Wikisource viwikisource https://vi.wikisource.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh MediaWiki 1.47.0-wmf.24 first-letter Phương tiện Đặc biệt Thảo luận Thành viên Thảo luận Thành viên Wikisource Thảo luận Wikisource Tập tin Thảo luận Tập tin MediaWiki Thảo luận MediaWiki Bản mẫu Thảo luận Bản mẫu Trợ giúp Thảo luận Trợ giúp Thể loại Thảo luận Thể loại Chủ đề Thảo luận Chủ đề Tác gia Thảo luận Tác gia Trang Thảo luận Trang Mục lục Thảo luận Mục lục Biên dịch Thảo luận Biên dịch TimedText TimedText talk Mô đun Thảo luận Mô đun Sự kiện Thảo luận Sự kiện Đề tài Wikisource:GUS2Wiki 4 46964 206409 206381 2026-10-18T13:26:20Z Alexis Jazz 15437 Updating gadget usage statistics from [[Special:GadgetUsage]] ([[phab:T121049]]) 206409 wikitext text/x-wiki {{#ifexist:Project:GUS2Wiki/top|{{/top}}|This page provides a historical record of [[Special:GadgetUsage]] through its page history. To get the data in CSV format, see wikitext. To customize this message or add categories, create [[/top]].}} Dữ liệu dưới đây được đưa vào vùng nhớ đệm và được cập nhật lần cuối lúc 2026-10-16T10:12:01Z. Tối đa có sẵn {{PLURAL:5000|một kết quả|5000 kết quả}} trong vùng nhớ đệm. {| class="sortable wikitable" ! Tiện ích !! data-sort-type="number" | Số người dùng !! data-sort-type="number" | Số thành viên tích cực |- |AutoOldStyleVi || 7 || 0 |- |HotCat || 45 || 3 |- |NopInserter || 9 || 2 |- |Preload Page Images || 5 || 1 |- |QualityButton || 12 || 1 |- |Subpages || 7 || 0 |- |TemplatePreloader || 37 || 3 |- |UTCLiveClock || 21 || 0 |- |addsection-plus || 20 || 0 |- |edittop || 22 || 1 |- |mark-proofread || 11 || 2 |- |navpop || 35 || 2 |- |purgetab || 27 || 2 |- |removeAccessKeys || 4 || 0 |- |wiked || 11 || 0 |} * [[Đặc biệt:GadgetUsage]] * [[m:Meta:GUS2Wiki/Script|GUS2Wiki]] <!-- data in CSV format: AutoOldStyleVi,7,0 HotCat,45,3 NopInserter,9,2 Preload Page Images,5,1 QualityButton,12,1 Subpages,7,0 TemplatePreloader,37,3 UTCLiveClock,21,0 addsection-plus,20,0 edittop,22,1 mark-proofread,11,2 navpop,35,2 purgetab,27,2 removeAccessKeys,4,0 wiked,11,0 --> tcx4v32q7cuiy4nadayrmj64fj4rlqm Thành viên:Mrfly911 2 68467 206410 206305 2026-10-19T08:17:05Z Mrfly911 2215 /* Cú pháp */ 206410 wikitext text/x-wiki == Các tài liệu đóng góp và tham khảo == ===Nho giáo=== * Tứ thư ** [[:zh:禮記/大學 (證釋本)]] - [[Biên dịch:Đại Học]] ** [[:zh:禮記/中庸]] - [[Biên dịch:Trung Dung]] ** [[Luận ngữ]] ** [[:zh:孟子]] - [[Biên dịch:Mạnh Tử]] * [[:zh:詩經]] - [[Biên dịch:Kinh Thi]] * [[Hiếu Kinh diễn nghĩa]] * [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]] * [[w:Bách gia tính]] (có đủ trên Wikipedia) * [[Biên dịch:Thiên tự văn]] * [[Nho giáo]] ===Học chữ Hán=== * [[Ấu học khải mông]] * [[Chữ nho học lấy]] * [[Tam thiên tự]] ===Đạo giáo=== * [[Đạo Đức kinh]] * [[Biên dịch:Nam Hoa Kinh]] - [[:zh:莊子]] * [[Biên dịch:Âm Phù kinh chú]] - [[:zh:陰符經註 (劉一明)]] * [[Âm phù kinh]] - [[:zh:黃帝陰符經]] ===Y dược=== * [[Biên dịch:Thần Nông bản thảo kinh]] - [[:zh:神農本草經]] * [[Biên dịch:Hoàng Đế nội kinh]] - [[:zh:黃帝內經]] * [[Tác gia:Lưu Nhất Minh]] - [[:zh:作者:劉一明]] * [[Biên dịch:Thương Hàn Tạp Bệnh Luận]] - [[:zh:傷寒雜病論]] * [[Biên dịch:Nan kinh]] - [[:zh:難經]] * [[:zh:本草綱目]] - [[Biên dịch:Bản thảo cương mục]] * Nam dược thần hiệu (南藥神效) * Hồng Nghĩa giác tư y thư * Hải Thượng y tông tâm lĩnh (海上醫宗心領) * [[Biên dịch:Tố nữ kinh]] - [[:zh:素女經]] * [[Biên dịch:Ngọc phòng bí quyết]] - [[:zh:玉房秘訣]] * [[Biên dịch:Thiên địa âm dương giao hoan đại lạc phú]] - [[:zh:天地陰陽交歡大樂賦]] * [[Biên dịch:Tam phong thải chiến phòng trung diệu thuật bí quyết]] - [[:zh:三峰採戰房中妙術秘訣]] * [[Biên dịch:Động huyền tử]] - [[:zh:洞玄子]] * [[Biên dịch:Y tâm phương]] - [[:zh:醫心方]] * [[Biên dịch:Ngự toản y tông kim giám]] - [[:zh:御纂醫宗金鑑 (四庫全書本)]] ===Phật giáo=== * [[Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo]] {{Kinh điển Phật giáo}} * [[Biên dịch:Tín Tâm Minh]] - [[:zh:信心銘]] * [[Biên dịch:Tâm Minh]] - [[:zh:心銘]] ==Lịch sử== {{Nhị thập tứ sử}} === Hán (206 TCN - 9)=== * [[Tác gia:Lưu An]] (chữ Hán: 刘安, 179 TCN – 122 TCN) - [[:zh:作者:劉安]] ** [[Biên dịch:Hoài Nam tử]] - [[:zh:淮南子]] ** [[Biên dịch:Gián phạt Nam Việt thư]] - [[:zh:諫伐南越書]] * [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư]] ** [[w:Giả Nghị]]: [[Biên dịch:Tân thư/Quyển 9|Tân thư - quyển 9]] Giao Chỉ (交趾) * [[Tác gia:Tư Mã Thiên]] ** [[Biên dịch:Sử ký|Sử ký]] *** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] ** [[:zh:素王妙論]] ** [[:zh:悲士不遇賦]] ** [[Sử ký Tư Mã Thiên|Sử ký]] do [[Tác gia:Nhượng Tống|Nhượng Tống]] dịch (1944) ** [[Thơ trả lời cho Nhiệm An]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch) ** [[Thích khách liệt truyện]] ([[Tác gia:Phan Khôi|Phan Khôi]] dịch [[:zh:史記/卷086|Sử ký, quyển 86]]) * [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú]] - [[:zh:史記三家註]] ** Sử ký: [[Biên dịch:Sử ký tam gia chú/Quyển 113|Quyển 113 Nam Việt úy Đà liệt truyện]] - [[:zh:史記三家註/卷113]] * [[Biên dịch:Hán thư]] - [[:zh:漢書]] ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 028]] - [[:zh:漢書/卷028]] - Địa lý chí ** [[Biên dịch:Hán thư/Quyển 095]] - [[:zh:漢書/卷095]] - Tây Nam di, lưỡng Việt, Triều Tiên truyện ===Đông Hán (25–220)=== * [[Biên dịch:Đông quán Hán ký]] - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)]] ** [[Biên dịch:Đông quán Hán ký/Quyển 12]] Liệt truyện 7 - Mã Viện - [[:zh:東觀漢記 (四庫全書本)/卷12]] *[[Biên dịch:Hậu Hán thư|Hậu Hán thư]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 24|Hậu Hán thư: Quyển 24 Mã Viện liệt truyện 14]] - [[:zh:後漢書/卷24]] **[[Biên dịch:Hậu Hán thư/Quyển 86|Hậu Hán thư: Quyển 86 - Nam Man, Tây Nam Di liệt truyện 70]] ([[w:Hai Bà Trưng]]) - [[:zh:後漢書/卷86]] ---- * [[Tác gia:An Thế Cao]] (?-168?) - [[:zh:作者:安世高]] ** [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] - [[:zh:佛說轉法輪經]] === Tào Ngụy === * [[Tác gia:Khương Tăng Khải]] - [[:ja:作者:康僧鎧]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh]] (佛說無量壽經) – 2 quyển, Tào Ngụy Khương Tăng Khải dịch (Đại Chính tạng số 360) === Đông Ngô === * [[Tác gia:Chi Khiêm]] (222–252) - [[:zh:Author:支謙]] * [[Tác gia:Khương Tăng Hội]] (?-280) - [[:zh:Author:康僧會]] ** [[Biên dịch:Lục Độ Tập Kinh]] - [[:zh:六度集經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Đại An Ban Thủ Ý Kinh]] - [[:zh:佛說大安般守意經]] ** [[Biên dịch:Cựu Tạp Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:舊雜譬喻經]] === Tấn === * [[Biên dịch:Giao Châu ký|Giao Châu ký]] ---- * [[Tác gia:Pháp Cự]] - [[:zh:Author:法炬]] ** [[Biên dịch:Pháp Cú Thí Dụ Kinh]] - [[:zh:法句譬喻經]] * [[Tác gia:Trúc Pháp Hộ]] - [[:zh:作者:竺法護]] ** [[:zh:佛說普曜經]] - [[Biên dịch:Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]] ===Ngũ Hồ thập lục quốc (304–439)=== * [[Tác gia:Cưu-ma-la-thập]] (344–413) - [[:zh:Author:鳩摩羅什]] ** KINH (經) *** [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] (佛遺教經) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] (佛說海八德經) – 1 quyển ***:(Xét văn kinh này, quyết không phải bản dịch của Cưu-ma La-thập, có vẻ là kinh thời Hậu Hán. Ngờ là bản dịch của Trúc Pháp Lan, bị thất lạc bản gốc, trong Đại tạng lầm ghi là La-thập dịch vậy.) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] (佛說放牛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (摩訶般若波羅蜜經) – 27 quyển *** [[Biên dịch:Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (小品般若波羅蜜經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (金剛般若波羅蜜經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] (佛說仁王般若波羅蜜經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] (摩訶般若波羅蜜大明咒經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh]] (妙法蓮華經) – 7 quyển *** [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh]] (妙法蓮華經觀世音菩薩普門品經) – 1 quyển (Thời nhà Tùy, ngài Xà-na-quật-đa dịch phần trọng tụng) *** [[Biên dịch:Thập Trụ Kinh|Thập Trụ Kinh]] (十住經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] (佛說莊嚴菩提心經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội|Đại Bảo Tích Kinh (17) Phú Lâu Na Hội]] (大寶積經 富樓那會) – 3 quyển (Bồ Tát Tạng Kinh 3 quyển) *** [[Biên dịch:Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội|Đại Bảo Tích Kinh (26) Thiện Tý Bồ Tát Hội]] (大寶積經 善臂菩薩會) – 2 quyển (Thiện Tý Bồ Tát Kinh 2 quyển) *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] (佛說須摩提菩薩經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|Phật Thuyết A Di Đà Kinh]] (佛說阿彌陀經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh|Tập Nhất Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh]] (集一切福德三昧經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh|Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh]] (佛垂般涅槃略說教誡經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh|Tự Tại Vương Bồ Tát Kinh]] (自在王菩薩經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] (佛說千佛因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒下生成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] (佛說彌勒大成佛經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh]] (文殊師利問菩提經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh|Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh]] (維摩詰所說經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Trì Thế Kinh|Trì Thế Kinh]] (持世經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh]] (不思議光菩薩所說經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh|Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh]] (思益梵天所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Bí Yếu Pháp Kinh|Thiền Bí Yếu Pháp Kinh]] (禪祕要法經) – 3 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tọa Thiền Tam Muội Kinh|Tọa Thiền Tam Muội Kinh]] (坐禪三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] (菩薩訶色欲法經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh|Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn Kinh]] (大樹緊那羅王所問經) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh|Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh]] (佛說首楞嚴三昧經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Chư Pháp Vô Hành Kinh|Chư Pháp Vô Hành Kinh]] (諸法無行經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Phật Tạng Kinh|Phật Tạng Kinh]] (佛藏經) – 3 quyển *** [[Biên dịch:Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh|Phật Thuyết Hoa Thủ Kinh]] (佛說華手經) – 10 quyển *** [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] (燈指因緣經) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Khổng Tước Vương Chú Kinh|Khổng Tước Vương Chú Kinh]] (孔雀王咒經) – 1 quyển ** LUẬT (律) *** [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Tỳ-kheo Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Bản]] (十誦比丘波羅提木叉戒本) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Phạm Võng Kinh|Phạm Võng Kinh]] (梵網經) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh]] (清淨毘尼方廣經) – 1 quyển ** LUẬN (論) & PHÁP (法) *** [[Biên dịch:Đại Trang Nghiêm Luận Kinh|Đại Trang Nghiêm Luận Kinh]] (大莊嚴論經) – 15 quyển *** [[Biên dịch:Đại Trí Độ Luận|Đại Trí Độ Luận]] (大智度論) – 100 quyển *** [[Biên dịch:Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận|Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận]] (十住毘婆沙論) – 17 quyển *** [[Biên dịch:Trung Luận|Trung Luận]] (中論) – 4 quyển *** [[Biên dịch:Thập Nhị Môn Luận|Thập Nhị Môn Luận]] (十二門論) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Bách Luận|Bách Luận]] (百論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thành Thật Luận|Thành Thật Luận]] (成實論) – 16 quyển *** [[Biên dịch:Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận|Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận]] (發菩提心經論) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Thiền Pháp Yếu Giải|Thiền Pháp Yếu Giải]] (禪法要解) – 2 quyển (Hợp dịch) *** [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] (思維略要法) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa|Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa]] (鳩摩羅什法師大義) – 3 quyển (Huệ Viễn hỏi, La Thập đáp) ** TRUYỆN (傳) & TỔNG HỢP *** [[Biên dịch:Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ|Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ]] (眾經撰雜譬喻) – 2 quyển *** [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] (馬鳴菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thụ Bồ Tát Truyện]] (龍樹菩薩傳) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)|Long Thụ Bồ Tát Truyện (Bản khác)]] (龍樹菩薩傳〔別本〕) – 1 quyển *** [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] (提婆菩薩傳) – 1 quyển ---- * [[Tác gia:Phật-đà-bạt-đà-la]] (359-429) - [[:zh:Author:佛陀跋陀羅]] ** [[:zh:大方廣佛華嚴經六十卷]] - [[Biên dịch:Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (60 quyển)]] **:Còn gọi là Cựu Hoa Nghiêm hay Tấn Kinh. Thuộc tập 9 của Đại Chính Tạng. ** [[:zh:大方等如來藏經]] - [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh]] ---- * [[Tác gia:Cương Lương Gia Xá]] (383–442) ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh]] ===Nam–Bắc triều (420–589)=== ==== [[w:Nhà Lương|Lương]] ==== * [[Biên dịch:Thiên tự văn|Thiên tự văn]] === Đường 618–907)=== * [[Bổ An Nam lục dị đồ ký]] * [[Lữ ngụ An Nam]] * [[Biên dịch:Cựu Đường thư]] - [[:zh:舊唐書]] * [[Biên dịch:Tân Đường thư]] - [[:zh:新唐書]] * [[Biên dịch:Phục An Nam bi]] - [[:zh:復安南碑]] * [[Tác gia:Abe no Nakamaro]] (Triều Hoành) - [[:zh:Author:阿倍仲麻呂]] ** [[Biên dịch:Hàm mệnh hoàn quốc tác]] - [[:zh:銜命還國作]] ** [[Biên dịch:Vô đề (Abe no Nakamaro)]] - [[:zh:無題 (阿倍仲麻呂)]] ---- * [[Tác gia:Huyền Trang]] (602-664) - [[:zh:作者:玄奘]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光如來本願功德經]] * [[Tác gia:Nghĩa Tịnh]] (635-713) - [[:zh:作者:義淨]] ** [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh]] - [[:zh:藥師琉璃光七佛本願功德經]] ** [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]] * [[Tác gia:Huệ Năng]] (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638-713) ** [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự]] ** [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]] * [[Tác gia:Thần Hội]] - [[:zh:Author:神會]] (670-762) ** [[Biên dịch:Hiển Tông Ký]] - [[:zh:顯宗記]] * [[Tác gia:Già Phạm Đạt Ma]] - [[:zh:作者:伽梵達摩]] ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩治病合藥經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1059]]) ** [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh]] - [[:zh:千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經]] ([[大正新脩大藏經#瑜伽部|T.1060]]) ===Ngũ đại Thập quốc (907–979)=== * [[Tân Ngũ Đại sử]] ===Khúc - Dương - Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần # Tống (960–1279)=== * [[Biên dịch:Lĩnh Ngoại đại đáp|Lĩnh Ngoại đại đáp]] (1178) * [[Biên dịch:Đông Đô sự lược|Đông Đô sự lược]] (1186) * [[Biên dịch:Tống sử|Tống sử]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 488|Quyển 488 Liệt truyện 247 Ngoại quốc 4 – Giao Chỉ, Đại Lý]] ** Tống sử: [[Biên dịch:Tống sử/Quyển 489|Quyển 489 Liệt truyện 248 Ngoại quốc 5 – Chiêm Thành, Chân Lạp, Bồ Cam, Mạc Lê, Tam Phật Tề, Đồ Bà, Bột Nê, Chú Liễn, Đan Mi Lưu]] * [[Tam Tự Kinh diễn nghĩa]] * [[Biên dịch:Tư trị thông giám|Tư trị thông giám]] * [[Tục tư trị thông giám]] * [[Tư trị thông giám trường biên]] === Trần # Nguyên (1260–1368)=== * [[Biên dịch:Chân Lạp phong thổ ký|Chân Lạp phong thổ ký]] * [[:zh:安南志畧]] ** [[Biên dịch:An Nam chí lược]] * [[Biên dịch:Nguyên sử]] ** Nguyên sử: [[Biên dịch:Nguyên sử/Quyển 209|Quyển 209 Liệt truyện 96 Ngoại di 2 An Nam]] *[[Biên dịch:Tân Nguyên sử]] **Tân Nguyên sử: [[Biên dịch:Tân Nguyên sử/Quyển 251|Quyển 251 Liệt truyện 148 Ngoại quốc 3 An Nam]] * [[:zh:文獻通考/卷三百三十]] - [[Biên dịch:Văn hiến thông khảo]] === Trần - Lê # Minh (1368–1644)=== * [[:zh:越史略|越史略]] ** [[Biên dịch:Việt sử lược]] * [[Biên dịch:Minh thực lục]] ** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục]] *** [[Biên dịch:Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057|Minh thực lục/Thành tổ văn hoàng đế thực lục/Quyển 057]] * [[Biên dịch:Minh sử]] ** Minh sử: [[Biên dịch:Minh sử/Quyển 321|Quyển 321 Liệt truyện đệ 209 Ngoại quốc 2: An Nam]] * [[Bình An Nam chiếu]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (1)]] * [[Lê Thì Cử đối đáp Tào Thân (2)]] * [[:zh:殊域周咨錄]] ** [[Biên dịch:Thù vực chu tư lục]] * [[:zh:東西洋考]] - [[Biên dịch:Đông Tây Dương Khảo]] * [[Biên dịch:Nam Ông mộng lục]] * [Thể loại:Bia Văn miếu Hà Nội|Bia Văn miếu Hà Nội] === Tây Sơn - Nguyễn # Thanh (1636–1912)=== * [[Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất]] * [[Biên dịch:Thanh thực lục|Thanh thực lục]] **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục |Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục (Càn Long)]] ***[[Biên dịch:Thanh thực lục/Cao Tông Thuần Hoàng đế thực lục/Quyển 1328 |Quyển 1328]] *** ... **[[Biên dịch:Thanh thực lục/Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục |Nhân Tông Duệ Hoàng đế thực lục (Gia Khánh)]] * [[Biên dịch:Thanh sử cảo|Thanh sử cảo]] ** Thanh sử cảo: [[Biên dịch:Thanh sử cảo/Quyển 527|Quyển 527 liệt truyện tam bách thập tứ Thuộc quốc nhị: Việt Nam]] *[[:zh:大越史記全書| 大越史記全書 Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) **[[Biên dịch:Đại Việt sử ký toàn thư]] (thêm phần Tục biên đến hết thời Lê Chiêu Thống) *[[:zh:皇黎一統志| 皇黎一統志 Hoàng Lê nhất thống chí]] **[[Biên dịch:Hoàng Lê nhất thống chí]] *[[:zh:欽定越史通鑑綱目| 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Khâm định Việt sử thông giám cương mục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) *[[:zh:大南實錄| 大南實錄 Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) **[[Biên dịch:Đại Nam thực lục]] (bên tiếng Trung chưa hoàn thành) * [[Biên dịch:Gia Định Thành thông chí]] - [[:zh:嘉定城通志]] * [[Biên dịch:Chiếu Cần Vương]] * [[:zh:海國圖志]] - [[Biên dịch:Hải quốc đồ chí]] * [[Nam Hải dị nhân liệt truyện]] ---- ====Khâm định cổ kim đồ thư tập thành==== * [[:zh:欽定古今圖書集成]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành]] ** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên]] *** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/南方諸國總部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Nam phương chư quốc tổng bộ]] ([[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/quyển 089|quyển 89]]) **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/安南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/An Nam bộ]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/扶南部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Phù Nam bộ]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/占城部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chiêm Thành bộ]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/真臘部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Chân Lạp bộ]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/方輿彙編/邊裔典/暹羅部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Phương dư vị biên/Biên duệ điển/Xiêm La bộ]] ** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên]] *** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển]] **** [[:zh:欽定古今圖書集成/博物彙編/藝術典/醫部]] - [[Biên dịch:Khâm định cổ kim đồ thư tập thành/Bác vật vị biên/Nghệ thuật điển/Y bộ]] ==Bản mẫu tìm kiếm trong trang tài liệu== <nowiki>{{Tìm kiếm}}</nowiki> hoặc <pre> <inputbox> type=search width=30 placeholder=Tìm trong trang này searchbuttonlabel=Tìm fulltext=false prefix={{FULLPAGENAME}} </inputbox> </pre> ==Cú pháp== <pre>{{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}}</pre> <pre> {{ruby | 畧畑䀡傳西銘/𡄎唭𠄩𡦂人情喓𠻗 | trước đèn xem chuyện Tây minh / ngẫm cười hai chữ nhân tình éo le }} </pre> {{ruby | 畧畑䀡傳西銘/𡄎唭𠄩𡦂人情喓𠻗 | trước đèn xem chuyện Tây minh / ngẫm cười hai chữ nhân tình éo le }} <pre> {| align="center" ! Nguyên văn chữ Hán ! Phiên âm Hán Việt |- | <poem> 關關雎鳩,在河之洲。 窈窕淑女,君子好逑。 參差荇菜,左右流之。 窈窕淑女,寤寐求之。 求之不得,寤寐思服。 悠哉悠哉,輾轉反側。 參差荇菜,左右采之。 窈窕淑女,琴瑟友之。 參差荇菜,左右芼之。 窈窕淑女,鐘鼓樂之。 </poem> | <poem> Quan quan thư cưu, tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu. Tam si hạnh thái, tả hữu lưu chi. Yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi. Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục. Du tai du tai, triển chuyển phản trắc. Tam si hạnh thái, tả hữu thái chi. Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi. Tam si hạnh thái, tả hữu mạo chi. Yểu điệu thục nữ, chung cổ nhạc chi. </poem> |} </pre> {| align="center" ! Nguyên văn chữ Hán ! Phiên âm Hán Việt |- | <poem> 關關雎鳩,在河之洲。 窈窕淑女,君子好逑。 參差荇菜,左右流之。 窈窕淑女,寤寐求之。 求之不得,寤寐思服。 悠哉悠哉,輾轉反側。 參差荇菜,左右采之。 窈窕淑女,琴瑟友之。 參差荇菜,左右芼之。 窈窕淑女,鐘鼓樂之。 </poem> | <poem> Quan quan thư cưu, tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu. Tam si hạnh thái, tả hữu lưu chi. Yểu điệu thục nữ, ngụ mị cầu chi. Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục. Du tai du tai, triển chuyển phản trắc. Tam si hạnh thái, tả hữu thái chi. Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi. Tam si hạnh thái, tả hữu mạo chi. Yểu điệu thục nữ, chung cổ nhạc chi. </poem> |} ==Câu lệnh cho AI dịch văn bản== <pre> dịch toàn bộ đoạn sau sang tiếng Việt, để liên kết tiếng Việt, và giữ nguyên định dạng mã nguồn wikipedia, bao gồm tất cả các thẻ ref, {{cite}}, {{sfnp}}, cho kết quả trong khung code </pre> ===Dịch lịch sử=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, nếu là tên người hoặc địa danh thì thêm chữ Hán kèm phía sau trong dấu (), nếu là ngày tháng âm lịch thì thêm năm dương lịch, số lượng và tuổi tác thì ghi bằng số, không lược bỏ. ===Dịch kinh Phật, kinh Thi=== Dịch đoạn văn sang tiếng Việt theo yêu cầu sau: các đoạn văn xuôi dịch ngắn gọn, không giải thích. Giữ đúng bố cục, không lược bỏ. Viết một đoạn ngắn tóm tắt nội dung kinh. Các bài thơ, bài kệ dịch thành 2 bản, bản 1 theo đúng cú pháp nguyên văn, bản 2 theo thể lục bát, phong cách Truyện Kiều, giữ đúng âm luật, âm hưởng trang trọng. ===Dịch y học=== Dịch văn bản sau sang tiếng Việt, thêm tên khoa học (Latin) nếu có, giữ nguyên phong cách, không lược bỏ. ===Dịch chi tiết=== <pre> Dịch toàn bộ mã nguồn Wikipedia sau sang tiếng Việt theo cách: - Dịch 100%, không tóm tắt hay bỏ sót. - Trả toàn bộ kết quả trong một khung code để tôi copy trực tiếp. - Giữ nguyên tất cả <ref>, {{cite}}, {{sfnp}}, {{sfn}}, template, bảng, File, ISBN, DOI và cấu trúc Wiki. - Chuyển internal links sang bài Wikipedia tiếng Việt phù hợp khi có. - Giữ nguyên Pali/Sanskrit và {{Transliteration}}. - Dùng thuật ngữ Phật giáo tiếng Việt chuẩn. - Đặc biệt: nếu URL bị giao diện chat biến thành URLURL</a>, PHẢI tự sửa lại thành URL thuần chuẩn của Wikipedia, ví dụ |url=https://... hoặc [https://... tiêu đề]. - Xóa target="_blank", rel="noopener noreferrer", class="fai-...", title= và HTML rác khác, nhưng tuyệt đối không làm mất URL hoặc nguồn. - Nếu HTML rác làm hỏng <ref> hoặc {{cite}}, hãy phục hồi thành mã Wikipedia hợp lệ. - Không tự ý xóa nguồn bị lỗi, hãy sửa nó. - Không thêm thông tin không có trong bản gốc. Mã nguồn: </pre> kvfio7mr956ggjns8yymd9hxh4icn9u Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh 114 71747 206412 204401 2026-10-19T10:14:25Z Mrfly911 2215 206412 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh | tác giả= Cưu-ma-la-thập | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 摩訶般若波羅蜜大明咒經 | năm= [[w:Hậu Tần|Hậu Tần]] | phần = | trước= | sau= | ghi chú= Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh (phiên latinh từ Phạn ngữ: Maha Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra, Prajnaparamitahridaya Sutra; Anh ngữ: Heart of Perfect Wisdom Sutra, tiếng Hoa: 般若波羅蜜多心經) còn được gọi là Bát-nhã tâm kinh, hay Tâm Kinh. Đây là kinh ngắn nhất chỉ có khoảng 260 chữ của Phật giáo Đại thừa và Thiền tông. Nó cũng là kinh tinh yếu của bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 cuốn. Bản dịch của Cưu-ma-la-thập có tên 摩訶般若波羅蜜大明呪經 Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh. Về sau, một bản dịch khác của Huyền Trang có tên 般若波羅蜜多心經 [[Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh|Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh]] được lưu hành. }} ==Phiên âm== {{ruby |摩訶般若波羅蜜大明呪經 姚秦天竺三藏鳩摩羅什譯 觀世音菩薩,行深般若波羅蜜時,照見五蘊空,度一切苦厄。 舍利弗!色空故無惱壞相,受空故無受相,想空故無知相,行空故無作相,識空故無覺相。何以故?舍利弗!非色異空,非空異色。色即是空,空即是色。受、想、行、識亦如是。 舍利弗!是諸法空相,不生不滅,不垢不淨,不增不減。是空法,非過去、非未來、非現在。是故空中無色,無受、想、行、識,無眼、耳、鼻、舌、身、意,無色、聲、香、味、觸、法,無眼界乃至無意識界,無無明亦無無明盡,乃至無老死無老死盡,無苦、集、滅、道,無智亦無得。 以無所得故,菩薩依般若波羅蜜故,心無罣礙。無罣礙故,無有恐怖,離一切顛倒夢想苦惱,究竟涅槃。三世諸佛依般若波羅蜜故,得阿耨多羅三藐三菩提。 即說咒曰: 竭帝竭帝波羅竭帝波羅僧竭帝菩提僧莎呵 摩訶般若波羅蜜大明咒經 |Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh Diêu Tần Thiên Trúc Tam Tạng Cưu Ma La Thập dịch Quán Thế Âm Bồ Tát, hành thâm Bát Nhã Ba La Mật thời, chiếu kiến ngũ uẩn không, độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Phất! Sắc không cố vô não hoại tướng, thụ không cố vô thụ tướng, tưởng không cố vô tri tướng, hành không cố vô tác tướng, thức không cố vô giác tướng. Hà dĩ cố? Xá Lợi Phất! Phi sắc dị không, phi không dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thụ, tưởng, hành, thức diệc như thị. Xá Lợi Phất! Thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị không pháp, phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại. Thị cố không trung vô sắc, vô thụ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý, vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử vô lão tử tận, vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Tát y Bát Nhã Ba La Mật cố, tâm vô quái ngại. Vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, ly nhất thiết điên đảo mộng tưởng khổ não, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật thị Đại Minh Chú, Vô Thượng Minh Chú, Vô Đẳng Đẳng Minh Chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật chú. Tức thuyết chú viết: Yết Đế Yết Đế Ba La Yết Đế Ba La Tăng Yết Đế Bồ Đề Tăng Sa Ha }} ==Dịch nghĩa== '''Thiên Trúc Tam tạng [[w:Cưu-ma-la-thập|Cưu Ma La Thập]] nước [[w:Hậu Tần|Diêu Tần]] biên dịch.''' Ngài Quán Thế Âm, khi thực hành sâu xa trí tuệ cứu cánh, soi thấy năm uẩn đều không, vượt mọi khổ nạn. Này Xá Lợi Phất! Sắc không nên chẳng có tướng hư nát, thụ không nên chẳng có tướng cảm nhận, tưởng không nên chẳng có tướng tri thức, hành không nên chẳng có tướng tạo tác, thức không nên chẳng có tướng hiểu biết. Vì sao vậy? Này Xá Lợi Phất! Chẳng phải sắc khác không, chẳng phải không khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc. Thụ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế. Này Xá Lợi Phất! Các pháp đều là tướng không, không sinh không diệt, không bẩn không sạch, không thêm không bớt. Pháp không ấy chẳng thuộc quá khứ, hiện tại hay vị lai. Cho nên trong cái không ấy, chẳng có sắc, chẳng có thụ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết cũng không có hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí tuệ cũng không có đắc chứng. Vì chẳng có gì để đắc, Bồ Tát dựa vào trí tuệ cứu cánh nên lòng không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa lìa mọi mộng tưởng đảo điên khổ não, đạt đến niết bàn rốt ráo. Chư Phật ba đời dựa vào trí tuệ cứu cánh mà đắc quả Chánh đẳng Chánh giác. Nên biết trí tuệ cứu cánh là thần chú sáng suốt, là thần chú cao tột, là thần chú không gì sánh bằng, trừ được mọi khổ, chân thật không hư. Vì thế nói ra bài chú trí tuệ cứu cánh. Liền thuyết chú rằng: 竭帝 竭帝 波羅竭帝 波羅僧竭帝 菩提 僧莎呵 Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề Tát bà ha <poem> Gót tiên đã tới bờ kia, Cùng nhau vượt bến, đoạn lìa nẻo mê. Sáng choang một cội bồ đề, Trăng thanh gió mát, lối về chân như. </poem> {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} {{Kinh điển Phật giáo}} [[Thể loại:Phật giáo]] 3a38muz25mpgkplsnt18l5ly3krg494 Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh 114 71805 206411 204412 2026-10-19T08:32:45Z Mrfly911 2215 206411 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh | tác giả= Huyền Trang | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 藥師琉璃光如來本願功德經 | năm= [[w:Đại Đường|Đại Đường]] | phần = | trước= | sau= | ghi chú= Kinh Dược Sư (tiếng Phạn: Bhaiṣajyaguru-vaiḍūryaprabha-rāja-sūtra), tên đầy đủ là '''Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức''', là một bộ kinh quan trọng thuộc bộ Kinh Tập trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh. Đây là bản dịch của [[Tác gia:Huyền Trang|Huyền Trang]]. Một bản dịch khác của [[Tác gia:Nghĩa Tịnh|Nghĩa Tịnh]] là [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光七佛本願功德經)]] cũng được lưu hành. }} ==Phiên âm== {{ruby |藥師琉璃光如來本願功德經 唐三藏法師玄奘奉詔譯 如是我聞:一時薄伽梵,遊化諸國,至廣嚴城,住樂音樹下。與大苾芻眾八千人俱,菩薩摩訶薩三萬六千,及國王、大臣,婆羅門、居士,天龍八部,人非人等,無量大眾,恭敬圍繞,而為說法。 爾時、曼殊室利法王子,承佛威神,從座而起,偏袒一肩,右膝著地,向薄伽梵,曲躬合掌。白言:「世尊!惟願演說 如是相類 諸佛名號,及本大願 殊勝功德,令諸聞者 業障銷除,為欲利樂 像法轉時 諸有情故」。 爾時、世尊讚曼殊室利童子言:「善哉!善哉!曼殊室利!汝以大悲,勸請我說 諸佛名號,本願功德,為拔業障 所纏有情,利益安樂 像法轉時 諸有情故。汝今諦聽!極善思惟!當為汝說」。 曼殊室利言:「唯然,願說!我等樂聞!」 佛告曼殊室利:「東方去此,過十殑伽沙等佛土,有世界名淨琉璃,佛號藥師琉璃光如來、應、正等覺,明行圓滿、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、薄伽梵。」 「曼殊室利!彼世尊藥師琉璃光如來本行菩薩道時,發十二大願,令諸有情,所求皆得」。 「第一大願:願我來世,得阿耨多羅三藐三菩提時,自身光明 熾然照耀 無量無數 無邊世界,以三十二 大丈夫相,八十隨形 莊嚴其身;令一切有情 如我無異」。 「第二大願:願我來世得 菩提時,身如琉璃,內外明徹,淨無瑕穢;光明廣大,功德巍巍,身善安住,燄網莊嚴 過於日月;幽冥眾生,悉蒙開曉,隨意所趣,作諸事業」。 「第三大願:願我來世 得菩提時,以無量無邊 智慧方便,令諸有情 皆得無盡 所受用物,莫令眾生,有所乏少」。 「第四大願:願我來世 得菩提時,若諸有情 行邪道者,悉令安住 菩提道中;若行聲聞 獨覺乘者,皆以大乘 而安立之」。 「第五大願:願我來世 得菩提時,若有無量 無邊有情,於我法中 修行梵行,一切皆令 得不缺戒、具三聚戒;設有毀犯,聞我名已 還得清淨,不墮惡趣!」 「第六大願:願我來世 得菩提時,若諸有情,其身下劣,諸根不具,醜陋、頑愚、盲、聾、瘖、啞、攣躄、背僂、白癩、顛狂、種種病苦;聞我名已,一切皆得 端正黠慧,諸根完具,無諸疾苦」。 「第七大願:願我來世 得菩提時,若諸有情 眾病逼切,無救無歸,無醫無藥,無親無家,貧窮多苦;我之名號 一經其耳,眾病悉除,身心安樂,家屬資具 悉皆豐足,乃至證得 無上菩提」。 「第八大願:願我來世 得菩提時,若有女人 為女百惡 之所逼惱,極生厭離,願捨女身;聞我名已,一切皆得 轉女成男,具丈夫相,乃至證得 無上菩提」。 「第九大願:願我來世 得菩提時,令諸有情 出魔罥網,解脫一切 外道纏縛;若墮種種 惡見稠林,皆當引攝 置於正見,漸令修習 諸菩薩行,速證無上 正等菩提! 「第十大願:願我來世 得菩提時,若諸有情 王法所錄,繩縛鞭撻,繫閉牢獄,或當刑戮,及餘無量 災難凌辱,悲愁煎逼,身心受苦;若聞我名,以我福德 威神力故,皆得解脫一切憂苦!」 「第十一大願:願我來世 得菩提時,若諸有情 饑渴所惱,為求食故 造諸惡業;得聞我名,專念受持,我當先以 上妙飲食 飽足其身,後以法味 畢竟安樂 而建立之」。 「第十二大願:願我來世 得菩提時,若諸有情 貧無衣服,蚊虻寒熱,晝夜逼惱;若聞我名,專念受持,如其所好 即得種種 上妙衣服,亦得一切 寶莊嚴具,華鬘、塗香,鼓樂眾伎,隨心所翫,皆令滿足」。 「曼殊室利!是為彼世尊藥師琉璃光如來、應、正等覺行菩薩道時,所發十二 微妙上願」。 「復次、曼殊室利!彼世尊藥師琉璃光如來行菩薩道時,所發大願,及彼佛土 功德莊嚴,我若一劫、若一劫餘,說不能盡。然彼佛土,一向清淨,無有女人,亦無惡趣,及苦音聲;琉璃為地,金繩界道,城闕宮閣,軒窗羅網,皆七寶成;亦如西方 極樂世界,功德莊嚴,等無差別。於其國中,有二菩薩摩訶薩:一名日光遍照,二名月光遍照。是彼無量 無數菩薩 眾之上首,次補佛處,悉能持彼 世尊藥師琉璃光如來 正法寶藏。是故曼殊室利!諸有信心 善男子、善女人等,應當願生 彼佛世界」。 爾時、世尊,復告曼殊室利童子言:「曼殊室利!有諸眾生,不識善惡,惟懷貪吝,不知布施 及施果報,愚痴無智,闕於信根,多聚財寶,勤加守護。見乞者來,其心不喜,設不獲已 而行施時,如割身肉,深生痛惜。復有無量 慳貪有情,積集資財,於其自身 尚不受用,何況能與父母、妻子、奴婢作使,及來乞者?彼諸有情,從此命終 生餓鬼界,或傍生趣。由昔人間 曾得暫聞 藥師琉璃光如來名故,今在惡趣,暫得憶念 彼如來名,即於念時 從彼處沒,還生人中;得宿命念,畏惡趣苦,不樂欲樂,好行惠施,讚歎施者,一切所有 悉無貪惜,漸次尚能 以頭目手足 血肉身分 施來求者,況餘財物?」 「復次、曼殊室利!若諸有情,雖於如來 受諸學處,而破尸羅;有雖不破尸羅 而破軌則;有於尸羅、軌則,雖則不壞,然毀正見;有雖不毀正見 而棄多聞,於佛所說 契經深義 不能解了;有雖多聞 而增上慢,由增上慢 覆蔽心故,自是非他,嫌謗正法,為魔伴黨。如是愚人,自行邪見,復令無量 俱胝有情,墮大險坑。此諸有情,應於地獄、傍生鬼趣 流轉無窮。若得聞此 藥師琉璃光如來名號,便捨惡行,修諸善法,不墮惡趣;設有不能 捨諸惡行、修行善法,墮惡趣者,以彼如來 本願威力 令其現前,暫聞名號,從彼命終 還生人趣,得正見精進,善調意樂,便能捨家 趣於非家,如來法中,受持學處 無有毀犯,正見多聞,解甚深義,離增上慢,不謗正法,不為魔伴,漸次修行 諸菩薩行,速得圓滿」。 「復次、曼殊室利!若諸有情 慳貪、嫉妒,自讚毀他,當墮三惡趣中,無量千歲 受諸劇苦!受劇苦已,從彼命終,來生人間,作牛馬駝驢,恆被鞭撻,饑渴逼惱,又常負重 隨路而行。或得為人,生居下賤,作人奴婢,受他驅役,恆不自在。若昔人中 曾聞世尊 藥師琉璃光如來名號,由此善因,今復憶念,至心歸依。以佛神力,眾苦解脫,諸根聰利,智慧多聞,恆求勝法,常遇善友,永斷魔罥,破無明殼,竭煩惱河,解脫一切 生老病死 憂愁苦惱」。 「復次、曼殊室利!若諸有情 好喜乖離,更相鬥訟,惱亂自他,以身語意,造作增長 種種惡業,展轉常為 不饒益事,互相謀害。告召山林 樹塚等神;殺諸眾生,取其血肉 祭祀藥叉、羅剎婆等;書怨人名,作其形像,以惡咒術 而咒詛之;厭魅蠱道,咒起屍鬼,令斷彼命,及壞其身。是諸有情,若得聞此 藥師琉璃光如來名號,彼諸惡事 悉不能害,一切展轉 皆起慈心,利益安樂,無損惱意 及嫌恨心,各各歡悅,於自所受 生於喜足,不相侵凌 互為饒益」。 「復次、曼殊室利!若有四眾:苾芻、苾芻尼、鄔波索迦、鄔波斯迦,及餘淨信善男子、善女人等,有能受持八分齋戒,或經一年、或復三月受持學處,以此善根,願生西方 極樂世界 無量壽佛 所聽聞正法 而未定者,若聞世尊 藥師琉璃光如來名號,臨命終時,有八大菩薩,其名曰:文殊師利菩薩,觀世音菩薩,得大勢菩薩,無盡意菩薩,寶檀華菩薩,藥王菩薩,藥上菩薩,彌勒菩薩。是八大菩薩 乘空而來,示其道路,即於彼界 種種雜色 眾寶華中,自然化生」。 「或有因此,生於天上,雖生天上,而本善根,亦未窮盡,不復更生 諸餘惡趣。天上壽盡,還生人間,或為輪王,統攝四洲,威德自在,安立無量 百千有情 於十善道;或 生剎帝利、婆羅門、居士大家,多饒財寶,倉庫盈溢,形相端正,眷屬具足,聰明智慧,勇健威猛,如大力士。若是女人,得聞世尊 藥師琉璃光如來名號,至心受持,於後不復 更受女身」。 「復次、曼殊室利!彼藥師琉璃光如來得菩提時,由本願力,觀諸有情,遇眾病苦 瘦攣、乾消、黃熱等病;或被厭魅、蠱毒所中;或復短命,或時橫死;欲令是等 病苦消除 所求願滿」。 「時彼世尊,入三摩地,名曰除滅一切眾生苦惱。既入定已,於肉髻中 出大光明,光中演說,大陀羅尼曰:『那謨薄伽筏帝,裨殺社窶嚕,薜琉璃缽剌婆喝囉闍也,怛陀揭多耶,阿羅訶帝,三藐三勃陀耶。怛姪阤:唵,鞞殺逝,鞞殺逝,鞞殺社,三沒揭帝娑訶』」。爾時、光中說此咒已,大地震動,放大光明,一切眾生 病苦皆除,受安隱樂。 「曼殊室利!若見 男子女人 有病苦者,應當一心,為彼病人,常清淨澡漱,或食或藥 或無蟲水、咒一百八遍,與彼服食,所有病苦 悉皆消滅。若有所求,至心念誦,皆得如是 無病延年;命終之後,生彼世界,得不退轉,乃至菩提。是故曼殊室利!若有男子、女人,於彼藥師琉璃光如來,至心殷重,恭敬供養者,常持此咒,勿令廢忘」。 「復次、曼殊室利!若有淨信 男子女人,得聞 藥師琉璃光如來 應正等覺 所有名號,聞已誦持。晨嚼齒木,澡漱清淨,以諸香花,燒香、塗香,作眾伎樂,供養形象。於此經典,若自書,若教人書,一心受持,聽聞其義。於彼法師,應修供養:一切所有 資身之具,悉皆施與,勿令乏少。如是便蒙 諸佛護念,所求願滿,乃至菩提」。 爾時、曼殊室利童子白佛言:「世尊!我當誓於 像法轉時,以種種方便,令諸淨信 善男子、善女人等,得聞世尊 藥師琉璃光如來名號,乃至睡中 亦以佛名 覺悟其耳。世尊!若於此經 受持讀誦。或復為他 演說開示;若自書、若教人書;恭敬尊重,以種種華香、塗香、末香、燒香、花鬘、瓔珞、幡蓋、伎樂,而為供養;以五色綵,作囊盛之;掃灑淨處,敷設高座,而用安處。爾時、四大天王與其眷屬,及餘無量 百千天眾,皆詣其所,供養守護。世尊!若此經寶 流行之處,有能受持,以彼世尊藥師琉璃光如來 本願功德,及聞名號,當知是處 無復橫死;亦復不為 諸惡鬼神 奪其精氣,設已奪者,還得如故,身心安樂」。 佛告曼殊室利:「如是!如是!如汝所說。曼殊室利!若有淨信善男子、善女人等,欲供養彼 世尊藥師琉璃光如來者,應先造立 彼佛形像,敷清淨座而安處之。散種種花,燒種種香,以種種幢幡 莊嚴其處。七日七夜,受八分齋戒,食清淨食,澡浴香潔,著清淨衣,應生無垢濁心,無怒害心,於一切有情 起利益安樂,慈悲喜捨平等之心,鼓樂歌讚,右遶佛像。復應念彼 如來本願功德,讀誦此經,思惟其義,演說開示。隨所樂求,一切皆遂:求長壽,得長壽,求富饒,得富饒,求官位得官位,求男女得男女」。 「若復有人,忽得惡夢,見諸惡相;或怪鳥來集;或於住處百怪出現。此人若以眾妙資具,恭敬供養彼世尊藥師琉璃光如來者,惡夢、惡相諸不吉祥,皆悉隱沒,不能為患。或有水火刀毒、懸險惡象、師子虎狼、熊羆毒蛇、惡蠍蜈蚣、蚰蜒蚊虻等佈;若能至心憶念彼佛,恭敬供養,一切怖畏皆得解脫。若他國侵擾,盜賊反亂,憶念恭敬彼如來者,亦皆解脫」。 「復次、曼殊室利!若有淨信 善男子、善女人等,乃至盡形 不事餘天,唯當一心,歸佛法僧,受持禁戒:若五戒、十戒,菩薩四百戒、苾芻二百五十戒,苾芻尼五百戒。於所受中 或有毀犯,怖墮惡趣,若能專念 彼佛名號,恭敬供養者,必定不受 三惡趣生。或有女人,臨當產時,受於極苦;若能至心 稱名禮讚,恭敬供養 彼如來者,眾苦皆除。所生之子,身分具足,形色端正,見者歡喜,利根聰明,安隱少病,無有非人,奪其精氣」。 爾時、世尊告阿難言:「如我稱揚 彼世尊藥師琉璃光如來 所有功德,此是諸佛 甚深行處,難可解了,汝為信不?」 阿難白言:「大德世尊!我於如來 所說契經 不生疑惑,所以者何?一切如來 身語意業 無不清淨。世尊!此日月輪 可令墮落,妙高山王 可使傾動,諸佛所言 無有異也」。 「世尊!有諸眾生,信根不具,聞說諸佛 甚深行處,作是思惟:云何但念 藥師琉璃光如來一佛名號,便獲爾所 功德勝利?由此不信,返生誹謗。彼於長夜 失大利樂,墮諸惡趣,流轉無窮!」 佛告阿難:「是諸有情 若聞世尊 藥師琉璃光如來名號,至心受持,不生疑惑,墮惡趣者 無有是處」。 「阿難!此是諸佛 甚深所行,難可信解;汝今能受,當知皆是 如來威力。阿難!一切聲聞、獨覺,及未登地諸菩薩等,皆悉不能 如實信解,唯除一生 所繫菩薩。阿難!人身難得;於三寶中,信敬尊重,亦難可得 聞世尊藥師琉璃光如來名號,復難於是」。 「阿難!彼藥師琉璃光如來,無量菩薩行,無量善巧方便,無量廣大願;我若一劫,若一劫餘 而廣說者,劫可速盡,彼佛行願,善巧方便 無有盡也!」 爾時、眾中,有一菩薩摩訶薩,名曰救脫,即從座起,偏袒一肩,右膝著地,曲躬合掌 而白佛言:「大德世尊!像法轉時,有諸眾生 為種種患 之所困厄,長病贏瘦,不能飲食,喉脣乾燥,見諸方暗,死相現前,父母親屬、朋友知識 啼泣圍繞;然彼自身 臥在本處,見琰魔使,引其神識 至於琰魔法王之前。然諸有情,有俱生神,隨其所作 若罪若福,皆具書之,盡持授與 琰魔法王。爾時、彼王推問其人,計算所作,隨其罪福 而處斷之。時彼病人,親屬、知識,若能為彼 歸依世尊藥師琉璃光如來,請諸眾僧,轉讀此經,然七層之燈,懸五色續命神幡,或有是處 彼識得還,如在夢中 明了自見。或經七日,或二十一日,或三十五日,或四十九日,彼識還時,如從夢覺,皆自憶知 善不善業 所得果報;由自證見 業果報故,乃至命難,亦不造作 諸惡之業。是故淨信 善男子 善女人等,皆應受持 藥師琉璃光如來名號,隨力所能,恭敬供養」。 爾時、阿難問救脫菩薩曰:「善男子!應云何 恭敬供養 彼世尊藥師琉璃光如來?續命幡燈 復云何造」?救脫菩薩言:「大德!若有病人,欲脫病苦,當為其人,七日七夜 受持八分齋戒。應以飲食 及餘資具,隨力所辦,供養苾芻僧。晝夜六時,禮拜供養 彼世尊藥師琉璃光如來。讀誦此經 四十九遍,然四十九燈;造彼如來 形像七軀,一一像前 各置七燈,一一燈量 大如車輪,乃至四十九日 光明不絕。造五色綵幡,長四十九搩手,應放雜類眾生 至四十九,可得過度 危厄之難,不為諸橫 惡鬼所持」。 「復次、阿難!若剎帝利、灌頂王等,災難起時,所謂:人眾疾疫難,他國侵逼難,自界叛逆難,星宿變怪難,日月薄蝕難,非時風雨難,過時不雨難。彼剎帝利 灌頂王等,爾時應於 一切有情 起慈悲心,赦諸繫閉。依前所說 供養之法,供養彼世尊藥師琉璃光如來。由此善根 及彼如來 本願力故,令其國界 即得安隱,風雨順時,穀稼成熟,一切有情 無病歡樂。於其國中,無有暴惡 藥叉等神 惱有情者,一切惡相 皆即隱沒;而剎帝利 灌頂王等 壽命色力,無病自在,皆得增益」。 「阿難!若帝后妃主,儲君王子,大臣輔相,中宮綵女,百官黎庶,為病所苦,及餘厄難;亦應造立 五色神幡,然燈續明,放諸生命,散雜色花,燒眾名香;病得除愈,眾難解脫」。 爾時,阿難問救脫菩薩言:「善男子!云何 已盡之命 而可增益」?救脫菩薩言:「大德!汝豈不聞 如來說有 九橫死耶?是故勸造 續命幡燈,修諸福德,以修福故,盡其壽命 不經苦患」。阿難問言:「九橫云何」?救脫菩薩言:「若諸有情,得病雖輕,然無醫藥 及看病者,設復遇醫,授以非藥,實不應死 而便橫死。又信世間 邪魔外道 妖孽之師妄說禍福,便生恐動,心不自正,卜問覓禍,殺種種眾生,解奏神明,呼諸魍魎,請乞福祐,欲冀延年,終不能得。愚痴迷惑,信邪倒見,遂令橫死 入於地獄,無有出期,是名初橫。二者、橫被王法 之所誅戮。三者、畋獵嬉戲,耽淫嗜酒,放逸無度,橫為非人 奪其精氣。四者、橫為火焚。五者、橫為水溺。六者、橫為種種 惡獸所噉。七者、橫墮山崖。八者、橫為毒藥、厭禱、咒詛、起屍鬼等之所中害。九者、饑渴所困,不得飲食 而便橫死。是為如來 略說橫死,有此九種,其餘復有 無量諸橫,難可具說! 「復次、阿難!彼琰魔王 主領世間 名籍之記,若諸有情,不孝五逆,破辱三寶,壞君臣法,毀於性戒,琰魔法王 隨罪輕重,考而罰之。是故我今 勸諸有情,然燈造幡,放生修福,令度苦厄,不遭眾難」。 爾時、眾中有十二藥叉大將,俱在會坐,所謂:宮毘羅大將,伐折羅大將,迷企羅大將,安底羅大將,頞你羅大將,珊底羅大將,因達羅大將,波夷羅大將,摩虎羅大將,真達羅大將,招杜羅大將,毘羯魔大將:此十二藥叉大將,一一各有七千藥叉,以為眷屬。 同時舉聲 白佛言:「世尊!我等今者 蒙佛威力,得聞世尊 藥師琉璃光如來名號,不復更有 惡趣之怖。我等相率,皆同一心,乃至盡形 歸佛法僧,誓當荷負 一切有情,為作義利,饒益安樂。隨於何等 村城國邑,空閑林中,若有流布 此經,或復受持 藥師琉璃光如來名號 恭敬供養者,我等眷屬 衛護是人,皆使解脫 一切苦難,諸有願求 悉令滿足。或有疾厄 求度脫者,亦應讀誦此經,以五色縷,結我名字,得如願已,然後解結」。 爾時、世尊讚諸藥叉大將言:「善哉!善哉!大藥叉將!汝等念報 世尊藥師琉璃光如來恩德者,常應如是 利益安樂 一切有情」。 爾時、阿難白佛言:「世尊!當何名此法門?我等云何奉持?」佛告阿難:此法門名說 藥師琉璃光如來本願功德;亦名說十二神將 饒益有情 結願神咒;亦名拔除一切業障;應如是持」! 時薄伽梵 說是語已,諸菩薩摩訶薩,及大聲聞,國王、大臣、婆羅門、居士、天 龍、藥叉、健達縛、阿素洛、揭路荼、緊捺洛、莫呼洛伽、人、非人等一切大眾,聞佛所說,皆大歡喜,信受奉行。 |Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức Kinh Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu dịch Như thị ngã văn: Nhất thời Bạc Già Phạm, du hóa chư quốc, chí Quảng Nghiêm thành, trụ Lạc Âm thụ hạ. Dữ đại Bí-sô chúng bát thiên nhân câu, Bồ-tát Ma-ha-tát tam vạn lục thiên, cập quốc vương, đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ, thiên long bát bộ, nhân phi nhân đẳng, vô lượng đại chúng, cung kính vi nhiễu, nhi vi thuyết pháp. Nhĩ thời, Mạn Thù Thất Lợi Pháp Vương Tử, thừa Phật uy thần, tùng tọa nhi khởi, thiên đản nhất kiên, hữu tất trước địa, hướng Bạc Già Phạm, khúc cung hợp chưởng. Bạch ngôn: 「Thế Tôn! Duy nguyện diễn thuyết như thị tương loại chư Phật danh hiệu, cập bản đại nguyện thù thắng công đức, lệnh chư văn giả nghiệp chướng tiêu trừ, vị dục lợi lạc tượng pháp chuyển thời chư hữu tình cố」. Nhĩ thời, Thế Tôn tán Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử ngôn: 「Thiện tai! Thiện tai! Mạn Thù Thất Lợi! Nhữ dĩ đại bi, khuyến thỉnh ngã thuyết chư Phật danh hiệu, bản nguyện công đức, vị bạt nghiệp chướng sở triền hữu tình, lợi ích an lạc tượng pháp chuyển thời chư hữu tình cố. Nhữ kim đế thính! Cực thiện tư duy! Đương vị nhữ thuyết」. Mạn Thù Thất Lợi ngôn: 「Duy nhiên, nguyện thuyết! Ngã đẳng lạc văn!」 Phật cáo Mạn Thù Thất Lợi: 「Đông phương khứ thử, quá thập Căng-già sa đẳng Phật độ, hữu thế giới danh Tịnh Lưu Ly, Phật hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng, Chính Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Bạc Già Phạm。」 「Mạn Thù Thất Lợi! Bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bản hành Bồ-tát đạo thời, phát thập nhị đại nguyện, lệnh chư hữu tình, sở cầu giai đắc」. 「Đệ nhất đại nguyện: Nguyện ngã lai thế, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề thời, tự thân quang minh sí nhiên chiếu diệu vô lượng vô số vô biên thế giới, dĩ tam thập nhị đại trượng phu tướng, bát thập tùy hình trang nghiêm kỳ thân; lệnh nhất thiết hữu tình như ngã vô dị」. 「Đệ nhị đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, thân như lưu ly, nội ngoại minh triệt, tịnh vô hà uế; quang minh quảng đại, công đức nguy nguy, thân thiện an trụ, diệm võng trang nghiêm quá ư nhật nguyệt; u minh chúng sinh, tất mông khai hiểu, tùy ý sở thú, tác chư sự nghiệp」. 「Đệ tam đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, dĩ vô lượng vô biên trí tuệ phương tiện, lệnh chư hữu tình giai đắc vô tận sở thụ dụng vật, mạc lệnh chúng sinh, hữu sở phạp thiểu」. 「Đệ tứ đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình hành tà đạo giả, tất lệnh an trụ Bồ-đề đạo trung; nhược hành Thanh Văn Độc Giác thừa giả, giai dĩ Đại Thừa nhi an lập chi」. 「Đệ ngũ đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, nhược hữu vô lượng vô biên hữu tình, ư ngã pháp trung tu hành phạm hạnh, nhất thiết giai lệnh đắc bất khuyết giới, cụ tam tụ giới; thiết hữu hủy phạm, văn ngã danh dĩ hoàn đắc thanh tịnh, bất đọa ác thú!」 「Đệ lục đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình, kỳ thân hạ liệt, chư căn bất cụ, xú lậu, ngoan ngu, manh, lung, âm, á, luyến tích, bối lũ, bạch lại, điên cuồng, chủng chủng bệnh khổ; văn ngã danh dĩ, nhất thiết giai đắc đoan chính hiệt tuệ, chư căn hoàn cụ, vô chư tật khổ」. 「Đệ thất đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình chúng bệnh bức thiết, vô cứu vô quy, vô y vô dược, vô thân vô gia, bần cùng đa khổ; ngã chi danh hiệu nhất kinh kỳ nhĩ, chúng bệnh tất trừ, thân tâm an lạc, gia thuộc tư cụ tất giai phong túc, nãi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ-đề」. 「Đệ bát đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, nhược hữu nữ nhân vi nữ bách ác chi sở bức não, cực sinh yếm ly, nguyện xả nữ thân; văn ngã danh dĩ, nhất thiết giai đắc chuyển nữ thành nam, cụ trượng phu tướng, nãi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ-đề」. 「Đệ cửu đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, lệnh chư hữu tình xuất ma quyến võng, giải thoát nhất thiết ngoại đạo triền phược; nhược đọa chủng chủng ác kiến trù lâm, giai đương dẫn nhiếp trí ư chính kiến, tiệm lệnh tu tập chư Bồ-tát hạnh, tốc chứng Vô Thượng Chính Đẳng Bồ-đề! 「Đệ thập đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình vương pháp sở lục, thằng phược tiên thát, hệ bế lao ngục, hoặc đương hình lục, cập dư vô lượng tai nạn lăng nhục, bi sầu tiên bức, thân tâm thụ khổ; nhược văn ngã danh, dĩ ngã phúc đức uy thần lực cố, giai đắc giải thoát nhất thiết ưu khổ!」 「Đệ thập nhất đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình cơ khát sở não, vị cầu thực cố tạo chư ác nghiệp; đắc văn ngã danh, chuyên niệm thụ trì, ngã đương tiên dĩ thượng diệu ẩm thực bão túc kỳ thân, hậu dĩ pháp vị tất cánh an lạc nhi kiến lập chi」. 「Đệ thập nhị đại nguyện: Nguyện ngã lai thế đắc Bồ-đề thời, nhược chư hữu tình bần vô y phục, văn manh hàn nhiệt, trú dạ bức não; nhược văn ngã danh, chuyên niệm thụ trì, như kỳ sở hảo tức đắc chủng chủng thượng diệu y phục, diệc đắc nhất thiết bảo trang nghiêm cụ, hoa man, đồ hương, cổ nhạc chúng kỹ, tùy tâm sở ngoạn, giai lệnh mãn túc」. 「Mạn Thù Thất Lợi! Thị vi bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng, Chính Đẳng Giác hành Bồ-tát đạo thời, sở phát thập nhị vi diệu thượng nguyện」. 「Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai hành Bồ-tát đạo thời, sở phát đại nguyện, cập bỉ Phật độ công đức trang nghiêm, ngã nhược nhất kiếp, nhược nhất kiếp dư, thuyết bất năng tận. Nhiên bỉ Phật độ, nhất hướng thanh tịnh, vô hữu nữ nhân, diệc vô ác thú, cập khổ âm thanh; lưu ly vi địa, kim thằng giới đạo, thành khuyết cung các, hiên song la võng, giai thất bảo thành; diệc như Tây phương Cực Lạc thế giới, công đức trang nghiêm, đẳng vô sai biệt. Ư kỳ quốc trung, hữu nhị Bồ-tát Ma-ha-tát: nhất danh Nhật Quang Biến Chiếu, nhị danh Nguyệt Quang Biến Chiếu. Thị bỉ vô lượng vô số Bồ-tát chúng chi thượng thủ, thứ bổ Phật xứ, tất năng trì bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai chính pháp bảo tạng. Thị cố Mạn Thù Thất Lợi! Chư hữu tín tâm thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, ứng đương nguyện sinh bỉ Phật thế giới」. Nhĩ thời, Thế Tôn, phục cáo Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử ngôn: 「Mạn Thù Thất Lợi! Hữu chư chúng sinh, bất thức thiện ác, duy hoài tham lận, bất tri bố thí cập thí quả báo, ngu si vô trí, khuyết ư tín căn, đa tụ tài bảo, cần gia thủ hộ. Kiến khất giả lai, kỳ tâm bất hỉ, thiết bất hoạch dĩ nhi hành thí thời, như cát thân nhục, thâm sinh thống tích. Phục hữu vô lượng xan tham hữu tình, tích tập tư tài, ư kỳ tự thân thượng bất thụ dụng, hà huống năng dữ phụ mẫu, thê tử, nô tỳ tác sử, cập lai khất giả? Bỉ chư hữu tình, tùng thử mệnh chung sinh ngạ quỷ giới, hoặc bàng sinh thú. Do tích nhân gian tằng đắc tạm văn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh cố, kim tại ác thú, tạm đắc ức niệm bỉ Như Lai danh, tức ư niệm thời tùng bỉ xứ một, hoàn sinh nhân trung; đắc túc mệnh niệm, úy ác thú khổ, bất lạc dục lạc, hảo hành huệ thí, tán thán thí giả, nhất thiết sở hữu tất vô tham tích, tiệm thứ thượng năng dĩ đầu mục thủ túc huyết nhục thân phận thí lai cầu giả, huống dư tài vật?」 「Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Nhược chư hữu tình, tuy ư Như Lai thụ chư học xứ, nhi phá thi-la; hữu tuy bất phá thi-la nhi phá quỹ tắc; hữu ư thi-la, quỹ tắc, tuy tắc bất hoại, nhiên hủy chính kiến; hữu tuy bất hủy chính kiến nhi khí đa văn, ư Phật sở thuyết khế kinh thâm nghĩa bất năng giải liễu; hữu tuy đa văn nhi tăng thượng mạn, do tăng thượng mạn phú tế tâm cố, tự thị phi tha, hiềm báng chính pháp, vi ma bạn đảng. Như thị ngu nhân, tự hành tà kiến, phục lệnh vô lượng câu-chi hữu tình, đọa đại hiểm khanh. Thử chư hữu tình, ứng ư địa ngục, bàng sinh quỷ thú lưu chuyển vô cùng. Nhược đắc văn thử Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, tiện xả ác hành, tu chư thiện pháp, bất đọa ác thú; thiết hữu bất năng xả chư ác hành, tu hành thiện pháp, đọa ác thú giả, dĩ bỉ Như Lai bản nguyện uy lực lệnh kỳ hiện tiền, tạm văn danh hiệu, tùng bỉ mệnh chung hoàn sinh nhân thú, đắc chính kiến tinh tiến, thiện điều ý lạc, tiện năng xả gia thú ư phi gia, Như Lai pháp trung, thụ trì học xứ vô hữu hủy phạm, chính kiến đa văn, giải thậm thâm nghĩa, ly tăng thượng mạn, bất báng chính pháp, bất vi ma bạn, tiệm thứ tu hành chư Bồ-tát hạnh, tốc đắc viên mãn」. 「Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Nhược chư hữu tình xan tham, tật đố, tự tán hủy tha, đương đọa tam ác thú trung, vô lượng thiên tuế thụ chư kịch khổ! Thụ kịch khổ dĩ, tùng bỉ mệnh chung, lai sinh nhân gian, tác ngưu mã đà lư, hằng bị tiên thát, cơ khát bức não, hựu thường phụ trọng tùy lộ nhi hành. Hoặc đắc vi nhân, sinh cư hạ tiện, tác nhân nô tỳ, thụ tha khu dịch, hằng bất tự tại. Nhược tích nhân trung tằng văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, do thử thiện nhân, kim phục ức niệm, chí tâm quy y. Dĩ Phật thần lực, chúng khổ giải thoát, chư căn thông lợi, trí tuệ đa văn, hằng cầu thắng pháp, thường ngộ thiện hữu, vĩnh đoạn ma quyến, phá vô minh xác, kiệt phiền não hà, giải thoát nhất thiết sinh lão bệnh tử ưu sầu khổ não」. 「Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Nhược chư hữu tình hảo hỉ quai ly, cánh tương đấu tụng, não loạn tự tha, dĩ thân ngữ ý, tạo tác tăng trưởng chủng chủng ác nghiệp, triển chuyển thường vi bất nhiêu ích sự, hỗ tương mưu hại. Cáo triệu sơn lâm thụ trủng đẳng thần; sát chư chúng sinh, thủ kỳ huyết nhục tế tự Dược-xoa, La-sát-bà đẳng; thư oán nhân danh, tác kỳ hình tượng, dĩ ác chú thuật nhi chú trớ chi; yếm mị cổ đạo, chú khởi thi quỷ, lệnh đoạn bỉ mệnh, cập hoại kỳ thân. Thị chư hữu tình, nhược đắc văn thử Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, bỉ chư ác sự tất bất năng hại, nhất thiết triển chuyển giai khởi từ tâm, lợi ích an lạc, vô tổn não ý cập hiềm hận tâm, các các hoan duyệt, ư tự sở thụ sinh ư hỉ túc, bất tương xâm lăng hỗ vi nhiêu ích」. 「Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Nhược hữu tứ chúng: Bí-sô, Bí-sô-ni, Ô-ba-sách-ca, Ô-ba-tư-ca, cập dư tịnh tín thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, hữu năng thụ trì bát phần trai giới, hoặc kinh nhất niên, hoặc phục tam nguyệt thụ trì học xứ, dĩ thử thiện căn, nguyện sinh Tây phương Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật sở thính văn chính pháp nhi vị định giả, nhược văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, lâm mệnh chung thời, hữu bát đại Bồ-tát, kỳ danh viết: Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, Quán Thế Âm Bồ-tát, Đắc Đại Thế Bồ-tát, Vô Tận Ý Bồ-tát, Bảo Đàn Hoa Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát, Di Lặc Bồ-tát. Thị bát đại Bồ-tát thừa không nhi lai, thị kỳ đạo lộ, tức ư bỉ giới chủng chủng tạp sắc chúng bảo hoa trung, tự nhiên hóa sinh」. 「Hoặc hữu nhân thử, sinh ư thiên thượng, tuy sinh thiên thượng, nhi bản thiện căn, diệc vị cùng tận, bất phục cánh sinh chư dư ác thú. Thiên thượng thọ tận, hoàn sinh nhân gian, hoặc vi Luân Vương, thống nhiếp tứ châu, uy đức tự tại, an lập vô lượng bách thiên hữu tình ư thập thiện đạo; hoặc sinh Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, cư sĩ đại gia, đa nhiêu tài bảo, thương khố doanh dật, hình tướng đoan chính, quyến thuộc cụ túc, thông minh trí tuệ, dũng kiện uy mãnh, như đại lực sĩ. Nhược thị nữ nhân, đắc văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, chí tâm thụ trì, ư hậu bất phục cánh thụ nữ thân」. 「Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Bỉ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đắc Bồ-đề thời, do bản nguyện lực, quán chư hữu tình, ngộ chúng bệnh khổ sấu luyến, can tiêu, hoàng nhiệt đẳng bệnh; hoặc bị yếm mị, cổ độc sở trúng; hoặc phục đoản mệnh, hoặc thời hoành tử; dục lệnh thị đẳng bệnh khổ tiêu trừ sở cầu nguyện mãn」. 「Thời bỉ Thế Tôn, nhập Tam-ma-địa, danh viết Trừ Diệt Nhất Thiết Chúng Sinh Khổ Não. Ký nhập định dĩ, ư nhục kế trung xuất đại quang minh, quang trung diễn thuyết, đại Đà-la-ni viết: 『Na mô Bạc Già Phiệt Đế, Tì Sát Xã Cũ Lũ, Bệ Lưu Ly Bát Lạt Bà Hát La Xà Dã, Đát Đà Yết Đa Da, A La Ha Đế, Tam Miệu Tam Bột Đà Da. Đát Điệt Tha: Án, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Thệ, Bệ Sát Xã, Tam Một Yết Đế Sa Ha』」. Nhĩ thời, quang trung thuyết thử chú dĩ, đại địa chấn động, phóng đại quang minh, nhất thiết chúng sinh bệnh khổ giai trừ, thụ an ổn lạc. 「Mạn Thù Thất Lợi! Nhược kiến nam tử nữ nhân hữu bệnh khổ giả, ứng đương nhất tâm, vị bỉ bệnh nhân, thường thanh tịnh táo sấu, hoặc thực hoặc dược hoặc vô trùng thủy, chú nhất bách bát biến, dữ bỉ phục thực, sở hữu bệnh khổ tất giai tiêu diệt. Nhược hữu sở cầu, chí tâm niệm tụng, giai đắc như thị vô bệnh diên niên; mệnh chung chi hậu, sinh bỉ thế giới, đắc bất thoái chuyển, nãi chí Bồ-đề. Thị cố Mạn Thù Thất Lợi! Nhược hữu nam tử, nữ nhân, ư bỉ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chí tâm ân trọng, cung kính cúng dường giả, thường trì thử chú, vật lệnh phế vong」. 「Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Nhược hữu tịnh tín nam tử nữ nhân, đắc văn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác sở hữu danh hiệu, văn dĩ tụng trì. Thần tước xỉ mộc, táo sấu thanh tịnh, dĩ chư hương hoa, thiêu hương, đồ hương, tác chúng kỹ nhạc, cúng dường hình tượng. Ư thử kinh điển, nhược tự thư, nhược giáo nhân thư, nhất tâm thụ trì, thính văn kỳ nghĩa. Ư bỉ pháp sư, ứng tu cúng dường: nhất thiết sở hữu tư thân chi cụ, tất giai thí dữ, vật lệnh phạp thiểu. Như thị tiện mông chư Phật hộ niệm, sở cầu nguyện mãn, nãi chí Bồ-đề」. Nhĩ thời, Mạn Thù Thất Lợi Đồng Tử bạch Phật ngôn: 「Thế Tôn! Ngã đương thệ ư tượng pháp chuyển thời, dĩ chủng chủng phương tiện, lệnh chư tịnh tín thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, đắc văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, nãi chí thụy trung diệc dĩ Phật danh giác ngộ kỳ nhĩ. Thế Tôn! Nhược ư thử kinh thụ trì độc tụng. Hoặc phục vị tha diễn thuyết khai thị; nhược tự thư, nhược giáo nhân thư; cung kính tôn trọng, dĩ chủng chủng hoa hương, đồ hương, mạt hương, thiêu hương, hoa man, anh lạc, phan cái, kỹ nhạc, nhi vi cúng dường; dĩ ngũ sắc thái, tác nang thịnh chi; tảo sái tịnh xứ, phu thiết cao tọa, nhi dụng an xứ. Nhĩ thời, Tứ Đại Thiên Vương dữ kỳ quyến thuộc, cập dư vô lượng bách thiên thiên chúng, giai nghệ kỳ sở, cúng dường thủ hộ. Thế Tôn! Nhược thử kinh bảo lưu hành chi xứ, hữu năng thụ trì, dĩ bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bản nguyện công đức, cập văn danh hiệu, đương tri thị xứ vô phục hoành tử; diệc phục bất vi chư ác quỷ thần đoạt kỳ tinh khí, thiết dĩ đoạt giả, hoàn đắc như cố, thân tâm an lạc」. Phật cáo Mạn Thù Thất Lợi: 「Như thị! Như thị! Như nhữ sở thuyết. Mạn Thù Thất Lợi! Nhược hữu tịnh tín thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, dục cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai giả, ứng tiên tạo lập bỉ Phật hình tượng, phu thanh tịnh tọa nhi an xứ chi. Tán chủng chủng hoa, thiêu chủng chủng hương, dĩ chủng chủng tràng phan trang nghiêm kỳ xứ. Thất nhật thất dạ, thụ bát phần trai giới, thực thanh tịnh thực, táo dục hương khiết, trước thanh tịnh y, ứng sinh vô cấu trọc tâm, vô nộ hại tâm, ư nhất thiết hữu tình khởi lợi ích an lạc, từ bi hỉ xả bình đẳng chi tâm, cổ nhạc ca tán, hữu nhiễu Phật tượng. Phục ứng niệm bỉ Như Lai bản nguyện công đức, độc tụng thử kinh, tư duy kỳ nghĩa, diễn thuyết khai thị. Tùy sở lạc cầu, nhất thiết giai toại: cầu trường thọ, đắc trường thọ, cầu phú nhiêu, đắc phú nhiêu, cầu quan vị đắc quan vị, cầu nam nữ đắc nam nữ」. 「Nhược phục hữu nhân, hốt đắc ác mộng, kiến chư ác tướng; hoặc quái điểu lai tập; hoặc ư trụ xứ bách quái xuất hiện. Thử nhân nhược dĩ chúng diệu tư cụ, cung kính cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai giả, ác mộng, ác tướng chư bất cát tường, giai tất ẩn một, bất năng vi hoạn. Hoặc hữu thủy hỏa đao độc, huyền hiểm ác tượng, sư tử hổ lang, hùng bi độc xà, ác hiết ngô công, du diên văn manh đẳng bố; nhược năng chí tâm ức niệm bỉ Phật, cung kính cúng dường, nhất thiết bố úy giai đắc giải thoát. Nhược tha quốc xâm nhiễu, đạo tặc phản loạn, ức niệm cung kính bỉ Như Lai giả, diệc giai giải thoát」. 「Phục thứ, Mạn Thù Thất Lợi! Nhược hữu tịnh tín thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, nãi chí tận hình bất sự dư thiên, duy đương nhất tâm, quy Phật Pháp Tăng, thụ trì cấm giới: nhược ngũ giới, thập giới, Bồ-tát tứ bách giới, Bí-sô nhị bách ngũ thập giới, Bí-sô-ni ngũ bách giới. Ư sở thụ trung hoặc hữu hủy phạm, bố đọa ác thú, nhược năng chuyên niệm bỉ Phật danh hiệu, cung kính cúng dường giả, tất định bất thụ tam ác thú sinh. Hoặc hữu nữ nhân, lâm đương sản thời, thụ ư cực khổ; nhược năng chí tâm xưng danh lễ tán, cung kính cúng dường bỉ Như Lai giả, chúng khổ giai trừ. Sở sinh chi tử, thân phận cụ túc, hình sắc đoan chính, kiến giả hoan hỉ, lợi căn thông minh, an ổn thiểu bệnh, vô hữu phi nhân, đoạt kỳ tinh khí」. Nhĩ thời, Thế Tôn cáo A Nan ngôn: 「Như ngã xưng dương bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai sở hữu công đức, thử thị chư Phật thậm thâm hành xứ, nan khả giải liễu, nhữ vi tín phủ?」 A Nan bạch ngôn: 「Đại Đức Thế Tôn! Ngã ư Như Lai sở thuyết khế kinh bất sinh nghi hoặc, sở dĩ giả hà? Nhất thiết Như Lai thân ngữ ý nghiệp vô bất thanh tịnh. Thế Tôn! Thử nhật nguyệt luân khả lệnh đọa lạc, Diệu Cao Sơn Vương khả sử khuynh động, chư Phật sở ngôn vô hữu dị dã」. 「Thế Tôn! Hữu chư chúng sinh, tín căn bất cụ, văn thuyết chư Phật thậm thâm hành xứ, tác thị tư duy: Vân hà đản niệm Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai nhất Phật danh hiệu, tiện hoạch nhĩ sở công đức thắng lợi? Do thử bất tín, phản sinh phỉ báng. Bỉ ư trường dạ thất đại lợi lạc, đọa chư ác thú, lưu chuyển vô cùng!」 Phật cáo A Nan: 「Thị chư hữu tình nhược văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, chí tâm thụ trì, bất sinh nghi hoặc, đọa ác thú giả vô hữu thị xứ」. 「A Nan! Thử thị chư Phật thậm thâm sở hành, nan khả tín giải; nhữ kim năng thụ, đương tri giai thị Như Lai uy lực. A Nan! Nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, cập vị đăng địa chư Bồ-tát đẳng, giai tất bất năng như thực tín giải, duy trừ nhất sinh sở hệ Bồ-tát. A Nan! Nhân thân nan đắc; ư Tam Bảo trung, tín kính tôn trọng, diệc nan khả đắc; văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, phục nan ư thị」. 「A Nan! Bỉ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, vô lượng Bồ-tát hạnh, vô lượng thiện xảo phương tiện, vô lượng quảng đại nguyện; ngã nhược nhất kiếp, nhược nhất kiếp dư nhi quảng thuyết giả, kiếp khả tốc tận, bỉ Phật hành nguyện, thiện xảo phương tiện vô hữu tận dã!」 Nhĩ thời, chúng trung, hữu nhất Bồ-tát Ma-ha-tát, danh viết Cứu Thoát, tức tùng tọa khởi, thiên đản nhất kiên, hữu tất trước địa, khúc cung hợp chưởng nhi bạch Phật ngôn: 「Đại Đức Thế Tôn! Tượng pháp chuyển thời, hữu chư chúng sinh vi chủng chủng hoạn chi sở khốn ách, trường bệnh doanh sấu, bất năng ẩm thực, hầu thần can táo, kiến chư phương ám, tử tướng hiện tiền, phụ mẫu thân thuộc, bằng hữu tri thức đề khấp vi nhiễu; nhiên bỉ tự thân ngọa tại bản xứ, kiến Diễm Ma sứ, dẫn kỳ thần thức chí ư Diễm Ma Pháp Vương chi tiền. Nhiên chư hữu tình, hữu câu sinh thần, tùy kỳ sở tác nhược tội nhược phúc, giai cụ thư chi, tận trì thụ dữ Diễm Ma Pháp Vương. Nhĩ thời, bỉ vương thôi vấn kỳ nhân, kế toán sở tác, tùy kỳ tội phúc nhi xử đoạn chi. Thời bỉ bệnh nhân, thân thuộc, tri thức, nhược năng vị bỉ quy y Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thỉnh chư chúng tăng, chuyển độc thử kinh, nhiên thất tầng chi đăng, huyền ngũ sắc tục mệnh thần phan, hoặc hữu thị xứ bỉ thức đắc hoàn, như tại mộng trung minh liễu tự kiến. Hoặc kinh thất nhật, hoặc nhị thập nhất nhật, hoặc tam thập ngũ nhật, hoặc tứ thập cửu nhật, bỉ thức hoàn thời, như tùng mộng giác, giai tự ức tri thiện bất thiện nghiệp sở đắc quả báo; do tự chứng kiến nghiệp quả báo cố, nãi chí mệnh nạn, diệc bất tạo tác chư ác chi nghiệp. Thị cố tịnh tín thiện nam tử thiện nữ nhân đẳng, giai ứng thụ trì Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, tùy lực sở năng, cung kính cúng dường」. Nhĩ thời, A Nan vấn Cứu Thoát Bồ-tát viết: 「Thiện nam tử! Ứng vân hà cung kính cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai? Tục mệnh phan đăng phục vân hà tạo」? Cứu Thoát Bồ-tát ngôn: 「Đại Đức! Nhược hữu bệnh nhân, dục thoát bệnh khổ, đương vị kỳ nhân, thất nhật thất dạ thụ trì bát phần trai giới. Ứng dĩ ẩm thực cập dư tư cụ, tùy lực sở biện, cúng dường Bí-sô tăng. Trú dạ lục thời, lễ bái cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Độc tụng thử kinh tứ thập cửu biến, nhiên tứ thập cửu đăng; tạo bỉ Như Lai hình tượng thất khu, nhất nhất tượng tiền các trí thất đăng, nhất nhất đăng lượng đại như xa luân, nãi chí tứ thập cửu nhật quang minh bất tuyệt. Tạo ngũ sắc thái phan, trường tứ thập cửu kiệt thủ, ứng phóng tạp loại chúng sinh chí tứ thập cửu, khả đắc quá độ nguy ách chi nạn, bất vi chư hoành ác quỷ sở trì」. 「Phục thứ, A Nan! Nhược Sát-đế-lợi, Quán Đỉnh Vương đẳng, tai nạn khởi thời, sở vị: nhân chúng tật dịch nạn, tha quốc xâm bức nạn, tự giới bạn nghịch nạn, tinh tú biến quái nạn, nhật nguyệt bạc thực nạn, phi thời phong vũ nạn, quá thời bất vũ nạn. Bỉ Sát-đế-lợi Quán Đỉnh Vương đẳng, nhĩ thời ứng ư nhất thiết hữu tình khởi từ bi tâm, xá chư hệ bế. Y tiền sở thuyết cúng dường chi pháp, cúng dường bỉ Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Do thử thiện căn cập bỉ Như Lai bản nguyện lực cố, lệnh kỳ quốc giới tức đắc an ổn, phong vũ thuận thời, cốc giá thành thục, nhất thiết hữu tình vô bệnh hoan lạc. Ư kỳ quốc trung, vô hữu bạo ác Dược-xoa đẳng thần não hữu tình giả, nhất thiết ác tướng giai tức ẩn một; nhi Sát-đế-lợi Quán Đỉnh Vương đẳng thọ mệnh sắc lực, vô bệnh tự tại, giai đắc tăng ích」. 「A Nan! Nhược đế hậu phi chủ, trữ quân vương tử, đại thần phụ tướng, trung cung thái nữ, bách quan lê thứ, vi bệnh sở khổ, cập dư ách nạn; diệc ứng tạo lập ngũ sắc thần phan, nhiên đăng tục minh, phóng chư sinh mệnh, tán tạp sắc hoa, thiêu chúng danh hương; bệnh đắc trừ dũ, chúng nạn giải thoát」. Nhĩ thời, A Nan vấn Cứu Thoát Bồ-tát ngôn: 「Thiện nam tử! Vân hà dĩ tận chi mệnh nhi khả tăng ích」? Cứu Thoát Bồ-tát ngôn: 「Đại Đức! Nhữ khởi bất văn Như Lai thuyết hữu cửu hoành tử da? Thị cố khuyến tạo tục mệnh phan đăng, tu chư phúc đức, dĩ tu phúc cố, tận kỳ thọ mệnh bất kinh khổ hoạn」. A Nan vấn ngôn: 「Cửu hoành vân hà」? Cứu Thoát Bồ-tát ngôn: 「Nhược chư hữu tình, đắc bệnh tuy khinh, nhiên vô y dược cập khán bệnh giả, thiết phục ngộ y, thụ dĩ phi dược, thực bất ứng tử nhi tiện hoành tử. Hựu tín thế gian tà ma ngoại đạo yêu nghiệt chi sư vọng thuyết họa phúc, tiện sinh khủng động, tâm bất tự chính, bốc vấn mịch họa, sát chủng chủng chúng sinh, giải tấu thần minh, hô chư võng lượng, thỉnh khất phúc hữu, dục ký diên niên, chung bất năng đắc. Ngu si mê hoặc, tín tà đảo kiến, toại lệnh hoành tử nhập ư địa ngục, vô hữu xuất kỳ, thị danh sơ hoành. Nhị giả, hoành bị vương pháp chi sở tru lục. Tam giả, điền liệp hi hí, đam dâm thị tửu, phóng dật vô độ, hoành vi phi nhân đoạt kỳ tinh khí. Tứ giả, hoành vi hỏa phần. Ngũ giả, hoành vi thủy nịch. Lục giả, hoành vi chủng chủng ác thú sở đạm. Thất giả, hoành đọa sơn nhai. Bát giả, hoành vi độc dược, yếm đảo, chú trớ, khởi thi quỷ đẳng chi sở trúng hại. Cửu giả, cơ khát sở khốn, bất đắc ẩm thực nhi tiện hoành tử. Thị vi Như Lai lược thuyết hoành tử, hữu thử cửu chủng, kỳ dư phục hữu vô lượng chư hoành, nan khả cụ thuyết! 「Phục thứ, A Nan! Bỉ Diễm Ma Vương chủ lĩnh thế gian danh tịch chi ký, nhược chư hữu tình, bất hiếu ngũ nghịch, phá nhục Tam Bảo, hoại quân thần pháp, hủy ư tính giới, Diễm Ma Pháp Vương tùy tội khinh trọng, khảo nhi phạt chi. Thị cố ngã kim khuyến chư hữu tình, nhiên đăng tạo phan, phóng sinh tu phúc, lệnh độ khổ ách, bất tao chúng nạn」. Nhĩ thời, chúng trung hữu thập nhị Dược-xoa đại tướng, câu tại hội tọa, sở vị: Cung Tì La đại tướng, Phạt Chiết La đại tướng, Mê Xí La đại tướng, An Để La đại tướng, Át Nhĩ La đại tướng, San Để La đại tướng, Nhân Đạt La đại tướng, Ba Di La đại tướng, Ma Hổ La đại tướng, Chân Đạt La đại tướng, Chiêu Đỗ La đại tướng, Tì Yết Ma đại tướng: thử thập nhị Dược-xoa đại tướng, nhất nhất các hữu thất thiên Dược-xoa, dĩ vi quyến thuộc. Đồng thời cử thanh bạch Phật ngôn: 「Thế Tôn! Ngã đẳng kim giả mông Phật uy lực, đắc văn Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu, bất phục cánh hữu ác thú chi bố. Ngã đẳng tương suất, giai đồng nhất tâm, nãi chí tận hình quy Phật Pháp Tăng, thệ đương hà phụ nhất thiết hữu tình, vi tác nghĩa lợi, nhiêu ích an lạc. Tùy ư hà đẳng thôn thành quốc ấp, không nhàn lâm trung, nhược hữu lưu bố thử kinh, hoặc phục thụ trì Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai danh hiệu cung kính cúng dường giả, ngã đẳng quyến thuộc vệ hộ thị nhân, giai sử giải thoát nhất thiết khổ nạn, chư hữu nguyện cầu tất lệnh mãn túc. Hoặc hữu tật ách cầu độ thoát giả, diệc ứng độc tụng thử kinh, dĩ ngũ sắc lũ, kết ngã danh tự, đắc như nguyện dĩ, nhiên hậu giải kết」. Nhĩ thời, Thế Tôn tán chư Dược-xoa đại tướng ngôn: 「Thiện tai! Thiện tai! Đại Dược-xoa tướng! Nhữ đẳng niệm báo Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ân đức giả, thường ứng như thị lợi ích an lạc nhất thiết hữu tình」. Nhĩ thời, A Nan bạch Phật ngôn: 「Thế Tôn! Đương hà danh thử pháp môn? Ngã đẳng vân hà phụng trì?」 Phật cáo A Nan: Thử pháp môn danh Thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức; diệc danh Thuyết Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kết Nguyện Thần Chú; diệc danh Bạt Trừ Nhất Thiết Nghiệp Chướng; ứng như thị trì」! Thời Bạc Già Phạm thuyết thị ngữ dĩ, chư Bồ-tát Ma-ha-tát, cập đại Thanh Văn, quốc vương, đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ, thiên, long, Dược-xoa, Kiện Đạt Phược, A Tố Lạc, Yết Lộ Đồ, Khẩn Nại Lạc, Mạc Hô Lạc Già, nhân, phi nhân đẳng nhất thiết đại chúng, văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỉ, tín thụ phụng hành. }} ==Dịch nghĩa== <center>''' Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh'''</center> Tam tạng Pháp sư Huyền Trang đời Đường phụng chiếu biên dịch. Tôi nghe như thế này: Một thời, Đức Bạc Già Phạm đi du hóa các nước, đến thành Quảng Nghiêm, dừng nghỉ dưới cây Nhạc Âm. Đi cùng có tám nghìn vị đại Bí-sô, ba vạn sáu nghìn vị Bồ-tát Ma-ha-tát, cùng các quốc vương, đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ, Thiên long bát bộ, người và các loài không phải người, vô lượng đại chúng cung kính vây quanh để nghe thuyết pháp. Lúc bấy giờ, Pháp vương tử Mạn Thù Thất Lợi nhờ uy thần của Phật, từ tòa đứng dậy, hở vai bên phải, quỳ gối phải sát đất, hướng về phía Đức Bạc Già Phạm cúi mình hợp chưởng. Bạch rằng: "Bạch Thế Tôn! Cúi xin Ngài diễn thuyết về danh hiệu, bản nguyện xưa kia và công đức thù thắng của các đức Phật tương tự như thế, để những người nghe được sẽ tiêu trừ nghiệp chướng, cũng là vì muốn lợi lạc cho các hữu tình trong thời kỳ Tượng pháp chuyển về sau". Khi ấy, Thế Tôn khen ngợi Mạn Thù Thất Lợi Đồng tử rằng: "Hay thay! Hay thay! Mạn Thù Thất Lợi! Ông vì lòng đại bi mà khuyến thỉnh Ta nói về danh hiệu và công đức bản nguyện của các đức Phật, vì muốn cứu vớt những hữu tình bị nghiệp chướng vây hãm, mang lại lợi ích an lạc cho chúng hữu tình trong thời kỳ Tượng pháp. Nay ông hãy chú tâm nghe kỹ, suy nghĩ thật khéo, Ta sẽ vì ông mà nói". Mạn Thù Thất Lợi thưa: "Dạ vâng, xin Ngài chỉ dạy! Chúng con rất mong được nghe!" Phật bảo Mạn Thù Thất Lợi: "Cách đây về phương Đông, vượt qua mười lần số cát sông Hằng các cõi Phật, có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức Phật ở đó hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Bạc Già Phạm." "Mạn Thù Thất Lợi! Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ấy khi còn tu hành đạo Bồ-tát đã phát mười hai nguyện lớn, khiến cho các hữu tình cầu gì cũng đều được thỏa nguyện". "Nguyện lớn thứ nhất: Nguyện đời sau khi Ta đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, tự thân có ánh sáng rực rỡ soi chiếu vô lượng vô số thế giới không biên cương, dùng ba mươi hai tướng đại trượng phu, tám mươi vẻ đẹp tùy hình để trang nghiêm thân mình; khiến cho tất cả hữu tình đều được như Ta không khác". "Nguyện lớn thứ hai: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, thân như lưu ly, trong ngoài sáng suốt, sạch không tì vết; ánh sáng rộng lớn, công đức cao dày, thân khéo an trụ, lưới lửa trang nghiêm rực rỡ hơn cả nhật nguyệt; chúng sinh nơi cõi u minh thảy đều được khai thông soi sáng, tùy ý hướng đến nơi mình muốn để làm mọi sự nghiệp". "Nguyện lớn thứ ba: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, dùng trí tuệ và phương tiện vô lượng vô biên, khiến cho các hữu tình đều có được vật dụng thọ dùng không bao giờ hết, chẳng để chúng sinh phải chịu thiếu thốn". "Nguyện lớn thứ tư: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, nếu có hữu tình nào đi theo tà đạo, thảy đều khiến họ an trụ trong đạo Bồ-đề; nếu người nào tu theo thừa Thanh văn, Độc giác, thảy đều dùng Đại thừa mà an lập cho họ". "Nguyện lớn thứ năm: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, nếu có vô lượng vô biên hữu tình ở trong giáo pháp của Ta tu hành phạm hạnh, thảy đều khiến cho họ có được giới pháp không khuyết thiếu, đầy đủ Tam tụ giới; nếu có ai hủy phạm, sau khi nghe danh hiệu Ta liền được thanh tịnh trở lại, không bị đọa vào ác thú!" "Nguyện lớn thứ sáu: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, nếu có hữu tình nào thân hình thấp kém, các căn không đầy đủ, xấu xí, khờ khạo, mù, điếc, ngọng, câm, tay chân co quắp, lưng gù, bệnh hủi, điên cuồng, chịu nhiều bệnh khổ; sau khi nghe danh hiệu Ta, tất cả đều được tướng mạo đoan chính, thông minh, các căn vẹn toàn, không còn mọi bệnh khổ". "Nguyện lớn thứ bảy: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, nếu có hữu tình nào bị các bệnh hiểm nghèo bức bách, không người cứu giúp, không nơi nương tựa, không thầy không thuốc, không thân không nhà, nghèo cùng nhiều khổ não; danh hiệu Ta chỉ cần một lần lọt vào tai, thì mọi bệnh đều dứt sạch, thân tâm an lạc, gia quyến của cải thảy đều sung túc, cho đến khi chứng đắc Vô thượng Bồ-đề". "Nguyện lớn thứ tám: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, nếu có người phụ nữ nào bị hàng trăm thứ xấu ác của thân nữ bức bách, khốn khổ, sinh lòng chán lìa cực độ, muốn bỏ thân nữ; sau khi nghe danh hiệu Ta, tất cả đều được chuyển thân nữ thành nam, đầy đủ tướng trượng phu, cho đến khi chứng đắc Vô thượng Bồ-đề." "Nguyện lớn thứ chín: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, khiến cho các hữu tình thoát khỏi lưới vây của ma vương, giải thoát khỏi mọi sự ràng buộc của ngoại đạo; nếu có ai sa vào rừng rậm của các ác kiến, Ta đều sẽ dẫn dắt họ đặt vào chính kiến, dần dần khiến cho tu tập các hạnh Bồ-tát, nhanh chóng chứng đắc Vô thượng Chính đẳng Bồ-đề!" "Nguyện lớn thứ mười: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, nếu có hữu tình nào bị pháp luật vương triều giam giữ, xiềng xích đánh đập, nhốt trong lao ngục, hoặc bị hình phạt xử tử, cùng vô lượng tai nạn lăng nhục khác, lòng buồn lo thiêu đốt, thân tâm chịu khổ; nếu nghe danh hiệu Ta, nhờ sức uy thần phúc đức của Ta, thảy đều được giải thoát khỏi mọi nỗi ưu bi khổ não ấy!" "Nguyện lớn thứ mười một: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, nếu có hữu tình nào bị đói khát dày vò, vì tìm kiếm thức ăn mà tạo các ác nghiệp; nếu được nghe danh hiệu Ta, chuyên lòng trì niệm, Ta sẽ trước hết dùng các món ăn uống thượng diệu làm cho họ được no đủ, sau đó mới dùng pháp vị thiết lập cho họ sự an lạc hoàn toàn." "Nguyện lớn thứ mười hai: Nguyện đời sau khi Ta chứng được Bồ-đề, nếu có hữu tình nào nghèo khổ không có áo mặc, bị muỗi mòng, lạnh nóng, ngày đêm bức bách; nếu nghe danh hiệu Ta, chuyên lòng trì niệm, tùy theo sở thích liền có được các loại áo quần thượng diệu, cũng được tất cả các đồ trang báu, tràng hoa, hương xoa, trống nhạc và các loại hình nghệ thuật, tùy tâm hưởng dụng, thảy đều khiến cho mãn nguyện." "Mạn Thù Thất Lợi! Đó là mười hai nguyện lớn vi diệu cao thượng mà Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri đã phát ra khi còn tu hành đạo Bồ-tát." "Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi! Những nguyện lớn mà Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đã phát khi tu đạo Bồ-tát, cùng với công đức trang nghiêm nơi cõi Phật của Ngài, nếu Ta nói trong một kiếp, hay hơn một kiếp cũng không thể hết được. Nhưng cõi Phật ấy vốn thuần một màu thanh tịnh, không có phụ nữ, cũng không có ác thú (đường ác) và những tiếng khổ đau; đất bằng lưu ly, dây vàng chăng dọc theo đường đi, thành quách cung điện, mái hiên cửa sổ cho đến lưới bao quanh thảy đều bằng bảy báu tạo thành; cũng giống như thế giới Cực Lạc phương Tây, công đức trang nghiêm bằng nhau không khác biệt. Trong nước ấy có hai vị Bồ-tát Ma-ha-tát: một tên là Nhật Quang Biến Chiếu, hai tên là Nguyệt Quang Biến Chiếu. Đó là hai vị đứng đầu trong vô lượng vô số đại chúng Bồ-tát, là những vị sẽ kế vị làm Phật, thảy đều có thể gìn giữ kho tàng chính pháp của Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Vì thế, Mạn Thù Thất Lợi! Những thiện nam tử, thiện nữ nhân nào có lòng tin tưởng, đều nên phát nguyện sinh về thế giới của Đức Phật ấy." Lúc bấy giờ, Thế Tôn lại bảo Mạn Thù Thất Lợi Đồng tử rằng: "Mạn Thù Thất Lợi! Có những chúng sinh không biết thiện ác, chỉ ôm lòng tham lam bỏn xẻn, không biết bố thí và quả báo của việc bố thí, ngu si không có trí tuệ, thiếu mất căn lành tin tưởng, lo tích cóp nhiều của cải trân bảo, cần mẫn canh giữ. Thấy người đến xin, lòng họ không vui, giả sử bất đắc dĩ mà phải bố thí thì như cắt thịt thân mình, sinh lòng đau xót tiếc nuối sâu sắc. Lại có vô lượng hữu tình bỏn xẻn tham lam, tích trữ tài vật, ngay cả bản thân mình còn chẳng dám hưởng dùng, huống chi là có thể đem cho cha mẹ, vợ con, nô tì người làm, và những người đến xin? Những hữu tình ấy sau khi mệnh chung sẽ sinh vào cõi ngạ quỷ hoặc loài bàng sinh. Nhờ thuở trước ở nhân gian từng được tạm nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nên nay ở trong ác thú, tạm thời nhớ lại danh hiệu Như Lai ấy, ngay khi vừa niệm liền lìa bỏ cõi đó, sinh lại trong loài người; có được trí nhớ về kiếp trước, sợ khổ ác thú, không ham thích dục lạc, ưa thích làm việc huệ thí, khen ngợi người bố thí, tất cả những gì mình có thảy đều không tham tiếc, dần dần cho đến có thể đem cả đầu, mắt, tay chân, máu thịt thân mình bố thí cho người đến cầu xin, huống chi là của cải dư thừa?" "Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi! Nếu có những hữu tình tuy thụ trì các học giới từ Như Lai mà lại phá giới; có người tuy không phá giới mà lại phá hủy các quy tắc; có người đối với giới luật và quy tắc tuy không hủy hoại nhưng lại hủy bỏ chính kiến; có người tuy không hủy bỏ chính kiến mà lại vứt bỏ việc nghe nhiều (đa văn), đối với nghĩa lý thâm sâu trong kinh điển Phật nói thì không thể hiểu rõ; có người tuy nghe nhiều nhưng lại tăng trưởng lòng kiêu mạn, do lòng kiêu mạn che lấp tâm trí nên tự cho mình đúng, cho người khác sai, chê bai phỉ báng chính pháp, làm bạn đồng hành với ma. Những kẻ ngu si như thế tự mình thực hành tà kiến, lại khiến cho vô lượng câu-chi hữu tình sa vào hố hiểm lớn. Những hữu tình này lẽ ra phải lưu chuyển vô cùng trong địa ngục, bàng sinh và quỷ thú. Nếu được nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai này, liền bỏ ác hạnh, tu các thiện pháp, không đọa ác thú; giả sử có người không thể bỏ các ác hạnh, tu hành thiện pháp mà đọa vào ác thú, thì nhờ uy lực bản nguyện của Như Lai ấy khiến họ hiện tiền tạm nghe danh hiệu, từ cõi đó mệnh chung lại sinh vào nhân thú, có được chính kiến tinh tấn, khéo điều phục tâm ý, liền có thể bỏ nhà đi tu, ở trong giáo pháp Như Lai thụ trì các học giới không có hủy phạm, có chính kiến và nghe nhiều, hiểu nghĩa rất sâu, lìa lòng kiêu mạn, không báng chính pháp, không làm bạn với ma, dần dần tu hành các hạnh Bồ-tát, sớm được viên mãn". "Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi! Nếu có những hữu tình bỏn xẻn tham lam, tật đố, tự khen mình chê người, sẽ đọa vào ba đường ác trong vô lượng nghìn năm chịu các khổ kịch liệt! Chịu khổ kịch liệt xong, từ đó mệnh chung sinh lại nhân gian, làm trâu ngựa lạc đà lừa, hằng bị roi vọt đánh đập, đói khát bức bách, lại thường chở nặng đi theo đường dài. Hoặc được làm người thì sinh vào nơi hạ tiện, làm nô tì cho người, chịu sự sai khiến của kẻ khác, hằng chẳng được tự tại. Nếu thuở trước khi làm người từng nghe danh hiệu Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, do nhân lành ấy, nay lại nhớ lại, chí tâm quy y. Nhờ thần lực của Phật mà được giải thoát mọi khổ não, các căn thông lợi, trí tuệ nghe nhiều, hằng cầu pháp thù thắng, thường gặp bạn tốt, vĩnh viễn đoạn tuyệt lưới ma, phá vỏ bọc vô minh, tát cạn sông phiền não, giải thoát tất cả sinh già bệnh chết và lo âu khổ não". "Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi! Nếu có những hữu tình ưa thích sự chia rẽ, tranh đấu kiện cáo lẫn nhau, làm não loạn mình và người, dùng thân ngữ ý tạo tác và tăng trưởng các thứ ác nghiệp, xoay vần thường làm những việc không lợi ích, mưu hại lẫn nhau. Cầu khẩn các thần cây, thần rừng, thần mồ mả; giết các chúng sinh, lấy máu thịt tế lễ dược xoa, la sát; viết tên người oán thù, làm hình tượng kẻ đó, dùng chú thuật ác độc mà nguyền rủa; dùng bùa chú yểm đối, gọi quỷ nhập tràng khiến kẻ kia mất mạng và hủy hoại thân thể. Những hữu tình ấy, nếu được nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai này, thì những việc ác kia thảy đều không thể làm hại, tất cả xoay vần đều khởi lòng từ, làm lợi ích an lạc, không có ý tổn não và lòng hiềm hận, mỗi người đều vui vẻ, tự thấy vui lòng với những gì mình có, không xâm lấn nhau mà cùng làm lợi ích cho nhau". "Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi! Nếu có hàng tứ chúng: Bí-sô, Bí-sô-ni, Ô-ba-túc-ca, Ô-ba-tư-ca, và những thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch khác, có thể thụ trì tám phần trai giới, hoặc trong một năm, hoặc lại trong ba tháng thụ trì các học giới, dùng căn lành này nguyện sinh về thế giới Cực Lạc của Đức Vô Lượng Thọ phương Tây để nghe chính pháp mà lòng chưa định chắc, nếu nghe danh hiệu Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thì khi lâm chung có tám vị Đại Bồ-tát, tên là: Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát, Quán Thế Âm Bồ-tát, Đắc Đại Thế Bồ-tát, Vô Tận Ý Bồ-tát, Bảo Đàn Hoa Bồ-tát, Dược Vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát, Di Lặc Bồ-tát. Tám vị Đại Bồ-tát ấy cưỡi hư không mà đến, chỉ dẫn đường lối, liền ở nơi các hoa báu đủ màu sắc trong thế giới kia mà tự nhiên hóa sinh". "Hoặc có người nhờ đó mà sinh lên trời, tuy sinh lên trời nhưng căn lành cũ vẫn chưa tận, không còn phải sinh vào các ác thú khác. Khi tuổi thọ trên trời đã hết, sinh lại nhân gian, hoặc làm Chuyển luân vương thống lĩnh bốn châu, uy đức tự tại, thiết lập cho vô lượng trăm nghìn hữu tình ở trong mười đạo thiện; hoặc sinh vào dòng Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, nhà cư sĩ đại gia, nhiều của cải trân bảo, kho tàng đầy ắp, hình dáng đoan chính, quyến thuộc đầy đủ, thông minh trí tuệ, dũng mãnh uy nghi như bậc đại lực sĩ. Nếu là phụ nữ, nghe được danh hiệu Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chí tâm thụ trì, thì về sau không còn phải thụ thân nữ nữa". "Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi! Khi Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ấy chứng đắc Bồ-đề, do sức bản nguyện, Ngài quan sát thấy các hữu tình gặp phải các bệnh khổ như gầy yếu, co quắp, khô héo, sốt vàng; hoặc bị bùa chú, thuốc độc làm hại; hoặc bị đoản mệnh, hoặc bị chết oan; Ngài muốn khiến cho những bệnh khổ ấy tiêu trừ, sở nguyện được viên mãn. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn vào định Tam-ma-địa gọi là 'Diệt trừ hết thảy khổ não chúng sinh'. Sau khi vào định, từ nhục kế của Ngài phóng ra luồng ánh sáng lớn, trong ánh sáng ấy diễn thuyết bài đại Đà-la-ni rằng: 那謨薄伽筏帝,裨殺社窶嚕,薜琉璃缽剌婆喝囉闍也,怛陀揭多耶,阿羅訶帝,三藐三勃陀耶。怛姪阤:唵,鞞殺逝,鞞殺逝,鞞殺社,三沒揭帝娑訶 'Nam mô bạc già phạt đế, bệ sát xã, lũ rô, bệ lưu ly, bát lạt bà, hắt ra xà dã, đát tha yết đa gia, a ra ha đế, tam miệu tam bột đà gia. Đát điệt tha: Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế sa ha'. Khi ấy, trong ánh sáng thuyết chú này xong, đại địa chấn động, phóng quang minh lớn, bệnh khổ của hết thảy chúng sinh đều tiêu trừ, được hưởng an lạc. Mạn Thù Thất Lợi! Nếu thấy người nam hay người nữ nào có bệnh khổ, nên phải nhất tâm, vì người bệnh đó mà thường xuyên tắm gội súc miệng sạch sẽ, dùng thức ăn hoặc thuốc uống hay nước không có vi trùng, trì chú này một trăm linh tám biến, đưa cho họ dùng, thì mọi bệnh khổ thảy đều tiêu diệt. Nếu có mong cầu điều gì, chí tâm niệm tụng, thảy đều được như ý, không bệnh sống lâu; sau khi mệnh chung sinh về thế giới kia, được không thoái chuyển, cho đến khi thành Bồ-đề. Vì thế, Mạn Thù Thất Lợi! Nếu có người nam, người nữ nào đối với Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà chí tâm ân trọng, cung kính cúng dường, thì nên thường trì chú này, chớ để quên lãng. Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi! Nếu có người nam, người nữ nào có lòng tin thanh tịnh, được nghe tất cả danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chính Đẳng Giác, nghe xong tụng trì. Buổi sáng sớm đánh răng, tắm gội sạch sẽ, dùng các hương hoa, hương đốt, hương thoa, trỗi các kỹ nhạc để cúng dường hình tượng. Đối với kinh điển này, hoặc tự mình viết, hoặc bảo người viết, nhất tâm thụ trì, lắng nghe nghĩa lý. Đối với vị pháp sư, nên tu hành cúng dường: hết thảy mọi vật dụng nuôi thân thảy đều dâng tặng, chớ để thiếu thốn. Như thế liền được các đức Phật hộ niệm, sở nguyện viên mãn, cho đến khi thành Bồ-đề". Lúc bấy giờ, Mạn Thù Thất Lợi Đồng tử bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Con thệ nguyện vào thời kỳ Tượng pháp, dùng đủ mọi phương tiện khiến cho các thiện nam tử, thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch được nghe danh hiệu Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cho đến trong giấc ngủ cũng đem danh hiệu Phật nhắc nhở vào tai họ. Bạch Thế Tôn! Nếu có ai thụ trì đọc tụng kinh này, hoặc diễn thuyết khai thị cho người khác; hoặc tự mình viết, hoặc bảo người viết; cung kính tôn trọng, dùng các thứ hoa hương, hương thoa, hương bột, hương đốt, tràng hoa, anh lạc, phướn lọng, kỹ nhạc mà cúng dường; dùng túi vải năm màu đựng kinh; quét dọn nơi sạch sẽ, thiết lập tòa cao mà an vị kinh. Lúc đó, bốn vị Thiên vương cùng quyến thuộc và vô lượng trăm nghìn thiên chúng khác đều đến nơi ấy cúng dường thủ hộ. Bạch Thế Tôn! Nơi nào kinh báu này lưu hành, có người thụ trì, nhờ công đức bản nguyện của Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và việc nghe được danh hiệu Ngài, nên biết nơi đó không còn bị chết oan; cũng không bị các ác quỷ thần cướp đoạt tinh khí, giả sử đã bị đoạt thì cũng được hoàn lại như cũ, thân tâm an lạc". Phật bảo Mạn Thù Thất Lợi: "Đúng thế! Đúng thế! Như lời ông nói. Mạn Thù Thất Lợi! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào muốn cúng dường Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, trước hết nên tạo lập hình tượng Phật ấy, thiết lập tòa sạch sẽ mà an vị. Rải các thứ hoa, đốt các thứ hương, dùng các thứ phướn lọng trang nghiêm nơi đó. Trong bảy ngày bảy đêm, thụ trì tám phần trai giới, ăn thức ăn thanh tịnh, tắm gội sạch thơm, mặc y phục sạch, nên sinh tâm không cấu uế, không giận hờn độc hại, đối với hết thảy hữu tình khởi tâm lợi ích an lạc, từ bi hỷ xả bình đẳng, đánh trống ca múa khen ngợi, đi nhiễu bên phải tượng Phật. Lại nên nhớ tưởng công đức bản nguyện của Như Lai ấy, đọc tụng kinh này, suy tư nghĩa lý, diễn thuyết khai thị. Tùy theo mong cầu điều gì, thảy đều toại nguyện: cầu sống lâu được sống lâu, cầu giàu sang được giàu sang, cầu quan vị được quan vị, cầu con cái được con cái. Nếu lại có người bỗng nằm mộng xấu, thấy các ác tướng; hoặc chim lạ bay đến đậu; hoặc nơi ở hiện ra trăm thứ kỳ quái. Người này nếu dùng các vật dụng thượng diệu, cung kính cúng dường Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thì giấc mộng xấu, ác tướng và những điều không tốt lành thảy đều ẩn mất, không thể gây hại. Hoặc có sợ hãi về nước, lửa, đao trượng, thuốc độc, vách đá hiểm trở, voi dữ, sư tử, hổ lang, gấu, rắn độc, bọ cạp, rết, sâu bọ muỗi mòng...; nếu có thể chí tâm nhớ niệm Đức Phật ấy, cung kính cúng dường, thì mọi sợ hãi thảy đều được giải thoát. Nếu nước khác xâm lăng, giặc cướp loạn lạc, nhớ niệm cung kính Như Lai ấy thì cũng thảy đều được giải thoát. Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào cho đến trọn đời không thờ các thiên thần khác, chỉ một lòng quy y Phật, Pháp, Tăng, thụ trì cấm giới: như năm giới, mười giới, Bồ-tát bốn trăm giới, Bí-sô hai trăm năm mươi giới, Bí-sô-ni năm trăm giới. Trong những giới đã thụ nếu có hủy phạm, sợ đọa ác thú, mà có thể chuyên niệm danh hiệu Đức Phật ấy, cung kính cúng dường, thì nhất định không phải sinh vào ba đường ác. Hoặc có người nữ khi sắp sinh nở chịu cực hình đau đớn; nếu có thể chí tâm xưng danh lễ tán, cung kính cúng dường Như Lai ấy, thì mọi đau khổ thảy đều trừ diệt. Con sinh ra thân thể vẹn toàn, hình sắc đoan chính, ai thấy cũng vui mừng, căn tính thông minh, an ổn ít bệnh, không bị các loài phi nhân cướp đoạt tinh khí". Lúc bấy giờ, Thế Tôn bảo Ngài A Nan rằng: "Những công đức của Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà Ta đã ngợi khen, đó là cảnh giới hành trì rất thâm sâu của các đức Phật, khó có thể hiểu thấu, ông có tin không?" A Nan bạch rằng: "Bạch Đại Đức Thế Tôn! Đối với những kinh điển Như Lai thuyết giảng, con không sinh lòng nghi hoặc. Vì sao thế? Vì thân ngữ ý nghiệp của tất cả các Như Lai không gì là không thanh tịnh. Bạch Thế Tôn! Mặt trăng mặt trời này có thể để rơi rụng, núi chúa Diệu Cao có thể làm nghiêng động, nhưng lời chư Phật nói không bao giờ sai khác." "Bạch Thế Tôn! Có những chúng sinh căn tính tin tưởng không đầy đủ, nghe nói về cảnh giới hành trì thâm sâu của chư Phật thì suy nghĩ rằng: Làm sao chỉ niệm danh hiệu của một đức Phật là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà lại được hưởng nhiều công đức lợi ích to lớn đến thế? Do không tin nên sinh lòng phỉ báng. Những người ấy sẽ trong đêm dài u tối mà mất đi lợi lạc lớn, đọa vào các đường ác, xoay vần mãi không thôi!" Phật bảo A Nan: "Các hữu tình ấy nếu nghe danh hiệu Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chí tâm thụ trì, không sinh nghi hoặc, mà còn đọa vào ác thú thì điều đó không bao giờ có." "A Nan! Đây là những điều hành trì thâm sâu của chư Phật, khó lòng tin hiểu; nay ông có thể tiếp nhận, nên biết đều là nhờ uy lực của Như Lai. A Nan! Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác và các vị Bồ Tát chưa lên hàng Địa thượng đều không thể tin hiểu đúng như thật, trừ các vị Bồ Tát Nhất sinh sở hệ. A Nan! Thân người khó được; đối với Tam Bảo mà biết tin kính tôn trọng cũng khó được; nghe được danh hiệu Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai lại càng khó hơn thế." "A Nan! Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ấy có vô lượng hạnh Bồ Tát, vô lượng phương tiện khéo léo, vô lượng nguyện rộng lớn; nếu Ta thuyết giảng rộng ra trong một kiếp hoặc hơn một kiếp, thì kiếp số có thể hết nhanh, nhưng những hành nguyện và phương tiện khéo léo của Đức Phật ấy không bao giờ hết được!" Lúc bấy giờ, trong chúng hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Cứu Thoát, liền từ tòa đứng dậy, hở vai bên phải, quỳ gối phải sát đất, cúi mình hợp chưởng mà bạch Phật rằng: "Bạch Đại Đức Thế Tôn! Vào thời kỳ Tượng pháp, có những chúng sinh bị các thứ hoạn nạn khốn đốn, bệnh lâu gầy yếu, không thể ăn uống, môi cổ khô ran, nhìn đâu cũng thấy tối tăm, tướng chết hiện tiền, cha mẹ quyến thuộc và bạn bè quen biết vây quanh khóc lóc. Lúc đó, thân người ấy nằm tại chỗ, thấy sứ giả của Diễm Ma dẫn thần thức mình đến trước mặt Pháp Vương Diễm Ma. Các hữu tình đều có thần Câu Sinh, tùy theo những việc tội hay phúc người đó đã làm mà ghi chép đầy đủ, rồi dâng lên cho Pháp Vương Diễm Ma. Bấy giờ, vua ấy thẩm vấn người đó, tính toán những việc đã làm, tùy theo tội phúc mà định đoạt. Lúc đó, nếu quyến thuộc và người quen của bệnh nhân có thể vì người ấy mà quy y Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thỉnh chư tăng chuyển đọc kinh này, thắp đèn bảy tầng, treo phướn thần năm màu để nối mạng, thì có thể thần thức người ấy được trở về, thấy rõ tự thân mình như trong giấc mộng. Hoặc trải qua bảy ngày, hai mươi mốt ngày, ba mươi lăm ngày, hoặc bốn mươi chín ngày, khi thần thức trở về như vừa tỉnh mộng, đều tự nhớ biết các quả báo từ nghiệp thiện và bất thiện mà mình đã nhận lấy; do tự mình chứng kiến quả báo của nghiệp nên cho dù gặp nạn đến tính mạng cũng không dám tạo tác các nghiệp ác nữa. Vì thế, những thiện nam tử thiện nữ nhân có lòng tin trong sạch đều nên thụ trì danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, tùy theo sức mình mà cung kính cúng dường." Bấy giờ, A Nan hỏi Bồ Tát Cứu Thoát rằng: "Này thiện nam tử! Nên cung kính cúng dường Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ấy như thế nào? Phướn nối mạng và đèn phải làm ra sao?" Bồ Tát Cứu Thoát nói: "Bạch Đại Đức! Nếu có bệnh nhân muốn thoát khổ bệnh, nên vì người đó trong bảy ngày bảy đêm thụ trì tám phần trai giới. Nên dùng thức ăn uống và các vật dụng khác tùy sức mình có được để cúng dường chúng Bí sô. Ngày đêm sáu thời lễ bái cúng dường Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Đọc tụng kinh này bốn mươi chín biến, thắp bốn mươi chín ngọn đèn; tạo bảy pho tượng Như Lai ấy, trước mỗi pho tượng đặt bảy ngọn đèn, mỗi ngọn đèn lớn như bánh xe, trải qua bốn mươi chín ngày đêm ánh sáng không dứt. Làm phướn bằng lụa năm màu dài bốn mươi chín gang tay, nên phóng sinh các loại loài vật cho đến đủ số bốn mươi chín, thì có thể vượt qua được nạn nguy kịch, không bị các loài ác quỷ bắt giữ." "Lại nữa, A Nan! Nếu các vị Sát-đế-lợi, các vị vua đã làm lễ Quán đỉnh gặp lúc tai nạn khởi lên, như là: nạn dịch bệnh trong nhân dân, nạn nước khác xâm lấn, nạn phản loạn trong nước, nạn tinh tú biến lạ, nạn nhật thực nguyệt thực, nạn gió mưa trái mùa, nạn quá thời gian mà không mưa. Các vị Sát-đế-lợi và vua Quán đỉnh ấy lúc đó nên khởi lòng từ bi với tất cả hữu tình, ân xá cho kẻ bị giam cầm. Theo như pháp cúng dường đã nói trước đây mà cúng dường Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Nhờ căn lành này và sức bản nguyện của Như Lai ấy, khiến cho đất nước liền được an ổn, mưa thuận gió hòa, lúa gạo chín tốt, tất cả hữu tình không bệnh và vui vẻ. Trong nước không có các thần Dược xoa bạo ác làm não loạn hữu tình, mọi điềm ác thảy đều ẩn mất; mà các vị Sát-đế-lợi, vua Quán đỉnh ấy cũng được tăng thêm thọ mạng, sắc lực, không bệnh và tự tại." "A Nan! Nếu các bậc hoàng hậu, phi tần, thái tử, vương tử, đại thần, phụ tướng, cung nữ, trăm quan và thứ dân bị bệnh khổ dày vò cùng các ách nạn khác, cũng nên làm phướn thần năm màu, thắp đèn nối sáng, phóng sinh các loài vật, rải các thứ hoa, đốt các loại hương quý, thì bệnh sẽ được chữa lành, mọi ách nạn đều giải thoát." Lúc bấy giờ, Ngài A Nan hỏi Bồ Tát Cứu Thoát rằng: "Này thiện nam tử! Làm sao mạng sống đã tận mà có thể tăng thêm được?" Bồ Tát Cứu Thoát nói: "Bạch Đại Đức! Ngài há chẳng nghe Như Lai nói có chín loại hoành tử (chết oan) sao? Vì thế Ta khuyên nên làm phướn đèn nối mạng, tu các phúc đức; nhờ tu phúc nên hết tuổi thọ mà không phải trải qua khổ nạn." A Nan hỏi rằng: "Chín loại chết oan là thế nào?" Bồ Tát Cứu Thoát nói: "Một là, các hữu tình tuy mắc bệnh nhẹ nhưng không có thầy thuốc và người chăm sóc, hoặc gặp thầy thuốc lại cho sai thuốc, thực ra không đáng chết mà lại chết oan. Lại tin theo tà ma ngoại đạo, thầy yêu nghiệt thế gian nói xằng về họa phúc, sinh lòng sợ hãi, tâm ý không chính, bói toán tìm họa, giết hại các loài chúng sinh, cúng tế thần minh, gọi loài vọng lượng để cầu xin phúc báo, mong muốn kéo dài tuổi thọ mà rốt cuộc không thể được. Vì ngu si mê hoặc, tin theo tà kiến điên đảo nên dẫn đến chết oan, đọa vào địa ngục, không có ngày ra. Đó gọi là cái chết oan thứ nhất. Hai là, chết oan vì bị pháp luật triều đình xử tử. Ba là, đi săn bắn vui chơi, sa đà dâm dục uống rượu, phóng túng không chừng mực, bị loài phi nhân cướp mất tinh khí mà chết oan. Bốn là, chết oan do lửa thiêu. Năm là, chết oan do chết đuối. Sáu là, chết oan do bị các loài thú dữ ăn thịt. Bảy là, chết oan do ngã xuống vách núi. Tám là, chết oan do bị thuốc độc, bùa yểm, lời nguyền rủa và quỷ nhập tràng làm hại. Chín là, bị đói khát khốn đốn, không có ăn uống mà chết oan. Đó là Như Lai nói tóm lược về chín loại chết oan, ngoài ra còn vô lượng các loại chết oan khác khó mà nói hết được! Lại nữa, A Nan! Vua Diễm Ma kia cai quản sổ sách ghi chép tên tuổi thế gian, nếu các hữu tình phạm tội bất hiếu, năm tội nghịch, phá hoại nhục mạ Tam Bảo, làm hỏng đạo quân thần, hủy hoại tính giới, Pháp Vương Diễm Ma tùy theo tội nặng nhẹ mà xét hỏi xử phạt. Vì thế nay Ta khuyên các hữu tình thắp đèn làm phướn, phóng sinh tu phúc, để vượt qua khổ ách, không gặp các nạn tai." Lúc bấy giờ, trong chúng hội có mười hai vị Đại tướng Dược Xoa cùng ngồi tại đó, tên là: Cung Tì La Đại tướng, Phạt Chiết La Đại tướng, Mê Xí La Đại tướng, An Đệ La Đại tướng, Át Ni La Đại tướng, San Đề La Đại tướng, Nhân Đạt La Đại tướng, Ba Di La Đại tướng, Ma Hổ La Đại tướng, Chân Đạt La Đại tướng, Chiêu Đỗ La Đại tướng, Tì Yết Ma Đại tướng. Mười hai vị Đại tướng Dược Xoa này, mỗi vị đều có bảy nghìn Dược Xoa làm quyến thuộc. Tất cả đồng thanh bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Chúng con nay nhờ uy lực của Phật được nghe danh hiệu Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn nỗi sợ hãi về ác thú nữa. Chúng con cùng nhau nhất tâm, cho đến trọn đời quy y Phật, Pháp, Tăng, thề sẽ gánh vác tất cả hữu tình, làm những việc nghĩa lợi, ích lòng an lạc cho họ. Bất kể ở thôn xóm, thành thị, quốc gia nào hay trong rừng vắng, nếu có nơi nào lưu truyền kinh này, hoặc có người thụ trì danh hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cung kính cúng dường, thì chúng con và quyến thuộc sẽ bảo vệ người đó, khiến cho họ giải thoát mọi khổ nạn, các mong cầu đều được thỏa nguyện. Nếu có ai bị bệnh tật ách nạn muốn cầu thoát khỏi, cũng nên đọc tụng kinh này, dùng chỉ năm màu kết tên chúng con lại, sau khi được như nguyện rồi mới tháo kết ra." Bấy giờ, Thế Tôn khen các vị Đại tướng Dược Xoa rằng: "Hay thay! Hay thay! Các vị Đại tướng Dược Xoa! Các ông biết nhớ báo đáp ân đức của Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nên thường làm lợi ích an lạc cho tất cả hữu tình như thế." Lúc đó, Ngài A Nan bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Pháp môn này tên gọi là gì? Chúng con phải phụng trì như thế nào?" Phật bảo A Nan: "Pháp môn này tên là '''Thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức'''; cũng tên là '''Thuyết Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kết Nguyện Thần Chú'''; cũng tên là '''Bạt Trừ Nhất Thiết Nghiệp Chướng'''; ông nên thụ trì như thế!" Khi Đức Bạc Già Phạm nói lời ấy xong, các vị Bồ Tát Ma Ha Tát cùng các bậc Đại Thanh văn, quốc vương, đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ, Thiên, Long, Dược xoa, Kiền-thát-phà, A-tố-lạc, Yết-lộ-trà, Khẩn-na-lạc, Ma-hổ-lạc-già, người và các loài không phải người... tất cả đại chúng nghe lời Phật dạy đều hết sức vui mừng, tin nhận và phụng hành. {{Kinh điển Phật giáo}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] tm8jwdvwmyvb5h95mg1ote7o98qycfg Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh 114 71813 206413 204356 2026-10-19T10:29:50Z Mrfly911 2215 206413 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh | tác giả= Già Phạm Đạt Ma | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經 | năm= [[w:Đại Đường|Đại Đường]] | phần = | trước= | sau= | ghi chú= Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (chữ Hán: 千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經; phiên âm Sanskrit: Nīlakaṇṭha Dhāraṇī Sūtra), thường được gọi tắt là Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni hoặc Kinh Đại Bi, là một bản kinh quan trọng thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa, đặc biệt phổ biến trong các truyền thống Mật giáo và Tịnh độ tông tại Đông Á. Nội dung trọng tâm của bản kinh là giới thiệu về [[w:Chú Đại Bi|Chú Đại Bi]] – bài thần chú được xem là biểu tượng cho lòng từ bi vô hạn của Quán Thế Âm Bồ Tát nhằm cứu khổ ban vui cho chúng sinh. Bản kinh này được dịch từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán vào khoảng thế kỷ VII (thời nhà Đường) bởi thiền sư Già Phạm Đạt Ma (Bhagavad-dharma), một tăng sĩ người Tây Ấn Độ. Mặc dù có nhiều bản dịch khác nhau về các bài chú liên quan đến Quán Thế Âm, nhưng bản dịch của Già Phạm Đạt Ma là bản phổ biến nhất, được đưa vào Đại Tạng Kinh (Tập 20, Số hiệu 1060). }} <center>'''Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh'''</center> Tam tạng Già Phạm Đạt Ma người nước Tây Thiên Trúc vâng chiếu dịch Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở nơi đạo tràng trang nghiêm bằng báu vật, trong cung điện của Quan Thế Âm tại núi Bổ Đà Lạc Ca. Ngài ngồi trên tòa sư tử báu, tòa ấy thuần bằng vô lượng các thứ ngọc ma ni xen kẽ để trang trí, các phướn lọng bằng trăm thứ báu treo vây quanh. Lúc bấy giờ, Đức Như Lai ở trên tòa đó, vì muốn diễn nói thần chú tổng trì. Cùng với vô số Bồ Tát Ma Ha Tát, tên là: Bồ Tát Tổng Trì Vương, Bồ Tát Bảo Vương, Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát Dược Thượng, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, Bồ Tát Hoa Nghiêm, Bồ Tát Đại Trang Nghiêm, Bồ Tát Bảo Tạng, Bồ Tát Đức Tạng, Bồ Tát Kim Cang Tạng, Bồ Tát Hư Không Tạng, Bồ Tát Di Lặc, Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát như thế đều là bậc Pháp Vương Tử đã chịu phép quán đảnh. Lại cùng với vô lượng vô số chúng đại Thanh văn, đều tu hạnh A La Hán, ngài Ma Ha Ca Diếp ở ngôi thập địa làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng Phạm Ma La Thiên, ngài Thiện Tra Phạm Ma làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng các thiên tử cõi Dục, ngài Cù Bà Già Thiên Tử làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng bốn vị vua hộ đời, ngài Đề Đầu Lại Tra làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng Thiên, Long, Dạ xoa, Càn đạt bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và chẳng phải người, ngài Thiên Đức Đại Long Vương làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng các thiên nữ cõi Dục, Thiên nữ Đồng Mục làm bậc thượng thủ. Lại cùng với vô lượng thần hư không, thần sông biển, thần suối nguồn, thần ao lạch, thần thảo dược, thần cây rừng, thần nhà cửa, thần nước, thần lửa, thần đất, thần gió, thần thổ địa, thần núi, thần đá, các vị thần cung điện đều đến hội họp. Bấy giờ, Bồ Tát Quan Thế Âm ở trong đại hội ngầm phóng thần thông, ánh sáng chiếu soi mười phương cõi nước và thế giới tam thiên đại thiên này đều thành màu vàng. Cung điện nhà trời, cung điện rồng, cung điện các vị thần tôn quý đều rung động. Sông ngòi, biển lớn, núi Thiết Vi, núi Tu Di, núi đất, núi đen cũng đều rung động mạnh. Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, ngọc quý, lửa và các vì sao đều không hiện ra được. Khi ấy, Bồ Tát Tổng Trì Vương thấy tướng hiếm có này, lấy làm lạ vì chưa từng thấy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, dùng kệ hỏi Phật rằng tướng thần thông này là do ai phóng ra. Kệ hỏi rằng: <poem> Ai ở ngày nay thành Chánh Giác Khắp phóng ánh sáng lớn như vầy Mười phương cõi nước đều màu vàng Thế giới tam thiên cũng lại thế Ai ở ngày nay được tự tại Diễn phóng thần lực lớn hiếm có Cõi Phật vô biên đều rung động Cung điện rồng thần thảy chẳng yên Nay trong đại chúng đều nghi ngờ Chẳng lường nhân duyên là sức ai Là Phật, Bồ Tát, đại Thanh văn Hay Phạm, Ma, Thiên, các Đế Thích Cúi mong Thế Tôn đại từ bi Nói rõ nguyên do thần thông này </poem> Phật bảo Bồ Tát Tổng Trì Vương rằng: "Này thiện nam tử, các ông nên biết, nay trong hội này có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Quan Thế Âm Tự Tại. Từ vô lượng kiếp đến nay đã thành tựu lòng đại từ đại bi, khéo tu tập vô lượng môn đà la ni. Vì muốn cho các chúng sinh được an lạc, nên ngầm phóng sức đại thần thông như thế". Phật nói lời ấy xong, lúc đó Bồ Tát Quan Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục, hướng về Phật chắp tay, bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, con có thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni nay muốn diễn nói. Vì để các chúng sinh được an lạc, để trừ tất cả bệnh, để được sống lâu, để được giàu có, để diệt trừ tất cả ác nghiệp tội nặng, để lìa chướng nạn, để tăng trưởng tất cả công đức pháp lành, để thành tựu tất cả các căn lành, để xa lìa tất cả mọi sợ hãi, để mau chóng làm thỏa mãn tất cả những mong cầu. Cúi mong Thế Tôn từ bi thương xót nghe hứa". Phật bảo: "Này thiện nam tử, ông có lòng đại từ bi muốn nói thần chú để làm an lạc chúng sinh, nay chính là lúc, nên nói mau đi. Như Lai tùy hỷ, chư Phật cũng thế". Bồ Tát Quán Thế Âm lại bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, con nhớ vào vô lượng ức kiếp về trước, có đức Phật ra đời tên là Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như Lai. Đức Thế Tôn ấy vì thương tưởng đến con và vì tất cả chúng sinh, nên đã thuyết chú Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni này. Ngài dùng tay màu vàng xoa đỉnh đầu con và bảo rằng: 'Này thiện nam tử, ông nên thọ trì tâm chú này, khắp vì tất cả chúng sinh trong đời ác vị lai mà làm lợi lạc lớn'. Vào lúc đó, con mới ở bậc Sơ địa, vừa nghe chú này xong liền vượt lên Bát địa. Khi ấy lòng con vui mừng, bèn phát lời thề rằng: 'Nếu mai sau con có khả năng làm lợi ích, an lạc cho tất cả chúng sinh, thì xin cho thân con tức khắc sinh ra đầy đủ ngàn tay ngàn mắt'. Phát nguyện xong, tức thì trên thân con ngàn tay ngàn mắt thảy đều đầy đủ, đất đai mười phương rung động sáu cách, ngàn đức Phật mười phương đều phóng ánh sáng chiếu đến thân con và chiếu khắp vô biên thế giới mười phương. Từ đó về sau, con lại ở nơi vô lượng chỗ Phật, trong vô lượng hội chúng, được nghe lại và đích thân thọ trì Đà La Ni này, lại càng vui mừng, hớn hở vô cùng, liền vượt qua được sinh tử vi tế trong vô số ức kiếp. Từ đó đến nay, con thường trì tụng, chưa từng quên lãng. Nhờ trì chú này nên nơi sinh ra luôn ở trước Phật, hoa sen hóa sinh, không nhận thân trong bào thai." Nếu có tỳ kheo, tỳ kheo ni, thiện nam, tín nữ, đồng nam, đồng nữ nào muốn tụng trì, hãy khởi lòng từ bi đối với chúng sinh, trước tiên nên theo con mà phát nguyện như vầy: <poem> Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm biết tất cả pháp. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được mắt trí tuệ. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm độ tất cả chúng. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện khéo. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên thuyền Bát nhã. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được vượt biển khổ. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được đạo Giới Định. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên núi Niết bàn. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm về nhà vô vi. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân Pháp tính. Con nếu hướng về núi đao, núi đao tự gãy nát. Con nếu hướng về nước sôi, nước sôi tự khô cạn. Con nếu hướng về địa ngục, địa ngục tự tan biến. Con nếu hướng về ngã quỷ, ngã quỷ tự no đủ. Con nếu hướng về Tu la, tâm ác tự điều phục. Con nếu hướng về súc sinh, tự được trí tuệ lớn. </poem> Phát nguyện xong, chí tâm xưng niệm danh hiệu của con, cũng nên chuyên niệm bản sư của con là Đức Như Lai A Di Đà, sau đó liền tụng thần chú Đà La Ni này. Một đêm tụng đủ năm biến, sẽ tiêu diệt được tội nặng sinh tử trong trăm ngàn muôn ức kiếp nơi thân. Bồ Tát Quán Thế Âm lại bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, nếu hàng người và trời nào tụng trì chương cú Đại Bi, thì lúc lâm chung mười phương chư Phật đều đến dắt tay, muốn sinh về cõi Phật nào, đều tùy theo ý nguyện mà được vãng sinh." Lại bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, nếu chúng sinh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn đọa vào ba đường ác, con thề không thành chính giác. Người tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không được sinh về các cõi Phật, con thề không thành chính giác. Người tụng trì thần chú Đại Bi, nếu không đạt được vô lượng tam muội và biện tài, con thề không thành chính giác. Người tụng trì thần chú Đại Bi, trong đời hiện tại nếu mọi mong cầu không được toại nguyện, thì không được gọi là Đại Bi Tâm Đà La Ni. Chỉ trừ những kẻ làm việc bất thiện, kẻ lòng chẳng chí thành. Nếu người nữ nào chán ghét thân nữ muốn thành thân nam, tụng trì chương cú Đà La Ni Đại Bi, nếu không chuyển thân nữ thành thân nam, con thề không thành chính giác. Nếu nảy sinh chút lòng nghi ngờ thì chắc chắn không toại nguyện." "Nếu chúng sinh nào xâm tổn của thường trụ, thức ăn uống hay tài vật, dù nghìn đức Phật ra đời cũng không thông cho sám hối, dù có sám hối tội cũng không diệt mất. Nay tụng thần chú Đại Bi thì liền được tiêu diệt. Nếu xâm tổn, ăn dùng thức ăn và tài vật của thường trụ, phải đối trước mười phương thầy mà sám hối thì mới trừ diệt. Nay khi tụng Đà La Ni Đại Bi, mười phương thầy liền đến làm chứng minh, tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt. Tất cả các tội mười ác, năm nghịch, phỉ báng người, phỉ báng pháp, phá trai, phá giới, phá tháp, phá chùa, trộm đồ vật của tăng kỳ, làm ô uế hạnh thanh tịnh... tất cả ác nghiệp tội nặng như thế thảy đều diệt sạch. Chỉ trừ một việc: đối với chú mà sinh lòng nghi, thì cho đến tội nhỏ nghiệp nhẹ cũng chẳng được diệt, huống chi là tội nặng. Tuy tội nặng không diệt ngay lập tức, nhưng vẫn có thể làm nhân bồ đề về sau." Lại bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, nếu hàng người và trời tụng trì tâm '''chú Đại Bi''', sẽ được mười lăm loại thiện sinh, không chịu mười lăm loại ác tử. Những loại chết xấu (ác tử) đó là: <poem> Một là, không để cho bị đói khát khốn khổ mà chết. Hai là, không bị xiềng xích, đánh đập mà chết. Ba là, không vì oan gia đối đầu mà chết. Cuộc bốn là, không vì quân trận giết nhau mà chết. Năm là, không vì sói dữ, ác thú cắn hại mà chết. Sáu là, không bị rắn độc, bò cạp cắn mà chết. Bảy là, không bị nước cuốn, lửa cháy mà chết. Tám là, không bị thuốc độc mà chết. Chín là, không bị trùng độc hại chết. Mười là, không vì điên loạn mất trí mà chết. Mười một là, không vì rơi từ núi cao, cây lớn, vực thẳm mà chết. Mười hai là, không vì người ác trù ếm mà chết. Mười ba là, không vì tà thần ác quỷ làm hại mà chết. Mười bốn là, không vì bệnh ác hành hạ mà chết. Mười lăm là, không vì tự hại mình mà chết." </poem> Người trì tụng thần chú Đại Bi sẽ không bị mười lăm loại chết xấu như thế. Còn mười lăm loại sinh ra tốt lành (thiện sinh) đạt được là: <poem> Một là, nơi sinh ra thường gặp vua hiền. Hai là, thường sinh vào nước lành. Ba là, thường gặp thời thế tốt. Bốn là, thường gặp bạn lành. Năm là, thân căn thường được đầy đủ. Sáu là, đạo tâm thuần thục. Bảy là, không phạm cấm giới. Tám là, quyến thuộc có ân nghĩa và hòa thuận. Chín là, đồ dùng, tiền bạc, thức ăn thường được sung túc. Mười là, luôn được người khác cung kính, giúp đỡ. Mười một là, tiền bạc của báu không bị kẻ khác cướp đoạt. Mười hai là, những gì mong cầu đều được toại ý. Mười ba là, rồng, trời, thiện thần thường xuyên hộ vệ. Mười bốn là, nơi sinh ra được gặp Phật, nghe pháp. Mười lăm là, chính pháp đã nghe hiểu được nghĩa sâu xa. </poem> Nếu có người trì tụng Đà La Ni Đại Bi Tâm thì sẽ được mười lăm loại thiện sinh như thế. Tất cả trời người nên thường trì tụng, chớ sinh lòng lười biếng. Bồ Tát Quán Thế Âm nói lời ấy xong, ở trước đại hội chắp tay đứng thẳng, khởi lòng đại bi đối với chúng sinh, mặt tươi cười rạng rỡ, liền nói chương cú thần diệu '''Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đại Đà La Ni''' (廣大圓滿無礙大悲心大陀羅尼) rằng: {{ruby |南無喝囉怛那哆囉夜耶。南無阿唎耶。婆盧羯帝爍缽囉耶。菩提薩埵婆耶。摩訶薩埵婆耶。摩訶迦盧尼迦耶。唵。薩皤囉罰曳。數怛那怛寫。南無悉吉栗埵伊蒙阿唎耶。婆盧吉帝室佛囉楞馱婆。南無那囉謹墀。醯唎摩訶皤哆沙咩。薩婆阿他豆輸朋。阿逝孕。薩婆薩哆那摩婆伽。摩罰特豆。怛姪他。唵阿婆盧醯。盧迦帝。迦羅帝。夷醯唎。摩訶菩提薩埵。薩婆薩婆。摩囉摩囉。摩醯摩醯唎馱孕。俱盧俱盧羯蒙。度盧度盧罰闍耶帝。摩訶罰闍耶帝。陀囉陀囉。地唎尼。室佛囉耶。遮囉遮囉。麼麼罰摩囉。穆帝隸。伊醯移醯。室那室那。阿囉參佛囉舍利。罰沙罰參。佛囉舍耶。呼盧呼盧摩囉。呼盧呼盧醯利。娑囉娑囉。悉唎悉唎。蘇嚧蘇嚧。菩提夜菩提夜。菩馱夜菩馱夜。彌帝唎夜。那囉謹墀。地利瑟尼那。婆夜摩那。娑婆訶。悉陀夜。娑婆訶。摩訶悉陀夜。娑婆訶。悉陀喻藝。室皤囉夜。娑婆訶。那囉謹墀。娑婆訶。摩囉那囉。娑婆訶。悉囉僧阿穆佉耶。娑婆訶。娑婆摩訶阿悉陀夜。娑婆訶。者吉囉阿悉陀夜。娑婆訶。波陀摩羯悉哆夜。娑婆訶。那囉謹墀皤伽囉耶。娑婆訶。摩婆利勝羯囉夜。娑婆訶。南無喝囉怛那哆囉夜耶。南無阿利耶。婆羅吉帝。爍皤囉夜。娑婆訶。唵悉殿都。漫多囉。跋陀耶。娑婆訶。 |Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa na ma bà già. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án a bà lô hê. Lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Cu lô cu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Di hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dụ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ. Ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha. Án tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha. }} Bồ Tát Quán Thế Âm nói thần chú này xong, đất đai sáu cách rúng động, trời tuôn hoa báu rơi xuống bời bời. Mười phương chư Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo khiếp sợ dựng tóc gáy. Tất cả hội chúng đều chứng được quả vị: hoặc đắc quả Tu-đà-hoàn, hoặc đắc quả Tư-đà-hàm, hoặc đắc quả A-na-hàm, hoặc đắc quả A-la-hán; hoặc đắc sơ địa, nhị địa, tam địa, tứ địa, ngũ địa cho đến thập địa; vô lượng chúng sinh phát tâm Bồ-đề. Lúc bấy giờ, Đại Phạm Thiên Vương từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục, chắp tay cung kính bạch Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: "Hay thay Đại Sĩ! Con từ trước đến nay đã trải qua vô lượng hội Phật, nghe đủ thứ pháp, đủ thứ Đà-la-ni, nhưng chưa từng được nghe nói chương cú thần diệu Đại Bi Tâm Đà-la-ni vô ngại như thế này. Cúi xin Đại Sĩ vì con mà nói về hình dáng, trạng thái của Đà-la-ni này, con và đại chúng rất mong muốn được nghe." Bồ Tát Quán Thế Âm bảo Phạm Vương rằng: "Ông vì phương tiện lợi ích tất cả chúng sinh nên mới hỏi như thế. Ông nay hãy nghe cho kỹ, ta sẽ vì các ông mà nói lược qua đôi chút." Bồ Tát Quán Thế Âm nói: <poem> "Tâm đại từ bi là nó. Tâm bình đẳng là nó. Tâm không vi (vô vi) là nó. Tâm không nhiễm trước là nó. Tâm quán không là nó. Tâm cung kính là nó. Tâm khiêm hạ là nó. Tâm không tạp loạn là nó. Tâm không kiến thủ (chẳng chấp giữ) là nó. Tâm Bồ-đề vô thượng là nó. </poem> Nên biết những tâm như thế chính là hình dáng của Đà-la-ni, ông nên nương theo đó mà tu hành." Đại Phạm Vương nói: "Con và đại chúng nay mới biết được hình dáng của Đà-la-ni này, từ nay xin thọ trì chẳng dám quên sót." Quán Thế Âm nói: "Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nào trì tụng thần chú này, hãy phát tâm Bồ-đề rộng lớn, thề độ tất cả chúng sinh, thân giữ trai giới, khởi tâm bình đẳng với muôn loài, thường tụng chú này chớ để gián đoạn. Ở nơi phòng sạch, tắm gội thanh khiết, mặc y phục sạch, treo phướn, thắp đèn, dùng hương hoa và thức ăn trăm vị để cúng dường. Buộc tâm vào một chỗ, đừng để duyên theo việc khác, đúng pháp mà trì tụng." Lúc ấy, sẽ có Bồ Tát Nhật Quang, Bồ Tát Nguyệt Quang cùng vô lượng thần tiên đến làm chứng để tăng thêm hiệu nghiệm. Khi đó, ta sẽ dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay nâng đỡ. Từ đó về sau, tất cả kinh sách thế gian đều có thể thọ trì; hết thảy pháp thuật ngoại đạo, kinh điển Vệ-đà đều có thể thông suốt. Người trì tụng thần chú này, tám vạn bốn ngàn thứ bệnh trên thế gian thảy đều chữa trị, không gì không khỏi. Cũng có thể sai khiến tất cả quỷ thần, hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại đạo. Nếu ở nơi núi rừng hoang dã tụng kinh ngồi thiền, có các thứ tinh mị, vọng lượng, quỷ thần đến quấy nhiễu khiến tâm chẳng yên, chỉ cần tụng chú này một biến, các quỷ thần ấy thảy đều bị trói buộc. Nếu có thể đúng pháp trì tụng, đối với chúng sinh khởi lòng từ bi, ta khi ấy sẽ sắc lệnh cho tất cả thiện thần, long vương, kim cang mật tích thường theo bảo vệ, không rời bên cạnh, như bảo vệ con mắt, như bảo vệ mạng sống của chính mình. Liền nói kệ sắc lệnh rằng: <poem> Ta sai Mật Tích Kim Cang Sĩ Ô Sô, Quân Đồ, Ương Câu Thi Tám bộ lực sĩ Thưởng Ca La Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Ma Hê, Na La Diên Kim Cang La Đà, Ca Tỳ La Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Bà Táp, Sa Lâu La Mãn Thiện, Xa Bát, Chân Đà La Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Tạt Già, Ma Hòa La Câu Lan Đan Tra, Bán Kỳ La Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Tất Bà Già La Vương Ứng Đức, Tỳ Đa, Tát Hòa La Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Phạm Ma, Tam Bát La Năm bộ Tịnh Cư, Viêm Ma La Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Thích Vương ba mươi ba Đại Biện, Công Đức, Bà Đát Na Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Đề Đầu Lại Tra Vương Thần Mẫu, Thiên Nữ, chúng thần lực Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Tỳ Lâu Lặc Xoa Vương Tỳ Lâu Bác Xoa, Tỳ Sa Môn Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Kim Sắc Khổng Tước Vương Hai mươi tám bộ đại tiên chúng Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Ma Ni Bạt Đà La Tán Chi đại tướng, Phất La Bà Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Nan Đà, Bạt Nan Đà Bà Già La Rồng, Y Bát La Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Tu La, Càn Thát Bà Ca Lâu, Khẩn Na, Ma Hầu La Thường nên ủng hộ người trì chú. Ta sai Thủy, Hỏa, Lôi, Điện thần Câu Bàn Trà Vương, Tỳ Xá Già Thường nên ủng hộ người trì chú. </poem> Các vị thiện thần cùng long vương, thần mẫu, thiên nữ ấy, mỗi vị đều có năm trăm quyến thuộc và các dạ xoa có sức mạnh lớn thường đi theo ủng hộ. Nếu người trì tụng thần chú Đại Bi ngủ trọ một mình nơi núi trống đồng hoang, các thiện thần ấy sẽ thay phiên nhau canh gác, trừ đuổi tai chướng. Nếu ở núi sâu bị lạc đường, nhờ tụng chú này mà các thiện thần, long vương sẽ hóa làm người lành chỉ cho đường đúng. Nếu ở rừng núi đồng hoang mà thiếu hụt nước lửa, nhờ long vương hộ trì mà hóa ra nước lửa. Bồ Tát Quán Thế Âm lại vì người trì tụng mà nói kệ thanh lương tiêu trừ tai họa: <poem> Nếu đi trong đồng hoang núi đầm, gặp phải hổ lang các thú dữ, rắn độc, tinh mị, quỷ vọng lượng, nghe tụng chú này chẳng thể hại. Nếu đi trên sông hồ biển cả, rồng độc, rồng giao, cá Ma-kiệt, Dạ-xoa, La-sát, cá rùa ba ba, nghe tụng chú này tự ẩn trốn. Nếu gặp quân trận giặc bao vây, hoặc bị người ác đoạt của báu, chí thành xưng tụng chú Đại Bi, họ liền khởi lòng từ trả lại. Nếu bị quan vương bắt giam thân, tù ngục tối tăm xiềng xích trói, chí thành xưng tụng chú Đại Bi, quan tự mở ơn cho về nhà. Nếu vào nhà bùa độc đường hoang, đồ ăn thức uống có thuốc hại, chí thành xưng tụng chú Đại Bi, thuốc độc biến thành nước cam lộ. Người nữ đến lúc khó sinh đẻ, ma quái ngăn trở khổ khó cam, chí thành xưng tụng chú Đại Bi, quỷ thần lui tán sinh an lạc. Rồng độc quỷ dịch tỏa khí độc, bệnh nhiệt xâm chiếm mệnh sắp chung, chí tâm xưng tụng chú Đại Bi, dịch bệnh tiêu trừ sống lâu dài. Rồng quỷ gieo rắc các độc sưng, nhọt lở mủ máu đau khó nhịn, chí tâm xưng tụng chú Đại Bi, nhổ nước bọt ba lần độc liền tan. Chúng sinh đời đục khởi bất thiện, trù ếm nguyền rủa kết oan thù, chí tâm xưng tụng chú Đại Bi, lời nguyền trở lại nơi người đó. Đời ác loạn lạc lúc pháp diệt, lửa dục bừng cháy tâm mê đảo, bỏ vợ lìa chồng ham bên ngoài, ngày đêm tà tư không tạm dừng, nếu năng xưng tụng chú Đại Bi, lửa dục tiêu diệt tâm tà tan. Nếu ta khen ngợi công lực chú, một kiếp ngợi ca chẳng thể cùng. </poem> Lúc bấy giờ, Bồ Tát Quán Thế Âm bảo Phạm Thiên rằng: "Tụng chú này năm biến. Lấy chỉ ngũ sắc làm dây, chú vào hai mươi mốt biến, thắt thành hai mươi mốt nút rồi đeo vào cổ. Đà-la-ni này là do chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật đời quá khứ đã nói. Các đức Phật ấy vì những người tu hành sáu độ chưa viên mãn khiến cho mau chóng viên mãn; người chưa phát tâm Bồ-đề khiến mau phát tâm; người Thanh văn chưa chứng quả khiến mau chứng quả; những thần tiên trong cõi tam thiên đại thiên chưa phát tâm Bồ-đề vô thượng khiến mau phát tâm. Nếu chúng sinh nào chưa có căn lành tin tưởng đại thừa, nhờ uy lực thần thông của Đà-la-ni này mà mầm pháp hạt giống đại thừa được tăng trưởng. Nhờ sức từ bi phương tiện của ta mà mọi nhu cầu của họ đều được thành tựu. Trong cõi tam thiên đại thiên, những nơi tối tăm u ám, chúng sinh trong ba đường ác nghe chú của ta đều được lìa khổ. Các vị Bồ Tát chưa lên Sơ trụ khiến mau đạt được, cho đến đạt mười trụ địa, lại khiến đạt đến địa vị Phật, tự nhiên thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp tùy hình. Nếu người Thanh văn nghe Đà-la-ni này một lần qua tai, hoặc tu hành viết chép Đà-la-ni này, lấy tâm ngay thẳng mà ở đúng theo pháp, thì bốn quả sa môn chẳng cầu tự được. Nếu trong cõi tam thiên đại thiên, sông ngòi đá vách hay nước bốn biển lớn, chú này có thể làm cho sôi trào; núi Tu Di và núi Thiết Vi có thể làm cho rung động, lại khiến tan vụn như hạt bụi, chúng sinh trong đó thảy đều phát tâm Bồ-đề vô thượng. Nếu chúng sinh nào đời nay có mong cầu, trong ba tuần (hai mươi mốt ngày) giữ trai giới thanh tịnh, tụng Đà-la-ni này tất sẽ toại nguyện. Từ bến bờ sinh tử này đến bến bờ sinh tử kia, mọi ác nghiệp thảy đều diệt sạch. Trong cõi tam thiên đại thiên, hết thảy chư Phật, Bồ Tát, Phạm Vương, Đế Thích, bốn vị Thiên Vương, thần tiên, long vương thảy đều chứng biết. Nếu hàng người và trời tụng trì Đà-la-ni này, người đó nếu tắm gội trong sông ngòi biển cả, chúng sinh trong đó được nước từ thân người này chạm vào mình, thì hết thảy ác nghiệp tội nặng thảy đều tiêu diệt, liền được chuyển sinh sang tịnh độ phương khác, hoa sen hóa sinh, chẳng nhận thân thai, thấp hay trứng; huống chi là người đích thân thọ trì đọc tụng. Nếu người trì tụng đi trên đường, có luồng gió lớn thổi qua thân mình, tóc tai, quần áo của người đó, luồng gió ấy thổi tiếp đến các loài chúng sinh khác, thì những chúng sinh chạm phải luồng gió ấy hết thảy tội nặng ác nghiệp thảy đều diệt sạch, chẳng còn chịu báo ứng ba đường ác, thường sinh trước mặt Phật. Nên biết phước đức quả báo của người thọ trì là không thể nghĩ bàn. Người trì tụng Đà-la-ni này, lời tiếng thốt ra từ miệng dù lành hay ác, hết thảy thiên ma ngoại đạo, thiên long quỷ thần nghe thấy đều là pháp âm thanh tịnh, đều đối với người đó mà khởi lòng cung kính, tôn trọng như Phật." Người trì tụng Đà-la-ni này, nên biết người đó chính là thân tạng của Phật, vì được chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật yêu thương che chở. Nên biết người đó chính là thân quang minh, vì được ánh sáng của tất cả Như Lai chiếu soi. Nên biết người đó là tạng từ bi, vì thường dùng Đà-la-ni để cứu độ chúng sinh. Nên biết người đó là tạng diệu pháp, vì thu nhiếp tất cả các môn Đà-la-ni. Nên biết người đó là tạng thiền định, vì trăm ngàn tam muội thường hiện tiền. Nên biết người đó là tạng hư không, vì thường dùng trí tuệ không mà quán xét chúng sinh. Nên biết người đó là tạng vô úy, vì rồng trời thiện thần thường hộ trì. Nên biết người đó là tạng diệu ngữ, vì tiếng Đà-la-ni nơi miệng không hề dứt đoạn. Nên biết người đó là tạng thường trụ, vì ba tai nạn và kiếp ác không thể làm hại. Nên biết người đó là tạng giải thoát, vì thiên ma ngoại đạo không thể cầm giữ. Nên biết người đó là tạng dược vương, vì thường dùng Đà-la-ni chữa bệnh cho chúng sinh. Nên biết người đó là tạng thần thông, vì dạo chơi các cõi Phật được tự tại. Công đức của người ấy khen ngợi không thể hết. Này thiện nam tử, nếu có người chán khổ thế gian, cầu vui sống lâu, thì ở nơi vắng vẻ sạch sẽ, kết giới thanh tịnh. Chú vào áo để mặc; hoặc nước, hoặc đồ ăn, hoặc hương, hoặc thuốc, đều chú một trăm lẻ tám biến, dùng vào chắc chắn được sống lâu. Nếu có thể đúng pháp kết giới, y pháp thọ trì, thì mọi việc đều thành tựu. Cách kết giới là: lấy con dao chú hai mươi mốt biến, vạch đất làm giới hạn; hoặc lấy nước sạch chú hai mươi mốt biến, rảy ra bốn phương làm giới hạn; hoặc lấy hạt cải trắng chú hai mươi mốt biến, ném ra bốn phương làm giới hạn; hoặc dùng phép quán tưởng đến đâu làm giới hạn đến đó; hoặc lấy tro sạch chú hai mươi mốt biến làm giới hạn; hoặc chú vào chỉ ngũ sắc hai mươi mốt biến, vây quanh bốn phía làm giới hạn; thảy đều được cả. Nếu có thể đúng pháp thọ trì, tự nhiên đạt được kết quả. Nếu người nào nghe được tên gọi của Đà-la-ni này còn diệt được vô lượng kiếp tội nặng sinh tử, huống chi là người trì tụng. Nếu người nào được trì tụng thần chú này, nên biết người đó đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, gieo trồng căn lành rộng lớn. Nếu có thể vì chúng sinh mà nhổ sạch khổ nạn, đúng pháp trì tụng, nên biết người đó chính là bậc đầy đủ tâm đại bi, thành Phật không xa. Hễ thấy chúng sinh nào, đều vì họ mà tụng, khiến tai họ nghe được để làm nhân Bồ-đề. Công đức của người này vô lượng vô biên, khen ngợi không thể hết. Nếu có thể tinh thành dùng tâm, thân giữ trai giới, vì tất cả chúng sinh mà sám hối tội lỗi nghiệp trước, cũng tự sám tạ các thứ ác nghiệp từ vô lượng kiếp đến nay, miệng tụng Đà-la-ni này tiếng liên tiếp không dứt, thì bốn quả sa môn đời này chứng được ngay. Người căn tính lanh lợi có trí tuệ quán xét phương tiện, thì quả vị thập địa đạt được không khó, huống chi là những phước báo nhỏ nhặt ở thế gian, mọi mong cầu không gì không toại nguyện. Nếu muốn sai khiến quỷ, hãy lấy đầu lâu nơi hoang dã rửa sạch, trước tượng Thiên Thủ lập đàn tràng, dùng các thứ hương hoa đồ ăn mà cúng tế, mỗi ngày như thế trong bảy ngày, quỷ ắt sẽ hiện thân thuận theo sai bảo. Nếu muốn sai khiến bốn vị Thiên Vương, hãy chú vào gỗ đàn hương mà đốt lên. Đó là nhờ sức thệ nguyện đại bi sâu nặng của vị Bồ Tát này, cũng nhờ uy thần của Đà-la-ni này rộng lớn vậy. Phật bảo A-nan: "Nếu có quốc độ khi tai nạn nổi lên, vị quốc vương đó nếu dùng chính pháp trị nước, khoan hồng với nhân dân, không làm oan ức chúng sinh, xá miễn cho những kẻ có lỗi; trong bảy ngày bảy đêm thân tâm tinh tấn, tụng trì thần chú Đà La Ni Đại Bi Tâm này, thì tất cả tai nạn trong quốc độ ấy thảy đều tiêu diệt, ngũ cốc tươi tốt, muôn dân an lạc. Lại nữa, nếu bị quân thù nước khác nhiều lần đến xâm lấn quấy nhiễu làm trăm họ chẳng yên, đại thần mưu phản, dịch bệnh hoành hành, hạn hán lụt lội không điều hòa, nhật nguyệt mất đi độ số; khi các thứ tai nạn như thế nổi lên, nên tạo tượng Đại Bi Ngàn Mắt hướng về phương Tây, dùng các thứ hương hoa, phướn lọng, hoặc thức ăn trăm vị chí tâm cúng dường. Vị vua kia lại có thể trong bảy ngày bảy đêm thân tâm tinh tấn, tụng trì chương cú thần diệu Đà La Ni này, thì quân thù nước ngoài sẽ tự hàng phục, mỗi bên tự về lo việc cai trị, không còn quấy nhiễu lẫn nhau. Trong nước thông suốt, lòng từ hướng về nhau, vương tử và bá quan đều hành xử trung chính, phi hậu và cung nữ hiếu kính với vua. Các rồng, quỷ thần ủng hộ đất nước ấy, mưa thuận gió hòa, hoa quả phong nhiêu, nhân dân vui vẻ. Lại nữa, nếu trong nhà gặp bệnh dữ, trăm thứ quái dị cùng nổi lên, quỷ thần ma quái làm hao tán loạn lạc gia đình, người ác ngang ngược gây chuyện thị phi để mưu hại, người trong nhà lớn nhỏ trong ngoài không hòa thuận; nên hướng về trước tượng Đại Bi Ngàn Mắt lập ra đàn tràng, chí tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, tụng Đà La Ni này đủ một ngàn biến, thì những việc ác như trên thảy đều tiêu diệt, mãi được yên ổn." Ngài A-nan bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, chú này tên gọi là gì và thọ trì như thế nào?" Phật bảo A-nan: "Thần chú này có các thứ tên: <poem> Một là Quảng Đại Viên Mãn. Một là Vô Ngại Đại Bi. Một là Đà La Ni Cứu Khổ. Một là Đà La Ni Diên Thọ. Một là Đà La Ni Diệt Ác Thú. Một là Đà La Ni Phá Ác Nghiệp Chướng. Một là Đà La Ni Mãn Nguyện. Một là Đà La Ni Tùy Tâm Tự Tại. Một là Đà La Ni Mau Vượt Lên Các Địa Vị Cao. </poem> Ông nên thọ trì như thế." Ngài A-nan bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn, vị Bồ Tát Ma Ha Tát này tên là gì mà khéo tuyên thuyết Đà La Ni như thế?" Phật nói: "Vị Bồ Tát này tên là Quán Thế Âm Tự Tại, cũng tên là Niêm Sách, cũng tên là Thiên Quang Nhãn. Này thiện nam tử, vị Quán Thế Âm Bồ Tát này có uy thần lực không thể nghĩ bàn, trong vô lượng kiếp quá khứ Ngài đã thành Phật rồi, hiệu là Chính Pháp Minh Như Lai. Vì sức thệ nguyện đại bi, vì muốn phát khởi cho tất cả Bồ Tát và làm cho chúng sinh được an lạc, thành thục, nên hiện thân làm Bồ Tát. Các ông trong đại chúng, chư Bồ Tát Ma Ha Tát, Phạm Thiên, Đế Thích, Rồng, Thần đều nên cung kính, chớ sinh lòng khinh mạn. Tất cả trời người nên thường cúng dường, chuyên xưng danh hiệu, sẽ được vô lượng phước, diệt vô lượng tội, lúc mạng chung được vãng sinh về nước Phật A Di Đà." Phật bảo A-nan: "Thần chú mà Bồ Tát Quán Thế Âm đã nói đây là chân thật không hư dối. Nếu muốn thỉnh vị Bồ Tát này đến, hãy chú vào hương Chuyết-cụ-la (tức hương An-tức) hai mươi mốt biến rồi đốt lên, Bồ Tát liền đến. Nếu có người bị ma mèo nhập, lấy xương đầu mèo chết đốt thành tro, hòa với đất sạch nặn thành hình con mèo. Ở trước tượng Ngàn Mắt, chú vào con dao bằng sắt tinh một trăm lẻ tám biến, chặt hình mèo ấy thành một trăm lẻ tám đoạn, mỗi lần chặt một biến chú và xưng tên kẻ đó, ma sẽ khỏi hẳn không nhập nữa. Nếu bị trùng độc hại, lấy Long não hương hòa với hương Chuyết-cụ-la lượng bằng nhau, dùng một thăng nước giếng mới múc sắc còn một thăng, ở trước tượng Ngàn Mắt chú một trăm lẻ tám biến, uống vào liền khỏi. Nếu bị rắn độc, bọ cạp cắn, lấy bột gừng khô chú bảy biến, đắp vào vết thương sẽ khỏi ngay. Nếu bị kẻ thù oán mưu hại, lấy đất sạch hoặc bột, hoặc sáp nặn thành hình kẻ đó. Ở trước tượng Ngàn Mắt, chú vào dao sắt tinh một trăm lẻ tám biến, mỗi lần chú một lần cắt và xưng tên kẻ đó, đốt hết một trăm lẻ tám đoạn, kẻ đó liền sinh lòng vui vẻ, suốt đời hậu trọng yêu kính nhau. Nếu người bị hỏng mắt, mắt mù, mắt tối, hoặc có màng trắng gân đỏ không ánh sáng; lấy quả Kha-lê-lặc, quả Am-ma-lặc và quả Bỳ-hê-lặc mỗi thứ một quả, giã nát nghiền nhỏ. Khi nghiền phải giữ sạch sẽ, chớ để sản phụ hay chó lợn nhìn thấy, miệng niệm Phật, dùng mật trắng hoặc sữa người hòa để đắp vào mắt (sữa người phải là sữa của mẹ sinh con trai, sữa mẹ sinh con gái không dùng được). Thuốc hòa xong phải ở trước tượng Ngàn Mắt chú một ngàn lẻ tám biến, đắp vào mắt đủ bảy ngày, ở trong phòng kín tránh gió, mắt sẽ sáng lại, người mù hay có màng trắng sẽ thấy ánh sáng rực rỡ. Nếu bị bệnh sốt rét, lấy da hổ, báo, sói chú hai mươi mốt biến, đắp lên thân liền khỏi; da sư tử là tốt nhất. Nếu bị rắn cắn, lấy vật thắt nút của người bị cắn chú hai mươi mốt biến, đặt vào vết thương liền khỏi. Nếu bệnh sốt rét ác tính nhập tâm mê man sắp chết, lấy một cục nhựa đào to bằng quả đào, hòa với một thăng nước sạch sắc còn nửa thăng, chú bảy biến rồi uống hết một lần liền khỏi (thuốc này chớ để đàn bà sắc). Nếu bị bệnh truyền nhiễm do khí quỷ, lấy hương Chuyết-cụ-la chú hai mươi mốt biến, đốt xông vào lỗ mũi; lại lấy bảy viên thuốc to bằng phân thỏ chú hai mươi mốt biến rồi nuốt liền khỏi; phải kiêng rượu thịt, ngũ vị tân và chửi mắng. Nếu lấy Hùng hoàng hòa với hạt cải trắng và muối hạt, chú hai mươi mốt biến, đốt dưới giường người bệnh, quỷ ma làm bệnh sẽ chạy trốn không dám ở lại. Nếu bị điếc tai, chú vào dầu mè nhỏ vào tai liền khỏi. Nếu bị trúng phong một bên, tai mũi nghẹt, tay chân không cử động được, lấy dầu mè sắc với Thanh mộc hương, chú hai mươi mốt biến, xoa lên thân sẽ khỏi hẳn; phương pháp khác là dùng mỡ bò nguyên chất chú hai mươi mốt biến để xoa cũng khỏi. Nếu bị khó đẻ, lấy dầu mè chú hai mươi mốt biến, xoa vào rốn và cửa mình sản phụ thì dễ đẻ. Nếu đàn bà có thai mà con chết trong bụng, lấy một lạng cỏ Ngưu-tất, dùng hai thăng nước sạch sắc còn một thăng, chú hai mươi mốt biến, uống vào thai sẽ ra mà không đau đớn; rau thai không ra uống thuốc này cũng khỏi. Nếu đột nhiên đau tim không chịu nổi (gọi là bệnh Độn thi chú), lấy một viên hương Huân-lục tròn trịa, chú hai mươi mốt biến, nhai nuốt không kể nhiều ít, khiến nôn ra được là khỏi; kiêng ngũ vị tân và rượu thịt. Nếu bị bỏng lửa, lấy phân bò đen còn nóng chú hai mươi mốt biến, bôi lên vết bỏng liền khỏi. Nếu bị giun sán cắn đau tim, lấy nửa thăng nước tiểu ngựa trắng chú hai mươi mốt biến, uống vào liền khỏi; bệnh nặng dùng một thăng, giun sẽ ra như búi dây. Nếu bị mụn nhọt độc, lấy lá Lăng-tỏa giã lấy nước, chú hai mươi mốt biến, nhỏ lên mụn thì gốc nhọt sẽ tự ra và khỏi ngay. Nếu bị ruồi độc cắn vào mắt, lấy nước phân lừa mới lọc kỹ, chú hai mươi mốt biến, tối ngủ nhỏ vào mắt liền khỏi. Nếu đau bụng, dùng nước giếng mới múc hòa với bảy hạt muối, chú hai mươi mốt biến, uống nửa thăng liền khỏi. Nếu đau mắt đỏ, hoặc mắt có thịt dư, có màng, lấy lá Câu-kỷ giã lọc lấy nước, chú hai mươi mốt biến, ngâm đồng tiền xanh vào đó một đêm, lại chú bảy biến, nhỏ vào mắt liền khỏi. Nếu sợ hãi ban đêm, bất an khi đi đứng, lấy chỉ trắng làm dây, chú hai mươi mốt biến, thắt hai mươi mốt nút đeo vào cổ, nỗi sợ sẽ hết; chẳng những hết sợ mà còn diệt được tội. Nếu trong nhà xảy ra tai nạn bất ngờ, lấy cành lựu chặt thành một ngàn lẻ tám đoạn ngắn một thốn, hai đầu bôi mỡ, sữa, mật, mỗi đoạn một biến chú rồi đốt hết, mọi tai nạn thảy đều tiêu diệt; việc này phải làm trước tượng Phật. Nếu lấy cây Bương trắng chú hai mươi mốt biến, buộc vào cánh tay phải, đi đến chỗ tranh đấu hay luận bàn đều thắng người. Nếu lấy cành lá Câu-kỷ chặt đoạn ngắn, hai đầu bôi mỡ bò nguyên chất và mật trắng, mỗi đoạn một biến chú rồi đốt hết một ngàn lẻ tám đoạn; mỗi ngày làm ba thời, mỗi thời một ngàn lẻ tám biến, đủ bảy ngày thì người trì chú sẽ tự thấu suốt trí tuệ. Nếu muốn hàng phục quỷ thần có sức mạnh lớn, lấy củi cây Mộc-hoạn-tử chú bốn mươi chín biến rồi đốt trong lửa, cũng cần bôi mỡ, sữa, mật; việc này phải làm trước tượng Đại Bi. Nếu lấy một lạng Ngưu hoàng cho vào lọ lưu ly, đặt trước tượng Đại Bi chú một trăm lẻ tám biến, bôi lên thân và điểm lên trán thì tất cả thiên long, quỷ thần, người và phi nhân thảy đều vui mừng. Nếu thân bị xiềng xích, lấy phân bồ câu trắng chú một trăm lẻ tám biến, bôi lên tay rồi xoa vào xiềng xích, xiềng xích sẽ tự tháo rời. Nếu vợ chồng không hòa thuận, đối nhau như nước với lửa, lấy lông đuôi chim Uyên ương, ở trước tượng Đại Bi chú một ngàn lẻ tám biến, mang theo bên mình thì suốt đời vui vẻ yêu kính nhau. Nếu đồng ruộng hay cây trái bị sâu bọ cắn phá, lấy tro sạch, cát sạch hoặc nước sạch chú hai mươi mốt biến, rải bốn phía đồng ruộng thì sâu bọ sẽ lui tán; đối với cây trái thì dùng nước chú để phun lên cây, sâu bọ không dám ăn trái nữa." Phật bảo A-nan: <poem> "Nếu muốn giàu sang, có đủ các thứ trân bảo đồ dùng, nên cầu nơi Tay cầm ngọc Như Ý. Nếu vì các thứ không yên, muốn cầu ổn định, nên cầu nơi Tay cầm dây Nhánh. Nếu vì các bệnh trong bụng, nên cầu nơi Tay cầm bát Báu. Nếu muốn hàng phục tất cả loài ma quỷ vọng lượng, nên cầu nơi Tay cầm kiếm Báu. Nếu muốn hàng phục tất cả thiên ma thần, nên cầu nơi Tay cầm bạt-chiết-la (Kim Cang Tạc). Nếu muốn tiêu diệt tất cả quân thù địch, nên cầu nơi Tay cầm chày Kim Cang. Nếu gặp mọi nơi sợ hãi không yên, nên cầu nơi Tay Ấn Thi Vô Úy. Nếu mắt tối tăm không ánh sáng, nên cầu nơi Tay cầm ngọc Nhật Tinh Ma Ni. Nếu bị bệnh nhiệt độc, muốn cầu sự mát mẻ, nên cầu nơi Tay cầm ngọc Nguyệt Tinh Ma Ni. Nếu muốn làm quan, thăng chức, nên cầu nơi Tay cầm cung Báu. Nếu muốn sớm gặp bạn bè tốt lành, nên cầu nơi Tay cầm tên Báu. Nếu bị các thứ bệnh trên thân, nên cầu nơi Tay cầm cành Dương Liễu. Nếu muốn trừ các chướng nạn xấu trên thân, nên cầu nơi Tay cầm phất trần Trắng. Nếu muốn quyến thuộc hiền hòa, hòa thuận, nên cầu nơi Tay cầm bình Hồ. Nếu muốn xua đuổi các loài thú dữ như hổ lang, sói báo, nên cầu nơi Tay cầm khiên Khiên. Nếu mọi lúc mọi nơi muốn tránh khỏi nạn cửa quan, nên cầu nơi Tay cầm búa Phủ Việt. Nếu muốn có người giúp việc, tôi tớ, nên cầu nơi Tay cầm vòng Ngọc. Nếu muốn có các thứ công đức, nên cầu nơi Tay cầm hoa sen Trắng. Nếu muốn vãng sinh về tịnh độ mười phương, nên cầu nơi Tay cầm hoa sen Xanh. Nếu muốn có trí tuệ lớn, nên cầu nơi Tay cầm gương Báu. Nếu muốn mặt thấy tất cả chư Phật mười phương, nên cầu nơi Tay cầm hoa sen Tím. Nếu muốn tìm kho báu trong đất, nên cầu nơi Tay cầm hòm Báu. Nếu muốn đắc đạo tiên, nên cầu nơi Tay cầm mây Ngũ Sắc. Nếu muốn sinh lên cõi Phạm Thiên, nên cầu nơi Tay cầm bình Quân Trì. Nếu muốn vãng sinh lên các cung trời, nên cầu nơi Tay cầm hoa sen Hồng. Nếu muốn đẩy lùi giặc nghịch phương khác, nên cầu nơi Tay cầm kích Báu. Nếu muốn triệu gọi tất cả các thiện thần trên trời, nên cầu nơi Tay cầm ốc Loa Báu. Nếu muốn sai khiến tất cả quỷ thần, nên cầu nơi Tay cầm gậy Đầu Lâu. Nếu muốn mười phương chư Phật sớm đến dắt tay, nên cầu nơi Tay cầm tràng hạt. Nếu muốn thành tựu tất cả tiếng nói Phạm âm nhiệm màu, nên cầu nơi Tay cầm chuông Báu. Nếu muốn nghiệp miệng khéo léo, biện tài, nên cầu nơi Tay cầm ấn Báu. Nếu muốn các thiện thần và Long vương thường đến ủng hộ, nên cầu nơi Tay cầm móc sắt Câu Thi. Nếu vì lòng từ bi che chở tất cả chúng sinh, nên cầu nơi Tay cầm gậy Tích Trượng. Nếu muốn tất cả chúng sinh thường kính trọng, yêu mến nhau, nên cầu nơi Tay cầm Ấn Hợp Chưởng. Nếu muốn đời đời kiếp kiếp không rời xa chư Phật, nên cầu nơi Tay cầm Phật Hóa Thân. Nếu muốn đời đời kiếp kiếp thường ở trong cung điện Phật, không phải chịu thân trong bào thai, nên cầu nơi Tay cầm Cung Điện Hóa Thân. Nếu muốn nghe nhiều học rộng, nên cầu nơi Tay cầm kinh Báu. Nếu muốn từ thân này cho đến thân Phật, tâm Bồ-đề không thối chuyển, nên cầu nơi Tay cầm bánh xe Kim Cang không thối chuyển. Nếu muốn mười phương chư Phật sớm đến xoa đỉnh đầu thọ ký, nên cầu nơi Tay trên đỉnh đầu cầm Phật Hóa Thân. Nếu muốn có các thứ hoa quả, ngũ cốc, nên cầu nơi Tay cầm chùm Nho. </poem> Những pháp cầu được như vậy có đến ngàn điều, nay ta chỉ nói lược qua đôi chút." Bồ Tát Nhật Quang vì người thọ trì Đà La Ni Đại Bi Tâm mà nói thần chú lớn để ủng hộ: "Nam mô bột đà cù na mê. Nam mô đạt ma mạc ha đê. Nam mô tăng già đa dạ ni. Đê rị bộ tất tát đốt hám nạp ma." Tụng chú này diệt được tất cả tội, cũng có thể đẩy lùi ma quỷ và trừ tai nạn từ trời. Nếu tụng một biến, lễ Phật một lạy, ngày chia làm ba thời tụng chú lễ Phật như thế, thì đời vị lai, nơi thọ thân sẽ được tướng mạo đoan chính, hưởng quả báo vui vẻ. Bồ Tát Nguyệt Quang cũng vì các người tu hành mà nói thần chú Đà La Ni để ủng hộ: "Thâm đê đế đồ tô tra. A nhược mật đế ô đô tra. Thâm kỳ tra. Ba lại đế. Da di nhược tra ô đô tra. Câu la đế tra kỳ ma tra. Sa bà ha." Tụng chú này năm biến, lấy chỉ ngũ sắc thắt thành dây chú, buộc vào chỗ đau. Chú này do bốn mươi hằng hà sa chư Phật đời quá khứ đã nói, nay ta cũng nói, để làm sự ủng hộ cho người tu hành, trừ tất cả chướng nạn, trừ tất cả bệnh đau ác nghiệp, thành tựu tất cả pháp lành, xa lìa tất cả mọi sợ hãi. Phật bảo A-nan: "Ông nên dùng lòng sâu xa thanh tịnh mà thọ trì Đà La Ni này, tuyên dương lưu truyền rộng rãi trong cõi Diêm Phù Đề, chớ để đứt đoạn. Đà La Ni này mang lại lợi ích lớn cho chúng sinh trong ba cõi. Tất cả những ai bị hoạn khổ, bệnh tật, dùng Đà La Ni này điều trị không ai là không khỏi. Thần chú lớn lao này, chú vào cây khô còn mọc lại cành lá hoa quả, huống chi là chúng sinh có tình, có thức; nếu thân có bệnh hoạn mà trị không khỏi thì không bao giờ có chuyện đó. Này thiện nam tử, uy thần lực của Đà La Ni này thật không thể nghĩ bàn, không thể nghĩ bàn, khen ngợi không bao giờ hết. Nếu không phải từ đời quá khứ lâu xa đến nay đã trồng sâu căn lành rộng lớn, thì ngay cả cái tên cũng không được nghe, huống chi là được thấy. Các ông trong đại chúng, trời, người, rồng, thần, nghe ta tán thán đều nên tùy hỷ. Nếu có kẻ phỉ báng chú này, tức là phỉ báng chín mươi chín ức hằng hà sa chư Phật kia. Nếu đối với Đà La Ni này sinh lòng nghi ngờ không tin, nên biết người đó vĩnh viễn mất đi lợi ích lớn, trăm ngàn muôn kiếp thường chìm đắm trong đường ác, không có ngày ra, thường không được thấy Phật, không được nghe pháp, không được gặp tăng." Tất cả hội chúng, các vị Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Mật Tích, Phạm Thiên, Đế Thích, bốn vị Thiên Vương, rồng, quỷ thần, nghe đức Như Lai tán thán Đà La Ni này, thảy đều vui mừng, vâng lời dạy bảo mà tu hành. {{Kinh điển Phật giáo}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] a6qrakv4qhylwb474nux2qkdbzu0vfc Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo 10 71854 206414 206024 2026-10-19T10:56:17Z Mrfly911 2215 206414 wikitext text/x-wiki <noinclude>'''Kinh điển Phật giáo''' có số lượng cực kỳ lớn, thậm chí xưa lấy 84.000 để ước chừng tượng trưng về số lượng pháp uẩn. Kinh văn Phật giáo truyền miệng hoặc được viết ở trên giấy mực được chia theo nội dung làm ba loại là Kinh, Luật và Luận. {{wikipediaref}}</noinclude> {{Navbox | name = Kinh điển Phật giáo | title = [[Bản mẫu:Kinh điển Phật giáo|Kinh điển Phật giáo]] | state = {{{state|autocollapse}}} | listclass = hlist | image = | group1 = Kinh | list1 = {{Navbox|child | group1 = A hàm bộ | list1 = * [[Biên dịch:Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh|Phật thuyết Chuyển pháp luân kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh|Phật Thuyết Tam Chuyển Pháp Luân Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh|Phật Thuyết Hải Bát Đức Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh|Phật Thuyết Phóng Ngưu Kinh]] * [[Pháp cú kinh]] * [[Từ kinh]] * [[Bản sinh kinh]] * [[Tứ niệm xứ kinh]] * [[Đại-bát Niết-bàn kinh]] | group2 = Bản duyên bộ | list2 = * [[Lục Độ Tập Kinh]] * [[Bồ Tát Bản Duyên Kinh]] * [[Bản Kinh]] * [[Phật Thuyết Phổ Diệu Kinh]] | group3 = Bát nhã bộ | list3 = * [[Đại phẩm bát-nhã kinh]] * [[Tiểu phẩm bát-nhã kinh]] * [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh|Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh]] * [[Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh]] * [[Biên dịch:Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh|Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh]] | group4 = Pháp hoa bộ | list4 = * [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh|Pháp Hoa kinh]] * [[Biên dịch:Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Kinh|Kinh Phổ Môn]] * [[Thập địa kinh]] * [[Biên dịch:Đại thừa phương quảng tổng trì kinh|Đại thừa phương quảng tổng trì kinh]] | group5 = Hoa nghiêm bộ | list5 = * [[Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh|Hoa Nghiêm kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh|Phật Thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề Tâm Kinh]] | group6 = Bảo tích & Tịnh độ | list6 = * [[Biên dịch:Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh|Vô Lượng Thọ Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết A Di Đà Kinh|A Di Đà Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh|Quán Vô Lượng Thọ Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh|Phật Thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát Kinh]] * [[Thắng Man kinh]] * [[Niết bàn kinh]] | group7 = Kinh tập bộ | list7 = * [[Biên dịch:Tứ thập nhị chương kinh|Tứ thập nhị chương kinh]] * [[Duy-ma-cật sở thuyết kinh]] * [[Giải thâm mật kinh]] * [[Nhập Lăng-già kinh]] * [[Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh|Lăng-nghiêm kinh]] * [[Viên Giác Kinh]] * [[Kim quang minh tối thắng vương kinh|Kim quang minh kinh]] * [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Kinh Dược Sư]] * [[Biên dịch:Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh|Dược Sư Thất Phật Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật Kinh|Di Lặc Hạ Sinh Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật Kinh|Di Lặc Đại Thành Phật Kinh]] * [[Biên dịch:Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng Kinh|Như Lai Tạng Kinh]] * [[Biên dịch:Văn Thù Sư Lợi Vấn Bồ Đề Kinh|Văn Thù Vấn Bồ Đề Kinh]] * [[Biên dịch:Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Sở Thuyết Kinh|Bất Tư Nghị Quang Bồ Tát Kinh]] * [[Biên dịch:Phật Thuyết Thiên Phật Nhân Duyên Kinh|Thiên Phật Nhân Duyên Kinh]] * [[Biên dịch:Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh|Đăng Chỉ Nhân Duyên Kinh]] * [[Biên dịch:Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh|Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp Kinh]] * [[Biên dịch:Tư Duy Lược Yếu Pháp|Tư Duy Lược Yếu Pháp]] * [[Biên dịch:Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh|Phật thuyết tượng đầu tinh xá kinh]] | group8 = Mật giáo bộ | list8 = * [[Đại Nhật kinh]] * [[Biên dịch:Lăng Nghiêm kinh|Lăng Nghiêm kinh]] ** [[Biên dịch:Lăng Nghiêm kinh/Lăng Nghiêm thần chú|Lăng Nghiêm thần chú]] * [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh|Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni]] * [[Biên dịch:Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Trị Bệnh Hợp Dược Kinh|Thiên Thủ Thiên Nhãn Trị Bệnh Hợp Dược Kinh]] * [[Tô tất địa yết la kinh]] }} | group2 = Luật | list2 = * [[Biên dịch:Thập Tụng Tỳ Kheo Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản|Thập Tụng Giới Bản]] * [[Biên dịch:Thanh Tịnh Tỳ Ni Phương Quảng Kinh|Thanh Tịnh Tỳ Ni Kinh]] | group3 = Luận | list3 = * [[A-tì-đạt-ma]] * [[Trung quán luận]] * [[Thành duy thức luận]] * [[Duy thức nhị thập tụng]] * [[Du-già sư địa luận]] * [[Nhiếp đại thừa luận]] * [[A-tì-đạt-ma câu-xá luận|Câu-xá luận]] * [[Đại thừa khởi tín luận]] * [[Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận|Bảo tính luận]] * [[Bồ-đề đạo đăng luận]] * [[Nhập Bồ-đề hành luận]] * [[Tập Bồ Tát học luận]] * [[Tập lượng luận]] * [[Nhiếp chân thật luận]] * [[Thanh tịnh đạo luận]] * [[Biên dịch:Lý Hoặc Luận|Lý Hoặc Luận]] * [[Biên dịch:Na Tiên Tì Khâu Kinh|Na Tiên Tì Khâu Kinh]] | group4 = Khác & Sử truyện | list4 = * [[Biên dịch:Phật Di Giáo Kinh|Phật Di Giáo Kinh]] * [[Biên dịch:Lục Tổ Đàn Kinh|Lục Tổ Đàn Kinh]] * [[Biên dịch:Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự|Kim Cương Kinh Tự]] * [[Biên dịch:Hiển Tông Ký|Hiển Tông Ký]] * [[Biên dịch:Hồng danh bảo sám|Hồng danh bảo sám]] * [[Biên dịch:Mã Minh Bồ Tát Truyện|Mã Minh Bồ Tát Truyện]] * [[Biên dịch:Long Thọ Bồ Tát Truyện|Long Thọ Bồ Tát Truyện]] * [[Biên dịch:Đề Bà Bồ Tát Truyện|Đề Bà Bồ Tát Truyện]] * [[Biên dịch:Tín Tâm Minh|Tín Tâm Minh]] * [[Biên dịch:Tâm Minh|Tâm Minh]] * [[Biên dịch:Chứng đạo ca|Chứng đạo ca]] | below = Các kinh điển này phần lớn thuộc bộ [[:zh:大正新脩大藏經|Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh]]. }}<noinclude> [[Thể loại:Phật giáo]] </noinclude> rbdeb06n02djdg8z4ca6fnone9cl5mt Biên dịch:Lăng Nghiêm kinh 114 72519 206415 2026-10-19T11:03:57Z Mrfly911 2215 Dịch từ [[zh:楞嚴經]] 206415 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Đại Phật đỉnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ Tát vạn hạnh Thủ Lăng Nghiêm kinh | tác giả= Bát Lạt Mật Đế | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 楞嚴經 | năm= | phần = | trước= | sau= | ghi chú= Đại Phật đỉnh thủ-lăng-nghiêm kinh (sa. Śūraṃgama-samādhi-sūtra; zh. 大佛頂首楞嚴經 Đại Phật đỉnh thủ-lăng-nghiêm kinh), hoặc Lăng-nghiêm kinh (楞嚴經), hay còn được gọi là Trung Ấn Độ Na-lan-đà Đại Đạo tràng Kinh (中印度那爛陀大道場經), đã được tất cả các trường phái Phật giáo Trung Hoa tụng niệm và nghiên cứu từ đời nhà Đường và thường được luận giải ở các thế kỷ tiếp theo sau. Kinh Lăng Nghiêm rất được những người "hợp nhất tam giáo" (三教一源 Tam Giáo Nhất Nguyên) đời nhà Tống và đời nhà Minh ưa chuộng. {{Wikipediaref}} }} *[[/Quyển 01|Quyển 01]] *[[/Quyển 02|Quyển 02]] *[[/Quyển 03|Quyển 03]] *[[/Quyển 04|Quyển 04]] *[[/Quyển 05|Quyển 05]] *[[/Quyển 06|Quyển 06]] *[[/Quyển 07|Quyển 07]] *[[/Quyển 08|Quyển 08]] *[[/Quyển 09|Quyển 09]] *[[/Quyển 10|Quyển 10]] *[[/Thần chú Lăng Nghiêm|Thần chú Lăng Nghiêm]] *[[/Tâm chú Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm|Tâm chú Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm]] ==Chú giải của các bậc đại đức qua các thời đại== *[[Lăng Nghiêm kinh thông nghị (Hám Sơn)|Lăng Nghiêm kinh thông nghị]](Hám Sơn Đức Thanh) *[[Lăng Nghiêm kinh văn cú]](Ngẫu Ích Trí Húc) *[http://www.drbachinese.org/online_reading/index.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh thiển thích](Tuyên Hóa Thượng nhân) *[http://www.quanxue.cn/ct_nanhuaijin/LengYanIndex.html Lăng Nghiêm đại nghĩa kim thích] *[https://book.bfnn.org/article2/1762.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh chính mạch sớ] (Đại sư Giao Quang) *[https://book.bfnn.org/article/0911.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh diệu tâm sớ] (Pháp sư Thủ Bồi) *[https://book.bfnn.org/article2/1472.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh giảng nghĩa] (Đại sư Viên Anh) *[http://www.amtb.tw/baen/jiangtang.asp?web_choice=7&web_rel_index=83 Kinh Lăng Nghiêm của Pháp sư Tịnh Không] *[http://www.muni-buddha.com.tw/book/125-free-download.html Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh nghĩa quán (quyển thượng).pdf (Pháp sư Thành Quán, chùa Đại Tỳ Lô)] *[http://www.muni-buddha.com.tw/book/126-free-download.html Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh nghĩa quán (quyển hạ).pdf (Pháp sư Thành Quán, chùa Đại Tỳ Lô)] *[http://fawang.hihosting.hinet.net/p5.htm Pháp Vương giảng đường] *[http://www.muni-buddha.com.tw/ Mạng lưu thông Phật pháp Mâu Ni Muni-Buddha Net] *[http://budaedu.org/ Quỹ Giáo dục Phật Đà] *[http://siddham.org/yuan1/main_ly.html Hội Tất Đàm Siddham] *[http://www.cbeta.org/download/cbreader.htm CBETA] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] qa0vdnm5usuer44yic65gku3zqutdki 206416 206415 2026-10-19T11:06:03Z Mrfly911 2215 206416 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Đại Phật đỉnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ Tát vạn hạnh Thủ Lăng Nghiêm kinh | tác giả= Bát Lạt Mật Đế | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 楞嚴經 | năm= | phần = | trước= | sau= | ghi chú= Đại Phật đỉnh thủ-lăng-nghiêm kinh (sa. Śūraṃgama-samādhi-sūtra; zh. 大佛頂首楞嚴經 Đại Phật đỉnh thủ-lăng-nghiêm kinh), hoặc Lăng-nghiêm kinh (楞嚴經), hay còn được gọi là Trung Ấn Độ Na-lan-đà Đại Đạo tràng Kinh (中印度那爛陀大道場經), đã được tất cả các trường phái Phật giáo Trung Hoa tụng niệm và nghiên cứu từ đời nhà Đường và thường được luận giải ở các thế kỷ tiếp theo sau. Kinh Lăng Nghiêm rất được những người "hợp nhất tam giáo" (三教一源 Tam Giáo Nhất Nguyên) đời nhà Tống và đời nhà Minh ưa chuộng. {{Wikipediaref}} }} *[[/Quyển 01|Quyển 01]] *[[/Quyển 02|Quyển 02]] *[[/Quyển 03|Quyển 03]] *[[/Quyển 04|Quyển 04]] *[[/Quyển 05|Quyển 05]] *[[/Quyển 06|Quyển 06]] *[[/Quyển 07|Quyển 07]] *[[/Quyển 08|Quyển 08]] *[[/Quyển 09|Quyển 09]] *[[/Quyển 10|Quyển 10]] *[[/Lăng Nghiêm thần chú|Thần chú Lăng Nghiêm]] *[[/Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm thần chú tâm|Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm thần chú tâm]] ==Chú giải của các bậc đại đức qua các thời đại== *[[Lăng Nghiêm kinh thông nghị (Hám Sơn)|Lăng Nghiêm kinh thông nghị]](Hám Sơn Đức Thanh) *[[Lăng Nghiêm kinh văn cú]](Ngẫu Ích Trí Húc) *[http://www.drbachinese.org/online_reading/index.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh thiển thích](Tuyên Hóa Thượng nhân) *[http://www.quanxue.cn/ct_nanhuaijin/LengYanIndex.html Lăng Nghiêm đại nghĩa kim thích] *[https://book.bfnn.org/article2/1762.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh chính mạch sớ] (Đại sư Giao Quang) *[https://book.bfnn.org/article/0911.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh diệu tâm sớ] (Pháp sư Thủ Bồi) *[https://book.bfnn.org/article2/1472.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh giảng nghĩa] (Đại sư Viên Anh) *[http://www.amtb.tw/baen/jiangtang.asp?web_choice=7&web_rel_index=83 Kinh Lăng Nghiêm của Pháp sư Tịnh Không] *[http://www.muni-buddha.com.tw/book/125-free-download.html Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh nghĩa quán (quyển thượng).pdf (Pháp sư Thành Quán, chùa Đại Tỳ Lô)] *[http://www.muni-buddha.com.tw/book/126-free-download.html Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh nghĩa quán (quyển hạ).pdf (Pháp sư Thành Quán, chùa Đại Tỳ Lô)] *[http://fawang.hihosting.hinet.net/p5.htm Pháp Vương giảng đường] *[http://www.muni-buddha.com.tw/ Mạng lưu thông Phật pháp Mâu Ni Muni-Buddha Net] *[http://budaedu.org/ Quỹ Giáo dục Phật Đà] *[http://siddham.org/yuan1/main_ly.html Hội Tất Đàm Siddham] *[http://www.cbeta.org/download/cbreader.htm CBETA] {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] 7k2ohjtjzql0khcqxyd7nv598vbo92e 206418 206416 2026-10-19T11:32:35Z Mrfly911 2215 /* Chú giải của các bậc đại đức qua các thời đại */ 206418 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Đại Phật đỉnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ Tát vạn hạnh Thủ Lăng Nghiêm kinh | tác giả= Bát Lạt Mật Đế | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 楞嚴經 | năm= | phần = | trước= | sau= | ghi chú= Đại Phật đỉnh thủ-lăng-nghiêm kinh (sa. Śūraṃgama-samādhi-sūtra; zh. 大佛頂首楞嚴經 Đại Phật đỉnh thủ-lăng-nghiêm kinh), hoặc Lăng-nghiêm kinh (楞嚴經), hay còn được gọi là Trung Ấn Độ Na-lan-đà Đại Đạo tràng Kinh (中印度那爛陀大道場經), đã được tất cả các trường phái Phật giáo Trung Hoa tụng niệm và nghiên cứu từ đời nhà Đường và thường được luận giải ở các thế kỷ tiếp theo sau. Kinh Lăng Nghiêm rất được những người "hợp nhất tam giáo" (三教一源 Tam Giáo Nhất Nguyên) đời nhà Tống và đời nhà Minh ưa chuộng. {{Wikipediaref}} }} *[[/Quyển 01|Quyển 01]] *[[/Quyển 02|Quyển 02]] *[[/Quyển 03|Quyển 03]] *[[/Quyển 04|Quyển 04]] *[[/Quyển 05|Quyển 05]] *[[/Quyển 06|Quyển 06]] *[[/Quyển 07|Quyển 07]] *[[/Quyển 08|Quyển 08]] *[[/Quyển 09|Quyển 09]] *[[/Quyển 10|Quyển 10]] *[[/Lăng Nghiêm thần chú|Thần chú Lăng Nghiêm]] *[[/Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm thần chú tâm|Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm thần chú tâm]] ==Chú giải của các bậc đại đức qua các thời đại== *[[Lăng Nghiêm kinh thông nghị (Hám Sơn)|Lăng Nghiêm kinh thông nghị]](Hám Sơn Đức Thanh) *[[Lăng Nghiêm kinh văn cú]](Ngẫu Ích Trí Húc) *[http://www.drbachinese.org/online_reading/index.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh thiển thích](Tuyên Hóa Thượng nhân) *[http://www.quanxue.cn/ct_nanhuaijin/LengYanIndex.html Lăng Nghiêm đại nghĩa kim thích] *[https://book.bfnn.org/article2/1762.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh chính mạch sớ] (Đại sư Giao Quang) *[https://book.bfnn.org/article/0911.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh diệu tâm sớ] (Pháp sư Thủ Bồi) *[https://book.bfnn.org/article2/1472.htm Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh giảng nghĩa] (Đại sư Viên Anh) *[http://www.amtb.tw/baen/jiangtang.asp?web_choice=7&web_rel_index=83 Kinh Lăng Nghiêm của Pháp sư Tịnh Không] *[http://www.muni-buddha.com.tw/book/125-free-download.html Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh nghĩa quán (quyển thượng).pdf (Pháp sư Thành Quán, chùa Đại Tỳ Lô)] *[http://www.muni-buddha.com.tw/book/126-free-download.html Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm kinh nghĩa quán (quyển hạ).pdf (Pháp sư Thành Quán, chùa Đại Tỳ Lô)] *[http://fawang.hihosting.hinet.net/p5.htm Pháp Vương giảng đường] *[http://www.muni-buddha.com.tw/ Mạng lưu thông Phật pháp Mâu Ni Muni-Buddha Net] *[http://budaedu.org/ Quỹ Giáo dục Phật Đà] *[http://siddham.org/yuan1/main_ly.html Hội Tất Đàm Siddham] *[http://www.cbeta.org/download/cbreader.htm CBETA] {{Kinh điển Phật giáo}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] kgoq018lto7duy3w6lwco69g6tck6bx Biên dịch:Lăng Nghiêm kinh/Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm thần chú tâm 114 72520 206417 2026-10-19T11:15:54Z Mrfly911 2215 Dịch từ [[zh:楞嚴經/大佛頂首楞嚴神咒心]] 206417 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm thần chú tâm | tác giả= Bát Lạt Mật Đế | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 楞嚴經/大佛頂首楞嚴神咒心 | năm= | phần = | trước= [[../|Lăng Nghiêm kinh]] | sau= | ghi chú= }} {{ruby |哆姪他。唵。阿那隸。毗舍提。鞞囉。跋闍囉。陀唎。槃陀。槃陀你。跋闍囉。謗尼泮。虎𤙖。都嚧甕泮。娑婆訶。 |Đa Điệt Tha. Án. A Na Lệ. Tỳ Xá Đề. Bệ La. Bạt Xà La. Đà Lị. Bàn Đà. Bàn Đà Nễ. Bạt Xà La. Báng Ni Phán. Hổ Hồng. Đô Lô Ung Phán. Sa Bà Ha. }} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] 2t2fksux1srsf83x6dfd5u2yyyznvg7 Biên dịch:Lăng Nghiêm kinh/Lăng Nghiêm thần chú 114 72521 206419 2026-10-19T11:53:34Z Mrfly911 2215 Dịch từ [[zh:楞嚴經/楞嚴神咒]] 206419 wikitext text/x-wiki {{đầu đề biên dịch | tựa đề = Lăng Nghiêm thần chú | tác giả= Bát Lạt Mật Đế | ngôn ngữ = zh | bản gốc= 楞嚴經/楞嚴神咒 | năm= | phần = | trước= [[../|Lăng Nghiêm kinh]] | sau= | ghi chú= }} <center> {{ruby |淨身業真言 唵 修哆利 修哆利 修摩利 修摩利 娑婆訶 淨口業真言 嗡 修利修利 摩訶修利 修修利 娑婆訶 淨意業真言 唵嚩日囉怛訶賀斛 安土地真言 南無三滿哆 母馱喃唵 度嚕度嚕 地尾娑婆訶 普供養真言 唵誐誐曩三婆嚩伐日囉斛 淨三業真言 唵娑嚩娑嚩秫馱娑嚩達摩娑嚩娑嚩秫度憾 南無本師釋迦牟尼佛(三稱) 南無楞嚴會上佛菩薩(三稱) 開經偈 無上甚深微妙法百千萬劫難遭遇 我今見聞得受持願解如來真實義 |Tịnh Thân Nghiệp Chân Ngôn Án Tu Đa Lợi Tu Đa Lợi Tu Ma Lợi Tu Ma Lợi Sa Bà Ha Tịnh Khẩu Nghiệp Chân Ngôn Úng Tu Lợi Tu Lợi Ma Ha Tu Lợi Tu Tu Lợi Sa Bà Ha Tịnh Ý Nghiệp Chân Ngôn Án Phạ Nhật La Đát Ha Hạ Hộc An Thổ Địa Chân Ngôn Nam Mô Tam Mãn Đa Mẫu Đà Nam Án Độ Lỗ Độ Lỗ Địa Vĩ Sa Bà Ha Phổ Cúng Dường Chân Ngôn Án Nga Nga Nẵng Tam Bà Phạ Phạt Nhật La Hộc Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn Án Sa Phạ Sa Phạ Thuật Đà Sa Phạ Đạt Ma Sa Phạ Sa Phạ Thuật Độ Hám Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (Tam xưng) Nam Mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát (Tam xưng) Khai Kinh Kệ Vô Thượng thậm thâm vi diệu pháp bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ Ngã kim kiến văn đắc thụ trì nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa }} </center> ==Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú 大佛頂首楞嚴神咒== (Toàn chú kế nhị lục nhị linh tự 全咒計二六二零字) {{ruby |妙湛總持不動尊首楞嚴王世希有 銷我億劫顛倒想不歷僧祗獲法身 願今得果成寶王還度如是恆沙眾 將此深心奉塵剎是則名為報佛恩 伏請世尊為證明五濁惡世誓先入 如一眾生未成佛終不於此取泥洹 大雄大力大慈悲希更審除微細惑 令我早登無上覺於十方界坐道場 舜若多性可銷亡爍迦羅心無動轉 南無常住十方佛南無常住十方法 南無常住十方僧南無釋迦牟尼佛 南無佛頂首楞嚴南無觀世音菩薩 南無金剛藏菩薩 爾時世尊,從肉髻中涌百寶光,光中涌出千葉寶蓮,有化如來坐寶華中,頂放十道百寶光明。一一光明,皆徧示現十恆河沙,金剛密迹,擎山持杵,徧虛空界。大眾仰觀,畏愛兼抱,求佛哀祐,一心聽佛,無見頂相,放光如來宣說神咒。 |Diệu trạm tổng trì bất động tôn Thủ Lăng Nghiêm Vương thế hy hữu Tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng bất lịch tăng-kỳ hoạch Pháp thân Nguyện kim đắc quả thành Bảo Vương hoàn độ như thị Hằng sa chúng Tương thử thâm tâm phụng trần sát thị tắc danh vi báo Phật ân Phục thỉnh Thế Tôn vi chứng minh ngũ trược ác thế thệ tiên nhập Như nhất chúng sinh vị thành Phật chung bất ư thử thủ Nê Hoàn Đại hùng đại lực đại từ bi hy cánh thẩm trừ vi tế hoặc Lệnh ngã tảo đăng Vô Thượng Giác ư thập phương giới tọa đạo tràng Thuấn Nhã Đa tính khả tiêu vong Thước Ca La tâm vô động chuyển Nam Mô thường trụ thập phương Phật Nam Mô thường trụ thập phương Pháp Nam Mô thường trụ thập phương Tăng Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật Nam Mô Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát Nam Mô Kim Cương Tạng Bồ Tát Nhĩ thời Thế Tôn, tùng nhục kế trung dũng bách bảo quang, quang trung dũng xuất thiên diệp bảo liên, hữu hóa Như Lai tọa bảo hoa trung, đỉnh phóng thập đạo bách bảo quang minh. Nhất nhất quang minh, giai biến thị hiện thập Hằng Hà sa, Kim Cương mật tích, kình sơn trì xử, biến hư không giới. Đại chúng ngưỡng quán, úy ái kiêm bão, cầu Phật ai hữu, nhất tâm thính Phật, vô kiến đỉnh tướng, phóng quang Như Lai tuyên thuyết thần chú. }} ===Đệ Nhất Hội 第一會=== (Danh vi Tỳ Lô Chân Pháp Hội. Vị hạ thập nhị pháp môn mật ngôn, giai nhất Tỳ Lô chân tâm Pháp thân sở lưu diễn dã 名為毗盧真法會。謂下十二法門密言,皆一毗盧真心法身所流演也。) {{Ruby |南無薩怛他。蘇伽多耶。阿囉訶帝。三藐三菩陀寫。南無薩怛他。佛陀俱知。瑟尼釤。南無薩婆勃陀勃地。薩跢鞞弊。南無薩多南。三藐三菩陀。俱知南。娑舍囉婆迦。僧伽喃。南無盧雞阿羅漢跢喃。南無蘇盧多波那喃。南無娑羯唎陀伽彌喃。南無盧雞三藐伽跢喃。三藐伽波囉。底波多那喃。南無提婆離瑟赧。南無悉陀耶。毗地耶。陀囉離瑟赧。舍波奴揭囉訶。 娑訶娑囉摩他喃。南無跋囉訶摩泥。南無因陀囉耶。南無婆伽婆帝。嚧陀囉耶。烏摩般帝。娑醯夜耶。南無婆伽婆帝。那囉野拏耶。槃遮摩訶三慕陀囉。南無悉羯唎多耶。南無婆伽婆帝。摩訶迦囉耶。地唎般剌那伽囉。毗陀囉波拏迦囉耶。阿地目帝。屍摩舍那泥婆悉泥。摩怛唎伽拏。南無悉羯唎多耶。南無婆伽婆帝。多他伽跢俱囉耶。南無般頭摩俱囉耶。南無跋闍囉俱囉耶。南無摩尼俱囉耶。南無伽闍俱囉耶。南無婆伽婆帝。帝唎茶。輸囉西那。波囉訶囉拏囉闍耶。跢他伽多耶。南無婆伽婆帝。南無阿彌多婆耶。跢他伽多耶。阿囉訶帝。三藐三菩陀耶。南無婆伽婆帝。阿芻毗耶。跢他伽多耶。阿囉訶帝。三藐三菩陀耶。南無婆伽婆帝。鞞沙闍耶。俱嚧吠柱唎耶。般囉婆囉闍耶。跢他伽多耶。南無婆伽婆帝。三補師毖多。薩憐捺囉剌闍耶。跢他伽多耶。阿囉訶帝。三藐三菩陀耶。南無婆伽婆帝。舍雞野母那曳。跢他伽多耶。阿囉訶帝。三藐三菩陀耶。南無婆伽婆帝。剌怛那雞都囉闍耶。跢他伽多耶。阿囉訶帝。三藐三菩陀耶。帝瓢。南無薩羯唎多。翳曇婆伽婆多。薩怛他伽都瑟尼釤。薩怛多般怛㘕。南無阿婆囉視耽。般囉帝。揚岐囉。薩囉婆。部多揭囉訶。尼羯囉訶。揭迦囉訶尼。跋囉毖地耶。叱陀你。阿迦囉。蜜唎柱。般唎怛囉耶。寧羯唎。薩囉婆。槃陀那。目叉尼。薩囉婆。突瑟吒。突悉乏。般那你。伐囉尼。赭都囉。失帝南。羯囉訶。娑訶薩囉若闍。毗多崩娑那羯唎。阿瑟吒冰舍帝南。那叉剎怛囉若闍。波囉薩陀那羯唎。阿瑟吒南。摩訶揭囉訶若闍。毗多崩薩那羯唎。薩婆舍都嚧。你婆囉若闍。呼藍突悉乏。難遮那舍尼。毖沙舍。悉怛囉。阿吉尼。烏陀迦囉若闍。阿般囉視多具囉。摩訶般囉戰持。摩訶疊多。摩訶帝闍。摩訶稅多闍婆羅。摩訶跋羅槃陀囉。婆悉你。阿唎耶多囉。毗唎俱知。誓婆毗闍耶。跋闍囉摩禮底。毗舍嚧多。勃騰罔迦。跋闍囉制喝那阿遮。摩囉制婆。般囉質多。跋闍囉擅持。毗舍囉遮。扇多舍。鞞提婆。補視多。蘇摩嚧波。摩訶稅多。阿唎耶多囉。摩訶婆囉阿般囉。跋闍囉商羯囉制婆。跋闍囉俱摩唎。俱藍陀唎。跋闍囉喝薩多遮。毗地耶。乾遮那。摩唎迦。啒蘇母。婆羯囉跢那。鞞嚧遮那俱唎耶。夜囉菟。瑟尼釤。毗折藍婆摩尼遮。跋闍囉迦那迦波囉婆。嚧闍那。跋闍囉頓稚遮。稅多遮。迦摩囉。剎奢屍。波囉婆。翳帝夷帝。母陀囉羯拏。娑鞞囉懺。掘梵都。印菟那麼麼寫。 |Nam Mô Tát Đát Tha. Tô Già Đa Da. A La Ha Đế. Tam Miệu Tam Bồ Đà Tả. Nam Mô Tát Đát Tha. Phật Đà Câu Tri. Sắt Ni Sám. Nam Mô Tát Bà Bột Đà Bột Địa. Tát Đa Bệ Tệ. Nam Mô Tát Đa Nam. Tam Miệu Tam Bồ Đà. Câu Tri Nam. Sa Xá La Bà Ca. Tăng Già Nam. Nam Mô Lô Kê A La Hán Đa Nam. Nam Mô Tô Lô Đa Ba Na Nam. Nam Mô Sa Yết Lị Đà Già Di Nam. Nam Mô Lô Kê Tam Miệu Già Đa Nam. Tam Miệu Già Ba La. Để Ba Đa Na Nam. Nam Mô Đề Bà Ly Sắt Noản. Nam Mô Tất Đà Da. Tỳ Địa Da. Đà La Ly Sắt Noản. Xá Ba Nô Yết La Ha. Sa Ha Sa La Ma Tha Nam. Nam Mô Bạt La Ha Ma Nê. Nam Mô Nhân Đà La Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Lô Đà La Da. Ô Ma Ban Đế. Sa Hê Dạ Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Na La Dã Noa Da. Bàn Giá Ma Ha Tam Mộ Đà La. Nam Mô Tất Yết Lị Đa Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Ma Ha Ca La Da. Địa Lị Ban Lạt Na Già La. Tỳ Đà La Ba Noa Ca La Da. A Địa Mục Đế. Thi Ma Xá Na Nê Bà Tất Nê. Ma Đát Lị Già Noa. Nam Mô Tất Yết Lị Đa Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Đa Tha Già Đa Câu La Da. Nam Mô Ban Đầu Ma Câu La Da. Nam Mô Bạt Xà La Câu La Da. Nam Mô Ma Ni Câu La Da. Nam Mô Già Xà Câu La Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Đế Lị Trà. Du La Tây Na. Ba La Ha La Noa La Xà Da. Đa Tha Già Đa Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Nam Mô A Di Đa Bà Da. Đa Tha Già Đa Da. A La Ha Đế. Tam Miệu Tam Bồ Đà Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. A Sô Tỳ Da. Đa Tha Già Đa Da. A La Ha Đế. Tam Miệu Tam Bồ Đà Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Bệ Sa Xà Da. Câu Lô Phệ Trụ Lị Da. Ban La Bà La Xà Da. Đa Tha Già Đa Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Tam Bổ Sư Bí Đa. Tát Liên Nại La Lạt Xà Da. Đa Tha Già Đa Da. A La Ha Đế. Tam Miệu Tam Bồ Đà Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Xá Kê Dã Mẫu Na Duệ. Đa Tha Già Đa Da. A La Ha Đế. Tam Miệu Tam Bồ Đà Da. Nam Mô Bà Già Bà Đế. Lạt Đát Na Kê Đô La Xà Da. Đa Tha Già Đa Da. A La Ha Đế. Tam Miệu Tam Bồ Đà Da. Đế Biều. Nam Mô Tát Yết Lị Đa. Ế Đàm Bà Già Bà Đa. Tát Đát Tha Già Đô Sắt Ni Sám. Tát Đát Đa Ban Đát Lam. Nam Mô A Bà La Thị Đam. Ban La Đế. Dương Kì La. Tát La Bà. Bộ Đa Yết La Ha. Ni Yết La Ha. Yết Ca La Ha Ni. Bạt La Bí Địa Da. Sất Đà Nễ. A Ca La. Mật Lị Trụ. Ban Lị Đát La Da. Ninh Yết Lị. Tát La Bà. Bàn Đà Na. Mục Xoa Ni. Tát La Bà. Đột Sắt Trá. Đột Tất Phạp. Ban Na Nễ. Phạt La Ni. Già Đô La. Thất Đế Nam. Yết La Ha. Sa Ha Tát La Nhã Xà. Tỳ Đa Băng Sa Na Yết Lị. A Sắt Trá Băng Xá Đế Nam. Na Xoa Sát Đát La Nhã Xà. Ba La Tát Đà Na Yết Lị. A Sắt Trá Nam. Ma Ha Yết La Ha Nhã Xà. Tỳ Đa Băng Tát Na Yết Lị. Tát Bà Xá Đô Lô. Nễ Bà La Nhã Xà. Hô Lam Đột Tất Phạp. Nan Già Na Xá Ni. Bí Sa Xá. Tất Đát La. A Cát Ni. Ô Đà Ca La Nhã Xà. A Ban La Thị Đa Cụ La. Ma Ha Ban La Chiến Trì. Ma Ha Điệp Đa. Ma Ha Đế Xà. Ma Ha Thuế Đa Xà Bà La. Ma Ha Bạt La Bàn Đà La. Bà Tất Nễ. A Lị Da Đa La. Tỳ Lị Câu Tri. Thệ Bà Tỳ Xà Da. Bạt Xà La Ma Lễ Để. Tỳ Xá Lô Đa. Bột Đằng Võng Ca. Bạt Xà La Chế Hát Na A Già. Ma La Chế Bà. Ban La Chất Đa. Bạt Xà La Thiện Trì. Tỳ Xá La Già. Phiến Đa Xá. Bệ Đề Bà. Bổ Thị Đa. Tô Ma Lô Ba. Ma Ha Thuế Đa. A Lị Da Đa La. Ma Ha Bà La A Ban La. Bạt Xà La Thương Yết La Chế Bà. Bạt Xà La Câu Ma Lị. Câu Lam Đà Lị. Bạt Xà La Hát Tát Đa Già. Tỳ Địa Da. Càn Già Na. Ma Lị Ca. Quật Tô Mẫu. Bà Yết La Đa Na. Bệ Lô Già Na Câu Lị Da. Dạ La Thố. Sắt Ni Sám. Tỳ Chiết Lam Bà Ma Ni Già. Bạt Xà La Ca Na Ca Ba La Bà. Lô Xà Na. Bạt Xà La Đốn Trĩ Già. Thuế Đa Già. Ca Ma La. Sát Xa Thi. Ba La Bà. Ế Đế Di Đế. Mẫu Đà La Yết Noa. Sa Bệ La Sám. Quật Phạm Đô. Ấn Thố Na Ma Ma Tả. }} ===Đệ Nhị Hội 第二會=== (Danh vi Thích Tôn Ứng Hóa Hội (hựu danh Lăng Nghiêm Giáo Chủ Hội). Hạ chi ngũ bộ Tam Bảo, Dạ Xoa Thần Vương Kim Cương Mật Tích, bát chủng pháp môn, tất vi Thích Ca thị hiện giả dã 名為釋尊應化會(又名愣嚴教主會)。下之五部三寶,夜叉神王金剛密跡,八種法門,悉為釋迦示現者也。) {{Ruby |烏𤙖。唎瑟揭拏。般剌舍悉多。薩怛他。伽都瑟尼釤。虎𤙖。都嚧雍。瞻婆那。虎𤙖。都嚧雍。悉耽婆那。虎𤙖。都嚧雍。波囉瑟地耶。三般叉拏羯囉。虎𤙖。都嚧雍。薩婆藥叉。喝囉剎婆。揭囉訶若闍。毗騰崩薩。那羯囉。虎𤙖。都嚧雍。者都囉。屍底南。揭囉訶。娑訶薩囉南。毗騰崩薩那囉。虎𤙖。都嚧雍。囉叉。婆伽梵。薩怛他。伽都瑟尼釤。波囉點闍吉唎。摩訶娑訶薩囉。勃樹娑訶薩囉。室唎沙。俱知娑訶薩泥。帝㘑。阿弊提視婆唎多。吒吒甖迦。摩訶跋闍嚧陀囉。帝唎菩婆那。曼茶囉。烏𤙖。莎悉帝。薄婆都。麼麼。印菟那麼麼寫。 |Ô Hồng. Lị Sắt Yết Noa. Ban Lạt Xá Tất Đa. Tát Đát Tha. Già Đô Sắt Ni Sám. Hổ Hồng. Đô Lô Ung. Chiêm Bà Na. Hổ Hồng. Đô Lô Ung. Tất Đam Bà Na. Hổ Hồng. Đô Lô Ung. Ba La Sắt Địa Da. Tam Ban Xoa Noa Yết La. Hổ Hồng. Đô Lô Ung. Tát Bà Dược Xoa. Hát La Sát Bà. Yết La Ha Nhã Xà. Tỳ Đằng Băng Tát. Na Yết La. Hổ Hồng. Đô Lô Ung. Giả Đô La. Thi Để Nam. Yết La Ha. Sa Ha Tát La Nam. Tỳ Đằng Băng Tát Na La. Hổ Hồng. Đô Lô Ung. La Xoa. Bà Già Phạm. Tát Đát Tha. Già Đô Sắt Ni Sám. Ba La Điểm Xà Cát Lị. Ma Ha Sa Ha Tát La. Bột Thụ Sa Ha Tát La. Thất Lị Sa. Câu Tri Sa Ha Tát Nê. Đế Lê. A Tệ Đề Thị Bà Lị Đa. Trá Trá Anh Ca. Ma Ha Bạt Xà Lô Đà La. Đế Lị Bồ Bà Na. Mạn Trà La. Ô Hồng. Sa Tất Đế. Bạc Bà Đô. Ma Ma. Ấn Thố Na Ma Ma Tả. }} ===Đệ Tam Hội 第三會=== (Danh vi Quán Âm Hợp Đồng Hội. Hạ chi tứ môn, giai như Quán Âm thượng đồng hạ hợp, viên thông tu chứng; tứ bất tư nghị, vô tác diệu đức, tự tại thành tựu dã 名為觀音合同會。下之四門,皆如觀音上同下合,圓通修證;四不思議、無作妙德、自在成就也。) {{Ruby |囉闍婆夜。主囉婆夜。阿祗尼婆夜。烏陀迦婆夜。毗沙婆夜。舍薩多囉婆夜。婆囉斫羯囉婆夜。突瑟叉婆夜。阿舍你婆夜。阿迦囉蜜唎柱婆夜。陀囉尼部彌劍。波伽波陀婆夜。烏囉迦婆多婆夜。剌闍壇茶婆夜。那伽婆夜。毗條怛婆夜。蘇波囉拏婆夜。藥叉揭囉訶。囉叉私揭囉訶。畢唎多揭囉訶。毗舍遮揭囉訶。部多揭囉訶。鳩槃茶揭囉訶。補丹那揭囉訶。迦吒補丹那揭囉訶。悉乾度揭囉訶。阿播悉摩囉揭囉訶。烏檀摩陀揭囉訶。車夜揭囉訶。醯唎婆帝揭囉訶。社多訶唎喃。揭婆訶唎喃。嚧地囉訶唎喃。忙娑訶唎喃。謎陀訶唎喃。摩闍訶唎喃。闍多訶唎女。視比多訶唎喃。毗多訶唎喃。婆多訶唎喃。阿輸遮訶唎女。質多訶唎女。帝釤薩鞞釤。薩婆揭囉訶南。毗陀耶闍。嗔陀夜彌。雞囉夜彌。波唎跋囉者迦。訖唎擔。毗陀夜闍。嗔陀夜彌。雞囉夜彌。茶演尼。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。摩訶般輸。般怛夜。嚧陀囉。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。那囉夜拏。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。怛埵伽嚧茶西。訖唎擔。毗陀耶闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。摩訶迦囉。摩怛唎伽拏。訖唎擔。毗陀夜闍。嗔陀夜彌。雞囉夜彌。迦婆唎迦。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。闍耶羯囉。摩度羯囉。薩婆囉他。娑達那。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。赭咄囉婆耆你。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。毗唎羊訖唎知。難陀雞沙囉。伽拏般帝。索醯夜。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。那揭那舍囉婆拏。訖唎擔。毗陀夜闍。嗔陀夜彌。雞囉夜彌。阿羅漢。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。毗多囉伽。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。跋闍囉波你。具醯夜具醯夜。迦地般帝。訖唎擔。毗陀夜闍。瞋陀夜彌。雞囉夜彌。囉叉罔。婆伽梵。印兔那麼麼寫。 |La Xà Bà Dạ. Chủ La Bà Dạ. A Kì Ni Bà Dạ. Ô Đà Ca Bà Dạ. Tỳ Sa Bà Dạ. Xá Tát Đa La Bà Dạ. Bà La Chước Yết La Bà Dạ. Đột Sắt Xoa Bà Dạ. A Xá Nễ Bà Dạ. A Ca La Mật Lị Trụ Bà Dạ. Đà La Ni Bộ Di Kiếm. Ba Già Ba Đà Bà Dạ. Ô La Ca Bà Đa Bà Dạ. Lạt Xà Đàn Trà Bà Dạ. Na Già Bà Dạ. Tỳ Điều Đát Bà Dạ. Tô Ba La Noa Bà Dạ. Dược Xoa Yết La Ha. La Xoa Tư Yết La Ha. Tất Lị Đa Yết La Ha. Tỳ Xá Già Yết La Ha. Bộ Đa Yết La Ha. Cưu Bàn Trà Yết La Ha. Bổ Đan Na Yết La Ha. Ca Trá Bổ Đan Na Yết La Ha. Tất Càn Độ Yết La Ha. A Bá Tất Ma La Yết La Ha. Ô Đàn Ma Đà Yết La Ha. Xa Dạ Yết La Ha. Hê Lị Bà Đế Yết La Ha. Xã Đa Ha Lị Nam. Yết Bà Ha Lị Nam. Lô Địa La Ha Lị Nam. Mang Sa Ha Lị Nam. Mê Đà Ha Lị Nam. Ma Xà Ha Lị Nam. Xà Đa Ha Lị Nữ. Thị Tỉ Đa Ha Lị Nam. Tỳ Đa Ha Lị Nam. Bà Đa Ha Lị Nam. A Du Già Ha Lị Nữ. Chất Đa Ha Lị Nữ. Đế Sám Tát Bệ Sám. Tát Bà Yết La Ha Nam. Tỳ Đà Da Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Ba Lị Bạt La Giả Ca. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Trà Diễn Ni. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Ma Ha Ban Du. Ban Đát Dạ. Lô Đà La. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Na La Dạ Noa. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Đát Đỏa Già Lô Trà Tây. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Da Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Ma Ha Ca La. Ma Đát Lị Già Noa. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Ca Bà Lị Ca. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Xà Da Yết La. Ma Độ Yết La. Tát Bà La Tha. Sa Đạt Na. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Già Đốt La Bà Kì Nễ. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Tỳ Lị Dương Cật Lị Tri. Nan Đà Kê Sa La. Già Noa Ban Đế. Sách Hê Dạ. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Na Yết Na Xá La Bà Noa. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. A La Hán. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Tỳ Đa La Già. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. Bạt Xà La Ba Nễ. Cụ Hê Dạ Cụ Hê Dạ. Ca Địa Ban Đế. Cật Lị Đam. Tỳ Đà Dạ Xà. Sân Đà Dạ Di. Kê La Dạ Di. La Xoa Võng. Bà Già Phạm. Ấn Thố Na Ma Ma Tả. }} ===Đệ Tứ Hội 第四會=== (Danh vi Cương Tạng Chiết Nhiếp Hội. Hỏa Thủ, viên thông khai hiển; Tạng Vương, chú hậu sắc hộ; Kim Cương, tam ngũ bộ chủ, hàng phục ngũ pháp môn nhất. Hạ chi lục nghĩa, ác tắc chiết phục, thiện tắc nhiếp thụ; giai thị Cương Vương Mật Tích, lực sĩ hiển bản giả dã 名為剛藏折攝會。火首、圓通開顯;藏王、咒後敕護;金剛、三五部主、降伏五法門一。下之六義、惡則折伏,善則攝授;皆是剛王密跡,力士顯本者也。) {{Ruby |婆伽梵。薩怛多般怛囉。南無粹都帝。阿悉多那囉剌迦。波囉婆悉普吒。毗迦薩怛多鉢帝唎。什佛囉什佛囉。陀囉陀囉。頻陀囉頻陀羅。瞋陀瞋陀。虎𤙖。虎𤙖。泮吒。泮吒泮吒泮吒泮吒。娑訶。醯醯泮。阿牟迦耶泮。阿波囉提訶多泮。婆囉波囉陀泮。阿素囉毗陀囉波迦泮。薩婆提鞞弊泮。薩婆那伽弊泮。薩婆藥叉弊泮。薩婆乾闥婆弊泮。薩婆補丹那弊泮。迦吒補丹那弊泮。薩婆突狼枳帝弊泮。薩婆突澀比𠼐。訖瑟帝弊泮。薩婆什婆𠼐弊泮。薩婆阿播悉摩𠼐弊泮。薩婆舍囉婆拏弊泮。薩婆地帝雞弊泮。薩婆怛摩陀繼弊泮。薩婆毗陀耶。囉誓遮𠼐弊泮。闍夜羯囉。摩度羯囉。薩婆囉他娑陀雞弊泮。毗地夜。遮𠼐弊泮。者都囉。縛耆你弊泮。跋闍囉。俱摩唎。毗陀夜。囉誓弊泮。摩訶波囉丁羊。義耆唎弊泮。跋闍囉。商羯囉夜。波囉丈耆囉闍耶泮。摩訶迦囉夜。摩訶末怛唎迦拏。南無娑羯唎多夜泮。毖瑟拏婢曳泮。勃囉訶牟尼曳泮。阿耆尼曳泮。摩訶羯唎曳泮。羯囉檀遲曳泮。蔑怛唎曳泮。嘮怛唎曳泮。遮文茶曳泮。羯邏囉怛唎曳泮。迦般唎曳泮。阿地目質多。迦屍摩舍那。婆私你曳泮。演吉質。薩埵婆寫。麼麼印兔那麼麼寫。 |Bà Già Phạm. Tát Đát Đa Ban Đát La. Nam Mô Túy Đô Đế. A Tất Đa Na La Lạt Ca. Ba La Bà Tất Phổ Trá. Tỳ Ca Tát Đát Đa Bát Đế Lị. Thập Phật La Thập Phật La. Đà La Đà La. Tần Đà La Tần Đà La. Sân Đà Sân Đà. Hổ Hồng. Hổ Hồng. Phán Trá. Phán Trá Phán Trá Phán Trá Phán Trá. Sa Ha. Hê Hê Phán. A Mâu Ca Da Phán. A Ba La Đề Ha Đa Phán. Bà La Ba La Đà Phán. A Tố La Tỳ Đà La Ba Ca Phán. Tát Bà Đề Bệ Tệ Phán. Tát Bà Na Già Tệ Phán. Tát Bà Dược Xoa Tệ Phán. Tát Bà Càn Thát Bà Tệ Phán. Tát Bà Bổ Đan Na Tệ Phán. Ca Trá Bổ Đan Na Tệ Phán. Tát Bà Đột Lang Chỉ Đế Tệ Phán. Tát Bà Đột Sáp Tỉ Lạt. Cật Sắt Đế Tệ Phán. Tát Bà Thập Bà Lạt Tệ Phán. Tát Bà A Bá Tất Ma Lạt Tệ Phán. Tát Bà Xá La Bà Noa Tệ Phán. Tát Bà Địa Đế Kê Tệ Phán. Tát Bà Đát Ma Đà Kế Tệ Phán. Tát Bà Tỳ Đà Da. La Thệ Già Lạt Tệ Phán. Xà Dạ Yết La. Ma Độ Yết La. Tát Bà La Tha Sa Đà Kê Tệ Phán. Tỳ Địa Dạ. Già Lạt Tệ Phán. Giả Đô La. Phược Kì Nễ Tệ Phán. Bạt Xà La. Câu Ma Lị. Tỳ Đà Dạ. La Thệ Tệ Phán. Ma Ha Ba La Đinh Dương. Nghĩa Kì Lị Tệ Phán. Bạt Xà La. Thương Yết La Dạ. Ba La Trượng Kì La Xà Da Phán. Ma Ha Ca La Dạ. Ma Ha Mạt Đát Lị Ca Noa. Nam Mô Sa Yết Lị Đa Dạ Phán. Bí Sắt Noa Tì Duệ Phán. Bột La Ha Mâu Ni Duệ Phán. A Kì Ni Duệ Phán. Ma Ha Yết Lị Duệ Phán. Yết La Đàn Trì Duệ Phán. Miệt Đát Lị Duệ Phán. Lao Đát Lị Duệ Phán. Già Văn Trà Duệ Phán. Yết La La Đát Lị Duệ Phán. Ca Ban Lị Duệ Phán. A Địa Mục Chất Đa. Ca Thi Ma Xá Na. Bà Tư Nễ Duệ Phán. Diễn Cát Chất. Tát Đỏa Bà Tả. Ma Ma Ấn Thố Na Ma Ma Tả. }} ===Đệ Ngũ Hội 第五會=== (Danh vi Văn Thù Hoằng Truyền Hội. Tự sơ phân lĩnh, vãng hộ, đại vấn, giản tuyển, cập hậu thỉnh danh, phi Đại Trí Đức Thủ tắc bất năng dã 名為文殊弘傳會。自初分領、往護、代問、揀選,及後請名,非大智德首則不能也。) {{Ruby |突瑟吒質多。阿末怛唎質多。烏闍訶囉。伽婆訶囉。嚧地囉訶囉。婆娑訶囉。摩闍訶囉。闍多訶囉。視毖多訶囉。跋略夜訶囉。乾陀訶囉。布史波訶囉。頗囉訶囉。婆寫訶囉。般波質多。突瑟吒質多。嘮陀囉質多。藥叉揭囉訶。囉剎娑揭囉訶。閉㘑多揭囉訶。閉舍遮揭囉訶。部多揭囉訶。鳩槃茶揭囉訶。悉乾陀揭囉訶。烏怛陀摩揭囉訶。車夜揭囉訶。阿播薩摩囉揭囉訶。宅祛革茶耆尼揭囉訶。唎佛帝揭囉訶。闍彌迦揭囉訶。舍俱尼揭囉訶。姥陀囉難地迦揭囉訶。阿藍婆揭囉訶。乾度波尼揭囉訶。什伐囉。堙迦醯迦。墜帝藥迦。怛隸帝藥迦。者突託迦。昵提什伐囉。毖釤摩什伐囉。薄底迦。鼻底迦。室隸瑟蜜迦。娑你般帝迦。薩婆什伐囉。室嚧吉帝。末陀鞞達嚧制劍。阿綺嚧鉗。目佉嚧鉗。羯唎突嚧鉗。揭囉訶揭藍羯拏輸藍。憚多輸藍。迄唎夜輸藍。末麼輸藍。跋唎室婆輸藍。毖栗瑟吒輸藍。烏陀囉輸藍。羯知輸藍。跋悉帝輸藍。鄔嚧輸藍。常迦輸藍。喝悉多輸藍。跋陀輸藍。娑房盎伽般囉丈伽輸藍。部多毖跢茶。茶耆尼。什婆囉。陀突嚧迦。建咄嚧吉知。婆路多毗。薩般嚧訶凌伽。輸沙怛囉。娑那羯囉。毗沙喻迦。阿耆尼。烏陀迦。末囉鞞囉建跢囉。阿迦囉。蜜唎咄。怛歛部迦。地栗剌吒。毖唎瑟質迦。薩婆那俱囉。肆引伽弊。揭囉唎藥叉。怛囉芻。末囉視。吠帝釤。娑鞞釤。悉怛多鉢怛囉。摩訶跋闍嚧。瑟尼釤。摩訶般賴丈耆藍。夜波突陀舍喻闍那。辮怛隸拏。毗陀耶。槃曇迦嚧彌。帝殊。槃曇迦嚧彌。般囉毗陀。槃曇迦嚧彌。哆姪他。唵。阿那隸。毗舍提。鞞囉。跋闍囉。陀唎。槃陀。槃陀你。跋闍囉。謗尼泮。虎𤙖。都嚧甕泮。娑婆訶。 |Đột Sắt Trá Chất Đa. A Mạt Đát Lị Chất Đa. Ô Xà Ha La. Già Bà Ha La. Lô Địa La Ha La. Bà Sa Ha La. Ma Xà Ha La. Xà Đa Ha La. Thị Bí Đa Ha La. Bạt Lược Dạ Ha La. Càn Đà Ha La. Bố Sử Ba Ha La. Phả La Ha La. Bà Tả Ha La. Ban Ba Chất Đa. Đột Sắt Trá Chất Đa. Lao Đà La Chất Đa. Dược Xoa Yết La Ha. La Sát Sa Yết La Ha. Bế Lê Đa Yết La Ha. Bế Xá Già Yết La Ha. Bộ Đa Yết La Ha. Cưu Bàn Trà Yết La Ha. Tất Càn Đà Yết La Ha. Ô Đát Đà Ma Yết La Ha. Xa Dạ Yết La Ha. A Bá Tát Ma La Yết La Ha. Trạch Khư Cách Trà Kì Ni Yết La Ha. Lị Phật Đế Yết La Ha. Xà Di Ca Yết La Ha. Xá Câu Ni Yết La Ha. Mỗ Đà La Nan Địa Ca Yết La Ha. A Lam Bà Yết La Ha. Càn Độ Ba Ni Yết La Ha. Thập Phạt La. Nhân Ca Hê Ca. Trụy Đế Dược Ca. Đát Lệ Đế Dược Ca. Giả Đột Thác Ca. Nật Đề Thập Phạt La. Bí Sám Ma Thập Phạt La. Bạc Để Ca. Tị Để Ca. Thất Lệ Sắt Mật Ca. Sa Nễ Ban Đế Ca. Tát Bà Thập Phạt La. Thất Lô Cát Đế. Mạt Đà Bệ Đạt Lô Chế Kiếm. A Ỷ Lô Kiềm. Mục Khư Lô Kiềm. Yết Lị Đột Lô Kiềm. Yết La Ha Yết Lam Yết Noa Du Lam. Đạn Đa Du Lam. Cật Lị Dạ Du Lam. Mạt Ma Du Lam. Bạt Lị Thất Bà Du Lam. Bí Lật Sắt Trá Du Lam. Ô Đà La Du Lam. Yết Tri Du Lam. Bạt Tất Đế Du Lam. Ô Lô Du Lam. Thường Ca Du Lam. Hát Tất Đa Du Lam. Bạt Đà Du Lam. Sa Phòng Áng Già Ban La Trượng Già Du Lam. Bộ Đa Bí Đa Trà. Trà Kì Ni. Thập Bà La. Đà Đột Lô Ca. Kiến Đốt Lô Cát Tri. Bà Lộ Đa Tì. Tát Ban Lô Ha Lăng Già. Du Sa Đát La. Sa Na Yết La. Tỳ Sa Dụ Ca. A Kì Ni. Ô Đà Ca. Mạt La Bệ La Kiến Đa La. A Ca La. Mật Lị Đốt. Đát Liễm Bộ Ca. Địa Lật Lạt Trá. Bí Lị Sắt Chất Ca. Tát Bà Na Câu La. Tứ Dẫn Già Tệ. Yết La Lị Dược Xoa. Đát La Sô. Mạt La Thị. Phệ Đế Sám. Sa Bệ Sám. Tất Đát Đa Bát Đát La. Ma Ha Bạt Xà Lô. Sắt Ni Sám. Ma Ha Ban Lại Trượng Kì Lam. Dạ Ba Đột Đà Xá Dụ Xà Na. Biện Đát Lệ Noa. Tỳ Đà Da. Bàn Đàm Ca Lô Di. Đế Thù. Bàn Đàm Ca Lô Di. Ban La Tỳ Đà. Bàn Đàm Ca Lô Di. Đa Điệt Tha. Án. A Na Lệ. Tỳ Xá Đề. Bệ La. Bạt Xà La. Đà Lị. Bàn Đà. Bàn Đà Nễ. Bạt Xà La. Báng Ni Phán. Hổ Hồng. Đô Lô Ung Phán. Sa Bà Ha. }} {{Kinh điển Phật giáo}} {{giấy phép dịch|bản gốc={{PD-old}}|bản dịch={{CC-BY-SA-4.0}}{{GFDL}}}} [[Thể loại:Phật giáo]] 8t6s8ici1vths8s0qdozlmj0fxgcws2