belgique''), nước Hà-lan (''Hollande''), nước Tây-ban-nha (''Espagne''), nước Thụy-điển (''Suède''), nước Na-uy (''Norvège''), tuy còn là nước quân-chủ, nhưng chỉ có tên quân-chủ mà thôi, chứ thực là theo chế-độ dân-chủ cả. Các nước ấy đều có Nghị-viện, đều có Nội-các có trách-nhiệm đối với Nghị-viện, nghĩa là dân tự-chủ cai-trị lấy cả. Tự cuộc đại-chiến–tranh năm 1914-1918, nước Đức (''Allemagne'') cũng đã đổi ra chính-thể dân-chủ.
Các nước mới thành-lập tự sau khi chiến-tranh đến giờ, như Ba-lan (''Pologne''), Triết{{nct}}<noinclude></noinclude>
6x8ljrrwhbdn1xf8b00058qcnvowzqa
206367
206366
2026-10-10T14:50:53Z
~2026-54534-28
20727
206367
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|53}}</noinclude>về chính-thể chuyên-chế cũng đã hết sức cưỡng chống lại, nhưng sau đều phải chịu hết. Nước Thụy-sĩ (''Suisse'') trước là gồm vô-số những nước cộng-hòa nhỏ theo về chính-thể quí-tộc (''républiques aristocratiques''), sau cũng thành một cuộc liên-bang theo về chính-thể dân-chủ hết. Các thuộc-địa cũ của Tây-ban-nha (''Espagne''), Bồ-đào-nha (''Portugal'') ở Nam-Mĩ cũng lập thành nước dân-chủ cả. Những xứ bị Thổ-nhĩ-kỳ (''Turquie'') áp-chế, đã thành quận-huyện của Thổ-đế-quốc, như ''Grèce'', ''Roumanie'', ''Serbie'', ''Bulgarie'', đều thoát-li được hết và trở thành nước độc-lập cả.
Nước Anh (''Angleterre'') tự khi đổi lại luật bầu-cử năm 1832, 1867, 1884, nước Ý (''Italie''), nước Bỉ (''Belgique''), nước Hà-lan (''Hollande''), nước Tây-ban-nha (''Espagne''), nước Thụy-điển (''Suède''), nước Na-uy (''Norvège''), tuy còn là nước quân-chủ, nhưng chỉ có tên quân-chủ mà thôi, chứ thực là theo chế-độ dân-chủ cả. Các nước ấy đều có Nghị-viện, đều có Nội-các có trách-nhiệm đối với Nghị-viện, nghĩa là dân tự-chủ cai-trị lấy cả. Tự cuộc đại-chiến-tranh năm 1914-1918, nước Đức (''Allemagne'') cũng đã đổi ra chính-thể dân-chủ.
Các nước mới thành-lập tự sau khi chiến-tranh đến giờ, như Ba-lan (''Pologne''), Triết{{nct}}<noinclude></noinclude>
jvgbo70a2qwxpr2hi72j9dx510ikeu8
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/59
104
72493
206368
206330
2026-10-10T14:53:37Z
~2026-54534-28
20727
206368
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|57}}</noinclude>châu), trận ''Madagascar'' (đảo lớn ở đông-nam Phi-châu), các trận để chiếm thuộc-địa ở Tây Phi-châu. Các nước đi lấy thuộc-địa ngày nay không phải là để cầu cái hư-danh mở-mang bờ-cõi cho nước mình đâu, chính là vì lẽ kinh-tế cả.
Nay thế-giới có thái-bình thời kinh-tế mới thịnh-vượng được, cho nên các nước đã kinh qua nhiều phen chiến-tranh khốn-nạn, như trận Âu-chiến vừa rồi, bây giờ mới hiểu rằng phải nên lấy hòa-bình làm chủ sự giao-tế với nhau. Nếu cứ dùng võ-lực mà chiến-tranh hoài, thời dẫu chiến-thắng hay chiến-bại cũng hại như nhau cả, như vậy thì điều-đình châm-chước còn hơn là xung-đột vô-ích. Cho nên gần đây không có tháng nào là các nước không hội-nghị ở chỗ nọ, hội-nghị ở chỗ kia đề bàn-bạc về việc quốc-tế, lấy thương-thuyết mà giải-quyết mọi việc, không đề đến nỗi phải xung-đột nhau. Những người có tư-tưởng về nhân-đạo đều ước-ao rằng từ nay trở đi nhân-loại sẽ tránh khỏi cái họa chiến-tranh. Mong rằng lời ước ấy sẽ thành sự-thực, nhưng cũng chưa dám chắc, vì cái tình-thế thiên-hạ ngày nay vẫn còn bối-rối lắm.
Song xét cho kỹ thời công-việc nhà chính-trị ngày nay không có giống như ngày xưa, không phải âm-mưu kết-liên nước nọ, phản{{nct}}<noinclude></noinclude>
ogzx1dp5ea9aug0va87zpkfbr9um9f8
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/63
104
72497
206369
206290
2026-10-10T14:56:11Z
~2026-54534-28
20727
206369
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|61}}</noinclude>vua chúa với nhau, đến bấy giờ thời tựa-hồ như các dân-tộc đã trưởng-thành bèn kế-thừa lấy những cái mối tranh-đoan của vua chúa. Tự đấy, phàm các nước Âu-châu chiến-tranh với nhau là nước nọ đối với nước kia, dân nọ đối với dân kia, chứ không phải triều-đình nọ đối với triều-đình kia, hay là nhà vua nọ đối với nhà vua kia như trước nữa. Như trận Pháp-Phổ năm 1870-1871, cho đến cuộc Âu-chiến năm 1914-1918, các nước đánh nhau là quân-đội kể hàng triệu, chứ không kể hàng nghìn nữa. Thật là cả từng dân-tộc xô vào mà đánh lộn nhau, nghĩ mà ghê thay!
Trên kia xét về đường kinh-tế, đoán rằng các nước từ nay vì lẽ kinh-tế tất phải cầu lấy hòa-bình, không có sinh việc chiến-tranh như trước nữa. Nhưng nghiệm ra cái chủ-nghĩa quốc-gia, chủ-nghĩa dân-tộc lại càng ngày càng thịnh, dân nọ đối với dân kia, nước nọ đối với nước kia, khăng khăng không chịu nhau, thể nào khỏi xung-đột, cho nên e rằng không biết lời dự-đoán như trên có lẽ thành sự-thực được không. Những chủ-nghĩa ấy còn thịnh-hành thời sau này dù bao nhiêu chính-phủ quân-chủ đổi ra chính-phủ cộng-hòa hết cả, hay là nói cho quá đi bao nhiêu chính-phủ cộng-hòa thuộc về chế-độ tư-bản (tức phái cộng-sản gọi là ''républiques bour''-<noinclude></noinclude>
c72m48abv42kz7wkyigrpdvxpulh2zh
206370
206369
2026-10-10T14:58:29Z
~2026-54534-28
20727
206370
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh||TÍNH-CÁCH VĂN-MINH ĐỜI NAY|61}}</noinclude>vua chúa với nhau, đến bấy giờ thời tựa-hồ như các dân-tộc đã trưởng-thành bèn kế-thừa lấy những cái mối tranh-đoan của vua chúa. Tự đấy, phàm các nước Âu-châu chiến-tranh với nhau là nước nọ đối với nước kia, dân nọ đối với dân kia, chứ không phải triều-đình nọ đối với triều-đình kia, hay là nhà vua nọ đối với nhà vua kia như trước nữa. Như trận Pháp-Phổ năm 1870-1871, cho đến cuộc Âu-chiến năm 1914-1918, các nước đánh nhau là quân-đội kể hàng triệu, chứ không kể hàng nghìn nữa. Thật là cả từng dân-tộc xô vào mà đánh lộn nhau, nghĩ mà ghê thay!
Trên kia xét về đường kinh-tế, đoán rằng các nước từ nay vì lẽ kinh-tế tất phải cầu lấy hòa-bình, không có sinh việc chiến-tranh như trước nữa. Nhưng nghiệm ra cái chủ-nghĩa quốc-gia, chủ-nghĩa dân-tộc lại càng ngày càng thịnh, dân nọ đối với dân kia, nước nọ đối với nước kia, khăng khăng không chịu nhau, thể nào khỏi xung-đột, cho nên e rằng không biết lời dự-đoán như trên có lẽ thành sự-thực được không. Những chủ-nghĩa ấy còn thịnh-hành thời sau này dù bao nhiêu chính-phủ quân-chủ đổi ra chính-phủ cộng-hòa hết cả, hay là nói cho quá đi bao nhiêu chính-phủ cộng-hòa thuộc về chế-độ tư-bản (tức phái cộng-sản gọi là ''républiques bour-<noinclude></noinclude>
4cyrkrclxo8e13c27bdptz2qp6t4akm
Trang:Văn minh luận (1927) by Phạm Quỳnh.pdf/66
104
72500
206371
206335
2026-10-10T15:05:35Z
~2026-54534-28
20727
206371
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="3" user="Lcsnes" />{{rh|64|VĂN-MINH LUẬN|}}</noinclude>Mã-lai; nước Nga thời sáp-nhập cả phía Bắc châu Á. Ngoại-giả, những xứ khác hoặc còn thuộc về trình-độ bán-khai, hoặc đã văn-minh rồi mà theo về một lối văn-minh khác với văn-minh của Âu-châu, như nước Tàu, nước Nhật, Ba-tư, Thổ-nhĩ-kỳ, Ai-cập, trước sau cũng phải vào giao-thiệp với các nước Âu-châu cả, tức là chịu ảnh-hưởng của văn-minh Âu-châu. Chính Âu-châu ngày nay cũng chỉ là một bộ-phận trong thế-giới văn-minh, mà thế-giới văn-minh tức có thể gọi là « thế-giới Âu-châu », vì là thuộc văn-minh Âu-châu cả. Lại nhiều các dân-tộc mới, nguyên giống tự người Pháp, người Anh, người Tây-ban-nha, người Bồ-đào-nha, người Hà-lan, người Đức, người Nga, hoặc đã thành-lập, hoặc đương thành-lập, ở Nam-Bắc-Mĩ, ở Phi-châu, ở Á-châu, ở Úc-châu; những dân những nước ấy cố-nhiên là vẫn giữ cái văn-minh cố-hữu của mình, là văn-minh Âu-châu. Văn-minh này lại mỗi ngày một truyền-bá rộng mãi ra, cả một cõi Á-đông vốn thuộc về lối văn-minh khác, ngày nay cũng tiêm-nhiễm hết cả. Người La-mã ngày xưa cho thế-giới là gồm các dân các nước ở quanh miền Địa-trung-hải, cũng như người Tàu cho « thiên-hạ » là Trung-quốc với các nước phụ-dung<noinclude></noinclude>
mb5ij1v7ulxciy7a2jnq2uijl16u1ye
Trang:Leu chong.pdf/22
104
72516
206382
2026-10-10T23:38:20Z
TheHighFighter2
12350
/* Chưa hiệu đính */ [[w:WP:TTL|←]]Trang mới: “{{giữa|{{x-larger|II}}}} Lại một lần nữa, ruột gan cô Thúy không kìm được sự hồi hộp. Và cái hồi-hộp lần này, có lẽ còn mạnh hơn mấy lần trước nhiều lắm. Trí nhớ của cô hãy còn in lại rành-rành. Cách đây vừa đúng một năm, bấy giờ cô mới có mười chín tuổi. Cái đêm sắp sửa thắng quần thắng áo để đi làm người nội-trợ cho cậu khóa Trần-đ…”
206382
proofread-page
text/x-wiki
<noinclude><pagequality level="1" user="TheHighFighter2" /></noinclude>{{giữa|{{x-larger|II}}}}
Lại một lần nữa, ruột gan cô Thúy không kìm được sự hồi hộp. Và cái hồi-hộp lần này, có lẽ còn mạnh hơn mấy lần trước nhiều lắm.
Trí nhớ của cô hãy còn in lại rành-rành. Cách đây vừa đúng một năm, bấy giờ cô mới có mười chín tuổi. Cái đêm sắp sửa thắng quần thắng áo để đi làm người nội-trợ cho cậu khóa Trần-đằng-Long, tim cô đã bị một phen rung-động.
Song mà lúc ấy cô chỉ tự thấy bẽn-lẽn và cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn những cảnh-tượng đầu tiên và những câu nói thứ nhất của mình trong khi bắt đầu giáp mặt người bạn trăm-năm. Thế mà thôi. Rồi đến hồi cuối tháng một năm ngoái, khi được tin chồng cô đỗ Cử-nhân, bụng cô lại bị<noinclude></noinclude>
31qzhzjqifcd60ou7cnm5w5cak8fnbf